Các Bộ, ngành và địa phương đã và đang xây dựng kế hoạch hànhđộng để ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềmtàng lâu dài của biến đổi khí hậu; nhiều nghiên c
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm Biến đổi khíhậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trườngtoàn cầu Trong những năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiêntai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán hay khí hậu khắcnghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất Đã có nhiều nghiêncứu cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nói trên với biến đổi khí hậu Trongmột thế giới ấm lên rõ rệt như hiện nay và việc xuất hiện ngày càng nhiều cácthiên tai đặc biệt nguy hiểm với tần suất, quy mô và cường độ ngày càng khólường, thì những nghiên cứu xung quanh vấn đề biến đổi khí hậu càng cần đượcđẩy mạnh
Đối với Việt Nam biến đổi khí hậu là một trong những thách thức nghiêmtrọng nhất trong việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, các mục tiêuthiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước Hiện nay, Việt Nam đượcđánh giá là một trong những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khíhậu Nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã xâydựng và triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biếnđổi khí hậu Các Bộ, ngành và địa phương đã và đang xây dựng kế hoạch hànhđộng để ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềmtàng lâu dài của biến đổi khí hậu; nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các mức
độ khác nhau Mục tiêu giáo dục xã hội cũng đang đặt ra những yêu cầu cấpthiết cần phải giải quyết cho vấn đề này
Trong những năm qua, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường,
cơ quan đi đầu trong các nghiên cứu về biến đổi khí hậu, đã chủ trì thực hiệnhàng loạt nghiên cứu về biến đổi khí hậu Nhưng, trong số đó, các tài liệu nghiêncứu bàn sâu vào vấn đề giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chốngthiên tai trong dạy học thì còn rất ít Trong khi đó, nhiệm vụ giáo dục THPT lạiluôn đặt ra những yêu cầu mới – phù hợp với thực tiễn cần được giải quyết vàtìm cách khắc phục
Trước những yêu cầu trên tôi khẳng định lựa chọn vấn đề:“Nâng cao hiệu
quả giảng dạy nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong chương trình địa lí 12 cho học sinh trường THPT Thạch Thành 4” để viết
sáng kiến kinh nghiệm Tôi hy vọng rằng sáng kiến sẽ có những đóng góp nhấtđịnh trong việc nâng cao hiểu biết và nhận thức của học sinh về một vấn đềnóng bỏng và đang được quan tâm nhất hiện nay – vấn đề biến đổi khí hậu(BĐKH)
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trong thực tiễn mục đích của việc nghiên cứu BĐKH là nhằm đạt được sự ổnđịnh nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn ngừađược sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức độ
Trang 2phải được đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh tháithích nghi một cách tự nhiên với sự BĐKH, bảo đảm rằng việc sản xuất lươngthực không bị đe dọa và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển mộtcách lâu bền.
Việc nghiên cứu nội dung ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên taitrong chương trình Địa lí 12 –ban cơ bản nhằm vào 4 mục tiêu sau đây:
*Kiến thức:
- Biết được những biểu hiện của BĐKH: Trái Đất ngày càng nóng lên, cáchiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng nhiều và trên diện rộng; mựcnước biển ngày càng dâng cao
- Biết được một số loại hình thiên tai phổ biến thường hay xảy ra ở các vùngđịa lí của nước ta: lũ quét, ngập úng, hạn hán, bão, mưa lớn, cháy rừng, triềucường, cát bay, sạt lở bờ sông, biển, giá rét kéo dài, xâm nhập mặn, sạt lở đất,lốc, tố, nước biển dâng,…
- Biết được một số nguyên nhân gây ra BĐKH và thiên tai:
+ Sự tác động tiêu cực của con người vào các thành phần tự nhiên làm thayđổi thể tổng hợp tự nhiên: phá rừng, du canh du cư,…
+ Vấn đề khai thác và sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên hóa thạch nhưthan, dầu mỏ, khí đốt,…; khai thác và chặt phá rừng bừa bãi,…
+ Sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển thủy điện, công nghiệp vàgiao thông vận tải, gây ô nhiễm môi trường, tăng hiệu ứng nhà kính, gia tăngnguyên nhân gây ra BĐKH
+ Các nguyên nhân khác: Vấn đề gia tăng dân số và đô thị hóa tự phát; cácnguyên nhân có nguồn gốc tự nhiên
- Biết được hậu quả của BĐKH và thiên tai
- Biết được một số giải pháp, cách ứng phó để giảm nhẹ thiên tai, thích ứngvới thiên tai, có được các hành động thiết thực để giảm bớt thiên tai
- Liên hệ được với thực tế địa phương về những biểu hiện, nguyên nhân, hậuquả của BĐKH và các thiên tai thường hay xảy ra ở nước ta
* Kĩ năng:
- Xác định được những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của thiên tai ở địaphương Có kĩ năng phòng ngừa và giảm thiểu hậu quả do thiên tai gây ra tại địaphương HS sinh sống
- Quan sát thực tế, phân tích hình ảnh, tư liệu về nguyên nhân, biểu hiện, hậuquả do thiên tai gây ra cho con người
Trang 3*Định hướng hình thành năng lực:
- Năng lực chung: Tự học; Giải quyết vấn đề; Tự quản lí; Giao tiếp; Hợp tác;
Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
- Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; Học tập tại thực địa;
Sử dụng bản đồ; Sử dụng số liệu thống kê; Sử dụng hình vẽ, tranh ảnh, mô hình,video clip…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Nâng cao hiệu quả giảng dạy nội dung: ứng phó với biến đổi khí hậu
và phòng, chống thiên tai trong chương trình địa lí 12 – ban cơ bản” mà tôi
đưa ra sẽ đi sâu nghiên cứu và tổng kết về khả năng đưa nội dung ứng phó vớiBĐKH và phòng, chống thiên tai vào dạy học thực tiễn chương trình địa lí 12 –ban cơ bản
Vị trí môn Địa lí 12 giúp HS có được những hiểu biết cơ bản, hệ thống về đấtnước - môi trường sống của con người, về thiên nhiên và những hoạt động kinh
tế của con người trên phạm vi quốc gia, khu vực và thế giới; rèn luyện cho HSnhững kĩ năng hành động, ứng xử thích hợp với môi trường tự nhiên, xã hội.Mục tiêu của chương trình là cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông,
cơ bản, cần thiết về: Đặc điểm tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế
-xã hội của Việt Nam; những vấn đề đặt ra đối với cả nước nói chung và cácvùng, các địa phương nơi HS đang sinh sống nói riêng…
Từ đó góp phần bồi dưỡng cho HS tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nướcthông qua việc ứng xử thích hợp với tự nhiên và tôn trọng các thành quả kinh tế,văn hóa của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân loại
Căn cứ vào vị trí và mục tiêu của môn học, có thể thấy môn Địa lí 12 cónhiều khả năng GDBĐKH Vì môn Địa lí trang bị cho HS những kiến thức tổnghợp về Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội mà từng thành phần hoặc tổngthể tự nhiên hay kinh tế - xã hội đều liên quan hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đếnBĐKH và ứng phó với BĐKH Tùy từng trường hợp cụ thể các đối tượng địa lí
tự nhiên hay kinh tế - xã hội có lúc là tác nhân, có khi lại là đối tượng phải hứngchịu hậu quả của BĐKH Vả lại, chúng ta đang triển khai việc tích hợp GD vàbảo vệ MT qua môn Địa lí, nên đã có những tiền đề để khai thác, phục vụ choviệc GDBĐKH
Chương trình Địa lí 12 – ban cơ bản có thể đề cấp tới các nội dung sau củanhiệm vụ ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai:
Về BĐKH:
- Các biểu hiện của BĐKH:
+ Nhiệt độ Trái đất tăng
+ Mực nước biển dâng
+ Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển
+ Sự xuất hiện của nhiều thiên tai
- Những nguyên nhân gây ra BĐKH:
Trang 4+ Sự tác động tiêu cực của con người vào các thành phần tự nhiên làm thayđổi tổng hợp thể tự nhiên.
+ Vấn đề khai thác và sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên hóa thạch nhưthan, dầu mỏ, khí đốt,…; khai thác và chặt phá rừng bừa bãi dẫn đến tăng lượngkhí thải nhà kính đồng thời làm giảm diện tích rừng điều tiết khí CO2
+ Sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển công nghiệp và giao thôngvận tải gây ô nhiễm MT, tăng hiệu ứng nhà kính
+ Vấn đề gia tăng dân số và đô thị hóa liên quan đến gia tăng nhu cầu tiêuthụ nhiên liệu, nguyên liệu thải khí nhà kính,
+ Trượt đất, đá, sạt lở ở khu vực miền núi, ven biển, ven sông
+ Triều cường, xâm nhập mặn
+ Cát chảy,
- Những nguyên nhân gây ra hiện tượng thiên tai:
+ Sự tác động tiêu cực của con người vào các thành phần tự nhiên làm thayđổi tổng hợp thể tự nhiên
+ Vấn đề khai thác và sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên hóa thạch nhưthan, dầu mỏ, khí đốt,…; khai thác và chặt phá rừng bừa bãi dẫn đến tăng lượngkhí thải nhà kính đồng thời làm giảm diện tích rừng điều tiết khí CO2
+ Sự phát triển kinh tế - xã hội: Phát triển nông nghiệp, xây dựng các côngtrình thủy điện, phát triển công nghiệp và giao thông vận tải
+ Vấn đề gia tăng dân số và đô thị hóa liên quan đến gia tăng nhu cầu tiêuthụ nhiên liệu, nguyên liệu,
- Một số biện pháp phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Các PP giáo dục ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai trongchương trình Địa lí 12 bao gồm các PP định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Nhóm phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: được
dùng chủ yếu để xác định tác động của các yếu tố khí hậu và môi trường (nhiệt
độ, lượng mưa, độ mặn và độ ngập do nước biển dâng v.v…) đến các đối tượngnghiên cứu (năng suất cây trồng, nguy cơ dịch bệnh, v.v…)
Ví dụ về ứng dụng của PP điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tintrong giáo dục ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai trong dạy học Địa
lí 12:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu (nhiệt độ) và thành phần không khí(khí nhà kính) lên chất lượng nước, chuỗi thức ăn của hệ sinh thái
Trang 5- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu lên các đặc tính của đất thổ nhưỡngnhư mức độ phân hủy bùn, hoạt động của vi sinh vật, tan rửa chất dinh dưỡng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu lên các đặc tính của vật liệu xây dựngnhư độ bền, tính giữ nhiệt (liên quan đến tiết kiệm năng lượng)
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu sử dụng các trường hợp tương tự: PP này
sử dụng số liệu của các trường hợp tương tự ở một khu vực khác để đánh giáctác động của biến đổi khí hậu lên đối tượng đang xem xét
Có 4 loại nghiên cứu tương tự thường được dùng là:
- Sự kiện lịch sử tương tự,
- Xu hướng lịch sử tương tự,
- Khu vực khí hậu hiện tại tương tự, và
- Khu vực khí hậu tương lai tương tự
Ví dụ: Khu vực khí hậu tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng tương tự nhau,
xu hướng lịch sử về lượng mưa, nhiệt độ trung bình năm cũng tương tự, vì thếthông tin liên quan đến tác động của BĐKH của các tỉnh này có thể được sửdụng để tham khảo lẫn nhau trong quá trình đánh giá tác động (Lê Anh Tuấn
2009 “Tác động của BĐKH lên hệ sinh thái và phát triển nông thôn vùng đồngbằng sông Cửu Long”, Diễn đàn “Dự trữ sinh quyển và phát triển nông thôn bềnvững ở đồng bằng sông Cửu Long” 5-6/6/2009)
Ngoài các PP trên thì nội dung ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiêntai trong chương trình Địa lí 12 còn được thực hiện theo PP có sự tham gia củacộng đồng và các bên liên quan ở địa phương
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
Nhận thức rõ những thách thức do BĐKH gây ra, ngày 02/12/2008 Thủtướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó vớiBĐKH tại Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg Đây là một trong những thànhcông ban đầu quan trọng trong nỗ lực ứng phó với BĐKH của Việt Nam vì mụctiêu phát triển bền vững
Ngày 13/10/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH về Khung hướng dẫn xây dựng Kế hoạch hành động ứngphó với BĐKH để hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương triển khai xây dựng Kếhoạch hành động của mình
Trong những năm qua, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường,
cơ quan đi đầu trong các nghiên cứu về BĐKH, đã chủ trì thực hiện hàng loạtnghiên cứu về BĐKH như:
- Chiến lược quốc gia giảm phát thải khí nhà kính với chi phí thấp nhất;Vấn đề kinh tế của việc hạn chế phát thải khí nhà kính;
- Chiến lược quốc gia về cơ chế phát triển sạch;
- Nghiên cứu tác động của BĐKH ở lưu vực sông Hương và chính sáchthích nghi ở huyện Phú Vang (tỉnh Thừa Thiên Huế);
Trang 6- Lợi ích của thích ứng với BĐKH từ các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ,đồng bộ với phát triển nông thôn;
- Tác động của BĐKH lên tài nguyên nước và các biện pháp thích ứng;
- Các kịch bản về nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro do thiên tai
ở Việt Nam
Viện đã chủ trì biên soạn “Thông báo quốc gia lần thứ nhất của Việt Namcho Công ước Biến đổi khí hậu” và nhiều nghiên cứu khác Những kết quảnghiên cứu đã giúp nâng cao hiểu biết và nhận thức về BĐKH
Viện cũng đã chủ trì xây dựng và triển khai các chương trình quốc gia như:Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, kịch bản BĐKH và nướcbiển dâng cho Việt Nam, Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về BĐKH,các chương trình hợp tác với UNDP, ADB, với WB, với DANIDA, JICA, HàLan, USA v.v
Trong thời gian gần đây nhất (2008 – 2010), Viện đã chủ trì thực hiện vàhoàn thành đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KC.08.13 “Nghiên cứu ảnh hưởngcủa BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giảipháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bềnvững kinh tế xã hội ở Việt Nam”, thuộc chương trình “Khoa học và công nghệphục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyênthiên nhiên, KC.08” Một trong những kết quả của đề tài là cuốn “BĐKH và tácđộng ở Việt Nam” đã được biên soạn nhằm giới thiệu những kiến thức cơ bản vềBĐKH, thực trạng BĐKH toàn cầu và ở Việt Nam, kịch bản BĐKH cho ViệtNam, tác động của BĐKH đến các ngành, lĩnh vực và các khu vực địa lý - khíhậu trong cả nước Các nội dung của “BĐKH và tác động ở Việt Nam” là kếtquả nghiên cứu của nhiều cán bộ khoa học có kinh nghiệm nhiều năm thuộcViện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
2.2 Thực trạng vấn đề
Ở Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăngkhoảng 0,5 – 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm BĐKH đã làm chocác thiên tai, đặc biệt là bão, lũ lụt, hạn hán ngày càng ác liệt Nó đã trở thànhmột “tình huống khẩn cấp” mà cả thế giới chỉ còn chưa đầy một thập kỉ để thayđổi tình hình Trong khi đó, những nỗ lực chung để cùng hành động thì còn đangdiễn biến rời rạc Cụ thể hơn, BĐKH đã và đang có những biểu hiện ngày càng
kỉ trước đó (1931 -1960) Theo kịch BĐKH 2009, dự đoán đếncuối thế kỉ 21, nhiệt độ sẽ tăng: 1,6 – 3,60C ở miền Bắc và 1,1 –
Trang 72,60C ở miền Nam so với thời kì 1980 – 1999.
Kịch bản BĐKH 2009 dự đoán đến giữa thế kỉ 21 mực nước biển
có thể dâng thêm 28 – 33cm và đến cuối thế kỉ 21 dâng thêm từ
- Lượng mưa: Nhiệt độ tăng cũng làm cho mưa trở nên thấtthường phân bố lượng mưa theo mùa và theo vùng có sự thayđổi Vào mùa mưa, các vùng phía Bắc mưa ít hơn, các vùng phíaNam mưa nhiều hơn Số lượng các đợt mưa lớn gia tăng trên hầuhết các khu vực
- Các đợt không khí lạnh đã suy giảm rõ rệt Tuy nhiên số cácđợt lạnh bất thường lại có xu hướng diễn ra thường xuyên hơnTrong thời gian qua, việc dạy học đã luôn luôn bám sát vào tình hình thựctiễn, nhưng hiệu quả đem lại chưa cao, chưa tác động được vào những hànhđộng thiết thực của HS trong thực tiễn, mà mới chỉ dừng lại ở một tầm nhậnthức nhất định Các em chưa hình thành được các hành động cụ thể Do đó trongquá trình giảng dạy GV chưa đạt được đầy đủ 4 mục tiêu bài học Từ cơ sở líluận và thực tiễn nêu trên tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu và tìm ra các giảipháp nâng cao hiệu quả giảng dạy nội dung BĐKH và phòng chống thiên taitrong chương trình Địa lí 12 – ban cơ bản sau đây
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Để đạt được mục tiêu hướng vào thái độ, hành vi ứng phó với BĐKH ,phòng, chống thiên tai thì các phương pháp dạy học (PPDH) dùng lời là không
đủ, cần có những PPDH tác động trực tiếp tới người học, lôi cuốn người họccùng tham gia ngay trong quá trình học tập cũng như tham gia các hoạt độngthực hành tìm hiểu về BĐKH, về thiên tai
Về ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai cần chú ý việc vận dụngcác PPDH tích cực, hướng người học vào các hoạt động gắn với thực tiễn, vớinhững yêu cầu như sau:
- Giảm giảng giải, thuyết trình, tăng cường thảo luận, tranh luận
- Tăng tiết học trải nghiệm thực tế, tăng cường khảo sát, nghiên cứuthựcđịa
- Giảm ghi nhớ máy móc, tăng độc lập tư duy, giải quyết vấn đề
Trang 8- Tránh vụn vặt, cần xem xét thông tin một cách hệ thống
- Chú ý kinh nghiệm thực tế, khả năng vận dụng
- Tăng cường làm việc tập thể
- Chú ý học theo kiểu dự án, nghiên cứu đề tài
Tuy nhiên cần quan tâm tới đối tượng HS để lựa chọn PPDH, kĩ thuật dạyhọc phù hợp Nội dung ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai vẫn tiếptục sử dụng nhiều PPDH của các bộ môn, chịu sự chi phối của các PP đặc trưng
bộ môn, kết hợp sử dụng PP có tính đặc thù của hoạt động này theo phươngchâm tạo điều kiện cho HS được tích cực hoạt động và gắn nội dung học tập vớithực tiễn cuộc sống
Sau đây, là một số PPDH và kĩ thuật dạy học tôi đã áp dụng trong quá trìnhnâng cao hiệu quả giảng dạy: ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên taitrong dạy học bộ môn Địa lí 12 – ban cơ bản:
2.3.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở: được sử dụng đối với HS cả lớp,
nhóm học tập, cá nhân từng HS PP này sử dụng hệ thống câu hỏi và những dẫndắt, gợi ý HS trả lời các câu hỏi do GV đề ra, thông qua đó HS tìm hiểu và lĩnhhội được các nội dung về BĐKH, ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai
GV có thể áp dụng các cách sau:
- GV đặt ra một hệ thống các câu hỏi và mỗi HS được yêu cầu trả lời mộtcâu hỏi: Thực hiện theo cách này GV cần phải:
+ Nêu rõ nội dung bài học cần tìm hiểu
+ Nêu rõ hệ thống câu hỏi cần trả lời và phân công HS (cá nhân hoặc nhóm)tìm hiểu các câu hỏi và đưa ra các câu trả lời trong khoảng thời gian nhất định.+ Lần lượt HS trình bày các câu trả lời, GV nhận xét, đánh giá và đưa ra đáp
án cuối cùng
- GV đưa ra những câu hỏi chính kèm theo những câu hỏi gợi ý nhằm tạonên những cuộc tranh luận Thực hiện theo cách này GV cần phải:
+ Nêu ra câu hỏi chính có tác dụng định hướng nội dung cần tìm hiểu
+ Đưa ra những câu hỏi gợi ý bao gồm các yếu tố kích thích tranh luận (chứađựng mâu thuẫn, nghịch lí, hoặc nhiều lựa chọn để giải quyết một vấn đề),
+ Hình thành các nhóm HS tham gia tranh luận (những nhóm HS có quanđiểm và ý kiến đối lập) và tiến hành tranh luận theo những câu hỏi gợi ý dưới sựđiều khiển của GV
+ GV tổng kết, nhận xét, đánh giá các ý kiến tranh luận và chốt nội dung
PP đàm thoại gợi mở thường giúp HS hiểu vấn đề hơn, HS ưa thích đượccùng tham gia xây dựng bài nên sẽ hoạt động sôi nổi hơn, qua đó các em pháttriển khả năng tư duy PP này còn phản ánh được mức độ hiểu bài của HS, đồngthời GV có thể phát hiện được lỗi của HS và sửa được ngay lỗi đó
Tuy nhiên, PP đàm thoại gợi mở có nhược điểm là cần nhiều thời gian Nếu
tổ chức chung cho cả lớp thường chỉ một số ít HS tham gia thực sự nên GV cầnlựa chọn nội dung và thời điểm để vận dụng cho thích hợp
Trang 92.3.2 Phương pháp trực quan: bao gồm 2 PP sau:
*Phương pháp sử dụng bản đồ:
Đây là PPDH truyền thống đặc trưng cho môn Địa lí Bản đồ vừa có chứcnăng minh họa, vừa có chức năng nguồn tri thức Vì vậy, trong dạy học, GV cóthể sử dụng bản đồ để minh họa, phân tích nội dung bài học (Ví dụ: chỉ rõ sựphân bố của các sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ,…) và để hướng dẫn HStìm tòi, khám phá kiến thức Qua đó, GV hình thành và rèn luyện cho HS kĩnăng đọc, phân tích bản đồ
HS THPT đã đươc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ từ các lớp dưới nên cókhả năng sử dụng thành thạo bản đồ để nhận thức kiến thức mới, trong đó cónhững kiến thức về BĐKH, ứng phó với BĐKH, phòng chống thiên tai
GV cần chú ý giám sát việc HS sử dụng bản đồ theo các bước đã được quyđịnh Đối với HS THPT, nên tập trung vào việc khám phá các mối liên hệ tương
hỗ và nhân quả
Câu hỏi gắn với bản đồ thông thường có dạng: Ở đâu? Tại sao ở đó? hay: Chúng có mối liên hệ với nhau như thế nào?, hãy quan sát và nêu các đặc điểm chủ yếu của sự vật…Ví dụ: Trên bản đồ tự nhiên Việt Nam (bản đồ hình thể Việt
Nam, trang 6,7 Atlat Địa lí VN), HS xác định được sự phân bố của hệ thống sông(giai đoạn đầu của việc đọc bản đồ) Tiếp theo, HS phải khám phá mối quan hệgiữa sự phân bố của sông ở các vùng miền khác nhau với những đặc điểm khíhậu của vùng miền đó Khi khí hậu có sự thay đổi, do lượng mưa tăng lên hoặcgiảm đi, chế độ thủy văn của các sông sẽ diễn biến như thế nào? Hoặc xác định
sự phân bố của vùng hay có lũ của Việt Nam, tìm nguyên nhân gây ra lũ và hậuquả của lũ ở khu vực đó?
*Phương pháp sử dụng tranh ảnh, video, phim (phụ lục):
Tranh ảnh, video, phim cũng là nguồn cung cấp tri thức cho HS Chúng tạobiểu tượng cụ thể, rõ nét về các hiện tượng địa lí, trong đó có các hiện tượng vềBĐKH, phòng chống thiên tai
Sử dụng có mục đích, phân tích nội dung tranh ảnh, video, phim khai tháccác khía cạnh khác nhau cuả tranh ảnh, video, phim liên quan đến nội dungBĐKH, ứng phó với BĐKH, phòng chống thiên tai sẽ có tác động mạnh tới tâm
tư, tình cảm và hình thành thái độ đúng cho HS trước vấn đề cấp bách này
Trong thực tế, tranh ảnh, video, phim về BĐKH, ứng phó với BĐKH, phòngchống thiên tai có khá nhiều Ví dụ: tranh ảnh, video, phim về gia tăng lượng khíthải nhà kính do phát triển công nghiệp; hiện tượng băng tan, nước biển dâng,bão lụt; hiện tượng xói lở,…GV có thể thu thập tranh ảnh, xây dựng video, phimtheo các nội dung liên quan đến vấn đề trên có trong chương trình, sách giáokhoa địa lí 12 Khi sử dụng tranh ảnh, video, phim GV chú ý gợi ý HS quan sát,
mô tả các sự vật, hiện tượng thể hiện trong tranh ảnh, video, phim Tiếp đó cầntìm các nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng, sự vật đó; nêu suy nghĩ, cảmnhận của HS về dùng tranh ảnh, video, phim được sử dụng
Trang 102.3.3 Dạy học theo PP nêu và giải quyết vấn đề
Đây là một quan điểm dạy học hiện đại Bản chất của kiểu dạy học này là GVtạo các tình huống có vấn đề và giúp HS nhận thức, giải quyết các tình huống
đó Tình huống có vấn đề xuất hiện khi có mâu thuẫn giữa cái cho và cái tìm,được cấu trúc, xử lí về mặt sư phạm làm cho mâu thuẫn mang tính chất nêu vấnđề
Tổ chức cho HS nhận thức và giải quyết vấn đề bao gồm các bước sau:
- Nêu vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề
- Giải quyết vấn đề:
+ Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra
+ Thu thập và xử lí thông tin theo hướng giả thuyết đã đề xuất
em tích cực, độc lập, tìm tòi để giải quyết vấn đề Khi HS vận dụng sự hiểu biếtvào những tình huống chưa quen biết HS có thể đạt tới trình độ sáng tạo
Để tiến hành dạy học nêu và giải quyết vấn đề, có thể lựa chọn các cách thứcsau:
- Đưa ra tình huống nghịch lí đòi hỏi phải giải thích Tình huống nghịch lí là
những tình huống trái với lẽ thông thường so với cách hiểu cũ của HS và đôi khiban đầu thoạt nghe, tưởng chừng như vô lí làm HS ngạc nhiên Ví dụ: Vì saongười dân đồng bằng Sông Cửu Long chấp nhận sống chung với lũ?
- Đưa ra tình huống khó khăn, bế tắc: Đây là tình huống giữa cái đã biết và
cái chưa biết còn cái cần phải khám phá, nhận thức; giữa vốn kiến thức khoa học
đã có và vốn kiến thức thực tiễn đa dạng Ví dụ: Việt Nam nằm trong vành đaisinh khoáng nên có nhiều loại khoáng sản, Vậy tại sao vấn đề khai thác, sử dụnghợp lí tài nguyên thiên nhiên vẫn được xem là nhiệm vụ quan trọng?
- Tình huống lựa chọn: GV đưa ra một số vần đề có nhiều sự lựa chọn khácnhau, đòi hỏi HS phải tìm ra một sự lựa chọn thích hợp nhất Ví dụ: Trong haiđịnh hướng dưới đây, lựa chọn nào theo em là thích hợp hơn cả? Nêu lí do lựachọn phương án phát triển ngành sản xuất điện của Việt Nam
+ Phát triển ngành công nghiệp nhiệt điện bởi có sẵn nguồn than đá đang được khai thác nên không cần đầu tư lớn, song thải nhiều khí nhà kính làm nhiệt độ tăng.
+ Xây dựng nhà máy phong điện sử dụng tuốc bin chạy bằng gió không gây ô nhiễm môi trường nhưng cần đầu tư lớn.
- Tình huống nhân quả: Đây là trường hợp đi tìm nguyên nhân của một kết
quả, tìm bản chất của một hiện tượng, động cơ sâu xa của một hành vi Ví dụ: Vì