1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học địa lí lớp 10 trung học phổ thông

153 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp so sánh Trên cơ sở đối chiếu, vận dụng các quan điểm, khái niệm, nội dung, phương pháp, biện pháp về GDBĐKH trong nước và trên thế giới, chúng ta cần cân nhắc mức độ nội dun

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận & Phương pháp dạy học Địa lí

Mã số: 60.140.111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Phương Liên, người thầy đã tận tình, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau Đại học, khoa Địa lí

và các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, Sở giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên, trường THPT Lê Hồng Phong, các thầy cô giáo

và các em học sinh ở các trường thực nghiệm, cùng bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Học viên

Lê Thị Lệ Thương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và đảm bảo khách quan

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Học viên

Lê Thị Lệ Thương

Người hướng dẫn khoa học Trưởng khoa Địa lí

TS NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN PGS TS NGUYỄN THỊ HỒNG

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 13

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của GDBĐKH trong dạy học Địa lí lớp 10- THPT 13

1.1 Cơ sở lí luận 13

1.1.1 Một số khái niệm 13

1.1.1.1 Khái niệm về khí hậu 13

1.1.1.2 Biến đổi khí hậu 13

1.1.1.3 Hiện tượng thời tiết cực đoan 14

1.1.1.4 Hiện tượng ấm lên toàn cầu 15

1.1.1.5 Hiện tượng hiệu ứng nhà kính 15

1.1.2 Nguyên nhân và biểu hiện của biến đổi khí hậu 15

1.1.2.1 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 15

1.1.2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu 16

1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu 17

1.1.4 Giải pháp ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu 20

1.1.4.1 Giảm sản xuất điện, tăng tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo 21

Trang 5

1.1.4.2 Chặn đứng nạn phá rừng, tích cực bảo vệ rừng và trồng rừng 21

1.1.4.3 Tiết kiệm năng lượng để giảm lượng khí CO2 thải ra bầu khí quyển 21

1.1.4.4 Ăn uống thông minh, tăng cường rau quả 22

1.1.4.5 Giảm tiêu thụ 22

1.1.4.6 Cải tạo, nâng cấp hạ tầng 22

1.1.4.7 Ứng dụng công nghệ mới trong việc bảo vệ Trái Đất 23

1.1.4.8 Giáo dục tuyên truyền cho sinh viên, học sinh trong nhà trường 23

1.1.5 Giáo dục biến đổi khí hậu 25

1.1.5.1 Mục đích và ý nghĩa của giáo dục BĐKH 25

1.1.5.2 Nội dung về giáo dục biến đổi khí hậu 26

1.1.5.3 Các hình thức giáo dục biến đổi khí hậu 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.2.1 Thực trạng BĐKH ở Việt Nam 30

1.2.2 Chủ trương, quan điểm của nhà nước về BĐKH 31

1.2.3 Ngành giáo dục ứng phó với BĐKH 35

1.2.3.1 Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH 35

1.2.3.2 Đưa nội dung ứng với BĐKH vào các chương trình GD – ĐT giai đoạn 2010 – 2015 36

1.2.4 Khả năng tích hợp giáo dục BĐKH thông qua môn Địa lí THPT…… 39

1.2.5 Đặc điểm chương trình, SGK Địa lí lớp 10 (chương trình cơ bản) 40

1.2.5.1 Về chương trình Địa lí 10 40

1.2.5.2 Về sách giáo khoa Địa lí 10 41

1.2.6 Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh THPT hiện nay 43

1.2.7 Tình hình dạy học GDBĐKH ở nhà trường phổ thông hiện nay 45

1.2.7.1 Về phía giáo viên 45

1.2.7.2 Về phía học sinh 46

Trang 6

1.3 Tiểu kết chương 1 49

Chương 2 GDBĐKH trong dạy học Địa lí lớp 10 – THPT 51

2.1 Khai thác nội dung GDBĐKH trong chương trình SGK Địa lí lớp 10 – THPT 51

2.1.1 Các nguyên tắc khai thác nội dung GDBĐKH từ chương trình Địa lí 10 51

2.1.1.1 Chọn lọc tập trung 51

2.1.1.2 Đảm bảo tính đặc trưng của môn học 51

2.1.1.3 Không gây quá tải 51

2.1.1.4 Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh 52

2.1.1.5 Nội dung giáo dục về BĐKH phải chú trọng đến các vấn đề thực tiễn52 2.1.2 Các kiến thức về BĐKH trong chương trình lớp 10 52

2.2 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học GDBĐKH 58

2.2.1 Cơ sở lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức GDBĐKH 58

2.2.1.1 Mục tiêu và nội dung của GDBĐKH 58

2.2.1.2 Đặc điểm người học 58

2.2.1.3 Nguồn tài liệu giảng dạy 59

2.2.1.4 Thời gian giảng dạy 59

2.2.1.5 Sự hỗ trợ của nhà trường và địa phương 60

2.2.2 Các hình thức và phương pháp GDBĐKH trong môn Địa lí lớp 10-Trung học phổ thông 61

2.2.2.1 Hình thức dạy học nội khóa 62

2.2.2.2 Hình thức dạy học ngoại khóa 75

2.2.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 79

2.2.3.1 Giáo án dạy học nội khóa 79

2.2.3.2 Các hoạt động ngoại khóa 110

2.3 Tiểu kết chương 2 114

Trang 7

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm 115

3.1 Mục đích thực nghiệm 115

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 115

3.3 Nguyên tắc thực nghiệm 116

3.4 Nội dung thực nghiệm 116

3.5 Tổ chức thực nghiệm 116

3.5.1 Chọn trường thực nghiệm 116

3.5.2 Chọn bài thực nghiệm 117

3.5.3 Chọn lớp thực nghiệm 117

3.5.4 Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 118

3.6 Kết quả và đánh giá kết quả thực nghiệm 118

3.6.1 Kết quả thực nghiệm 118

3.6.2 Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm 120

3.7 Tiểu kết chương 3 123

KẾT LUẬN 125

1 Kết quả nghiên cứu 125

2 Những tồn tại 125

3 Kiến nghị 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 BĐKH Biến đổi khí hậu

2 CNTT Công nghệ thông tin

4 GDMT Giáo dục môi trường

5 GDPTBV Giáo dục vì sự phát triển bền vững

6 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

7 GDBĐKH Giáo dục biến đổi khí hậu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Bảng phân bổ kiến thức Địa lí lớp 10 42

Bảng 1.2 Kết quả phiếu điều tra GV về thực trạng GDBĐKH trong dạy học môn Địa lí 10 – THPT 45

Bảng 1.3 Kết quả phiếu điều tra HS về thực trạng GDBĐKH trong dạy học môn Địa lí 10 – THPT 47

Bảng 2.1 Các bài học có khả năng giáo dục kiến thức BĐKH cho HS 53

Bảng 3.1 Đối tượng thực nghiệm 118

Bảng 3.2 Kết quả điểm kiểm tra 119

Bảng 3.3 Bảng phân loại trình độ của HS 119

Bảng 3.4 Mức độ thường xuyên của những biện pháp, hành vi chống BĐKH ở lớp TN 122

Bảng 3.5 Mức độ thường xuyên của những biện pháp, hành vi chống BĐKH ở lớp ĐC 122

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Các nhà khoa học đã khẳng định rằng ngày nay con người đã làm biến đổi

và đảo lộn hệ thống Trái Đất với quy mô ngày càng rộng lớn, với tốc độ chóng mặt và biến đổi khí hậu đã trở thành một thách thức và nguy cơ lớn nhất đối với loài người trong thế kỉ 21 Sự phát triển của thế giới hiện đại theo mô hình công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế tiếp tục thống trị thế giới, được đặc trưng bởi

sự sử dụng khối lượng khổng lồ các nguyên liệu hóa thạch, thâm canh hóa nông nghiệp và phá rừng, sự bùng nổ dân số đồng hành với nó dẫn đến tăng mạnh phát thải khí nhà kính, khiến cho Trái Đất nóng lên và đã gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng khác mà con người chưa lường hết được Đó là những bằng chứng xác đáng của BĐKH

BĐKH là nguy cơ lớn làm giảm năng suất nông nghiệp, gia tăng tình trạng thiếu nước, gia tăng các hiện tượng cực đoan của thời tiết, phá vỡ tình trạng cân bằng của các hệ sinh thái và làm gia tăng bệnh tật Theo dự báo, trong thế kỉ 21 nhiệt độ thế giới có thể tăng thêm 50C, trong khi ngưỡng BĐKH nguy hiểm là tăng 20C Nếu vượt quá ngưỡng này, các thảm họa sinh thái sẽ xảy ra và cuộc sống con người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng

Do đó, BĐKH trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu - một mối quan tâm hàng đầu của con người trong hiện tại và tương lai Làm thế nào để giảm thiểu những tác động tiêu cực do BĐKH gây ra trở thành một câu hỏi lớn đặt ra cho xã hội loài người Nó đòi hỏi loài người phải hành động ngay và nhanh chóng hơn bao giờ hết khi chưa quá muộn Việt Nam, một quốc gia đang phát triển nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa thường xuyên phải chịu ảnh hưởng của thiên tai bão tố, là một trong năm nước chịu tác động lớn nhất của BĐKH thì đây là một vấn đề cần được chú ý hàng đầu BĐKH tác động mạnh mẽ đến khả năng phát triển đất nước, đến việc thực hiện các mục tiêu chiến lược trong

Trang 11

quá trình hội nhập và phát triển Vì vậy, giáo dục kiến thức về BĐKH cho người dân là vô cùng quan trọng Nhận thức rõ được điều đó chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp ứng phó với tình hình BĐKH trong nước, đồng thời chủ trương xây dựng chương trình tuyên truyền giáo dục kiến thức BĐKH cho toàn thể các tầng lớp nhân dân trong xã hội, đặc biệt là cho thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước

Hơn thế nữa, trong nhà trường phổ thông chương trình Địa lí lớp 10 lại dạy về các quyển của lớp vỏ địa lí, một số quy luật của lớp vỏ địa lí, môi trường và sự phát triển bền vững là những kiến thức có khả năng tích hợp giáo dục kiến thức BĐKH cho HS rất hiệu quả

Là một giáo viên địa lí tôi mong muốn và ý thức trách nhiệm của mình đối với việc phải giáo dục BĐKH cho HS, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền

vững Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong

dạy học Địa lí lớp 10 - THPT”

2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích

Đề tài hướng tới các mục đích sau:

- Giúp cho người học hiểu được vai trò, ý nghĩa của GDBĐKH trong chương trình sách giáo khoa Địa lí 10

- Giúp cho giáo viên và học sinh nắm được hình thức tổ chức và phương pháp GDBĐKH nhằm hình thành cho học sinh có được tri thức, thái độ, hành

Trang 12

- Xác định nội dung, phương pháp, hình thức và soạn giáo án cụ thể tích hợp GDBĐKH trong chương Địa lí 10

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng hiệu quả của việc tích hợp nội dung GDBĐKH trong chương trình, sách giáo khoa Địa lí 10 cho học sinh các trường THPT

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

3.1 Trên thế giới

Hiện nay BĐKH là một trong những vấn đề nóng bỏng, được cộng đồng thế giới quan tâm giải quyết Thực tế, BĐKH không phải là một vấn đề mới

mẻ, nó được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhận định

về sự BĐKH Có thể kể tới một số nghiên cứu về BĐKH như sau:

- Năm 1824: nhà vật lý học người Pháp, Joseph Fourier, miêu tả hiện tượng hiệu ứng nhà kính Ông viết: “Nhiệt độ của Trái Đất có thể tăng lên do

sự thay đổi của các thành phần trong bầu khí quyển, trong quá trình chuyển hóa nhiệt năng, khí quyển hấp thụ nhiệt năng Mặt Trời nhiều hơn là phản xạ nó trở lại không gian vũ trụ”

- Năm 1896: nhà hóa học người Thụy Điển, Svante Arrhennius đưa ra kết

luận rằng việc đốt than trong công nghiệp sẽ đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính Kết luận của ông về mức độ ảnh hưởng của khí nhà kính nhân tạo gần như trùng khít với mô hình khí hậu ngày nay, nghĩa là nếu CO2 tăng gấp đôi, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên vài 0

C

- Năm 1995: nhà nghiên cứu người Mỹ, Gilbert Plass phân tích tỉ mỉ mức

độ hấp thụ tia hồng ngoại của một số loại khí Ông kết luận rằng, nếu nồng độ

CO2 tăng gấp đôi, nhiệt độ sẽ tăng 3 – 40C

Nhìn chung các nhà khoa học trên thế giới đã có những nhận định ban đầu

về hiện tượng BĐKH cũng như nguyên nhân chủ yếu gây ra BĐKH Tuy nhiên cho đến năm 1972, hội thảo đầu tiên của Liên Hợp quốc về môi trường diễn ra

Trang 13

tại Stockholm (Thụy Điển), hiện tượng BĐKH vẫn chưa được sự chú ý đáng

có Hội thảo chỉ tập trung vào các vấn đề như ô nhiễm hóa học, thử nghiệm bom nguyên tử và việc đánh bắt cá voi

- Năm 1988: Ủy ban Liên Chính Phủ về BĐKH (IPCC) đã được đưa ra Báo cáo đánh giá các bằng chứng về hiện tượng BĐKH

- Năm 1990: báo cáo đánh giá lần thứ nhất của IPCC đã được đưa ra Báo cáo đánh giá và đưa ra kết luận là trong suốt một thế kỉ qua, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,3 – 0,60C Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người chính là nguyên nhân cơ bản gây ra sự nóng lên toàn cầu

- Năm 1992: hội nghị thượng đỉnh về BĐKH toàn cầu tại Rio De Janero, chính phủ các nước đã nhất trí với công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) Mục đích của công ước này là ổn định nồng độ của khí nhà kính trong bầu khí quyển ở mức độ sao cho có thể ngăn chặn được các rủi ro nguy hiểm do tác động nhân văn đối với hệ thống khí hậu

- Năm 1995: báo cáo đánh giá lần thứ hai của IPCC đưa ra các bằng chứng cho thấy rõ các tác động không nhỏ của loài người đến hệ thống khí hậu

- Năm 1997: nghị định thư Kyoto được thông qua Các nước phát triển cam kết sẽ giảm 5% lượng khí thải trong khoảng thời gian từ năm 2008 – 2012, với các mục tiêu khác nhau cho mỗi quốc gia

- Năm 2001: báo cáo đánh giá lần thứ ba của IPCC đã đưa ra các bằng chứng mới và mạnh mẽ hơn, cho thấy các khí nhà kính do con người thải ra là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hiện tượng nóng lên diễn ra trong suốt nửa sau của thế kỉ 20

- Năm 2007: báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC đánh giá và đưa ra kết luận cho thấy hơn 90% tác nhân gây ra BĐKH ngày nay là do hoạt động của con người trong đó bao gồm các phát thải nhà kính

Trang 14

- Năm 2009: 192 chính phủ các quốc gia tới Cophenhagen tham dự Hội nghị của Liên Hợp Quốc về BĐKH (COP – 15) nhằm đưa ra các giải pháp về một thỏa thuận quốc tế sau khi nghị định thư Kyoto sắp hết hạn

- Ngày 26/11/2012, hội nghị Liên Hợp Quốc về BĐKH (COP – 18) khai mạc ở Doha, Qatar chủ yếu để giải quyết việc gia hạn Nghị định thư Kyoto Sau hai tuần làm việc hội nghị tưởng như bế tắc nhưng cuối cùng, ngày 8/12, Liên Hợp Quốc đã thông qua được gói thỏa thuận về chống BĐKH và tiếp tục gia hạn Nghị định thư Kyoto Theo đó, tìm cách kiềm chế BĐKH trong khi chờ một hiệp ước toàn cầu mới có hiệu lực vào năm 2020

Như vậy, chúng ta có thể nhận thức, mối quan tâm của cộng đồng thế giới

về BĐKH ngày một nâng cao Cuộc chiến chống BĐKH không phải của riêng một đất nước, một tổ chức nào mà là của cộng đồng các quốc gia trên thế giới, của tất cả dân cư đang sinh sống trên Trái Đất

Các nhà khoa học trên thế giới vẫn đang tiếp tục nghiên cứu các biện pháp nhằm chống lại BĐKH, giảm thiểu BĐKH và thích ứng với BĐKH Trên thế giới đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo về mối quan hệ giữa BĐKH và các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội

Về vấn đề GDBĐKH, công việc này đã khởi động và thực hiện khá thành công ở nhiều nước trên thế giới Vào cuối tháng 7/2009, tại Pari đã tổ chức

“Hội thảo quốc tế về BĐKH” đã khuyến khích đẩy mạnh GDBĐKH, đưa ra những định hướng cụ thể mà ngành giáo dục chú trọng thực hiện như: tích hợp, lồng ghép nội dung BĐKH vào trong thực tiễn, chương trình và kế hoạch giáo dục; tăng cường xây dựng và sử dụng các công cụ, tài liệu giáo dục và thực tiễn tốt về GDBĐKH; khuyến khích phát triển các quan hệ hợp tác về GDBĐKH

3.2 Ở Việt Nam

Trang 15

Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động đầu tiên của BĐKH, chính

vì vậy công tác nghiên cứu, tìm ra giải pháp để giảm thiểu tác động, ứng phó và thích ứng với BĐKH khá phát triển

- Ngày 11/6/1992: Việt Nam kí công ước khung về BĐKH của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) và phê chuẩn UNFCCC vào ngày 16/11/1994

- Ngày 3/12/1998: Việt Nam kí Nghị định thư Kyoto và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào ngày 25/09/2002

- Năm 2008, chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH toàn cầu, đồng thời thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình mục tiêu Quốc gia

- Tháng 12/2008, chính phủ đã có quyết định 158/QĐ-TTG về việc phê

duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH

- Tháng 8/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam áp dụng các phương pháp và mô hình ước tính quốc tế với sự trợ giúp của một số cơ quan chuyên môn và nhà tài trợ quốc tế, trong đó có chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã tính toán ba kịch bản cho Việt Nam Kịch bản được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính ở cấp thấp, trung bình và cao Hệ thống kịch bản này mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu nhưng sẽ là cơ sở cho các bộ, ban, ngành, địa phương điều chỉnh chiến lược cũng như quy hoạch của mình

- Ngày 12/10/2009, Hội thảo “Nâng cao nhận thức và năng lực thích nghi

với những thách thức của BĐKH” do trường Đại học Sư Phạm Hà Nội phối

hợp với cơ quan trao đổi Hàn Lâm Đức (DAAD), Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, văn phòng UNESCO tại Hà Nội tổ chức Đây là Hội thảo đầu tiên đề cập đến việc giáo dục và phát triển bền vững, đặc biệt dành cho GDBĐKH Đã

có nhiều nghiên cứu, báo cáo do các chuyên gia, các giảng viên trường đại học, các thầy cô giáo trình bày

Trang 16

- Ngày 4/5/2010, Hội thảo “GDBĐKH: kinh nghiệm từ Châu Âu và Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu và hỗ trợ GDPTBV và khoa Địa lí trường ĐHSP Hà Nội phối hợp tổ chức Hội thảo trở thành một diễn đàn để các nhà khoa học và giáo dục ở trong nước và ngoài nước bình luận, trao đổi kinh nghiệm về tiến hành các hoạt động GDBĐKH ở Châu Âu và Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác quốc tế trong GDBĐKH

- Ngày 19/4/2012, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Học viện môi trường và phát triển Anh Quốc (IIED) tổ chức hội nghị quốc tế về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Hội nghị nhằm chia sẻ việc thực hiện quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng và thích ứng với BĐKH giữa các tổ chức, các quốc gia

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có yêu cầu riêng, chính thức đối với việc đưa GDBĐKH vào trong chương trình học tại các nhà trường phổ thông Việt Nam Vì vậy, những vấn đề cấp bách như hậu quả, tác động của BĐKH tới cuộc sống, tới sự sinh tồn của người dân, tới sự phát triển kinh tế…chưa được phân tích kĩ và lựa chọn cẩn thận như những nội dung cấp thiết khác Với sự cần thiết

đó, năm học vừa qua đã có một số sinh viên bắt đầu nghiên cứu vấn đề này:

- Giáo dục biến đổi khí hậu qua Địa lí 11 (chương trình cơ bản) - THPT, khóa luận tốt nghiệp năm 2010, Hà Thị Quế

- Các phương pháp giáo dục kiến thức biến đổi khí hậu toàn cầu trong dạy học Địa lí lớp 12, khóa luận tốt nghiệp năm 2012, Nguyễn Thị Cần

Để hiểu sâu và rõ hơn nữa tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài “Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học Địa lí 10 - THPT” Đây là việc làm rất thiết thực không chỉ cho bản thân cá nhân tôi mà còn cho các đồng nghiệp của mình hiểu được nhiệm vụ của mình trong công tác giảng dạy, giáo dục học sinh

Có thể nói, các tổ chức, chương trình, tài liệu về BĐKH là rất nhiều nhưng những tài liệu về BĐKH dành cho HS vẫn còn ít Cùng với việc tham khảo

Trang 17

những tài liệu, công trình nghiên cứu về BĐKH tôi nhận thấy rằng các tài liệu chủ yếu đều đi nghiên cứu về tác hại, nguyên nhân và cách khắc phục của BĐKH mà chưa tập trung giáo dục cho người dân hiểu về BĐKH Để góp phần nâng cao hơn nữa những hiểu biết về BĐKH, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những người đi trước, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hướng là giáo dục các kiến thức về BĐKH cho HS qua môn Địa lí lớp 10

4 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm hệ thống

GDBĐKH là một hệ thống bao gồm các yếu tố cấu thành như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, điều kiện dạy của giáo viên và học sinh Trong quá trình lựa chọn các hình thức và phương pháp GDBĐKH cần phải nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố đó với các yếu tố khác trong hệ thống như GDBĐKH và sự phát triển công nghiệp hóa, GDBĐKH và sự gia tăng dân số…

4.1.2 Quan điểm phát triển bền vững

GDBĐKH là một bộ phận của giáo dục vì sự phát triển bền vững và nó chứa đựng những đặc trưng nổi bật của GDPTBV Vì vậy, theo quan điểm của UNESCO, các hoạt động GDBĐKH cần coi trọng những định hướng cơ bản là: hướng vào nguyên nhân và hậu quả của BĐKH, hướng vào hậu quả và giải pháp của BĐKH GDBĐKH sẽ khuyến khích, hỗ trợ những văn hóa, khát vọng, mục tiêu và những hệ thống giá trị và các quan điểm tương lai khác nhau theo định hướng của sự phát triển bền vững

4.1.3 Quan điểm tổng hợp

Khí hậu cùng các thành phần của nó là một thể thống nhất hoàn chỉnh, nếu một thành phần thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác, đồng thời các thành phần tự nhiên luôn có sự tác động qua lại tương hỗ với nhau Bởi

Trang 18

vậy, nghiên cứu một thành phần nghĩa là phải đặt nó trong mối quan hệ với các thành phần khác

Quan điểm này được sử dụng để nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học giáo dục kiến thức BĐKH qua môn Địa lí lớp 10

4.1.4 Quan điểm lịch sử - lôgic

Mỗi một hiện tượng địa lí đều tồn tại trong một thời gian nhất định Nói cách khác các hiện tượng này có quá trình phát sinh, phát triển và suy vong Trong quá trình nghiên cứu khi xem xét hay đánh giá cần phải đứng trên quan điểm lịch sử - lôgic, quan điểm này đòi hỏi phải nhìn nhận quá khứ để lí giải ở mức độ nhất định cho hiện tại và dự báo tương lai Nếu tách rời quá khứ khỏi hiện tại thì khó có thể giải thích thỏa đáng sự phát triển ở thời điểm hiện tại và nếu không chú ý đến tương lai thì ngành khoa học này mất đi khả năng dự báo Quan điểm này được sử dụng để giải thích sự thay đổi của các hiện tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

4.2.1.1 Phương pháp phân tích hệ thống

Phương pháp được sử dụng để nghiên cứu hệ thống các phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Địa lí nói riêng, nhằm phân tích những ưu điểm và những tồn tại của từng hệ thống phương pháp Trên cơ sở

đó, đề xuất việc vận dụng một số phương pháp dạy học các bài học có nội dung GDBĐKH

4.2.1.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu

Có nhiều tài liệu khác nhau:

- Lí luận dạy học, lí luận dạy học địa lí

- Các bài viết trong các hội thảo về phát triển bền vững, hội thảo về BĐKH

- Các sách giáo khoa và sách giáo viên lớp 10

Trang 19

- Các số liệu thu thập từ việc điều tra nhận thức kiến thức, thái độ, kĩ năng… của giáo viên và học sinh về GDBĐKH…

- Khai thác kinh nghiệm thực tế về phương pháp và hình thức tổ chức GDBĐKH trên thế giới và ở nước ta, từ đó xem xét khả năng vận dụng các phương pháp trên vào việc GDBĐKH cho học sinh lớp 10

4.2.1.3 Phương pháp so sánh

Trên cơ sở đối chiếu, vận dụng các quan điểm, khái niệm, nội dung, phương pháp, biện pháp về GDBĐKH trong nước và trên thế giới, chúng ta cần cân nhắc mức độ nội dung, phương pháp, lượng kiến thức cho phù hợp với đối tượng, điều kiện của nhà trường phổ thông, phù hợp với nội dung chương trình địa lí lớp 10 THPT

4.2.1.4 Phương pháp phân loại

Sử dụng phương pháp này nhằm phân loại các bài học trong sách giáo khoa địa lí 10 – THPT Bài có nội dung GDBĐKH toàn phần, có nội dung GDBĐKH một phần (một mục, một vài câu) hoặc bài có khả năng liên hệ kiến thức GDBĐKH Từ cách phân loại đó ta có thể thiết kế bài giảng khai thác nội dung GDBĐKH theo từng loại bài

4.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

4.2.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học

Đối tượng điều tra là các giáo viên dạy địa lí và học sinh của một số trường THPT Điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp, phiếu câu hỏi… về thực trạng GDBĐKH qua môn Địa lí ở nhà trường phổ thông Phân tích các kết quả để thấy được tính khả thi của đề tài và sự ủng hộ của giáo viên và học sinh đối với việc tích hợp nội dung GDBĐKH vào dạy Địa lí 10 – THPT

Cùng với phương pháp thực nghiệm sư phạm, đây là phương pháp quan trọng trong việc phân tích các hoạt động thực tiễn của GDBĐKH trong nhà trường phổ thông

Trang 20

Việc điều tra xã hội học đối với đối tượng chủ yếu là giáo viên và học sinh các trường thực nghiệm

4.2.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT ở các địa bàn khác nhau

Phương pháp thực nghiệm sư phạm được vận dụng có hiệu quả nhằm đánh giá tính khả thi của việc tích hợp, lồng ghép nội dung GDBĐKH qua môn địa lí lớp 10 – THPT Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhất là với chuyên ngành phương pháp

4.2.3 Các phương pháp khác

Một số phương pháp như phương pháp thống kê toán học, phương pháp bảng thống kê, phương pháp biểu đồ… cũng được sử dụng trong đề tài như xử

lí số liệu, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

5 GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Giới hạn: trong việc nghiên cứu một số phương pháp dạy học giáo dục kiến thức BĐKH

- Phạm vi: chương trình địa lí lớp 10 - THPT

Trang 21

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về khí hậu

Có nhiều quan niệm khác nhau về khí hậu:

- Khí hậu là trạng thái thời tiết trung bình

- Khí hậu là tổng hợp của thời tiết

- Khí hậu là một bộ phận của các quá trình địa lí… [29]

Hiện nay có thể sử dụng quan niệm của Alixôp về khí hậu như sau: khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời tiết đặc trưng nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ Mặt Trời, đặc tính của mặt đệm và hoàn lưu khí quyển

Như vậy, hiểu một cách chung nhất khí hậu là chế độ nhiều năm của điều kiện khí quyển hay là chế độ nhiều năm của thời tiết Khí hậu của một khu vực còn phụ thuộc vào điều kiện địa lí, nghĩa là phụ thuộc vào vĩ độ địa lí, chiều cao trên mặt nước biển, địa hình, đặc điểm mặt đệm… Khí hậu của một khu vực có thể rất khác nhau giữa các mùa trong năm, nhưng trong một chu kì nhiều năm này so với một chu kì nhiều năm khác thì không thấy có sự khác nhau rõ rệt, sự thay đổi nhỏ bé chỉ thể hiện ở sự giao động theo hướng này hay hướng khác, như vậy khí hậu có tính bền vững Khí hậu có tính bền vững là một trong những đặc tính địa phương của địa lí tự nhiên và là một trong những thành phần của cảnh quan địa lí

1.1.1.2 Biến đổi khí hậu

BĐKH là một khái niệm phức tạp và trừu tượng Có một số khái niệm về BĐKH như sau:

Trang 22

Chế độ khí hậu nói chung đều biểu thị bằng những sự biến đổi có quy luật trong một quãng thời gian dài hàng chục năm hoặc hàng trăm năm Trong quá trình biến đổi này, khí hậu của một vùng nào đó có thể ấm lên, lạnh đi, ẩm hơn hoặc khô hơn Trong sự biến đổi có tính hệ thống này, xuất hiện sự giao động thường là không điều hòa của chế độ khí tượng từ năm này qua năm khác, tạo nên các giao động nhỏ với các chu kỳ khác nhau trong xu thế biến đổi chung của khí hậu [29]

BĐKH là hậu quả của hoạt động thải các chất khí nhà kính vào khí quyển của loài người, gây nên hiện tượng nóng lên của bầu khí quyển và của nước đại dương Hệ quả là băng tại các cực tan chảy, làm mực nước biển dâng cao, nhấn chìm nhiều vùng đất ven biển; các hiện tượng của khí hậu, thời tiết mang tính quy luật như vận động của các khối khí, mưa, bão… trở nên bất thường bởi tác động của sự tăng nhiệt độ, kéo theo những tai biến trong môi trường và gây tác hại đối với con người [15]

BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là một vài thập

kỉ hoặc dài hơn [22]

Hoặc: BĐKH là những thay đổi theo thời gian của các hình thái thời tiết trên toàn thế giới, nhiệt độ trung bình tăng hay còn gọi là “sự nóng dần lên của Trái Đất” tăng nồng độ khí nhà kính hay “khí các bon” thải ra từ hoạt động của con người và đọng lại trong khí quyển [22]

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “BĐKH Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu bao gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại

và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo”

1.1.1.3 Hiện tượng thời tiết cực đoan

Hiện tượng thời tiết cực đoan là hiện tượng hiếm có ở một nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó, nhưng hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường có tần xuất nhỏ hơn 10% Tính chất của thời tiết cực đoan có sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác.[14]

Trang 23

1.1.1.4 Hiện tượng ấm lên toàn cầu

Ấm lên toàn cầu hay hâm nóng toàn cầu là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái Đất tăng lên theo quan sát trong các thập kỉ gần đây.[15]

1.1.1.5 Hiện tượng hiệu ứng nhà kính

Hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” là quá trình các khí trong khí quyển hấp thụ và phát ra bức xạ hồng ngoại làm ấm tầng dưới bề mặt của hành tinh

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do Jean

Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi

năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ những chỗ được chiếu sáng.[13]

1.1.2 Nguyên nhân và biểu hiện của biến đổi khí hậu

1.1.2.1 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

Trong vài năm trở lại đây, điều ai cũng nhận thấy là sự thay đổi bất thường về mùa mưa, rét đậm, rét hại và nắng nóng kéo dài, tần xuất và cường

độ bão, lũ, triều cường cũng như tình trạng thiếu hụt nước ngọt… những thay đổi này ảnh hưởng đến sinh kế, đe dọa cuộc sống của hàng chục triệu người dân Việt Nam, nhất là những người nghèo

Các nhà khoa học của tổ chức Intergovernmental Panel on Climate

Change (IPCC) đã cho biết hiện tượng BĐKH xảy ra có nguyên nhân là do sản

xuất của con người Đặc biệt là khi công nghiệp hóa phát triển, nhân loại sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch (than, dầu mỏ, khí thiên nhiên…) thải vào bầu khí quyển một lượng lớn khí CO2, CH4, CFCs, N2O, PFC…những khí này được gọi chung là khí nhà kính, gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính, khiến nhiệt

độ bề mặt Trái đất nóng lên dẫn tới làm thay đổi khí hậu

Nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái Đất được quyết định bởi cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống mặt đất và lượng bức xạ nhiệt của mặt đất vào vũ trụ Nhưng lâu nay con người đã tác động mạnh vào sự cân bằng

Trang 24

nhạy cảm này giữa hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tia bức xạ của mặt trời Sự thay đổi nồng độ của các khí nhà kính trong vòng 100 năm trở lại đây (CO2tăng 20%, CH4 tăng 90%) đã làm tăng nhiệt độ lên 20C

Khí CO2 chiếm đến 80% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, làm Trái Đất nóng lên và BĐKH Khí CO2 được sản sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp và sử dụng nhiên liệu xăng, dầu của các phương tiện giao thông

So với CO2, CH4 có mức độ gây hại cho môi trường gấp 21 lần, N2O thải

ra trong quá trình sản xuất công nghiệp và sử dụng phân vô cơ gấp 310 lần, CFC thải ra trong quá trình sản xuất chất làm lạnh gấp 140 – 11700 lần, PFC thải ra trong quá trình làm sạch chất bán dẫn, chất làm lạnh và chất tạo bọt gấp

6500 – 9200 lần, SF6 thải ra trong quá trình sản suất ô tô gấp 23900 lần

Ngoài ra, còn phải kể đến nạn phá rừng, đốt rừng bừa bãi, nạn cháy rừng gây

ra hạn hán, lũ lụt ngày càng tăng làm thiệt hại không chỉ về nguồn tài nguyên mà còn ảnh hưởng nặng nề đến môi sinh, môi trường và đa dạng sinh học

1.1.2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu

- Thứ nhất: sự nóng lên của nhiệt độ Trái Đất hay sự ấm lên toàn cầu

- Thứ hai: sự gia tăng mực nước biển

- Thứ ba: sự thay đổi ranh giới của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất

- Thứ tư: sự thay đổi cường độ hoạt động của hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác

- Thứ năm: sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ thống sinh thái, chất lượng và thành phần thủy quyển, sinh quyển và các địa quyển

- Thứ sáu: sự thay đổi của mùa đông và mùa hè

Đối với Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, theo nghiên cứu của Viện khí tượng thủy văn và môi trường, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,50C đến 0,70C Mực nước biển dâng khoảng 20cm Những biểu hiện của

Trang 25

BĐKH rất phức tạp, tuy nhiên biểu hiện chính gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống con người là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã tính toán ba kịch bản BĐKH cho Việt Nam là:

- Về nhiệt độ: vào cuối thế kỉ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,60C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc, 2,40C ở đồng bằng Bắc Bộ, 2,80C ở Bắc Trung Bộ, 1,90C ở Nam Trung Bộ, 1,60C ở Tây Nguyên và 20C ở Nam Bộ so với trung bình thời kì 1980 – 1999

- Về lượng mưa: tổng lượng mưa và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta đều tăng, trong đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở các vùng khí hậu phía Nam Tính chung cho cả nước, lượng mưa năm cuối thế kỉ 21 tăng khoảng 5% so với thời kì 1980 – 1999 Ở các vùng khí hậu phía Bắc mức tăng lượng mưa nhiều hơn so với khu vực phía Nam

- Về nước biển dâng: mực nước biển sẽ dâng 30cm vào năm 2050 và cuối thế kỉ 21 sẽ dâng khoảng 75cm Tương đương với mực nước biển dâng 75cm thì phạm vi ngập khu vực thành phố Hồ Chí Minh là 204km2 (10%), đồng bằng Sông Cửu Long diện tích ngập 7580km2

(19%)

1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu

BĐKH là một hiện tượng thời tiết cực đoan, nguy hiểm Nó ảnh hưởng rất lớn tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất của con người và tới môi trường xung quanh Theo báo cáo mới của IPCC có dấu hiệu cho thấy hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới tăng cường ở Bắc Đại Tây Dương kể từ năm 1970 có sự tương quan với nhiệt độ bề mặt nước biển tăng Mực NBD khoảng 0,18 – 0,59m đến

2040 – 2100 so với 1980 – 1990, các tuyến đường thương mại sẽ mở ra do băng của Bắc cực co lại, sẽ làm tăng cường độ các cơn bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan, suy giảm tầng ozôn, thay đổi ngành nông nghiệp, thay đổi phạm vi của các vật chủ trung gian truyền bệnh, làm gia tăng sốt rét và sốt xuất huyết và làm giảm ôxi trong đại dương, CO2 trong khí quyển tăng làm tăng lượng CO2 hòa tan trong đại dương, CO2 hòa tan trong đại dương phản ứng với nước tạo thành axit cácbonnic gây ra hiện tượng axit hóa đại dương Phần bề

Trang 26

mặt đại dương ước tính sẽ giảm từ 8,25 xuống 8,14 vào năm 2004 và được dự kiến giảm 0,14 – 0,5 đơn vị đến năm 2100 khi đại dương hấp thu nhiều CO2hơn Nhiệt và đioxit cacbon bị giữ trong đại dương có thể sẽ cần hàng trăm năm

để tái thoát trở lại khí quyển, dự đoán khoảng 18% đến 35% trong tổng số 1103 loài động thực vật có thể bị tuyệt chủng cho đến năm 2050

Những ảnh hưởng cụ thể của BĐKH là:

- Ảnh hưởng đến tài nguyên nước: BĐKH làm thay đổi chế độ mưa gây

lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô Gia tăng cường độ và tần xuất các cơn bão, giông tố, gây trượt đất và xói mòn làm cho nhu cầu về nước thiếu trầm trọng Năm 1990 lũ lụt, hạn hán chiếm 86% thảm họa tự nhiên ảnh hưởng đến cuộc sống của gần 2 tỉ người Trong 100 năm qua lượng mưa tăng ở khu vực có

vĩ độ cao trên 300, giảm ở vùng nhiệt đới từ năm 1970 (IPCC – 2007) Do thiên tai, nhiệt độ, ô nhiễm đều tăng nên dịch bệnh phát triển nhanh chóng, đặc biệt

là ở các nước kém phát triển

Sự biến đổi tài nguyên nước còn gây ra các vấn đề xã hội có liên quan như: vấn đề di dân ở các quốc gia ven biển do NBD, tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm do mất đất sản xuất, các dịch bệnh có nguy cơ tăng mạnh do nguồn nước bị ô nhiễm, tình trạng thiếu nước sinh hoạt xảy ra đặc biệt là ở các nước nghèo dẫn đến sự suy giảm chất lượng cuộc sống như y tế, giáo dục…

- Ảnh hưởng đến nông – lâm – ngư nghiệp:

+ Trong nông nghiệp: Với tốc độ BĐKH như hiện nay sản lượng các cây

lương thực sẽ giảm 15% Nhiệt độ toàn cầu tiếp tục tăng lên gây ra hạn hán ở nhiều nơi làm cho 50 triệu người lâm vào cảnh đói nghèo trong vài thập kỉ tới Theo dự đoán năm 2070, các loại cây trồng có thể lên đến độ cao 550m và hướng lên phía bắc 100 – 200km so với hiện nay Nền nhiệt độ cao ở vùng lục địa làm năng xuất cây trồng giảm 30% do quá trình sa mạc hóa đất nông nghiệp Nhiệt độ Trái Đất tăng sẽ làm băng tan và dâng cao mực nước biển, như vậy nhiều vùng sản xuất nông nghiệp trù phú và các khu đông dân, các đồng bằng lớn ven biển nhất là vùng đảo thấp sẽ bị chìm dưới nước Sự nóng lên của Trái Đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các loài sinh vật khiến cho một số loài sinh vật bị thu hẹp về diện tích hoặc bị tiêu diệt

Trang 27

+ Trong lâm nghiệp: Làm thay đổi diện tích rừng ngập mặn, làm cho ranh

giới phân bố các kiểu rừng nguyên sinh, thứ sinh bị dịch chuyển, làm cho các nguồn động thực vật, nguồn gen quý hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, nó cũng làm tăng nguy cơ cháy rừng và phát tán dịch bệnh Khoa học chứng minh rằng nếu nhiệt độ tăng 100C có thể làm biến đổi cấu trúc và chức năng của rừng Nhiều loài động vật sống trong rừng, trong đó hơn một nửa số linh trưởng lớn và gần 9% các loài cây mà loài người đã biết đến đang đứng trước nguy cơ

bị tuyệt chủng

+ Trong ngư nghiệp: nhiệt độ tăng làm nguồn thủy hải sản bị phân tán,

trong đó các loài cá nhiệt đới tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới lại giảm xuống Theo IPCC nếu nhiệt độ tăng lên từ 1,5 – 2,50C thì 20 -30% các loài động vật, thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, kể cả gấu bắc cực và các loài tôm lấy nguồn thức ăn từ rạn san hô Nhiệt độ và lượng mưa thay đổi làm cho khối lượng các đàn cá bị giảm sút, trữ lượng các loài hải sản cũng bị giảm sút trầm trọng Thiên tai xảy ra liên tục, bất thường làm cho số lượng các ngư trường trên thế giới bị suy giảm

- Ảnh hưởng đến du lịch: do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực

đoan, sự bùng phát các dịch bệnh nhiệt đới và khủng hoảng của thảm thực vật làm ảnh hưởng tới khả năng thu hút và phát triển du lịch

- Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học: BĐKH ảnh hưởng tới đa dạng sinh

học như là vùng phân bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim, cá… chuyển dịch lên phía bắc và lên vùng cao hơn Nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều BĐKH gây ra biến dị hoặc đột biến gen của một số loài động thực vật làm xuất hiện nhiều sinh vật ngoại lai nguy hiểm cho hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe con người Hiện nay, đa dạng sinh học đang bị giảm sút trầm trọng: riêng rừng nhiệt đới mỗi năm đã mất 17 500 loài, cứ 7 phút lại có một loài bị tiêu diệt Các nhà cổ sinh học tính được trong lịch sử trước đây 2 –

10 triệu năm có hai loài bị tiêu diệt, nhưng từ năm 1600 đến nay có khoảng 162 loài chim, 100 loài thú bị tiêu diệt, 255 loài thú khác có nguy cơ bị tiêu diệt Các loài hiện nay đang bị đe dọa đều là các loài sống trên mặt đất, một nửa

Trang 28

sống trong rừng, các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biệt là các dải san

hô là những môi trường sống dễ bị tổn thương Sự sâm nhập các loài ngoại lai không thể kiểm soát được có thể gây ảnh hưởng đến nguồn thức ăn, nơi ở, làm xói mòn nguồn gen bản địa và thay đổi nơi sinh sống của các loài bản địa

- Ảnh hưởng đến năng lượng và giao thông: BĐKH tác động nghiêm

trọng tới năng lượng như các giàn khoan dầu khí bị ảnh hưởng bởi bão, lốc, sóng thần… giảm sản lượng điện do hạn hán, chế độ thủy văn không ổn định, tiêu thụ nhiều năng lượng hơn do nhiệt độ và độ ẩm tăng Đối với giao thông, các hiện tượng thời tiết cực đoan gây khó khăn trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa…

- Ảnh hưởng đến sức khỏe con người: theo IPCC (2006) trong hai thập

kỉ qua thiệt hại do thiên tai vì BĐKH làm 3 triệu người chết, thiệt hại trung bình 40 tỉ USD/năm BĐKH đã và đang làm xuất hiện nhiều bệnh mới lạ, đã làm biến đổi nhiều loại bệnh trước đây trên quy mô rộng lớn Kết quả đã ghi nhận được 30 căn bệnh mới trong 3 thập kỉ qua

1.1.4 Giải pháp ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu

Một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của nhân loại trong tương lai là hạn chế nguy cơ BĐKH nhằm giảm thiểu thảm họa do thiên nhiên gây ra như bão lụt, sóng thần, trượt đất, băng tan, lốc xoáy… hàng chục triệu người đã

bị tác động bởi thời tiết khắc nghiệt, bất thường trong hai thập kỉ qua Lượng khí thải CO2 hàng năm cao hơn 3 lần so với thập niên 1990 và tỉ lệ sử dụng nhiên liệu hóa thạch tiếp tục tăng vọt

Các nhà khoa học dự báo ngay cả khi loài người có thể ngừng hoàn toàn

và ngay lập tức việc thải khí CO2 thì nhiệt độ trung bình của Trái Đất vẫn tiếp tục tăng từ mức cao hơn bình thường 0,80C như hiện nay lên mức 1,6 đến 1,80C Nhiệt độ mới cao hơn bình thường của Trái Đất sẽ kéo dài trong 500 năm nữa, vì các đại dương vốn đã bị ấm lên và cần có thời gian để hạ nhiệt Để ngăn ngừa nguy cơ nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm 20C tới ngưỡng gây thảm họa, thế giới cần ngay lập tức loại bỏ hoàn toàn việc thải khí CO2 Dưới đây là những giải pháp khả thi được đưa ra có thể đối phó với BĐKH

Trang 29

1.1.4.1 Giảm sản xuất điện từ nguồn năng lượng truyền thống, tăng cường

sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo: như năng lượng Mặt Trời, năng lượng

gió, năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối (biomas), năng lượng khí sinh học (biogas) Mục đích của việc sử dụng năng lượng tái tạo này là giảm lượng khí thải CO2 đối với Trái Đất

1.1.4.3 Tiết kiệm năng lượng để giảm lượng khí CO 2 thải ra bầu khí quyển

Phương tiện giao thông là một trong những nguyên nhân thải ra môi trường một lượng lớn khí CO2 và các loại khí độc hại khác như xe máy, xe ôtô… thay vì đi lại bằng xe máy, ôtô chúng ta nên đi bằng những phương tiện công cộng như đi xe buýt, đi xe đạp Với các loại phương tiện đi lại này sẽ tiết kiệm không chỉ xăng dầu mà còn hạn chế khí thải gây ô nhiễm môi trường Một trong những giải pháp kinh tế khả thi nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường là tiết kiệm điện, đặc biệt là sử dụng các thiết bị dân dụng tiết kiệm như bóng đèn compact, các loại pin nạp… Theo Bộ Môi trường Mỹ, ở quốc gia này mỗi gia đình chỉ cần thay một bóng đèn dây tóc chiếu sáng bằng bóng compact thì cả nước sẽ tiết kiệm được lượng điện cho 3 triệu gia đình khác

Tủ lạnh: nếu thay chiếc tủ lạnh cũ đang dùng, model của năm 1970 bằng

chiếc tủ lạnh model năm 2000, sẽ giảm lượng khí thải CO2 khoảng 500 kg mỗi năm Nhiều nước sản xuất đã dán nhãn tiết kiệm năng lượng cho các sản phẩm

họ sản xuất ra gọi là “Energy Star” Tủ lạnh có dán nhãn tiêu thụ ít hơn tủ lạnh sản xuất những năm 1980 đến 46%

Trang 30

Máy giặt: nếu giặt quần áo bằng tay, phơi quần áo ngoài trời sẽ tiết kiệm

năng lượng vì nếu dùng máy giặt, sấy khô trong máy sẽ sản sinh thêm ít nhất

650 kg khí CO2 mỗi năm

Máy điều hòa: trong những ngày nóng bức vào mùa hè, nhiều gia đình đã

sử dụng máy điều hòa Tùy theo nhiệt độ trong ngày và thói quen chịu nóng (lạnh) của mình mà điều chỉnh nhiệt độ cho thích hợp Nếu tăng thêm 20

C, chúng ta sẽ giảm được 200 kg khí CO2 mỗi năm

Máy tính: theo cục bảo vệ môi trường của Mỹ, nếu chúng ta để máy tính

trong khi nghỉ trưa hoặc làm việc khác hàng giờ liền, sẽ tốn thêm 80% điện năng và thải ra thêm 650 kg CO2 mỗi năm

1.1.4.4 Ăn uống thông minh, tăng cường rau quả

Đây là phương pháp được giới y học khuyến cáo rất nhiều, nhưng đứng về mặt môi trường nó lại có ý nghĩa khác Theo đó, người ta đã khuyến khích việc canh tác hữu cơ, gieo trồng các loại rau, hoa quả không dùng phân hóa học, thuốc trừ sâu Việc lựa chọn thực phẩm để cân bằng dưỡng chất, ngon miệng lại mang tính môi trường quả là không đơn giản, trong khi đó các hãng sản xuất lại thi nhau quảng cáo nên đã làm cho người tiêu dùng dễ bị nhầm lẫn Ngoài

ra, việc ăn quá nhiều thịt cũng không tốt cho cơ thể, trong khi đó riêng ngành chăn nuôi cũng là nơi sản xuất ra các loại khí gây hiệu ứng nhà kính

1.1.4.5 Giảm tiêu thụ

Một trong những phương án kinh tế nhất là tiết kiệm chi tiêu, điều này không chỉ đúng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn có tác dụng là giảm khí gây hiệu ứng nhà kính Ví dụ như việc giảm dùng các loại bao gói sẽ giảm được đáng kể chi phí sản xuất lẫn chi phí tái chế Một trong những vấn đề bức xúc hiện nay là sử dụng quá nhiều các loại bao gói có nhiều nguồn gốc từ nhựa plastic đã gây lên hiệu ứng “ô nhiễm trắng”

1.1.4.6 Cải tạo, nâng cấp hạ tầng

Theo số liệu thống kê nhà ở chiếm 1/3 lượng phát tán khí gây hiệu ứng nhà kính trên qui mô toàn cầu Vì vậy ,việc cải tiến trong lĩnh vực xây dựng

Trang 31

như tăng cường hệ thống bảo ôn, xây dựng các cầu thang điều chỉnh độ cao…

sẽ tiết kiệm được rất nhiều nhiên liệu và giảm mức phát thải [31] Ngoài ra, các công trình giao thông như cầu đường cũng là yếu tố cần đầu tư thỏa đáng Đường tốt không chỉ giảm nhiên liệu xe cộ mà còn khí phát tán độc hại hoặc sử dụng các loại lò đốt trong công nghiệp như lò khí hóa than, lò dùng trong sản xuất xi măng cũng sẽ giảm được rất nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính

1.1.4.7 Ứng dụng công nghệ mới trong việc bảo vệ Trái Đất

Hiện nay, các nhà khoa học đang tiến hành những thử nghiệm mới như quá trình can thiệp kỹ thuật địa chất hay kỹ thuật phong bế Mặt Trời… nhằm giảm hiệu ứng nhà kính Ngoài các giải pháp này, các nhà khoa học còn tính đến kỹ thuật phát tán các hạt Sulphate vào không khí để nó thực hiện quá trình làm lạnh bầu khí quyển như quá trình phun nham thạch của núi lửa hoặc lắp đặt hàng triệu tấm gương nhỏ để làm chệch ánh sáng mặt trời tới việc bao phủ vỏ Trái Đất bằng các màng phản chiếu để khúc xạ trở lại ánh sáng mặt trời, tạo ra các đại dương có chứa sắt và các giải pháp tăng cường dinh dưỡng giúp cây trồng hấp thụ CO2 nhiều hơn [13]

1.1.4.8 Giáo dục tuyên truyền cho sinh viên, học sinh trong nhà trường

Nhận thức về hiểm họa của BĐKH đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Hành động bảo vệ môi trường như trồng cây xanh, sử dụng chất thải theo công thức 3R: giảm sử dụng, sử dụng lại và tái chế

Tích hợp BĐKH vào các học phần địa lí trong giảng dạy và học tập ở các trường đại học, tích hợp BĐKH vào nội dung các bài học trong sách giáo khoa địa lí ở cấp THPT (từ lớp 6 đến lớp 12)

Vận động mọi người trong gia đình và cộng đồng quan tâm đến BĐKH, từ

đó mọi người lo lắng về tác hại, nguyên nhân, hậu quả và có trách nhiệm đối phó với BĐKH

Trang 32

Tất cả những biện pháp người ta đặt ra chỉ có thể dừng lại ở mức giảm thiểu BĐKH trước những diễn biến nhanh chóng của nó Bên cạnh việc tìm kiếm những giải pháp nhằm giảm thiểu BĐKH thì người ta phải xây dựng kế hoạch thích nghi với BĐKH Người ta đã đưa ra một số biện pháp thích ứng với BĐKH trong một số lĩnh vực như sau:

- Lĩnh vực tài nguyên nước: xây dựng các hồ chứa nước lũ để giảm nhẹ

tổn thất do lũ, đồng thời điều tiết nước cho mùa khô; nâng cấp và mở rộng quy

mô các công trình tiêu úng; sử dụng nguồn nước hợp lí và hiệu quả; đầu tư nghiên cứu dự bái dài hạn tài nguyên nước để có kế hoạch hợp lí và an toàn

- Lĩnh vực nông nghiệp: xây dựng cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với

BĐKH; sử dụng hiệu quả và có quy hoạch nguồn nước tưới, đồng thời tăng cường hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp; xây dựng các biện pháp canh tác phù hợp với BĐKH; xây dựng biện pháp chống sâm nhập mặn…

- Lĩnh vực lâm nghiệp: tăng cường trồng rừng, trước hết là rừng đầu

nguồn, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ và phát triển rừng ngập; bảo vệ rừng

tự nhiên; thành lập ngân hàng giống cây trồng, bảo tồn những nguồn gen quý hiếm…

- Lĩnh vực thủy sản: nghiên cứu dự báo sự di chuyển của đàn cá, trang bị

cho ngư dân thiết bị theo dõi cá; phát triển các loại thủy – hải sản có giá trị kinh

tế cao, thích nghi với điều kiện khí hậu đã biến đổi; chuyển một số vùng canh tác bị ngập nước thành vùng nuôi trồng thủy sản; xây dựng hệ thống phòng tránh trú bão dọc ven biển, đồng thời tăng cường công tác dự báo thời tiết, nhất

là bão biển…

- Lĩnh vực năng lượng và giao thông vận tải: xây dựng kế hoạch phát

triển năng lượng và giao thông có tính đến các yếu tố BĐKH; nâng cấp và cải tạo các công trình giao thông vận tải, bến cảng ở các vùng thường xuyên bị đe dọa bởi nước biển dâng và lũ lụt; đảm bảo quản lí nhu cầu năng lượng bên trong trên cơ sở hiệu xuất năng lượng cao, sử dụng tiết kiệm và hợp lí năng lượng, đảm bảo an ninh và an toàn năng lượng…

Trang 33

- Y tế và sức khỏe con người: đẩy mạnh chiến lược xóa đói, giảm nghèo,

nâng cao mức sống kinh tế - xã hội của người dân, đồng thời nâng cao nhận thức về vệ sinh và văn hóa thông qua các chương trình quốc gia; có biện pháp phòng tránh, ứng phó kịp thời và ngăn ngừa sự lây truyền dịch bệnh; nâng cao nhận thức của người dân về BĐKH để họ tự xây dựng những biện pháp thích ứng cho bản thân

- Vùng ven biển: thực hiện bảo vệ toàn diện vì đây là điểm suy yếu nhất,

có kế hoạch ứng phó kịp thời với hiện tượng nước biển dâng; sử dụng các biện pháp tôn cao đất, tôn cao nhà cửa, dùng bơm hút nước, né tránh các tác động của nước biển dâng bằng cách di dân

1.1.5 Giáo dục biến đổi khí hậu

1.1.5.1 Mục đích và ý nghĩa của giáo dục BĐKH

Giáo dục về BĐKH giúp cho học sinh có hiểu biết về hiện tượng BĐKH, nguyên nhân và những tác động của nó tới đời sống con người và những biện pháp hạn chế các tác nhân dẫn đến BĐKH, có được những kỹ năng cần thiết để ứng phó với những tác động do BĐKH gây ra Từ đó chuẩn bị cho học sinh tâm thế sẵn sàng tham gia các hoạt động nhằm hạn chế sự BĐKH

Chức năng tổng quát và cao quý nhất của giáo dục là “trồng người”, rèn luyện và phát triển nhân cách người lao động Giáo dục trong nhà trường đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành tư cách công dân, cách ứng xử với xã hội, đối với môi trường, trong đó có cách ứng xử trước hiện tượng BĐKH, nguyên nhân cũng như tác động trực tiếp của nó đối với cuộc sống người dân, với sự tồn vong của đất nước Việt Nam thì trong mọi hành động các em sẽ cân nhắc để hạn chế nguy cơ dẫn đến BĐKH, chọn lối sống thân thiện với môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường cũng như mục tiêu của giáo dục về BĐKH

Trang 34

Giáo dục cung cấp cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt động thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, phát triển năng lực của mỗi cá nhân và hình thành lối sống văn hóa Qua đó giáo dục mỗi con người trở thành người lao động tự chủ, năng động, thông minh và sáng tạo tham gia một cách có ý thức trách nhiệm vào công cuộc xây dựng và phát triển cộng đồng, đất nước Giáo dục thông qua các môn học

và hoạt động, giúp học sinh có sự hiểu biết đầy đủ và khoa học về hiện tượng BĐKH cũng như có điều kiện rèn luyện cho HS cách ứng phó với những thiên tai do BĐKH gây ra Vì vậy đứng trước nguy cơ BĐKH, giáo dục phổ thông có trách nhiệm và khả năng đóng góp một cách hiệu quả vào việc tăng cường nhận thức và khả năng ứng phó với BĐKH

1.1.5.2 Nội dung về giáo dục biến đổi khí hậu

BĐKH là vấn đề có tính toàn cầu, liên quan đến tất cả vấn đề môi trường nói chung, như: bảo vệ rừng và trồng rừng, sử dụng hợp lí đất đai, củng cố và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm

và xóa đói giảm nghèo…

Trên bình diện quốc tế, Hội nghị thượng đỉnh tại Copenhaghen nhằm mục tiêu thông qua một hiệp ước về thay đổi khí hậu toàn cầu được tổ chức vào tháng 12/2009 Các nhà đàm phán đã hết sức nỗ lực để đạt được sự nhất trí thay thế nghị định thư Kyoto về hạn chế khí thải cacbon Tuy nhiên kết quả mang lại không như mong đợi của nhiều người và nhiều quốc gia Trên thế giới, Trung quốc và Mỹ, mỗi nước chiếm 20% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ tiêu thụ than đá, khí tự nhiên và dầu mỏ EU chiếm 14%, tiếp theo là Nga và Ấn Độ chiếm 5% Tổng thống Mỹ Brack Obama khẳng định: “nếu chúng ta linh hoạt

và thực tế, nếu chúng ta có thể giải quyết bằng cách làm việc không mệt mỏi trong những nỗ lực chung, thì sau đó chúng ta sẽ hoàn thành mục tiêu chung của chúng ta: một thế giới an toàn hơn, trong sạch hơn, vững bền hơn thế giới

mà chúng ta đã thấy”

Trang 35

Ở các lãnh thổ khác nhau, những hành động cụ thể của người dân địa phương là việc làm cần thiết để cải thiện môi trường và ứng phó với BĐKH

Vì vậy, nội dung của giáo dục biến đổi khí hậu cần đề cập đến:

- Khái niệm/thuật ngữ về BĐKH

- Hiện trạng, nguyên nhân của sự BĐKH, đặc biệt là những nguyên nhân

do con người tạo ra như phát thải khí nhà kính gây nên sự ấm lên toàn cầu…

- Hậu quả của BĐKH và tác động của nó trên phạm vi toàn cầu, quốc gia

và khu vực - địa phương

- Những biện pháp hạn chế các tác nhân gây nên BĐKH trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và địa phương trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và địa phương Nhìn chung, các giải pháp ứng phó với BĐKH cần được triển khai ở cả 3 cấp độ: cộng đồng (nâng cao năng lực thích ứng với các vùng bị ảnh hưởng, ví dụ như xây dựng nhà cửa thích hợp ở đồng bằng sông Cửu Long, lồng ghép thông tin về BĐKH vào các kế hoạch phát triển, kết hợp với nâng cao nhận thức và tăng cường sự tham gia của cộng đồng), chính sách (xây dựng chiến lược ở cấp quốc gia, địa phương) và năng lực thể chế, hành động địa phương (ví dụ: để hạn chế thiệt hại do nước biển dâng cao, trước mắt cần trồng rừng ngập mặn và quy hoạch nuôi trồng thủy sản, phát triển các khu bảo tồn sinh thái, không quy hoạch khu định cư gần biển, cửa sông, xây đê cao 1 -1,2m để bảo vệ cảng biển,

di tích, điểm du lịch… trong vùng ngập do NBD Tổ chức các hoạt động của

HS, thanh niên như hội thảo về các chủ đề BĐKH như Trái Đất nóng lên, hiệu ứng nhà kính…)

- Ứng phó trước tác động của BĐKH ở Việt Nam: phòng chống ngập lụt ở đồng bằng châu thổ và vùng ven biển, sạt lở đất vùng ven biển, lũ và sạt lở đất

ở vùng núi…

- Cung cấp, rèn luyện những kỹ năng cần thiết để ứng phó với thiên tai do BĐKH gây nên ở địa phương (kỹ năng cụ thể phòng chống lũ lụt, sạt lở đất, bão…)

Trang 36

1.1.5.3 Các hình thức giáo dục biến đổi khí hậu

Con đường có hiệu quả để nâng cao nhận thức và năng lực thích ứng với những thách thức của BĐKH cho các cá nhân, cộng đồng trong cuộc đấu tranh với BĐKH là tăng cường GDBĐKH trong hệ thống giáo dục chính quy và phi chính quy Tất cả các bậc học và các hình thức của chương trình giáo dục và dạy học hiện hành cần phải được xem xét lại và được đổi mới và định hướng làm sáng tỏ những nguyên nhân và hậu quả của BĐKH Điều đó có nghĩa là hệ thống giáo dục ở mọi nơi cần chứa đựng nội dung, mà tiêu điểm về nguyên nhân, hậu quả và giải pháp đối với BĐKH và việc đề cập đến các nguyên nhân

và hậu quả của BĐKH trong chương trình giáo dục cần được thực hiện với những nội dung và phương pháp giáo dục, giảng dạy thích hợp, có khả năng hình thành năng lực trong xã hội để giảm thiểu, thích ứng và chuyển đổi

Về bản chất, giáo dục BĐKH là một bộ phận của giáo dục phát triển bền vững và nó chứa đựng những đặc trưng nổi bật của giáo dục phát triển bền vững Đồng thời đây cũng là nội dung mang tính liên môn nên giáo giục BĐKH có nhiều hình thức giáo dục khác nhau: giáo dục chính quy giáo dục không chính quy, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề, giáo dục đại học với phương pháp phù hợp Do đề tài hướng vào việc GDBĐKH ở phổ thông nên tác giả đề cập cụ thể đến các phương thức giáo dục ở phổ thông có thể sử dụng được là ba phương thức: tích hợp, lồng ghép và bộ môn riêng

- Tích hợp: là phương thức kết hợp một cách hệ thống khái niệm GDBĐKH vào nội dung môn học Chương trình giảng dạy được xem xét lại để cho phép kết hợp các tư tưởng phù hợp, đảm bảo sự tích hợp đầy đủ về mặt nội dung

- Lồng ghép: là phương thức mang tính chất của sự sắp xếp đặc biệt nhiều hơn Nó mở rộng và làm phong phú thêm bài học bằng cách bổ sung kiến thức

và thêm vào những ví dụ GDBĐKH Qua phương thức này, HS dễ dàng tiếp thu bài học bởi những ví dụ sinh động và nguồn tri thức được mở rộng, nhờ vậy

sẽ làm cho chất lượng và hiệu quả giờ học được nâng cao

Trang 37

- Bộ môn riêng biệt: xây dựng chương trình GDBĐKH có hệ thống và trở thành môn học riêng như các môn học khác Môn học riêng có thể là môn học bắt buộc, môn học lựa chọn hoặc một khóa học ngắn hạn Với phương thức này

HS học được sâu và có hệ thống về kiến thức GDBĐKH Vì vậy mà các mục tiêu GDBĐKH sẽ dễ dàng đạt được hơn

Các môn học có nhiều khả năng tích hợp nội dung GDBĐKH là: Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân, Hóa học, Vật lí… Trong đó, môn Địa lí được coi là môn học có “tính môi trường nhất”, có ưu thế hơn hẳn các môn học khác để GDBĐKH Bộ môn Địa lí ở nhà trường phổ thông với hai phân ngành là địa lí

tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội có khả năng phản ánh không chỉ về mặt tự nhiên, môi trường mà còn thể hiện được mặt kinh tế - xã hội và sự tác động của con người tới môi trường ở các mức độ khác nhau (địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu)

GDBĐKH qua môn Địa lí trong nhà trường phổ thông không chỉ quan tâm tới việc truyền thụ các kiến thức về tình trạng BĐKH nói chung và hình thành cho HS những kĩ năng, phương pháp cần thiết cho các em mà còn phải coi trọng các giá trị, vấn đề và triển vọng cho cuộc sống tương lai nhằm hướng dẫn

và khuyến khích HS tìm kiếm và phát hiện ra những kế sinh nhai bền vững để qua đó tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội và sống một cách bền vững

Vì vậy, GDBĐKH nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng về các mặt kiến thức, kĩ năng và giá trị mà trong đó sự thay đổi thái độ - hành vi là một đơn vị cấu thành chủ chốt

- Về kiến thức và kĩ năng: GDBĐKH trang bị cho người học những sự kiện, mức độ của sự biến đổi (tuy nhiên của những ưu điểm của xã hội xanh và lành mạnh), các hậu quả, tiềm năng, giải pháp có thể thực hiện và chiến lược lãnh đạo mà nó có thể dẫn tới một con đường phát triển bền vững Hơn nữa, GDBĐKH cần được thực hiện theo tiếp cận liên môn nhằm làm cho việc học tập trở nên sống động hơn, có nhiều trải nghiệm hơn và liên quan nhiều hơn đối với các vấn đề thiết thực của cuộc sống

Trang 38

- Về giá trị và sáng tạo: trở thành công dân toàn cầu, có cảm xúc cá nhân thuộc về một hành tinh, một cộng đồng nhân đạo, yêu quí và làm bạn với tự nhiên Yêu và bảo vệ hòa bình… được xem là những giá trị cần được khuyến khích khi tiến hành GDBĐKH Thông qua GDBĐKG cần làm cho người học hiểu rằng không chỉ tự nhiên và hành tinh đang trong nguy hiểm mà các điều kiện cho sự duy trì một nền hòa bình bền vững của hàng triệu người cũng bị đe dọa

- Sự thay đổi hành vi – thái độ và năng lực của người công dân: đây được xem là nội dung và mục tiêu hàng đầu của GDBĐKH Sự thay đổi trong kiến thức và kĩ năng cần phải dẫn tới sự thay đổi hành vi – thái độ của người học theo những định hướng của sự phát triển bền vững trong lĩnh vực BĐKH

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực trạng BĐKH ở Việt Nam

Action Aid cho rằng năm 2100, Việt Nam có thể bị mất ít nhất 12,2% diện tích đất do BĐKH, nhiều khu vực sẽ bị ngập nhiều tháng trong năm, thiệt hại kinh tế có thể lên tới 17 tỉ USD

Theo G.S Nguyễn Trọng Hiệu (trung tâm khí tượng thủy văn nông nghiệp), thời gian vừa qua nhiều hiện tượng thay đổi thất thường của khí hậu ở Việt Nam đã ghi nhận được như nhiệt độ tăng, lượng mưa tăng và thất thường, mực NBD, các đợt không khí lạnh giảm, số lượng bão có cường độ mạnh lên

Cụ thể, BĐKH sẽ làm cho các dòng chảy giảm từ 2 đến 25% và dòng chảy lũ gia tăng từ 5% đến 15%, đặc biệt là tình trạng NBD dẫn đến xâm nhập mặn tại các vùng trồng lúa và các cây hoa màu Ngoài ra, BĐKH cũng làm phạm vi thích nghi của cây nhiệt đới mở rộng và cây á nhiệt đới bị thu hẹp, tình trạng hạn hán, lũ lụt gia tăng, sản xuất lương thực giảm sút Xu hướng BĐKH ở Việt Nam là nhiệt độ trung bình có thể tăng thêm 30C vào năm 2100, lượng mưa có

xu thế biến đổi giữa các vùng, có thể tăng (từ 0% đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô, mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m vào năm 2100

Trang 39

Ngân hàng thế giới cho biết năm 2007 trong tổng số 33 thành phố có quy

mô dân số 8 triệu người thì vào năm 2015 sẽ có 21 thành phố sẽ bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần Riêng Việt Nam được dự đoán là một trong năm nước đang phát triển bị tác động tồi tệ nhất trên thế giới nếu nhiệt độ Trái Đất tăng lên khoảng 10C và mực NBD 1m Tác động của nó gây ra hiện tượng thời tiết bất thường và khó dự báo nhất, hình thành các cơn bão mới và mức độ tàn phá mạnh, nhiệt độ tăng và lượng mưa lớn sẽ làm cho diện tích đất nông nghiệp và tài nguyên nước đặc biệt là ĐBSH và ĐBSCL bị ngập lụt do NBD Nước biển làm cho diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm , đặc biệt rừng ngập mặn ở Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nam Định

Biểu hiện ở Việt Nam do tác động của BĐKH là hạn hán liên tiếp hoành hành ở cả 3 miền, lũ, lụt, bão, hạn hán xảy ra thường xuyên gây thiệt hại lớn về người và môi trường Đặc biệt là đất đai: NBD sẽ làm khoảng 17 – 19 triệu người Việt Nam mất đất và phần lớn diện tích đất trồng trọt sẽ bị ngập nước, gia tăng hiện tượng xói mòn và rửa trôi đất xảy ra mạnh hơn, đất đai trở nên khô cằn và bạc màu

1.2.2 Chủ trương, quan điểm của nhà nước về BĐKH

- Quan điểm: ứng phó với BĐKH được tiến hành bằng nguyên tắc phát

triển bền vững, đảm bảo tính hệ thống, tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng, bình đẳng giới, xóa đói giảm nghèo Các hoạt động tiến hành có trọng tâm, trọng điểm ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và các tác động tiềm năng lâu dài, ứng phó hiện nay sẽ làm giảm được thiệt hại cho tương lai Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn xã hội, toàn hệ thống chính trị, của các cấp các ngành, các tổ chức liên quan và của toàn thể người dân Cần được tiến hành đồng thuận và có quyết tâm cao từ phạm vi địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu Các yếu tố phải được tích hợp thành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các cấp, các nghành, các địa phương Triển khai theo nguyên tắc “trách nhiệm chung nhưng có sự phân biệt” theo công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH

Trang 40

- Nguyên tắc chỉ đạo: Chính phủ thống nhất các hoạt động ứng phó với

BĐKH, Bộ tài nguyên và môi trường là cơ quan thường trực, đối phó với các

cơ quan có liên quan có trách nhiệm giúp chính phủ thực hiện đối với các lĩnh vực này

- Mục tiêu:

Mục tiêu chiến lược: là đánh giá được mức độ tác động của BĐKH đối với

các lĩnh vực, các ngành, các địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó với hậu quả của BĐKH trong từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng cơ hội phát triển theo hướng thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống Trái Đất

Mục tiêu cụ thể: đánh giá được mức độ biến đổi của khí hậu Việt Nam do

BĐKH toàn cầu và mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, các ngành, địa phương, xác định các giải pháp ứng phó với BĐKH; tăng cường các hoạt động khoa học công nghệ nhằm xác lập các cơ sở khoa học và thực tiễn cho các giải pháp ứng phó với BĐKH; củng cố, tăng cường được năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về BĐKH…

- Biện pháp:

+ Chấp nhận tổn thất: tất cả các phương pháp thích ứng khác có thể được

so sánh với các phản ứng cơ bản “không làm gì cả”, ngoài trừ chịu đựng hay chấp nhận các tổn thất Về mặt lí thuyết, chấp nhận tổn thất xảy ra khi bên chịu tác động không có khả năng chống chọi lại bằng bất cứ giá nào hay ở nơi mà nó phải trả giá cho các hoạt động thích ứng là cao so với sự rủi ro và các thiệt hại

có thể

+ Chịu sự tổn thất: loại phản ứng này có liên quan đến việc chia sẻ những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn Cách thích ứng này thường xảy ra trong một cộng đồng truyền thống và trong xã hội công nghệ cao, phức tạp Trong xã

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w