1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BÀI GIẢNG : PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

161 11,3K 186
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Cộng Đồng
Tác giả Th.S. Phí Thị Hồng Minh
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Khuyến Nông và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 880 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình phát triển cộng đồng có thể bắt đầu với các dự án mở rộng sản xuất tăng thu nhập, chăm sóc sức khoẻ, cải thiện dinh dưỡng, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, phát triển

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

BÀI GIẢNG

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

(Dùng cho sinh viên ngành Khuyến nông và Phát triển nông thôn)

Biên soạn Th.S Phí Thị Hồng Minh

THÁI NGUYÊN 2005

Trang 2

Quan tâm lớn hiện nay đối với công cuộc phát triển là tìm kiếm những chiến lược phát triển “Lấy con người làm trung tâm” Phương thức này nhấn mạnh sự tham gia với vai trò ngày càng cao của người dân ở cơ sở vào tất cả các giai đoạn của tiến trình phát triển Đó là sự phát triển dựa vào sáng kiến của người dân và sự tự lực của họ Những nỗ lực như vậy dẫn đến thay đổi phương pháp: từ cung cấp phúc lợi xã hội cho người dân, coi họ như là những người hưởng lợi thụ động, sang phát triển cộng đồng nhằm giúp họ nâng cao năng lực để giải quyết vấn đề của họ Phương pháp phát triển cộng đồng lấy con người làm trung tâm là tăng tính tự quyết và phát huy tiềm năng của họ Nó dựa trên triết

lý rằng: người dân có thể tự định hướng và điều khiển sự phát triển của chính họ khi họ nhận thức được giá trị và sức mạnh của chính mình Sự tham gia tích cực và chủ động của cộng đồng vào hoạt động phát triển được coi là phương tiện và cũng là mục tiêu của phát triển.

Hoạt động phát triển cộng đồng mang tính chất đa dạng và liên ngành Tuỳ thuộc vào bối cảnh thực hiện chương trình, các vấn đề trọng tâm của môic huyên ngành có thể được nhấn mạnh Chương trình phát triển cộng đồng có thể bắt đầu với các dự án mở rộng sản xuất tăng thu nhập, chăm sóc sức khoẻ, cải thiện dinh dưỡng, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, phát triển lãnh đạo, hỗ trợ tín dụng, xoá mù chữ, phát triển cơ

sở hạ tầng…Tuy nhiên mục tiêu bao quát của các dự án phát triển cộng đồng là hướng đến tạo lập chuyển biến xã hội tích cực trong cộng đồng nông thôn, làm cơ sở cho tăng trưởng kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống người dân và đóng góp vào công cuộc phát triển chung của quốc gia ở Việt Nam, khái niệm phát triển cộng đồng đã được áp dụng từ lâu nhưng mới được đưa vào chương trình giáo dục trong những năm gần đây nên chưa

có tính hệ thống và định hướng rõ rệt Tài liệu này được biên soạn từ những tài liệu khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu đào tạo chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn và các ngành liên quan trong Trường Đại học Xin giới thiệu với bạn đọc quan tâm và mong nhận được ý kiến góp ý để tài liệu được hoàn chỉnh hơn

CHƯƠNG 1:

NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ

Trang 3

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CỘNG ĐỒNG:

Cộng đồng được khái niệm như là một hệ thống xã hội, một nhóm người cùng có

những đặc điểm chung Ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ những tài

nguyên và lợi ích chung…Nói một cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống

với nhau trong một khu vực nhất định, họ có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại

và sử dụng các tài nguyên vốn có để đạt được mục đích chung.

1.1.1 Những thành tố cơ bản của cộng đồng:

- Con người: Dân cư hay một nhóm người có mối quan hệ qua lại riêng biệt do họ có

những mối quan tâm chung nhằm đáp ứng nhu cầu chung của họ

- Lãnh thổ: Khu vực, xét về đặc điểm tâm lý và không gian, mà con người sinh sống có

thể là làng, xã, huyện, tỉnh, trong một khu vực địa lý nhất định

- Tương tác xã hội: là mối quan hệ mà trong đó hành động của người này có ý nghĩa và

chi phối đến người khác

- Ràng buộc chung: Con người có văn hoá, chuẩn mực, niềm tin, truyền thống chung

trong các hoạt động hàng ngày

- Nhu cầu chung: Con người tập trung lại với nhau là do họ có cùng mối quan tâm đáp

ứng nhu cầu chung cho tất cả mọi người, như là: Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, cácphương tiện cộng cộng…

1.1.2 Quá trình hình thành cộng đồng:

Quá trình hình thành cộng đồng gồm các bước sau:

+ Quá trình tập hợp lại theo một hình thức tổ chức nào đó: Ví dụ con người dichuyển đến nơi có điều kiện để làm việc và sinh sống

+ Sự tập trung hoá, quyết định bởi chức năng cơ bản của yếu tố trung tâm chung

Ví dụ: Hoạt động sinh kế, đường giao thông, trung tâm thương mại, và những cái khácxung quanh thành phố hoặc cộng đồng

+ Chuyên môn hoá: Là phân loại sử dụng, chức năng các loại hình hoạt động ở

Trang 4

+ Sự phân tán: Con người cùng với chức năng vùng đô thị di chuyển đến vùngngoại ô thành phố hoặc vùng dân cư mới, nói một cách khác, đây là sự di chuyển ra xatrung tâm.

+ Sự phân vùng: một số dạng người hoặc loại hình hoạt động nào đó được tậptrung ở một vùng cụ thể

1.1.3 Đặc điểm xã hội cộng đồng:

Mô tả đặc điểm xã hội Cộng đồng bao gồm các nội dung sau:

+ Cấu trúc xã hội: loại cấu trúc và vai trò có quan hệ với nhau

+ Mục đích chung: nó rạo ra tinh thần đoàn kết trong cộng đồng

+ Tài nguyên: Một cộng đồng không thể sống nếu không có tài nguyên

+ Thứ bậc xã hội: Không phải mọi người đều như nhau trong cộng đồng; Các cộngđồng khác nhau có những tiêu chí phân loại khác nhau

+ Sự thưởng phạt: là cần thiết để cộng đồng thực hiện tốt chức năng của nó

+ Quyền lực/sự ảnh hưởng: Bạn có thể không có quyền lực nhưng bạn có một sứcmạnh (sự ảnh hưởng) để kiểm soát người khác

+ Lãnh thổ: nó bao gồm cả lãnh thổ về mặt không gian và lãnh thổ về mặt tâm lý

1.1.4 Khái niệm về phát triển và phát triển cộng đồng

Thách thức hiện nay đối với những người làm công tác phát triển là tìm kiếm

những chiến lược phát triển “Lấy con người làm trọng tâm” nhấn mạnh sự tham gia tích

cực của người dân Những nỗ lực trong lĩnh vực này hầu hết dựa vào phương pháp pháttriển dựa trên sáng kiến từ cơ sở và sự tự lực Những nỗ lực như thế đã dẫn tới kết quả làchuyển từ phương pháp hướng về cung cấp an sinh xã hội đối với người dân là nhữngngười thụ hưởng sang phương pháp phát triển cộng đồng, nhằm giúp cộng đồng có nghĩa

là họ tự giúp họ bằng cách tham gia tích cực

Phát triển là quá trình biến đổi về chất lượng Về số lượng thì đó là sự tăng tưởng,còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến động về mặt chất lượng theo hướngtiến bộ Vận dụng vào phát triển xã hội thì phát triển xã hội có nghĩa là sự tăng trưởng,

Trang 5

đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế cùng với sự biến chất xã hội theo chiều hướng tiến bộ

xã hội, nghĩa là theo hướng đúng hơn, tốt hơn và đẹp hơn

Phát triển là một quá trình chuyển biến xã hội mà qua đó con người dần dần có khảnăng kiểm soát (điều khiển) được điều kiện vật chất, xã hội và môi trường quyết định đếncuộc sống, công việc và lợi ích mà họ có được do sự kiểm soát đó tạo nên Đồng thờigiúp họ có khả năng tự quyết định và tổ chức thực hiện

Phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng là một bộ môn mới hình thành, đangtrên con đường hoàn thiện, do đó việc định nghĩa chúng là một quá trình hoàn thiện dầndần Nhìn chung các định nghĩa đều nhất trí trên những nội dung cơ bản sau:

Phát triển cộng đồng là một qúa trình chuyển biến xã hội trong cộng đồng mà

thông qua đó con người phát triển và trưởng thành trong phạm vi tiền năng vốn có của

họ Đó là những nỗ lực có kế hoạch, có tổ chức nhằm giúp cho những cá nhân có đượcnhững thái độ và quan niệm phù hợp, kỹ năng tốt để họ tham gia tích cực và dân chủ vàoviệc đưa ra các giải pháp cải thiện có hiệu quả các vấn đề chung theo thứ tự ưu tiên đượcxác định Các khái niệm cụ thể là:

“Những tiến trình qua đó nỗ lực của người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền

để cải thiện các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng thời góp vào sự phát triển của quốc gia” Theo định nghĩa này

Phát triển cộng đồng có hai nội dung chủ yếu Một là sự tham gia của người dân với sự tựlực tối đa Hai là hỗ trợ về kỹ thuật và các dịch vụ để khuyến khích sáng kiến, sự tươngthân tương trợ để nỗ lực của người dân có hiệu quả cao hơn

“Là một tiến trình giải quyết vấn đề của cộng đồng qua đó cộng đồng được tăng sức mạnh do nâng cao kiến thức và kỹ năng phát hiện phân tích vấn đề , ưu tiên hoá chúng, huy động tài nguyên để giải quyết và hành động chung Phát triển cộng đồng không phải là một cứu cánh, là một kỹ thuật Nó tăng sức mạnh cho cộng đồng để tự quyếtt định về sự phát triển của mình Mục đích cuối cùng là sự tham gia chủ động của người dân vào tiến trình phát triển ”.

Trang 6

Người ta thừa nhận rằng phương pháp phát triển cộng đồng có khả năng giải quyếtnhững vấn đề, những thách thức mà những cộng đồng ở nông thôn và thành thị của cácnước đang phát triển gặp phải Phương pháp này cũng giúp giải quyết những vấn đề củacác nhóm bị thiệt thòi và đang bị lãng quên ở những nước đang phát triển Phương phápphát triển cộng đồng là phương pháp lấy con người làm trung tâm và quan tâm trước tiênđến nhân phẩm và tiềm năng của họ Phương pháp này giả định rằng: để người dân có thể

tự kiểm soát và định hướng cho số phận của họ thì trước hết họ phải nhận thức được giátrị và sức mạnh của mình Phương pháp phát triển cộng đồng tạo điều kiện cho các thànhviên trong cộng đồng được tham gia vào mọi phương diện liên quan tới quá trình pháttriển Tuy nhiên, kinh nghiệm trong quá khứ ở các nước đang phát triển cho thấy phươngpháp phát triển cộng đồng lấy toàn bộ cộng đồng làm nhóm đối tượng đã không tác độngnhiều đến những người nghèo nhất trong số những người nghèo Từ những nhận thứcnày đã dẫn tới việc hình thành phương pháp hướng về đối tượng, tập trung trực tiếp vàonhững nhóm bị thiệt thòi

1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Phương pháp phát triển cộng đồng bắt đầu hình thành vào thập kỷ 50 ở nhữngvùng nông thôn còn mang tính truyền thống và gần như tự cung tự cấp Các đặc điểm vănhoá xã hội của người dân rất đồng nhất và mối quan hệ giữa họ thật chặt chẽ và thân mật.Quyền lợi và nhu cầu của họ cũng giống nhau, nên làng xã là đối tượng đầu tiên của pháttriển cộng đồng Nhưng với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, đơn vị làng xãkhông thể sinh hoạt cô lập được nhất là về mặt kinh tế Mà chúng phải hoà nhập vào tiếntrình phát triển chung Vả lại làng xã không thể tự phát triển nếu không có một chínhsách phát triển chung

Khi chuyển biến từ nông thôn đến thành thị thì thôn xóm có thể trở thành một khuphố nếu đông dân cư, hay một phường hoặc một đơn vị rộng hơn Ngoài ra với điều kiệnsống như ngày nay những người có những lợi ích chung chưa chắc gì đã cư trú gần nhau,nhưng họ lại liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích hoặc dưới hình thức hợp

Trang 7

tác xã hay hiệp hội Đây là những cộng đồng chức năng, như các tổ chức quần chúng

hoặc nhóm xã hội có thể được coi là “Cộng đồng”.

Phát triển cộng đồng được dịch từ tiếng Anh Community Development xuất hiệnvào những năm 1940 tại các cựu thuộc địa đầu tiên của Anh ở Ghana một người Anh tốtbụng đã nảy ra ý kiến giúp dân cư cải thiện đời sống nằng nỗ lực chung của chính quyền

và người dân Một bên góp công, một bên góp của để đắp đường, xây trường học, trạmxá…Điều gây ngạc nhiên là người dân nghèo đã tích cực tham gia đóng góp công sức vàtiền của vào các chương trình, dự án có mục đích cải thiện cho chính cuộc sống của họ.Kinh nghiệm này cũng cho thấy phát triển phải đồng bộ Kinh tế, sức khoẻ, văn hoá phảiđược nâng lên cùng một lúc Nếu chỉ tiến công vào một khía cạnh thì không thể nào phá

vỡ cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt nát, bệnh tật…

Kinh nghiệm tích cực này sớm được lan rộng ở hầu hết các cựu thuộc điạ ở châu Á

và châu Phi Năm 1950 Liên hợp quốc công nhận khái niệm Phát triển cộng đồng vàkhuyến khích các quốc gia sử dụng Phát triển cộng đồng như một công cụ để thực hiệncác chương trình phát triển quốc gia Thập kỷ 60 – 70 được chọn là thập kỷ phát triển thứnhất với những chương trình viện trợ qui mô lớn về kỹ thuật, phương pháp và vốn liếng.Vào thời điểm ấy dân cư nông thôn chiếm 80- 90% các nước cựu thuộc địa nên Phát triểncộng đồng chủ yếu và phát triển nông thôn và các cộng đồng nông thôn (làng xã)

Năm 1970 Liên hợp quốc đánh giá thập kỷ phát triển đầu tiên của phát triển cộngđồng Kết quả cho thấy có một số tiến bộ rõ rệt như sự thay đổi bộ mặt nông thôn, với hạtầng cơ sở, tiện nghi công cộng phục vụ người dân Tuy nhiên, phong trào rầm rộ này tỏ

ra máy móc và tốn kém Thành quả tích cực nhất là có được một số cơ sở vật chất nhưngchúng không được sử dụng tốt và không đáp ứng được nhu cầu thực sự của người dân.Phong trào không đạt được kết quả mong muốn, nhất là không tạo được sự chuyển biếnđáng kể về mặt xã hội Ví dụ: Như chưa có sự thay đổi về hành vi, tập quán từ người dân

để tiếp nhận tiến trình hiện đại hoá và phát triển của xã hội Chưa có sự công bằng xã hội

vì có một số ít khá lên, nhưng người nghèo vẫn nghèo thậm chí nghèo hơn Sự tham gia

Trang 8

của người dân theo nghĩa đích thực, nghĩa là vào quá trình lấy quyết định, phát huy sángkiến…còn rất hạn chế.

1.3 NGUYÊN LÝ, MỤC TIÊU VÀ QUI TẮC HÀNH ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

1.3.1 Các nguyên lý trong phát triển cộng đồng

Như một đặc tính của phát triển xã hội, phát triển cộng đồng thực chất là quá trìnhtăng trưởng kinh tế cộng đồng cùng với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn thiện các giátrị chân, thiện, mỹ Trên cơ sở riêng của lý thuyết phát triển cộng đồng, nguyên lý là tam

vị nhất thể Có nghĩa là coi cộng đồng như là một thực thể có 3 mặt như hình bên

Ngoài ra triết lý tham gia (participation) là một

trong những quan điểm quan trọng của phát

triển cộng đồng, được dịch thành 2 từ,

nhìnchung là thống nhất: một là tham dự, hai là

tham gia Cả hai từ này đều có mức độ ngữ

nghĩa có khác nhau đôi chút Tham dự là tham

gia với mức thấp, còn tham gia là mức cao Ví

dụ trong một cuộc họp, các đại biểu là người

tham dự, còn khi

phát biểu là người tham gia, tham gia phát biểu quá 3 lần là tham gia tích cực Đây là sựphân biệt có tính chất để chỉ ra các mức độ tham dự mà thôi, nhìn chung ở nước ta gọi đó

là Triết lý tham gia Triết lý này được thể hiện như sau: thừa nhận rằng để cho một cộng

đồng phát triển tốt đẹp, bền vững thì phải có sự hợp đồng tác chiến của tất cả các lựclượng xã hội, của các tổ chức và thiết chế xã hội, mà tạm hình dung là có 4 lực lượng chủchốt sau đây tham dự vào phát triển cộng đồng, đó là: Bản thân cộng đồng; Nhà nước;Thị trường; và các nhân tố xã hội khác

Trang 9

Về quan điểm, mấy thập kỷ xây dựng và hoàn thiện lý thuyết phát triển cộng đồng

và thực hành trong đời sống, trưước hết là ở các cộng đồng nông thôn, đã định hình chochúng ta một số quan điểm hoạt động, đó là:

1 Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (Bottom – up) xuấtphát từ nhu cầu của chính người dân Muốn tự phát triển chính người dân phải tự ý thứccũng như tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình

2 Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội,văn hoá…phải cùng được nâng lên Chỉ tiến công vào một khía cạnh thì không thể nàophá vỡ được cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt nát và bệnh tật Nguồn lực thì có hạnnhưng tính đồng bộ của sự phát triển luôn đòi hỏi các chương trình phải có tính tính toán

các điểm đột phá, từ đó tìm ra chìa khoá của sự phát triển Phát triển cộng đồng chỉ có

hiệu quả kinh nằm trong một chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn

3 Tham gia của quần chúng là quan điểm cơ bản của đường lối phát triển cộngđồng Yếu tố tổ chức là hết sức quan trọng Các tổ chức thuộc chính quyền địa phươngphải được điểu chỉnh để thực hiện chức năng phát triển, cũng như phải hỗ trợ để xâydựng và củng cố các tổ chức của chính người dân tại cộng đồng Sự tham gia của chính

quyền phải được coi như một nhân tố bên trong, không phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà là thành phần quan trọng của cộng đồng.

4 Tạo được chuyển biến xã hội mới là quan trọng Đó là sự thay đổi nhận thức,hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển; là tạo được chuyển biến trong cơ cấu tổchức, các mối tương quan lực lượng trong chính cộng đồng đó

5 Phát triển năng lực trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân Người

dân không thể hành động nếu thiếu năng lực Họ cũng không thể hành động đơn phương,riêng lẻ mà phải kết hợp với các cá nhân, tổ chức cùng một chí hướng và quyền lợi để tạothành quyền lực chung Muốn cho người dân tự làm thì tổ chức thông qua huấn luyện làthen chốt

6 Các nghiên cứu làm nền tảng cho việc triển khai các dự án phải được đặt ngang

Trang 10

(Evaluation) là một bước đo lường hiệu quả xã hội của các dự án và mở ra những vấn đềmới cho cộng đồng Chúng tăng tính hiệu quả của các dự án.

1.3.2 Mục tiêu của phát triển cộng đồng

Trọng tâm của phát triển cộng đồng là con người (thành viên của cộng đồng) vàphát triển con người vì con người Điều này có nghĩa là mục tiêu của phát triển là tăngkhả năng của con người để làm chủ đời sống và môi trường của mình Những tiến bộ vềvật chất không kèm theo sự phát triển khả năng con người và cải tiến định chế xã hội màchỉ là thay đổi tạm bợ Tăng trưởng kinh tế chỉ là một trong những khía cạnh của pháttriển

Mục tiêu bao trùm của phát triển cộng đồng là tạo ra những chuyển biến xã hộitrong cộng đồng để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, mang lại sự bền vững về môitrường Phát triển cộng đồng còn góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hànhđộng có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng Mụctiêu trên được thể hiện dưới 4 khía cạnh sau:

1 Hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, với sự cân bằng vềvật chất và tinh thần, qua đó tạo những chuyển biến xã hội trong cộng đồng

2 Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng, kể cảcác nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và đượctham gia vào hoạt đồng phát triển, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội

3 Củng cố các thiết chế/tổ chức để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến biến xã hội

và tăng trưởng

4 Gia tăng và phát huy sự tham gia tích cực chủ động của người dân vào tiến trìnhphát triển

1.3.3 Qui tắc tiến hành hoạt động phát triển cộng đồng

1 Tin tưởng vào năng lực người dân và cộng đồng: Phát triển cộng đồng hoàn toàn cókhả năng quản lý cuộc sống và các vấn để của mình trừ khi họ bị đè nặng bởi mối lo âu

để sống còn

Trang 11

2 Đảm bảo công bằng xã hội: Công bằng phải dẫn tới sự tái phân phối tài nguyên, baogồm: tiền của, tiện nghi, kiến thức, quyền lực ở cấp vi mô cũng như vĩ mô Điều này rấtquan trọng vì không ít chương trình phát triển đã tạo thêm khoảng cách giàu – nghèo.

3 Tạo các hình thức hợp tác thuận lợi để phát huy tinh thần trách nhiệm cộng đồng

4 Đối tượng ưu tiên của phát triển cộng đồng là người nghèo và người thiệt thòi

5 Bắt đầu với con người: Không nên có thái độ “Đỗ lỗi cho nạn nhân” với những lập luận như ”Dân trí thấp”, “Người ít học khó tiếp thu”, “Người nghèo hay an phận”.

6 Phát triển chỉ có thể Nội sinh nghĩa là xuất phát từ một ý chí và nội lực từ bên trong.

Sự hỗ trợ bên ngoài về chuyên môn và nguồn lực là rất cần thiết nhưng chỉ xúc tác

7 Mọi chương trình hành động đều phải thông qua tiến trình do cộng đồng tự quyết

8 Dân chủ là một nguyên tắc phải hướng tới để đảm bảo rằng lợi ích chung sẽ được tôntrọng Nhưng dân chủ đòi hỏi một quá trình rèn luyện và có qui tắc

1.4.TIẾN TRÌNH CHUNG CỦA PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Phát triển cộng đồng được hình thành nhằm tạo ra những điều kiện cải thiện vềkinh tế và xã hội cho cộng đồng, nhấn mạnh tầm quan trọng sự tham gia của quần chúng,biết định hướng nhu cầu, tự lực, nâng cao ý thức, phương pháp phát triển từ cơ sở và tăngquyền lực cho cộng đồng Trọng tâm của phương pháp này từ sự hội nhập và tính bềnvững Phát triển cộng đồng đặt nền tảng trên sự giả định rằng phát triển bắt đầu ở cấpthấp nhất và sáng kiến, tính sáng tạo và năng lực của quần chúng có thể được sử dụng đểcải thiện chính cuộc sống của họ thông qua những tiến trình dân chủ và những nỗ lực tựnguyện Nó bao hàm việc nâng cao ý thức quần chúng ở cấp thấp nhát khi họ được đánhthức để nhận ra năng lực của mình Trong hoàn cảnh lý tưởng, những thành viên cộngđồng tự tổ chức lại một cách dân chủ để:

a Xác định nhu cầu, khó khăn, vấn đề

b Triển khai kế hoạch và những chiến lược nhằm đáp ứng được những nhu cầunày

Trang 12

c Thực hiện những kế hoạch như vậy với sự tham gia tối đa của cộng đồng để đạtđược thành quả.

Tiến trình chung của phát triển cộng đồng có thể được tóm tắt trong sơ đồ dướiđây:

TIẾN TRÌNH CHUNG CỦA DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Trang 13

Kết quả của tiến trình phát triển cộng đồng nhằm xây dựng năng lực cộng đồng theo các giai đoạn như sau:

Cộng đồng thức tỉnh: Là cộng đồng hiểu rõ thực trạng, nhu cầu thiết thực và những vấn

đề của chính họ Việc làm đầu tiên là phải giúp cộng đồng hiểu về chính mình thông quacác cuộc trao đổi thảo luận, điều tra về các nhu cầu và những vấn đề khó khăn cũng nhưnhững tiềm năng và thuận lợi

Cộng đồng đã gia tăng năng lực: Cộng đồng hiểu rõ và biết cách khai thác huy động

những gì mình có mà chưa sử dụng (đất đai, cơ sở, nhân tài), những nguồn hỗ trợ bênngoài (kiến thức chuyên môn, tín dụng, đầu tư, cơ quan viện trợ…) Thông qua học tập,huấn luyện cộng đồng khắc phục những hạn chế, tăng cường kiến thức và kỹ năng đểhành động Ngoài ra còn biết cách liên kết tổ chức lại để hành động chung có hiệu quả

Cộng đồng tự lực: Thông qua hành động cộng đồng đã thay đổi và phát triển đó là sự tự

Trang 14

mà mỗi khi khó khăn nảy sinh, cộng đồng tự huy động tài nguyên bên trong và bên ngoài

để giải quyết Mỗi lần như vậy cộng đồng sẽ tăng trưởng và tự lực hơn Tiến trình pháttriển cộng đồng luôn tiếp diễn và tái diễn vì cuộc sống là một quá trình giải quyết vấn đềliên tục

1.5 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG

Tất cả chúng ta đề đã có những ý niệm nhất định về sự “Phát triển”, đó là sự thayđổi mang lại sự cải thiện tốt hơn, sự thoả mãn hơn cho nhu cầu sống của con người Điềuđáng đề cập ở đây là sự tác động, ảnh hưởng đến các thành viên cộng đồng không giốngnhau,mà thường là đem đến lợi ích cho một cá nhân hay tầng lớp nhất định, đồng thờiđem đến sự thiệt hại cho các bộ phận cộng đồng khác Phát triển phải là một quá trìnhmang lại sự cải thiện cho hầu hết mọi người, phát triển không đơn thuần mang lại lợi íchcho một cá nhân, hay chỉ một bộ phận nào đó

Mục đích tối cao của phát triển là cải thiện chất lượng cuộc sống cho mọi thànhviên của cộng đồng, bởi vậy chúng ta chỉ có thể giành được sự phát triển đúng nghĩa của

nó theo cách như vậy Thế giới xung quanh ta luôn thay đổi, sự đổi mới là tiền đề cho sựphát triển chỉ khi nào nó mang lại sự cải thiện cho toàn thể cộng đồng Chúng ta tác động

để tạo ra sự thay đổi (đẩy mạnh sản xuất, xây dựng hạ tầng cơ sở, công trình phúc lợi,kích thích phát triển kinh tế…)nhưng phải đánh giá xem những thay đổi đó có đóng gópcho sự phát triển của cộng đồng hay không Theo đúc kết của nhiều công trình nghiên

Trang 15

cứu, những thay đổi ở vùng nông thôn mang lại sự phát triển khi những thay đổi đó cóđặc tính như sau:

- Mang lại cải thiện điều kiện sống cho hầu hết mọi người

- Số người bị thiệt hại ít hơn đáng kể so với số người được hưởng lợi, hoặc đãhạn chế đến mức tối thiểu số người bị thiệt hại

- Phải đảm bảo thoả mãn được nhu cầu tối thiểu cho mọi người

- Phải phù hợp với nhu cầu, ý muốn đặc thù của mọi người trong cộng đồng

- Kích thích và tăng được khả năng tự chủ của cộng đồng

- Mang lại sự cải thiện lâu dài, bền vững

- Không làm tổn hại mà không thể khắc phục được đối với môi trường thiênnhiên

Đánh giá phát triển cộng đồng thực chất là đánh giá chuyển biến xã hội trong cộngđồng và tác động của các chuyển biến này đến năng lực giải quyết vấn đề, cải thiện đờisống vật chất, tinh thần, bảo vệ môi trường, cũng như giải quyết các xung đột và đảm bảocông bằng xã hội đem lại những thành quả trên đây Các chuyển biến đó là:

- Chuyển biến để tổ chức cộng đồng

- Thay đổi về nhận thức, thái độ, hành vi, tinh thần trách nhiệm cộng đồng

- Cải tiến về thể chế, các qui ưước, quy định trong hoạt động cộng đồng Cảithiện về giá trị tập tục giúp nâng cao đời sống và đảm bảo công bằng

Phát triển cộng đồng không chỉ nói tới các cộng đồng thể Đó chỉ là thực thể tácđộng hơn là mục tiêu của phát triển cộng đồng Tạo sự chuyển biến xã hội, trong đó tăngcường năng lực tổ chức, khả năng đoàn kết xã hội, hướng tới khả năng nâng cao tínhcộng đồng mới là đích cuốic cùng của phát triển cộng đồng Do đó, khi nói đến phát triểncộng đồng là phải nói đến cả cộng đồng tính và cộng đồng thể, nó có mối quan hệ hữu

cơ, không thể tách rời Trong một số tài liệu viết về phát triển và tổ chức cộng đồng, kháiniệm cộng đồng được hiểu theo nghĩa là những cộng đồng nhỏ,ở nông thôn thì đó lànhững dòng họ, gia đình, làng - xã, còn ở đô thị thì đó là nhóm thân hữu cho đến như cấu

Trang 16

+ Cộng đồng tính là một thuộc tính hay một quan hệ xã hội được các nhà xã hộihọc xác định và cụ thể hoá trong các nghiên cứu của mình.

+ Cộng đồng thể là là những nhóm người có phạm vi tập hợp và đặc trưng nhómrất khác nhau Tốt nhất là chúng ta nên chọn một khái niệm làm việc với một số đặctrưng nào đó mà ta có thể làm việc được

Trong báo cáo phát triển hàng năm của Ngân hàng thế giới chúng ta thấy trong đó

có tới hơn 200 chỉ số về sự phát triển xã hội để so sánh giữa các nước, giữa các khu vực

về sự phát triển Trong đó nếu gom lại thị có các nhóm chỉ số cơ bản sau đây:

+ Nhóm chỉ số tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là chỉ số về bình quân thu nhập đầungười so sánh giữa các cộng đồng và các khu vực

+ Nhóm chỉ số phát triển xã hội, người ta quan tâm nhiều nhất đến chỉ số phát triển

xã hội, đặc biệt là chỉ số phát triển dịch vụ xã hội, trong đó có 2 dịch vụ cơ bản nhất làdịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế được đặc biệt quan tâm Chỉ số phát triển con người haychỉ số phát triển nhân bản (HID – Human Development Index) là chỉ số tổng hợp kinh tế– xã hội của sự phát triển, bao gồm (1) Thu nhập bình quân đầu người, (2) Tuổi thọ trungbình, (3) Trình độ học vấn trung bình và một số chỉ báo khác

Và cuối cùng là quan niệm rất hiện đại mà chúng ta vừa mới tiếp cận Đó là nhữngchỉ số phát triển bền vững – một quan niệm rất hiện đại Lâu nay chúng ta mới chỉ quantâm đến những chỉ số phát triển kinh tế, xã hội, con người, văn hoá…nhưng ít đề cập tớiquan hệ giữa con người và xã hội với tự nhiên trong xã hội học Lâu nay trong giới khoahọc xã hội và nhân văn cho thấy rằng đó là vấn đề của các khoa học khác, nhưng chính xãhội theo nghĩa rộng của nó là phải nghiên cứu quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa

xã hội và môi trường tự nhiên Đó là những quan niệm mở rộng, có một loạt các chỉ số cóliên quan như chỉ số bảo vệ môi trường, phát triển con người Phát triển kinh tế – xã hội

mà không bảo vệ môi trường thì có nguy cơ sẽ dẫn tới mặt trái của nó, tức là suy thoái

mà thế giới hiện đại đã có quá nhiều bài học Ví dụ các chỉ số dưới đây:

1 Kinh tế/nguồn lực

- Sử dụng ít tài nguyên sẵn có để tăng thu nhập

Trang 17

- Cơ hội việc làm lớn

2 Xã hội:

- Tiếp cận với kỹ thuật và các dịch vụ xã hội như văn hoá, y tế, cơ sở hạ tầng

- Có chỗ ở tốt hơn với đầy đủ các phương tiện (điện, đường,…)

- Nâng cao vị thế tổ chức

3 Văn hoá tinh thần

- Sự thống nhất cao hơn và tham gia nhiều hơn vào việc giải quyết các vấn đề cộngđồng

- Số người tuân thủ pháp luật nhiều hơn

4 Chính trị

- Cuộc sống và tài sản được bảo đảm hơn (hoà bình, ổn định và trật tự)

- Tham gia nhiều hơn trong việc ra quyết định và hoạt động cộng đồng

- Con người không còn thoả mãn với điều kiện hiện tại

5 Sinh thái

- Bảo tồn và khôi phục tài nguyên thiên nhiên (lưu vực, rừng…)

- Tài nguyên nước trên đất liền và ven biển

- Đối với nông nghiệp, phương pháp canh tác không ảnh hưởng xấu đến môitrường sinh thái

Trang 18

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 2.1 CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Cộng đồng nông thôn dưới con mắt của các nhà xã hội học là một hệ thống xã hộigắn với hình thái kinh tế nông nghiệp, đối lập với một hệ thống xã hội khác là đô thị gắnvới nền thương nghiệp và công nghiệp Nông thôn tồn tại và chiếm một vị trí quan trọngtrong lịch sử nhân loại như một kiểu xã hội có những đặc thù riêng Phân loại củaTonnies là một cách nhìn có tính khái quát về lịch sử phát triển các cộng đồng người

Bảng phân loại của P.A sorokin và C.C zimnerman

1 Nghề

nghiệp

Dân cư chủ yếu gắng với trồngtrọt, chăn nuôi, đánh bắt, nuôitrồng thuỷ sản và các nghề nôngnghiệp khác

Dân cư chủ yếu gắn với thươngmại – dịch vụ, quản trị, côngchức, nghề tự do và các nghềphi nông nghiệp khác

2 Môi

trường

Môi trường tự nhiên ưu trội hơnmôi trường xã hội – nhân văn Conngười quan hệ trực tiếp với tựnhiên

Sự tách biệt với thiên nhiên lớnhơn Môi trường nhân tạo lấn átmôi trường tự nhiên

Trang 19

4 Mật độ

dân số

Thấp hơn cộng đồng đô thị, hìnhthành 2 khái niệm tương phản:

tính nông thôn và mật độ dân cư

Lớn hơn cộng đồng nông thôn.Tính đô thị và mật độ dân cư là

2 khái niệm tương ứng nhau

7 Hướng di

động xã hội

Những kiểu di động xã hội theolãnh thổ, nghề và những kiểu khácthường có cường độ không lớn,thường là di động cá nhân từ nôngthôn ra thành thị

Gia tăng mạnh hơn Tính độ thị

và tính di động là 2 khái niệmtương ứng nhau Chỉ trong giaiđoạn/hoàn cảnh đặc biệt mới có

sự di động từ đô thị về nôngthôn

8 Hệ thống

tương tác

Quan hệ xã hội thường là các quan

hệ sơ cấp, dựa trên tình thân lánggiềng, huyết thống và ít phức tạphơn

Quan hệ xã hội ẩn danh, đượctiêu chuẩn hoá và hình thức hoá

Trong tiến trình thay đổi và phát triển chung thì cộng đồng mang các đặc thù nông thôn

và cộng đồng đô thị hoá Các đặc thù này liên quan đến việc xác định các cộng đồngnông thôn ưu tiên cho các hoạt động phát triển hiện nay Về khái niệm chung nhất, cộngđồng nông thôn có hoạt động kinh kế chính là trực tiếp khai thác tài nguyên thiên nhiên

và sống dựa vào các nguồn tài nguyên này Trên thế giới người ta dựa vào hai tiêu chíchính để phân biệt vùng nông thôn và thành thị là mật độ dân số và phát triển hạ tầng cơ

Trang 20

sở Tuy nhiên tiêu chí này rất tương đối và thay đổi tuỳ theo từng nước ở Việt Nam việcphân biệt các cộng đồng đô thị và nông thôn được thực hiện theo các quyết định về tổchức đơn vị hành chính Một cộng đồng là đối tượng của phát triển nông thôn gồm cácthành viên được xác định theo ba tiêu chí chính:

+ Là cộng động mang tính xã hội nông thôn

+ Thành viên cộng đồng có cùng đơn vị hành chính

+ Thành viên cộng đồng có cùng khu vực cư trú tại vùng nông thôn

Tóm tắt các đặc điểm xã hội phân biệt cộng đồng nông thôn và thành thị

cùng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn

Sự ràng buộc xã hội hướng theo các mụctiêu cụ thể

4 Sự thồng nhất cao theo các tập tục, ý

tưởng và những mong đợi của nhóm

Thống nhất theo phân chia lao động,chuyên môn hoá theo chức năng có sựphục thuộc lẫn nhau

5 Sự thống nhất dựa trên cơ sở sự giống

Về nhu cầu Phát triển nông thôn: Trong quá trình phát triển của thế giới , trong lịch sửcho thấy sự cách biệt giữa các vùng nông thôn và thành thị ngày càng cách biệt vì sự thayđổi và tăng trưởng trong các vùng đã đô thị hoá nhanh hơn rất nhiều Thực tế cho thấy

Trang 21

rằng cần phải chú trọng hơn nữa đến sự phát triển của các cộng đồng nông thôn Đóchính là phải phát triển cân đối giữa nông thôn và thành thị, và cân đối giữa các lĩnh vực.Như vậy, không chỉ cần đầu tư phát triển ở nông thôn về nguồn lực mà còn cần có cácphương pháp phù hợp.

2.2 PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN VÀ NHU CẦU CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Phát triển nông thôn theo khái niệm chung nhất là hoạt động phát triển cộng đồng

xã hội con người ở các vùng nông thôn, nó chú trọng nhiều đến phát triển con người

Theo ngân hàng thế giới (1975): “Phát triển nông thôn là một chiến lược được hoạch định

để cải thiện đời sống kinh tế – xã hội của một tầng lớp người đã được xác định – tầng lớp người nghèo ở nông thôn Nó chú trọng đến việc phân phối lợi ích của phát triển đến những người nghèo nhất đang kiếm sống trong các vùng nông thôn Tầng lớp này bao gồm nông dân sản xuất nhỏ, những người thuê đất sản xuất và những ngưồi làm công không có đất”

Theo UmaLele: “Phát triển nông thôn được khái niệm như là một quá trình cải thiện mức sống của hầu hết những người thu nhập thấp đang sinh sống trong các vùng nông thôn, đồng thời tạo lập tiến trình phát triển bền vững của họ”.

Theo Guy Hunter: “Mục đích cơ bản của phát triển nông thôn là phải làm cho hầu hết dân cư nông thôn nghèo được thoả mãn nhu cầu sống thiết yếu bằng sự nỗ lực của chính bản thân họ”.

Mục đích lâu dài của phát triển nông thôn đề cập chủ yếu đến sự cải thiện về chấtlượng cuộc sống của dân cư nông thôn Có nghĩa rằng, phát triển nông thôn nhằm giúpnhững người nông thôn làm cho điều kiện sống ở làng mạc thôn quê trở lên hấp dẫn đốivới mọi người Muốn đạt được mục tiêu lâu dài, phát triển nông thôn cần phải giành đượcnhững mục đích gần hơn, cụ thể hơn, thiết thực hơn hay còn gọi là mục tiêu cấp báchtrước mắt Đó là phải tăng được năng lực của dân cư nông thôn, đặc biệt là tầng lớpnghèo, để họ tự kiếm thêm, tiến tới kiếm đủ thu nhập, trang trải cho nhu cầu sống thiết

Trang 22

về chăm sóc sức khoẻ và giáo dục, nhu cầu về nguồn nước và vệ sinh, nhu cầu về ánhsáng và giải trí, nhu cầu đi lại và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng.

Một trong những nhân tố quyết định đảm bảo cho những cải thiện trên là môitrường xã hội có khả năng cung cấp đầu đủ cơ hội kiến dược việc làm phù hợp vho tất cảmọi người Bên cạnh tăng thu nhập, mạng lưới cung ứng đầy đủ các loại dịch vụ vàphương tiện cần thiết ở nông thôn cũng mục tiêu cần đạt được, đặc biệt là đối với cácvùng nông thôn xa xôi Cơ sở giáo dục, y tế, mạng lưới giao thông và thương nghiệp…phải được cải tiến, tổ chức phù hợp, hoạt động có hiệu quả thoả mãn nhu cầu dân cư trên

cơ sở quan hệ bình đẳng

Tóm lại: Mặc dù có những chú trọng khác nhau, nhưng nhìn chung phát triển nông

thôn nhằm xoá đói giảm nghèo thông qua việc tăng năng lực của dân cư nông thôn thựchiện các mục đích cụ thể sau đây:

+ Mở rộng sản xuất và tăng năng lực sản xuất

+Thúc đẩy để đạt một mức thu nhập cao hơn

+ Tạo ra công ăn việc làm ở nông thôn, đổi nghề nhưng không đổi chỗ ở

+ Phân phối hợp lý và công bằng các lợi ích thu được từ phát triển

+ Ưu tiên cải thiện điều kiện sống cho người nghèo

+ Tạo lập được phát triển bền vững, phát triển từ những tiềm năng tại chỗ

+ Tạo được sự tự chủ cho những người nghèo ở nông thôn hay tự phát triển

Trong tiến trình phát triển chung của toàn xã hội, phát triển nông thôn còn đượcxem như là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hoá và môitrường, nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương Nhấn mạnh vàoquá trình có chủ ý và bền vững Phát triển nông thôn không phảilà một công việc làmtrong một thời gian ngắn Nó cần được theo đuổi trong một thời gian dài nhiều năm và cóchủ ý

Phát triển nông thôn nhấn mạnh nâng cao đời sống của người dân địa phương Một

số phát triển “Địa phương” hoặc “Khu vực” trước đây được khuyến khích do nhu cầu

quốc gia (như điện, nước hoặc quốc phòng), hơn là nhu cầu của bản thân người dân địa

Trang 23

phương Nhu cầu quốc gia tất nhiên có thể được đáp ứng thông qua phát triển nông thôn,

và bất cứ sự đáp ứng thành công nào nhu cầu địa phương sẽ đóp góp gián tiếp cho sựphồn thịnh của quốc gia Nhưng khái niệm hiện đại về phát triển nông thôn nhấn mạnhhàng đầu vào việc đáp ứng nhu cầi của người dân nông thôn

* Tổng hoà phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn

Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa PTCĐ và PTNT

Khái niệm phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn có một số điểm tươngđồng và một số trọng tâm như nhau chính vì vậy việc sử dụng hai khái niệm này trongnhững hoàn cảnh cụ thể có thể thay thế nhau Việc phân biệt hai khái niệm này nhằmgiúp cho cán bộ chuyên ngành và cán bộ nghiên cứu phát triển nông thôn thấy rõ hơntrọng tâm hoạt động ở hai khái niệm này

Điểm tương đồng quan trọng nhất: Là phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn có 2

nguyên lý chung là hướng đến tăng năng lực của cộng đồng và tạo ra các chuyến biến xãhội trong cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng nghèo, để giúp cải thiện đời sống vật chất

và tinh thần, duy trì công bằng xã hội, và bảo vệ được tài nguyên môi trường của họ

Điểm phân biệt chính: là phát triển nông thôn có các hợp phần hoạt động rộng hơn và

tập trung chủ yếu vào đối tượng nghèo ở nông thôn Trong khi đó phát triển cộng đồngxem xét toàn thể cộng đồng nghèo trong một tiến trình phát triển liên tục có thời kỳ mangđặc thù thành thị Các điểm tương đồng và phân biệt chính giữa phát triển cộng đồng vàphát triển nông thôn có thể tóm tắt như sau:

Tóm tắt các đặc điểm chính phân biệt phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn

Trang 24

Đặc trưng của Phát triển cộng đồng

Đặc trưng của Phát triển nông thôn

Khái

niệm

Là tiến trình có kế hoạch và có tổ

chức, hỗ trợ cộng đồng tăng năng

lực để cải thiện điều kiện kinh tế,

xã hội và môi trường thông qua

nội lực là chính

Là chiến lược có kế haọch và có tổchức, hỗ trợ tầng lớp người nghèo ởnông thôn để cải thiện điều kiện sống

Lấy con người làm trung tâm, thúc

đẩy tham gia, tăng sức mạnh và

đảm bảo công bằng, thông qua

hợp tác tương trợ lẫn nhau

Lấy con người làm trung tâm, thúcđẩy tham gia, tăng sức mạnh và đảmbảo công bằng, thông qua hợp táctương trợ lẫn nhau

2.3.1 Phát triển nông thôn toàn diện

- Nhấn mạnh các khía cạnh về Xã hội, kinh tế và môi trường

- Phải triển phải là cả “Từ trên xuống” và “Từ dưới lên” Nó phải bao trùm chính

sách, tiền tệ và hỗ trợ của Chính phủ (ở mọi cấp) và năng lực, tài nguyên và sự tham giacủa người dân

- Phải có sự tham gia của mọi khu vực đối tượng (nhà nước, tư nhân)

Trang 25

- Phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác

Nông, Lâm, Ngư nghiệp là một hệ thống sản xuất ở nông thôn, do người nông dânthực hiện Trong Nông, lâm, ngư nghiệp thì sản xuất chế biến – lưu thông – tiêu thụ sảnphẩm, cũng là một hệ thống sản xuất kinh doanh, trong đó người nông dân thực hiệnnhiều công đoạn Trong kinh tế nông thôn, nông nghiệp, các ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn cũng là một hệ thống, do người nông dân thựchiện Tiếp cận phát triển nông thôn toàn diện đòi hỏi kiến thức đa ngành

Phát triển nông thôn đòi hỏi kiến thức đa ngành về các lĩnh vực kỹ thuật và xã hội

2.3.2 Phát triển bền vững

Những nguyên tắc này nhấn mạnh vào một cách nhìn lâu dài về xã hội con người

và việc con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên của thế giới Trong bối cảnh như vậy,

phát triển bền vững được khái niệm như sau: “Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế

hệ ngày nay mà không làm hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”

(Báo cáo Brunđtlan 1987) Một định nghĩa khác về phát triển bền vững cũng được sử

dụng thường xuyên là : “Phát triển tạo ra dòng chảy liên tục các lợi ích về xã hội, kinh tế

Trang 26

Các định nghĩa trên có thể là một điểm xuất phát có ích để suy nghĩ về sự bền vững

có ý nghĩa trong phát triển nông thôn Để có thể đưa ra cơ sở đánh giá một chương trìnhhoặc một dự án cụ thể có thực sự bền vững hay không Chúng ta cần có một định nghĩa

có thể hỗ trợ cho việc đánh giá đó, và phản ánh tầm quan trọng của cách tiếp cận toàndiện và phát triển dựa vào cộng đồng

Phát triển bền vững được khái niệm là sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con

người đang sinh sống trong khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái duy trì cuộc sống đó.Trên cơ sở đó, một nền kinh tế bền vững là một nền kinh tế duy trì cơ sở tài nguyên thiênnhiên, tiếp tục phát triển bằng cách nâng cao nhận thức, cải thiện tổ chức, hiệu năng kỹthuật và công bằng xã hội

Trên thực tế, nếu hiệu quả của tăng trưởng kinh tế không được phân phối đồng đềutrong xã hội, và nếu sự chênh lệch thu nhập di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thìkhông những mức độ tăng trưởng sản xuất có thể suy giảm mà ngay cả xã hội cũng trởnên mất ổn định và có thể sụp đổ trong dài hạn Tương tự, tăng trưởng kinh tế một cáchthiển cận có khả năng làm cạn kiệt các tài nguyên không thể tái sinh quá nhanh, hay huỷhoại môi sinh quá đà và do đó gây nhiều vấn đề nghiêm trọng cho sự sinh tồn của conngười Trong chiều hướng này, tăng trưởng bền vững cần hội đủ 3 yếu tố: Những chủ đềtrên đã được thảo luận tại 2 Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển bền vững tại Rio deJaneiro năm 1992 và tại Johannesburg năm 2002

+ Tổng sản phẩm chia đầu người gia tăng với mức độ tốt từ năm này sang nămkhác (nhất là khi nền kinh tế còn trong vòng đang phát triển);

+ Thành quả tăng trưởng được san sẻ tương đối đồng đều và mọi tầng lớp dânchúng đều có cơ hội bình đẳng như nhau; và

+ Môi trường thiên nhiên (như một phương tiện để sinh sống và sản xuất) đượcduy trì thoả đáng

Một hệ thống canh tác bền vững, bao gồm các biện pháp nuôi chồng nhằm đảm

bảo nhu cầu nông lâm sản của con người nhưng cũng góp phần cải thiện môi trường vàtài nguyên, sử dụng hiệu quả các tài nguyên không tái tạo, duy trì hiệu quả kinh tế của

Trang 27

sản xuất và cải thiện đời sống nông dân trong bối cảnh xã hội chung Khái niệm về pháttriển nông nghiệp bền vững đều hướng đến mục tiêu là dung hoà và kết hợp giữa 2 lĩnhvực đang phát sinh nhiều mâu thuẫn – ít nhất trong giai đoạn nông nghiệp đang chuyểnmình theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung - đó là ý chí phát triển sản xuất, cải thiệnđời sống với bảo vệ tài nguyên, môi trường.

*Phát triển bền vững xem xét các khía cạnh:

1, Con người: để bền vững, phát triển phải tuân theo các nguyên tắc:

- Dân chủ và an toàn;

- Bình đẳng và đối xử công bằng;

- Chất lượng cuộc sống cho mọi người dân;

- Hành động của người dân trong hợp tác với Chính phủ; và

- Tôn trọng tổ tiên và quyền lợi của những người chưa sinh ra

2, Kinh tế: Để bền vững, phát triển phải:

- Hỗ trợ để tăng cường và đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn;

- Đảm bảo cho người dân có lợi ích đáng kể từ hoạt động địa phương;

- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn, hơn là vào lợi ích trước mắt; và

- Tránh gây tác động xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân và đếncác khu vực và địa phương khác trên lãnh thổ địa lý

3, Môi trường: Để bền vững, phát triển phải:

- Tôn trọng nguồn tài nguyên và tính toàn vẹn của môi trường

- Giảm thiểu sử dụng nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo

- Sử dụng tài nguyên với tốc độ phù hợp với khả năng tái tạo;

- Sử dụng tài nguyên có hiệu quả; và

- Tránh gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường

4, Tổ chức: Để bền vững, phát triển phải:

- Nằm trong giới hạn năng lực của các tổ chức kinh tế để khống chế và quản lý, để

có thể đáp ứng các tiêu chí nêu trên;

Trang 28

*Những tiêu chí Phát triển bền vững trong Chiến lược của Chính phủ đến năm 2010 đề cập đến các cân nhắc về xã hội, kinh tế và môi trường.

Xã hội:

- Tạo điều kiện cho sự phân bố lại sức lao động địa phương theo hướng giảm dần

số người lao động chỉ đơn thuần làm nghề nông, và tăng số người lao độngtham gia vào ngành công nghiệp và dịch vụ

- Hạn chế và tiến tới xoá bỏ, di chuyển tự phát sức lao động nông thôn ra thànhphố kiếm sống

- Thành lập những điểm công nghiệp, thương mại và dịch vụ gắn liền với nôngnghiệp và nông thôn, đẩy mạnh quá trình đô thị hoá

- Nâng cao tiêu chuẩn văn hoá, tri thức và xã hội của người dân nông thôn theohướng văn minh và hiện đại, dần dần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn vàthành thị

Trang 29

2.3.3 Phát triển dựa vào cộng đồng

Với ý nghĩa này, phát triển nông thôn là cho người dân Nhưng nó cũng phải đượctheo đuổi với con người, và do con người Đó là phát triển nông thôn phải dựa trên lợiích, sự tham gia của cộng đồng sống trong khu vực đó Họ là cở sở phát triển nông thônbền vững vì :

- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình

- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương màquá trình phát triển phải dựa vào đó

- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức vă năng lực của họ là tiềm năng chính để pháttriển; và

- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ kế hoạch nào, kếhoạch đó sẽ không thực hiện được)

Cộng đồng nông thôn truyền thống ở Việt Nam là làng xã xuất hiện từ khi tổ tiênbiết làm nông nghiệp, đặc biệt là từ khi biết trồng lúa nước Cộng đồng làng xóm, cùngnhau chung lưng đấu cật, khai phá đất đai, xây dựng đồng ruộng, làm thuỷ lợi, phòng lụt,chống hạn, để trồng lúa nước và nông nghiệp, và văn minh nông nghiệp lúa nước lại làmcho cộng đồng làng xã có mối quan hệ bền vững thêm

Cộng đồng làng xã là một cơ cấu kinh tế xã hội bền vững trải qua những biến thiêncủa lịch sử đất nước vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, đến naynước ta có trên 9000 đơn vị xã, với khoảng 50.000 làng, ấp, buôn, bản…Làng xã khôngchỉ là đơn vị hành chính cơ sở đơn thuần, mà còn là một đơn vị xã hội dân sự truyềnthống Trong cộng đồng làng xã, trải qua các thế hệ đã hình thành những cung cách làm

ăn, nếp sống, phong tục tập quán thích ứng với điều kiện từng vùgn nông thôn khác nhau(đồng bằng, miền núi, ven biển…)

Chính cộng đồng làng xã, do đòi hỏi của thực thể sản xuất và đời sống, đã sáng tạo

ra các hình thức tương trợ, hợp tác giúp nhau cấy, gặt, lo việc hiếu hỷ…Những loại hìnhhợp tác đa dạng, đơn giản, không thành văn, những có hiệu quả thiết thực, được các thế

Trang 30

hệ nông dân trong cộng đồng làng xã tự nguyện thực hiện, không cần có bất cứ mệnhlệnh nào Đây là những tiền để của các tổ chức hoạt động kinh tế hợp tác hiện nay.

Trong cộng đồng làng xã cũng hình thành và phát triển các mối quan hệ văn hoá xãhội truyền thống, mang tính nhân văn sâu sắc, đậm đà bản sắc dân tộc, cần được tiếp tụcvun đắp và phát huy Phát triển nông thôn và nông nghiệp trong thời gian tới muốn pháttriển mạnh mẽ và vững chắc, không thể không quan tâm đến việc phát huy sức mạnh củacộng đồng làng xã

2.4 THÁCH THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG

Ở VIỆT NAM

Kể từ ngày cải tổ kinh tế, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả tốtđẹp Sản lượng nông lâm thuỷ sản tăng nhanh, không những đảm bảo an toàn lương thựccho cả nước mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Xuất khẩu nông nghiệp

đã trở thành nguồn thu ngoại tệ đáng kể từ đầu thập kỷ 1990 Hiệp định thương mại Việt– Mỹ cũng như các hiệp ưước tương tự trong tương lai sẽ tiếp tục khuyến khích sản xuấtnông nghiệp tại Việt Nam

Tuy nhiên, sự gia tăng sản lượng cũng như năng suất đạt được một phần là nhờ vàocác phương pháp sản xuất có xu hướng gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi sinh.Các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp trong nông nghiệp đã gây ra nhiều sự suy thoái môitrường nghiêm trọng mà điển hình hơn hết là mức phá rừng cao, sử dụng phân hoá học vàthuốc diệt sâu bọ bừa bãi, và khai thác quá độ hải sản dọc theo bờ duyên hải Những sựsuy thoái này đã dẫn đến các vấn đề quan hệ trực tiếp tới nông nghiệp như lũ lụt, đất xóimòn, nhiễm mặn, phèn hoá, tăng nồng độ hoá chất độc, ô nhiễm nguồn nước, đất mất hoamàu và suy giảm đa dạng sinh học

Với dân số gia tăng và diện tích canh tác giới hạn, năng suất nông nghiệp tính trênđất canh tác phải tăng khoảng 20% trong 20 năm tới để thoả mãn nhu cầu lương thực củadân chúng với mức tiêu thụ như hiện tại Điều này đòi hỏi 3 điều kiện: đầu tư vốn nhântạo, cải tiến kỹ thuật sản xuất và chất lượng môi trường được duy trì tốt Bốn thách thức

to lớn cho phát triển nông thôn Việt Nam là:

Trang 31

1, Phải tiếp tục chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường;

2, Chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp đóng kín sang sản xuất hàng hoá phục vụ thịtrường mở toàn cầu hoá;

3, Chuyển từ sản xuất tăng trưởng theo chiều rộng lấy khai thác tự nhiên và tăngđầu tư tài nguyên làm động lực sang phát triển theo chiều sâu lấy chất lượng hiệu quả; và

4, Lấy phát triển bền vững làm mục tiêu, từ kinh tế nông nghiệp dang công nghiệphoá

Cần có chính sách và thể chế vĩ mô thuận lợi

Những vấn đề về tính ổn định, hiệu quả và độ bền vững của sản xuất nông nghiệphầu như bắt nguồn từ sự mất đồng bộ giữa sản xuất với các yếu tố: thị trường tiêu thụ,giải quyết vấn đề tài nguyên môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện nông thôn,chuẩn bị nguồn nhân lực, đề xuất các chính sách và giải pháp Như vậy, vấn đề phát triểnbền vững nông nghiệp cần đặt trong trong bài toán vĩ mô kinh tế – xã hội, được xác địnhtrong bối cảnh phát triển bền vững và mối quan hệ giữa 3 khu vực kinh tế

Trưước tốc độ đổi mới nhanh chóng về kinh tế xã hội, câu hỏi về quan hệ côngnghiệp – nông nghiệp, về tương quan giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị dườngnhư chưa có lới đáp thoả đáng Biểu hiện rõ nhất là tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp nôngthôn là không tương xứng với vai trò quan trọng của lĩnh vực này Mức đầu tư hạn hẹpkéo dài làm cơ sở hạ tầng nông thôn nghèo nàn Tỷ trọng đầu tư cho nông lâm ngưnghiệp trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội giảm từ năm 1990 là 17% xuống 7,4% tronggiai đoạn 1995 – 1997 Trong khi đó một số nước phát triển và đang phát triển ở Châu á,vào giai đoạn có cơ cấu nông nghiệp trong tổng thu nhập quốc dân (GDP) tương tự nhưViệt Nam như Hàn Quốc, Malaysia, Philippines…đều có tỷ trọng đầu tư vào nông lâmnghiệp và thuỷ lợi trên 20% Đầu tư không công bằng giữa nông thôn và thành thị, cùngvới một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong chính sách vĩ mô như tỷ giá, sản xuấthàng thay thế nhập khẩu công nghiệp…có lẽ là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “cánhkéo giá” làm cho tốc độ tăng giá nông sản chậm hơn so với tốc độ tăng giá hàng tiêu

Trang 32

Đổi mới thể chế và chính sách trong nội bộ ngành nông nghiệp

Các chính sách quan trọng nhất trong quá trình đổi mới trưước đây chủ yếu nhằmtháo bỏ các ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung như chính sách đất đai, tự dohoá thương mại, từ bỏ vai trò quản lý sản xuất của hợp tác xã…nhưng thực tế mới đangđòi hỏi việc hoạch định chính sách và xây dựng thể chế phải đáp ứng những yêu cầu về

mở rộng cơ hội cho người sản xuất, kinh doanh, tăng cường năng lực và tạo điều kiệnpháp lý để học thực hiện những sự lựa chọn đó

+ Để thích ứng với sự biến động của thị trường và đáp ứng xu hướng sản xuất hànghoá, người sản xuất phải có khả năng sử dụng nguồn lợi tự nhiên theo hướng chủ độnghơn, đa dạng hơn, bền vững hơn

+ Cơ chế tổ chức ngân hàng và hệ thống tín dụng cần phải được cải thiện Đểchuyển đổi cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, thực sự làm sản xuất kinhdoanh chuyển sang phát triển theo chiều sâu thì phải tăng khả năng thiếp cận của nôngdân, nhất là người nghèo với thị trường tín dụng

+ Sự chậm trễ của cải cách thể chế còn tạo nên mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp bách

về nâng cao chất lượng, hiệu quả của sản xuất kinh doanh và cách thức tổ chức chỉ đạothiên về khuyến khích tăng sản lượng

+ Nông dân chưa có đời sống văn hoá xã hội với chất lượng tốt so với những đónggóp to lớn cho nền kinh tế

+ Tình trạng thiếu việc làm có thu nhập xứng đáng dẫn đến tình trạng kéo dài trongmột bộ phận đáng kế dân cư nông thôn Để con người phát triển, nhu cầu có việc làm và

có thu nhập ngày càng tăng thông qua lao động là nhu cầu tối quan trọng và chính đáng.Làm thế nào để thực thi được những quyền đó trong hoàn cảnh tài nguyên hạn hẹp, khảnăng cạnh tranh của nông sản kém, thiếu thị trường là câu hỏi mà quá trình đổi mới cầntiếp tục giải quyết

Công nghiệp hoá nông thôn

Hai vấn đề quan trọng cần đặt ra Đầu tiên là tìm cách tiến hành công nghiệp hoángay tại nông thôn, bao gồm 2 việc chính đó là tích luỹ tư bản để tài trợ thúc đẩy công

Trang 33

nghiệp và tìm thị trường cho đầu ra Sau đó là phát triển mối liên hệ mật thiết giữa côngnghiệp và nông nghiệp Theo mô hình trên, nông nghiệp sẽ là khu vực truyền thống cungcấp lương thực và lao động vơi năng suất và đồng lương thấp, ít có khả năng tích luỹ,nhưng lại là thị trường quan trọng cho hàng công nghiệp Đồng thời, phát triển khu vựccông nghiệp sẽ thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp, cung cấp các sản phẩmcông nghiệp tiêu dùng hay đầu tư (máy móc, vốn) cũng như các sản phẩm đầu vào (phânbón hoá học, thuốc trừ sâu…)Sự phát triển khu vực công nghiệp ở nông thôn sẽ đòi hỏicác yếu tố đặc trưng sau đây:

- Cần khởi động nguồn vốn ban đầu lấy từ thặng dư trong nông nghiệp và saunày sẽ là tích luỹ ngay từ các xí nghiệp ở nông thôn;

- Các xí nghiệp trên cần hướng vào các ngành sử dụng nhiều lao độngvà tàinguyên là lợi thế so sánh của nông thôn;

- Lúc ban đầu có thể khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nông thôn baogồm cả sở hữu tập thể lẫn tư nhân, nhưng để mau đạt hiệu quả kinh tế cầnhướng ngay từ sớm đếm các sở hữu tư nhân;

- Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các xí nghiệp công nghiệp nông thôn và thành thị

về công nghệ, máy móc và nhân lực, cũng như khuyến khích cạnh tranh giữacác xí nghiệp này để làm giảm giá thành và tăng chất lượng; và

- Các xí nghiệp công nghiệp nông thôn không nhất thiết phải được phân bổ đồngđều trong cả nước, trái lại sẽ thay đổi tuỳ theo các điều kiện ban đầu của từngđịa phương, vị trí địa lý và lợi thế so sánh Tuy nhiên và trên hết, các đầu tưchính phủ hay tài trợ quốc tế ODA vào cơ sở hạ tầng nông thôn là yếu tố cốt lõi

sự sự phát triển và phân bổ nói trên

Cải câch các doanh nghiệp nhà nước ở khu vực nông thôn

Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp rất quan trọng trong phát triển nông thôn Tuynhiên, nông dân Việt Nam không nên sản xuất các loại cây trồng không có lợi thế cạnhtranh Mía đường là một ví dụ Năm 1994, Chính phủ Việt Nam mục tiêu đến năm 2000

Trang 34

trồng mía đường để cung cấp nguyên liệu thpp cho nhiều nhà máy tinh luyện Mặc dùtổng diện tích trồng mía đường giai đoạn 2000 – 2001 là 320.000ha nhưng chưa đủ khảnăng cung cấp cho nhu cầu của các nhà máy Thiếu mía đã đẩy giá lên cao và kết quả lànông dân chuyển sang trồng mía ở những vùng đất không thích hợp Hậu quả là năng suấtrất thấp, chỉ khoảng 50 tấn/ha Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) năm 1999,giá đường nội địa hiện cao hơn 25% so với giá đường nhập khẩu.

Kiếm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh

Đổi mới kinh tế ở Việt Nam với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần đượcbắt đầu trưước hết trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đã tạo điều kiện cho thịtrường hàng hoá, dịch vụ được hình thành và vận động theo cơ chế thị trường Kết quảquan trọng này làm tiền đề cho các yếu tố cạnh tranh xuất hiện là làm thay đổi cấu trúcthị trường theo hướng phi tập trung, theo đó các loại hình thị trường cạnh tranh ra đời vàphát triển

Tuy nhiên vẫn chưa có một cơ chế cho sư vận hành đầy đủ của cạnh tranh lànhmạnh Độc quyền và những tác động tiêu cực của nó vẫn được khắc phục Nhà nước vẫnchưa ban hành luật khuyến khích cạnh tranh và Kiếm soát độc quyền Vì vậy tình trạngcạnh tranh không lành mạnh và độc quyền đã trở thành đặc quyền gây không ít trở ngạicho quá trình phát triển

Trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, cạnh tranh không lành mạnh và độc lập thểhiện ở việc phân biệt đối xử về chính sách bảo hộ, vay vốn tín dụng, tiếp cận các nguồnlực và dịch vụ điện, thuỷ lợi, đất đai, thông tin, độc quyền mua nguyên liệu nông sản, độcquyền xuất khẩu, giành giật thị trường, ép cấp, ép giá, ấn định mức giá độc quyền cao,…đang là những vấn đề cần được tháo gỡ Trên cơ sở đó sẽ cần tìm một số giải pháp kiểmsoát độc quyền và chống cạnh tranh khônglànhmạnh trong quá trình chuyển đổi kinh tế ởViệt Nam, nhằm tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thuận lợi cho sự pháttriển bền vững của nông thôn Việt Nam

Tín dụng nông thôn

Trang 35

Những bài học đúc kết từ một số nghiên cứu và khảo sát gần đầy về tín dụng nôngthôn trên thế giới và ở Việt Nam là: mang ngân hàng đến với người dân, kết nói nguồncung cấp tín dụng với việc huy động tiết kiệm, cho vay không nên là hoạt động biệt lậpvới những chương trình phát triển nông thôn, giảm thiểu chi phí giao dịch đối với ngườicho vay lần người đi vay, cho vay theo nhóm chịu trách nhiệm chung cho thấy có nhiềumặt tích cực, chú trọng đến khả năng sinh lợi để đảm bảo tính ổn định về dài hạn.

Hiện trạng tín dụng nông thôn ở Việt Nam được phân tích chi tiết về 3 mảng chính:khu vực chính thức (gồm những định chế như Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Ngân hàng phục vụ người nghèo, các quĩ tín dụng nhân dân, các ngân hàng cổ phầnnông thôn); Khu vực bán chính thức (Bao gồm các tổ chức quần chúng và các tổ chức phichính phủ; và Khu vực phi chính thức (vay vốn từ gia đình, bà con, bạn bè và láng giềng,người cho vay lại, họ/hụi)

Cải tiến y tế, xã hội và giáo dục

Lĩnh vực y tế nông thôn được đầu tư thích đáng trong nhiều năm Hệ thống trạm xá

y tế chỉ nhận phần nhỏ ngân sách trong khi hệ thống này phải lo cho 73% dân chúng sống

ở nông thôn Đóng góp của dân trong y tế gấp 8 lần đóng góp của nhà nước và chỉ dưới12% dân được bảo hiểm y tế – an sinh xã hội Lĩnh vực y tế chưa được hữu hiệu vì cácchính sách phát triển vùng và chính sách chi tiêu nhà nước chưa thoả đáng, và ít có cạnhtranh trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội Việt Nam không có một mạng lưới y tế ansinh xã hội đúng mức Các dịch vụ xã hội – y tế tại nông thôn bị đe doạ vì các gia đìnhkhông có tiền trả lệ phí

Việt Nam cần tái xét chính sách y tế, chú trọng vào việc xây dựng một mạng lưới y

tế bao trung nông thôn Việt Nam cần xây dựng và đa dạng hoá các nguồn tài trợ của cácquỹ y tế Cải tổ cơ cấu hành chính y tế sẽ giúp tăng các dịch vụ y tế nông thôn Những

ưu tiên gồm: (1)củng cố mạng lưới y tế xã phục vụ cho đa số nhằm phòng hơn chữa; (2)cải cách chính sách y tế; hợp tác giữa khu vực công và tư nhằm có cạnh tranh trong việccung cấp các dịch vụ xã hội; (4) khuyến khích hợp tác quốc tế và trợ giúp nhân đạo về

Trang 36

Với một nửa dân số trong lứa tuổi dưới 25, và trên 1 triệu người gia nhập thịtrường công nhân hàng năm, cho thấy tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trọng việchuấn luyện người nông dân nông thôn, để họ có thể có đầy đủ khả năng và kiến thứcchuyên môn để thu hút được các dự án đầu tư về những vùng họ sinh sống Chính vì nhucầu đào tạo cấp thiết đó cho nên những yểm trợ giáo dục từ bên ngoài, nếu muốn có tácdụng tối đa và nhanh chóng, cần phải hướng vào chương trình huấn luyện và đào tạo Đạihọc, đặc biệt là những chương trình đào tạo 2 năm theo mô hình đào tạo cộng đồng Vìnhu cầu cấp thiết cho nên những chu kỳ đào toạ rút ngắn 2 năm sẽ giúp huấn luyện kịpthời đội ngũ chuyên viên làm nền móng cho việc đẩy mạnh các chương trình phát triểntại nông thôn Vì là chế độ Đại học, sinh viên các cơ sở đại học cộng đồng không nhữngđược hấp thụ kiến thức chuyên môn, mà còn đựơc đào tạo để tự phát triển khả năng phântích và hành động độc lập, đồng thời với việc trau dồi phương pháp suy luận và quyếtđịnh độc lậo, để phát huy khả năng dáng tạo cho sinh viên Ngoài ra, một cơ sở đại họccộng đồng còn trở thành một trung tâm cung cấp thông tin và số liệu chuyên môn cậpnhật và một cơ quan tư vấn chi những công trình nghiên cứu và phát triển trong tầm hoạtđộng của địa phương.

2.5 Vai trò của chính phủ và các tổ chức khác trong phát triển cộng đồng

“Chương trình phát triển cộng đồng” cho rằng vai trò của Chính phủ trong pháttriển cộng đồng là tổ chức, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động” đồng thời công nhận:

- Vai trò chủ chốt của bản thân người dân Sự cần thiết giao trách nhiệm, ở nơithích hợp, cho các chính quyền tỉnh và cơ sở

- Vai trò của các tổ chức quần chúng, các nhóm tự giúp đỡ nhau và các hợp tác

Trang 37

cộng đồng to lớn này Trong bối cảnh này, các hoạt động của Chính phủ trong phát triểncộng đồng tập trung vào:

- Đề ta chiến lược và các chính sách phát triển cộng đồng

- Xây dựng khung luật pháp, tài chính, thuế khoá và các luật lệ…để khuyến khíchcác hình thức phát triển mong muốn;

- Làm dễ dàng quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa

- Đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng công nghiệp mới

- Phát triển năng lực của nhân dân và các tổ chức thông qua việc mở rộng cácdịch vụ, thông tin, đào tạo và các hoạt động liên quan khác

- Sử dụng một cách khôn ngoan quyền lực của mình với tư cách là người mua,người cung cấp và người chủ

- Đầu tư ngân sách nhà nước vào cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội, tái định cư vàmột số lĩnh vực khác

- Đàm phán với các cơ quan tài trợ và viện trợ nước ngoài

- Hỗ trợ những người và những vùng bị thiệt thòi; và

- Giám sát nỗ lực tổng quan của phát triển cộng đồng

Đề ra chiến lược và chính sách phát triển cộng đồng

Vai trò trưước tiên của Đảng và Chính phủ là xây dựng chiến lược quốc gia về pháttriển cộng đồng, và làm rõ chiến lược này về:

- Chính sách của Chính phủ áp dụng đối với các ngành khác nhau, và đối vớihành động ở cấp quốc gia, tỉnh, huyện và cơ sở

- Nêu rõ những ưu tiên và mục tiêu để đảm bảo rằng các nguồn lực hiện có sẽđược sử dụng với hiệu quả tốt nhất

Chiến lược và nưhngx chính sách này cần phải dựa vào sự phân tích sâu sắc vàthường xuyên được cập nhật tình trạng xã hội, kinh tế và môi trường ở các vùng cần pháttriển Sự phân tích này bao gồm việc giám sát thường xuyên, thu nhập một cách có hệ

Trang 38

thống các dữ liệu, cấc thông tin phản hồi về kinh nghiệm và đề nghị từ cấp cơ sở, cấphuyện, tỉnh cho Chính phủ trung ương.

Quá trình chuẩn bị, thực hiện và giám sát các chính sách cso thể được cai là một

“Thác ý tưởng” chuén động từ dưới lên trên và từ trên xuống dưới giữa các cấp Trungương, tỉnh, huyện và cơ sở Quá trình đạt tới đỉnh cảo với mõi kế hoạch 5 năm ở nămhiện tại, nó được tập trung vaof Chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn tronggiai đoạn đến năm 2010, đã được đại hội 9 thông qua vào năm 2001 Trong các cẩm nang

này, nó được gọi là “Chiến lược đến năm 2010”

Trang 39

“Thác ý tưởng” này có thể coi là hệ thống dọc đi từ cấp trung ương đến cơ sở Nóđược xây dựng phù hợp với nhu cầu về hệ thống ngang giữa các ngành khác nhau củaChính phủ Tài liệu của ngân hàng Thế giới “Việt Nam năm 2010: Bưước vào thế kỷ

21”lưu ý rằng:”Nhiều yếu tố hướng dẫncác đầu tư ra nằm ở ngoài phạm vi tổ chức của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và đòi hỏi của các Bộ khác phải có nưhngx quyết định đúng đắn: Ví dụ: “Chiến lược phát triển ngành thuỷ sản do Bộ Thuỷ sản xây dựng…”

Chiến lược đến năm 2010 nêu sự “đồng bộ” của các chính sách áp dụng đối vớinông nghiệp và nông thôn; và sự chỉ đạo cải tiến từ Chính phủ tới các tổ chức sẽ thựchiện các chính sách này

Chỉ đạo việc sang nền kinh tế thị trường

Vì vậy, hiện nay Việt Nam không thể chỉ dựa vào nền kinh tế thị trường để duy trìthu nhập có thể tồn tại và công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người dân Trong khi đó, việcchuyển sang nền kinh tế thị trường lại gây ra đau đớn cho hàng triệu hộ và doanh nghiệp.Không thể đảo ngược những chuyển động hướng tới nền kinh tế thị trường Những cáithu được trong tương lai, thông qua việc tạo ra một nền kinh tế vững mạnh và tham giavào mậu dịch tự do của thế giới là rất lớn để không phải vứt bỏ chúng để rồi rút về sự côlập hoặc nền kinh tế chỉ huy

Trang 40

Tất nhiên, trong thời gian ngắn, một số hình thức bảo vệ (như kiểm soát nhập khẩu,thuế quan, hoặc hạn ngạch) có thể được chứng minh là đúng Nhưng câu trả lời chínhnằm ở ssự kết hợp:

- Các biện pháp đẩy mạnh nền kinh tế thị trường, bao gồm:

+ Đẩy mạnh hơn nữa các hệ thống thông tin mà nền kinh tế thị trường có hiệu quảdựa vào nó để phát triển;

+ Nâng cao kỹ thuật và các tiềm năng của các doanh nghiệp hiện có; và

+ Khuyến kích sự phát triển và đa dạng hoá nền kinh tế trên khắp đất nước

- Khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế thị trường bằng cách:

+ Sử dụng quyền lực Chính phủ với tư cách là người mua, người cung cấp vàngười chủ

+ Tạo hệ thống hỗ trợ đối vưío nưhngx người và vùng bị thiệt thòi

Nghiên cứu khoa học và công nghệ

Nghiên cứu khoa học và công nghệ có thể đóng góp quan trọng vào quá trình hiệnđại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn Chiến lược đến năm 2010 nhấn mạnh chủ yếuđến nỗ lực sâu rộng của nghiên cứu và triển khai do Chính phủ thực hiện và theo đuổi với

sự cộng tác với tất cả các khu vực có liên quan Chiến lược thừa nhận rằng, tới nay:

- Đầu tư nghiên cứu khoa học và công nghệ và công nghệ chuyển giao còn ít

- Tổ chức của hệ thóng nghiên cứu khoa học còn phân tán Hầu hết các thiết bịnghiên cứu đã lạc hậu Các nhóm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật không đủmạnh Một số lĩnh vực nghiên cứu thiếu các chuyên gia đầu ngành

- Công tác thông tin khoa học còn yếu kém

Đầu tư ngân sách nhà nước cho nghiên cứu nông nghiệp còn quá ít so với các nướckhác Trong những năm 1998 và 1999 lĩnh vực này chỉ nhận được 80 tỉ đồng, bằng 1,7%tổng chi phí cho nông nghiệp và 0,08% tổng sản phẩm quốc nội từ nông nghiệp Cùngvới thời gian trên, Trung Quốc đầu tư 6% tổng chi cho nông nghiệp, Malaysia và TháiLan 10% và các nước châu á khác tối thiểu là 3%

Ngày đăng: 23/10/2013, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thiết kế đánh giá dự án: Trước - Sau dự án và có - Không có dự án. - BÀI GIẢNG : PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
Sơ đồ thi ết kế đánh giá dự án: Trước - Sau dự án và có - Không có dự án (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w