1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu PHẤN ĐẤU BÌNH ĐẲNG GIỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG doc

73 687 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phấn Đấu Bình Đẳng Giới Vì Sự Phát Triển Cộng Đồng Bền Vững
Tác giả Thái Thị Xuân Đào, Nguyễn Thị Mai Hà, Nguyễn Bích Liên
Người hướng dẫn Vụ Giáo dục Thường xuyên
Trường học Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Thể loại Bộ tài liệu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các biểu hiện của bình đẳng giới trong một cộng đồng là: • Kinh tế - lao động và việc làm: phụ nữ và nam giới đều có cơ hội để tham gia vào các hoạt động kinh tế, có thu nhập như nhau đố

Trang 1

Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc

Trang 2

Chuyên đề

PHẤN ĐẤU BÌNH ĐẲNG GIỚI

VÌ SỰ PHÁT TRIỂN

CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG

Trang 3

Bộ tài liệu nguồn theo các chuyên đề Giáo dục vì Sự phát triển bền vững dành cho Trung tâm học tập cộng đồng - Dự án “Phát triển chiến lược hệ thống nguồn lực hỗ trợ sáng kiến nâng cao năng lực xóa mù chữ (LIFERSS) ở Việt Nam” - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Văn phòng UNESCO Hà Nội.

Bộ tài liệu được tổ chức biên soạn bởi Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Không chính quy - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, góp ý, chỉnh sửa và phê duyệt bởi Vụ Giáo dục Thường xuyên - Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tác giả: Thái Thị Xuân Đào

Nguyễn Thị Mai Hà

Nguyễn Bích Liên

© Văn phòng UNESCO Hà Nội 2009

Xuất bản bởi Văn phòng UNESCO Hà Nội

Giấy phép xuất bản số:

In tại: Công ty CP In Trần Hưng Số lượng: 750 cuốn In xong và nộp lưu chiểu tháng 10.2009

Để biết thêm thông tin xin liên hệ:

Văn phòng UNESCO Hà Nội

Địa chỉ: 23 Cao Bá Quát, Hà Nội

Trang 4

Trong khuôn khổ của dự án “Phát triển chiến lược hệ thống nguồn lực hỗ trợ sáng kiến nâng cao năng lực xóa mù chữ (LIFERSS) ở Việt Nam” do UNESCO tài trợ, Vụ Giáo dục Thường xuyên - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Không chính quy - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

tổ chức biên soạn Bộ tài liệu nguồn dành cho các Trung tâm Học tập Cộng đồng (TTHTCĐ)

Mục đích của Bộ tài liệu nguồn nhằm cung cấp thông tin cho cán bộ của các Trung tâm nguồn, Trung tâm Giáo dục Thường xuyên, giáo viên/hướng dẫn viên (GV/HDV) của các TTHTCĐ để biên soạn học liệu địa phương và tổ chức/hướng dẫn thực hiện các chuyên đề Giáo dục vì sự phát triển bền vững phù hợp với nhu cầu

và tình hình cụ thể của từng địa phương

Bộ tài liệu nguồn bao gồm 20 chuyên đề thuộc 4 lĩnh vực của Giáo dục vì sự phát triển bền vững, đó là: văn hoá - xã hội; sức khỏe; môi trường và kinh tế

Mỗi chuyên đề bao gồm 1 - 3 bài Mỗi bài không chỉ cung cấp thông tin, thông điệp, khái niệm cơ bản, mà còn cung cấp cả thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cải thiện thực trạng cũng như những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

và quy định pháp luật có liên quan Đặc biệt, các chuyên đề còn cung cấp các số liệu, tư liệu, bài báo, câu chuyện/tình huống thực tế để giúp cán bộ, GV/HDV tham khảo trong quá trình biên soạn học liệu địa phương hoặc sử dụng để minh họa, tổ chức thảo luận trong quá trình giảng dạy tại TTHTCĐ

Bộ tài liệu đã được biên soạn theo một quy trình khoa học và đã được thử nghiệm tại 10 tỉnh ở ba miền (Bắc, Trung, Nam) Trong quá trình biên soạn và thử nghiệm,

Bộ tài liệu đã nhận được sự góp ý của các chuyên gia từ các Bộ, ban ngành đoàn thể, các nhà khoa học, các cán bộ và giáo viên của các địa phương với mục đích nhằm tăng cường tính chính xác, tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn của

Bộ tài liệu Mặc dù vậy, Bộ tài liệu vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được đóng góp của các chuyên gia, của cán bộ, GV/HDV

và các học viên trong quá trình sử dụng Bộ tài liệu này

Vụ Giáo dục Thường xuyên chân thành cảm ơn Văn phòng UNESCO Hà Nội đã giúp

đỡ về kỹ thuật và tài chính để biên soạn và in ấn Bộ tài liệu này Xin chân thành cảm ơn các chuyên gia của các Bộ, ban, ngành, đoàn thể đã tham gia biên soạn và góp ý cho Bộ tài liệu Cảm ơn các địa phương đã nhiệt tình tham gia thử nghiệm

và đóng góp ý kiến để hoàn thiện Bộ tài liệu này

Hà Nội, tháng 7 năm 2009

Vụ Giáo dục Thường xuyên

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Lời giới thiệu

Trang 5

Bài Một Cùng nhau tìm hiểu giới và bình đẳng giới 7

I Một số hiểu biết chung về “giới” và “bình đẳng giới” 8

II Thực trạng, nguyên nhân bất bình đẳng giới và giải pháp nâng cao

III Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các quy định pháp luật

có liên quan tới bình đẳng giới 18 Phụ lục 1 Số liệu về phụ nữ Việt Nam 21 Phụ lục 2 Thế giới hướng về phụ nữ và vì phụ nữ 26 Phụ lục 3 Một số định kiến giới 27 Phụ lục 4 Nguyễn Thị Duệ - Nữ Tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử khoa bảng nước nhà 28 Phụ lục 5 Công chúa Huyền Trân - Sứ giả của tình hòa bình và hữu nghị 29 Phụ lục 6 Anh hùng, liệt sĩ Mạc Thị Bưởi 30

Bài Hai Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ vì bình đẳng giới 32

I Một số hiểu biết chung về bạo lực gia đình đối với phụ nữ 33

II Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình đối với phụ nữ

và một số giải pháp ngăn chặn bạo lực gia đình đối với phụ nữ 36 III Chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các quy định

pháp luật về bạo lực gia đình đối với phụ nữ 41 Phụ lục 1 Truyền thống “nhịn chồng” 46 Phụ lục 2 Mâu thuẫn gia đình và tự sát 47 Phụ lục 3 Kẻ vô nhân tính nhiều năm bạo hành vợ dã man 48 Phụ lục 4 Hang ổ của quỷ 49 Phụ lục 5 Bạo lực đang hoành hành trong gia đình 50 Phụ lục 6 Bị chồng lột truồng nhốt vào chuồng chó 51

Bài Ba Phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em vì sự phát triển

I Một số hiểu biết chung về nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em 54

II Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em 57 III Chủ trương, chính sách của Nhà nước và quy định pháp luật về phòng,

chống buôn bán phụ nữ và trẻ em 60 Phụ lục 1 Tình hình xét xử 65 Phụ lục 2 Những con số báo động 66 Phụ lục 3 Hàng chục cô gái thoát y để được lấy chồng ngoại 67 Phụ lục 4 Hướng dẫn nội dung chi, mức chi 68 Phụ lục 5 Chuyện của chị Lan 69

Mục lục

Trang 7

Một quốc gia, một cộng đồng không thể phát triển bền vững (PTBV) nếu còn bất bình đẳng giới

Vì vậy cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các quốc gia trên thế giới đã và đang rất quan tâm tới giới

và bình đẳng giới “Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ” là một trong 8 mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ do Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đề ra

Trong hơn 60 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt nam đã đạt được thành tựu to lớn trong việc nâng cao bình đẳng giới Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, vẫn còn bất bình đẳng giới ở mọi lĩnh vực, dưới các hình thức khác nhau, ở các mức độ khác nhau Một trong nguyên nhân chủ yếu là nhận thức về giới và bình đẳng giới của xã hội, gia đình và bản thân chị em phụ

nữ còn hạn chế Vì vậy cần thiết và cấp bách phải đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức

về giới và bình đẳng giới

I MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ “GIỚI” VÀ “BÌNH ĐẲNG GIỚI”

1 Một số khái niệm cơ bản

1.1 “Giới” và “Giới tính”

Khái niệm “Giới” (Gender) chỉ có thể hiểu được một cách rõ ràng khi phân biệt được mối liên quan

và sự khác biệt với khái niệm “Giới tính” (Sex) hay đôi khi còn gọi là “Giống” Tuy nhiên, 2 khái niệm này còn chưa được hiểu một cách rõ ràng và đôi khi còn bị nhầm lẫn

Theo Luật Bình đẳng giới, “Giới” chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội “Giới tính” chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ

Như vậy, “Giới tính” chỉ những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ Ví dụ, chỉ có đàn ông mới có tinh trùng, chỉ phụ nữ mới có trứng, mới có kinh nguyệt, mới có thể mang thai, mới có thể

đẻ con, cho con bú bằng sữa mẹ v.v Sự khác biệt này do bẩm sinh, không thể thay thế, chuyển đổi cho nhau giữa 2 giới, không thể thay đổi theo thời gian và không gian Phụ nữ khắp nơi trên thế giới và từ xưa đến nay đều sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ

Còn “Giới” chỉ sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ (Ví dụ, nữ thường dịu dàng, khéo léo

và thường làm nội trợ v.v Nam thường quyết đoán, thường làm lãnh đạo v.v ) Sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ không phải do bẩm sinh, mà có nguồn gốc xã hội sâu xa

• Sự khác biệt về giới trước hết do giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Trẻ em trai hay trẻ em gái ngay từ lúc mới sinh đã được bố mẹ, xã hội đối xử, đòi hỏi và giáo dục một cách khác nhau (Ví dụ: trẻ em trai phải mạnh mẽ, trẻ em gái phải dịu dàng khéo léo v.v…) Trong nhà trường cũng có sự đối xử, sự đòi hỏi, giáo dục khác biệt đối với học sinh trai và học sinh gái như vậy (Học sinh trai thường học tốt các môn tự nhiên Học sinh gái thường học tốt các môn xã hội …)

• Nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về giới là do các định kiến về giới “Định kiến giới” là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ Định kiến này được thể hiện ở các quan niệm, phong tục, tập quán, các quy định và các chuẩn mực xã hội đối với những hành vi, cách ứng xử nam và nữ (nam phải mạnh mẽ, quyết đoán, làm những công việc nặng nhọc; nữ phải dịu dàng, làm nội trợ, làm những công việc nhẹ như thư kí, y tá, cô giáo, phải che mặt …) Các quan niệm, quy định này rất khác nhau đối với từng quốc gia, từng địa phương và từng cộng đồng (Quan niệm về phụ nữ ở phương Tây và phương Đông khác nhau v.v Phụ nữ ở nước hồi giáo phải che mặt khi ra đường, còn phụ nữ ở các nước khác không phải như vậy v.v ) Sự khác biệt về mặt xã hội này giữa nam và nữ có thể thay đổi theo thời gian (Phụ nữ trước đây không được ngồi cùng mâm với khách, còn phụ nữ bây giờ có thể ngồi cùng mâm tiếp khách với chồng …) Sự khác biệt về mặt xã hội này giữa nam và nữ chỉ có tính chất tương đối, có thể chuyển đổi cho nhau được (Những đức tính thường được cho là chỉ có ở nam giới hay ở nữ giới đều có thể có ở cả hai giới Phụ nữ cũng có người quyết đoán Ngược lại, nam giới cũng có người khéo léo, làm nội trợ …)

Trang 8

Tóm lại, sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ do giáo dục trong gia đình và nhà trường, do

quan niệm, phong tục tập quán, định kiến của từng quốc gia, từng địa phương, từng cộng đồng

Vì vậy, đặc điểm về “Giới” có thể chuyển đổi cho nhau giữa 2 giới, có thể thay đổi theo thời gian

và không gian (từ nước này sang nước khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác …) Sự khác

nhau giữa “Giới” và “Giới tính” có thể so sánh qua bảng sau:

- Bẩm sinh

- Không thể thay thế cho nhau được

- Không thể thay đổi theo thời gian

- Giống nhau ở mọi nơi

- Do quan niệm, phong tục, tập quán, do giáo dục

- Có thể thay thế, chuyển đổi cho nhau được

- Có thể thay đổi theo thời gian

- Khác nhau tùy từng địa phương, từng quốc gia

Vì vậy chỉ có thể nói “Bình đẳng giới”, “Công bằng giới”, “Nhạy cảm giới” v.v chứ không thể

nói “Bình đẳng giới tính” hay “Công bằng giới tính”, v.v Tuy nhiên trong thực tế, thường có sự

nhầm lẫn giữa “Bình đẳng giới” với “Bình đẳng giới tính”, giữa “Nhạy cảm giới” với “Nhạy cảm

giới tính”

Cần lưu ý là trong cuộc sống, người ta còn dùng thuật ngữ “Giới” để chỉ “Giới tri thức”, “Giới văn

nghệ sĩ”, “Giới nhà báo” Tuy nhiên, “Giới” được dùng trong “Bình đẳng giới”, “Công bằng giới”

hay “Nhạy cảm giới” v.v có ý nghĩa hoàn toàn khác

1.2 “Bình đẳng giới” (Gender Equality)

Theo Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới” là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo

điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và

thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

Các biểu hiện của bình đẳng giới trong một cộng đồng là:

• Kinh tế - lao động và việc làm: phụ nữ và nam giới đều có cơ hội để tham gia vào các hoạt

động kinh tế, có thu nhập như nhau đối với cùng một công việc, có cơ hội như nhau trong

tiếp cận nguồn lực: như vốn, đất, thông tin,… cho sản xuất, kinh doanh

• Y tế - sức khoẻ: trẻ em gái cũng được hưởng các dịch vụ chăm sóc như em trai, chăm sóc

sức khoẻ sinh sản …

• GD & ĐT: tỉ lệ đến trường, kết quả học tập như nhau của trẻ em gái và trai, trẻ em gái/ phụ

nữ cũng được hưởng cơ hội học tập như trai/ nam giới, trẻ em gái/ phụ nữ và trai/ nam

giới đều được hưởng cơ hội tham gia vào những lĩnh vực học tập khoa học kỹ thuật hiện

đại như máy tính, thông tin

• Vị trí lãnh đạo/ ra quyết định: nữ và nam giới đều được lắng nghe, bàn bạc, nêu ý kiến, tỉ

lệ nữ trong bộ máy lãnh đạo ngang bằng nam giới

Để đo mức độ bình đẳng giới người ta thường dùng “Chỉ số phát triển giới” (Gender Development

Index - GDI) “Chỉ số phát triển giới” là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được

tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam

và nữ Nếu chỉ số này càng tiến tới bằng 1 thì càng bình đẳng Nếu tỉ lệ này càng lùi về bằng 0

thì càng bất bình đẳng

“Bình đẳng giới” thường có liên quan chặt chẽ với “Công bằng giới” (Gender Equity) “Công bằng

giới” là sự vô tư, không thiên vị trong ứng xử và tiếp cận các nguồn lực của xã hội giữa nam và

nữ Công bằng giới là phương tiện, biện pháp, cách làm để đạt mục tiêu bình đẳng giới Công

bằng giới được thể chế hoá thành các qui định pháp luật

Đối lập với “Bình đẳng giới” là “Bất bình đẳng giới” “Bất bình đẳng giới” là sự khác biệt giới gây

thiệt hại hoặc cản trở sự tiến bộ của nam và nữ hoặc tăng trách nhiệm, nghĩa vụ của nam hoặc

Trang 9

Biểu hiện của bất bình đẳng giới là phân biệt đối xử về giới “Phân biệt đối xử về giới” là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Tuy nhiên, phân biệt đối

xử với phụ nữ thường nặng nề hơn “Sự phân biệt đối xử với phụ nữ” (theo Công ước CEDAW) là bất kỳ sự phân biệt hay loại trừ hay hạn chế nào trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện một cách bình đẳng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình trạng hôn nhân của họ” Việc ưu tiên tuyển dụng nam giới vào làm việc hay hạn chế độ tuổi của nữ khi được tuyển dụng Sự phân biệt đối xử với phụ nữ còn thể hiện trong việc đề bạt, trong việc cử đi học, trong việc bình xét thi đua v.v

1.3 “Các vai trò giới”

Các vai trò giới là những công việc, hoạt động mà xã hội mong đợi phụ nữ và nam giới phải thực hiện

Nhìn chung, phụ nữ và nam giới thường thực hiện 3 vai trò:

• Vai trò sản xuất: là những hoạt động mà xã hội mong đợi phụ nữ và nam giới phải thực hiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội

• Vai trò tái sản xuất: là những hoạt động mà xã hội mong đợi phụ nữ và nam giới phải thực hiện để duy trì nòi giống, tái sản xuất sức lao động

• Vai trò cộng đồng: là những hoạt động mà xã hội mong đợi phụ nữ và nam giới phải thực hiện nhằm góp phần phát triển cộng đồng nơi họ làm ăn, sinh sống

Cả nam và nữ đều thực hiện các hoạt động, các vai trò trên, nhưng có sự khác biệt giữa hai giới

Từ rất lâu, xã hội thường có quan niệm rập khuôn/ truyền thống về vai trò của phụ nữ và nam giới Ví dụ, trong gia đình, phụ nữ phải làm việc nhà, phải chăm sóc con cái, phải phục tùng chồng v.v Đàn ông là trụ cột trong gia đình, là người quyết định mọi việc lớn trong gia đình như “Làm nhà, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái” v.v Quan niệm rập khuôn/ truyền thống này về vai trò giới thường ảnh hưởng đến bình đẳng giới Phụ nữ mất nhiều thời gian, công sức vào làm những việc bị coi là kém giá trị, không được trả công, không có quyền quyết định ngay cả khi họ

là người chủ yếu kiếm ra tiền Trong lĩnh vực sản xuất và xã hội cũng có những định kiến, phân biệt vai trò giới Nữ thường làm cô giáo, y tá, thư kí, thợ may v.v , trong khi đó nam thường làm bác sĩ, kĩ sư, giám đốc v.v Trong cộng đồng, những công việc mà phụ nữ và nam giới thường làm cũng khác nhau Phụ nữ trong cộng đồng khi tham gia các công việc chung thường làm những công việc có tính chất phục vụ như nấu ăn, tiếp khách, dọn dẹp vệ sinh v.v còn nam giới trong cộng đồng thường tham gia bàn bạc, lựa chọn và quyết định những vấn đề lớn, quan trọng trong cộng đồng v.v Đó là những vai trò truyền thống của 2 giới Nếu quan niệm truyền thống này về vai trò giới không thay đổi, sự bất bình đẳng giới vẫn còn sẽ tồn tại, khó có thể xoá

bỏ được

1.4 Giới và phát triển (Gender and Development - GAD)

“Giới và phát triển” là quan điểm đòi hỏi phải xem xét và giải quyết các vấn đề về giới với sự tham gia của cả nam và nữ trong tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, sức khoẻ v.v Như vậy vấn

đề giới không phải chỉ là vấn đề của nữ (như nhiều người thường nhầm lẫn), mà là vấn đề của cả nam và nữ Luật bình đẳng giới không phải là Luật dành riêng cho phụ nữ, mà cho cả 2 giới

Trang 10

Quan điểm này hoàn toàn khác với quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (Women in Development

- WID) vào cuối những năm 70 của thế kỉ XX Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” nhằm phát

huy sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào quá trình phát triển với tư cách là người thụ hưởng và

người thực hiện mục tiêu phát triển Quan điểm này đã góp phần tích cực trong việc nâng cao tỉ

lệ biết chữ, trình độ văn hoá, cải thiện sức khoẻ, tuổi thọ v.v cho phụ nữ Tuy nhiên, quan điểm

này đã bị phê phán là quá nhấn mạnh vào phụ nữ và vô hình dung đã tăng thêm gánh nặng cho

phụ nữ Phụ nữ vừa phải giỏi việc nước, lại vừa phải đảm việc nhà Vì vậy sau Hội phụ nữ thế

giới lần thứ tư tại Bắc Kinh (1995), quan điểm này đã được điều chỉnh thành quan điểm Giới và

phát triển

1.5 Trao quyền cho phụ nữ (Empowerment of women)

Đây là một khái niệm tương đối mới không chỉ ở Việt Nam, mà cả ở các nước Ở Việt Nam, khái

niệm này còn sử dụng với các thuật ngữ khác nhau như “Tạo quyền”, “Tạo quyền năng”, “Nâng

cao năng lực” v.v… và còn được hiểu chưa thống nhất

Trao quyền cho giới nào đó được hiểu là giúp giới đó khắc phục mặc cảm, tự ti, an phận, giúp họ

nâng cao lòng tự tin vào vai trò và khả năng của bản thân, của giới mình

Với quan niệm như vậy, trao quyền thường gắn liền với các nhóm đối tượng thiệt thòi, yếu thế

trong xã hội như phụ nữ, người nghèo, người dân tộc v.v… Họ thường tự ti, mặc cảm, an phận,

cam chịu

Với quan niệm như vậy, trao quyền cho phụ nữ hoàn toàn không có nghĩa là đòi quyền lực cho

phụ nữ, không có nghĩa kêu gọi phụ nữ đấu tranh đòi quyền lực cho mình

2 Bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Luật Bình đẳng giới đã quy định rõ bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia

đình như sau

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị (Điều 11)

• Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội

• Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng

đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức

• Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại

biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ

chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã

hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

• Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng

vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức

Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế (Điều 12)

• Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất,

kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị

trường và nguồn lao động

Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động (Điều 13)

• Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi

làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các

điều kiện làm việc khác

• Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh

trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh

Trang 11

Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (Điều 14)

• Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng

• Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo

• Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

• Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (Điều 15)

• Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ

• Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế

Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao (Điều 16)

• Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

• Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin.Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế (Điều 17)

• Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế

• Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

• Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

Bình đẳng giới trong gia đình (Điều 18)

• Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

• Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình

• Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật

• Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển

• Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

3 Các nguyên tắc cơ bản và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

Luật Bình đẳng giới đã đưa ra 6 nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới như sau:

• Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

• Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới

• Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới

• Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới

• Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật

• Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân

Trang 12

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Luật Bình đẳng giới đã đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

• Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng

• Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam

• Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam

• Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam

• Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như

nam

• Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong từng lĩnh vực được quy định cụ thể như sau:

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị:

• Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với

mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

• Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù

hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế:

• Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định

của pháp luật

• Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến

ngư theo quy định của pháp luật

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động:

• Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động

• Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ

• Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc

trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

• Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo

• Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật

4 Trách nhiệm của UBND các cấp, của gia đình và của công dân

trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới

Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp

Điều 28, Luật Bình đẳng giới đã quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc

thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới như sau:

• Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tại địa

phương

• Trình Hội đồng nhân dân ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình

đẳng giới theo thẩm quyền

• Tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở địa phương

• Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về

bình đẳng giới

• Tổ chức, chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho

nhân dân địa phương

Trang 13

Trách nhiệm của gia đình

Điều 33, Luật Bình đẳng giới đã quy định trách nhiệm của gia đình trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới như sau:

• Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới

• Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình

• Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn

• Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác

Trách nhiệm của công dân

Điều 34, Luật Bình đẳng giới đã quy định trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới như sau:

Công dân nam, nữ có trách nhiệm sau đây:

• Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới

• Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới

• Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới

• Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức

• Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ

• Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động có cùng trình

Trang 14

• Không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với lao động nữ.

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

• Quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ

• Vận động hoặc ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính

• Từ chối tuyển sinh những người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do

giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ

• Giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoa có định kiến giới

Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ:

• Cản trở nam, nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ

• Từ chối việc tham gia của một giới trong các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ

Trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao:

• Cản trở nam, nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn và tham gia các hoạt

động văn hóa khác vì định kiến giới

• Sáng tác, lưu hành, cho phép xuất bản các tác phẩm dưới bất kỳ thể loại và hình thức nào

để cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới

• Truyền bá tư tưởng, tự mình thực hiện hoặc xúi giục người khác thực hiện phong tục tập

quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức

Trong lĩnh vực y tế:

• Cản trở, xúi giục hoặc ép buộc người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe

vì định kiến giới

• Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai

vì giới tính của thai nhi

Trong gia đình:

• Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia

định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính

• Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng

tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu

cầu khác của gia đình vì định kiến giới

• Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính

• Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính

• Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là

trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định

II THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO BÌNH ĐẲNG GIỚI

1 Thực trạng bình đẳng giới

Trong quá trình phát triển của cách mạng, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phấn

đấu thực hiện nam nữ bình quyền như một mục tiêu của cách mạng, trong đó đặc biệt coi trọng

mục tiêu bình đẳng giới đối với phụ nữ

Phụ nữ Việt Nam đã và đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội … Tuy nhiên, bất bình đẳng giới đối với phụ nữ vẫn còn nặng nề Trong lịch sử

Trang 15

dân tộc ta, những cống hiến, hy sinh của bao thế hệ phụ nữ từ thời bà Trưng, bà Triệu cách đây

1968 năm đã góp phần gìn giữ độc lập của dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các tầng lớp phụ nữ hăng hái tham gia kháng chiến cứu quốc, làm nên truyền thống "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang", góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự đóng góp to lớn của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực: “Từ đầu thế

kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào

sự nghiệp giải phóng dân tộc Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ

và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các

xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch ủy ban hành chính, bí thư chi bộ Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng " Vai trò của phụ nữ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ

nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ"

Xuất phát từ vai trò và sự đóng góp của phụ nữ, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm tới vấn đề giải phóng phụ nữ Bác đã khẳng định ý nghĩa của việc giải phóng phụ nữ như sau: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH mới có một nửa”

Để thực hiện mục tiêu nam nữ bình đẳng, Đảng, Nhà nước và Bác Hồ luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho phụ nữ, thể hiện qua nhiều chủ trương, chính sách, quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan nhà nước các cấp, tạo điều kiện cho các tầng lớp phụ nữ hoạt động và tham gia quản lý Nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu “Đảng và Chính phủ ta cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cắt nhắc và giúp đỡ phụ nữ phụ trách thêm nhiều công việc, kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”

Năm 1979 Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc

về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) Gần đây nhất, tháng 4/2007, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 11/T.Ư về "Công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"

Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh bình đẳng giới, trong đó có việc thông qua Luật Bình đẳng giới (Năm 2006), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007) Từ 1990 đến nay, Chính phủ đã hai lần công bố Chiến lược và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam

Với sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Tỉ lệ nữ tham gia cấp uỷ và các cơ quan dân cử ngày càng tăng Với tỉ

lệ 27,3% phụ nữ trong quốc hội, Việt Nam là nước đứng đầu trong châu Á về lĩnh vực này Trong các cơ quan quản lí nhà nước, tỉ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương là 11,9% Tỉ lệ nữ là Thứ trưởng

và tương đương là 12,85% Việt Nam đạt chỉ số phát triển giới (GDI) cao Năm 1995, chỉ số GDI của Việt Nam là 0,537 xếp thứ 70/130 nước Năm 1999, chỉ số này tăng lên 0,662 xếp thứ 91/174

Trang 16

nước Năm 2002, VN xếp thứ 89/174 nước Tỉ lệ nữ biết chữ, trình độ văn hoá của phụ nữ đã

được tăng lên đáng kể: 19,9% phụ nữ là tiến sĩ; 30% số người có trình độ sau đại học là nữ Tỉ

lệ nữ tham gia lao động là 83% cao nhất khu vực v.v Trước những thành quả trên, Việt Nam

được coi là điểm sáng về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới của Liên Hợp Quốc

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, bất bình đẳng giới vẫn còn nặng nề, đặc biệt

bất bình đẳng giới đối với phụ nữ

• Trong gia đình, công việc nội trợ đều do phụ nữ làm và mọi người đều cho đó là thiên chức

của phụ nữ Vì vậy phụ nữ có ít thời gian học tập, phấn đấu, nghỉ ngơi giải trí hoặc tham

gia các công việc xã hội Quyền hạn, tiếng nói của nam giới trong gia đình vẫn chiếm ưu

thế, kể cả khi phụ nữ là lao động chính, là người kiếm tiền chủ yếu Tệ nạn bạo lực gia đình

đối với phụ nữ ngày càng tăng, nhất là tệ nạn bạo lực về tinh thần, bạo lực về tình dục

• Trong lao động, người phụ nữ thường làm những công việc giản đơn, không có kĩ thuật

Trong tuyển dụng lao động, đề bạt, lên lương còn có sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ

v.v

• Ngoài xã hội, phụ nữ còn chưa được tôn trọng thực sự Tỉ lệ nữ quản lí lãnh đạo ở các cấp

còn thấp, chưa tương xứng với lực lượng và sự đóng góp của phụ nữ

• Trong cộng đồng, phụ nữ thường tham gia công việc tổ chức, bếp núc, còn đàn ông thường

tham gia quản lí, lãnh đạo, bàn bạc, quyết định những công việc chung của cộng đồng Đặc

biệt, những mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động tiêu cực đến đời sống, sức

khỏe của phụ nữ Những tệ nạn xã hội như buôn bán phụ nữ, ma túy và mại dâm vẫn

chưa được ngăn chặn

2 Nguyên nhân bất bình đẳng giới

Nguyên nhân bất bình đẳng giới, đặc biệt bất bình đẳng giới đối với phụ nữ nhìn chung đa dạng

Tuy nhiên, có thể nêu lên một số nguyên nhân chính sau đây:

Thách thức lớn đối với vấn đề bình đẳng giới hiện nay là tư tưởng phong kiến, tư tưởng gia

trưởng, trọng nam, khinh nữ, ngay cả ở thành phố và ở những người có trình độ văn hoá cao

Tư tưởng coi con trai mới là người nối dõi tông đường vẫn còn nặng nề Phong tục, tập quán lạc

hậu như tệ nạn “Lấy chồng sớm”, phụ nữ không được ngồi ăn cơm chung với chồng hoặc không

được tham gia công việc của họ hàng, dòng tộc vẫn còn nặng nề ở một số địa phương Nhiều

định kiến sai lầm về phụ nữ, về vai trò và khả năng của phụ nữ vấn còn tồn tại, không dễ gì vượt

qua trong thời gian tới

Bản thân phụ nữ còn có tư tưởng mặc cảm, tự ti, an phận, cam chịu, không có chí tiến thủ, không

chịu phấn đấu Vì vậy, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ hạn chế của nhiều phụ nữ cũng

là một trong những nguyên nhân chủ yếu của bất bình đẳng giới hiện nay Nhận thức và hiểu

biết của xã hội, của bản thân phụ nữ về giới, bình đẳng giới, về luật pháp, về các quyền của giới

mình còn hạn chế

Một nguyên nhân khách quan quan trọng nữa là nhận thức của xã hội của các cấp lãnh đạo về

giới và bình đẳng giới còn nhiều hạn chế

Việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật chưa được giám sát chặt chẽ, thường xuyên;

chế tài xử phạt còn chưa nghiêm cũng là một nguyên nhân quan trọng của bất bình đẳng giới

ngày càng gia tăng như hiện nay

3 Giải pháp nâng cao bình đẳng giới

Để đạt được các mục tiêu cam kết với quốc tế về bình đẳng giới, đặc biệt bình đẳng giới đối với

phụ nữ, cần thiết và cấp bách phải có hệ thống các giải pháp đồng bộ, đủ mạnh

• Đẩy mạnh tuyên truyền phê phán tư tưởng phong kiến trọng nam, khinh nữ, phê phán

Trang 17

• Tăng cường giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức của

xã hội, của các cấp lãnh đạo về giới và bình đẳng giới

• Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lí, các văn bản dưới luật; Tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật và xử phạt nghiêm, kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật

• Tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ được tham gia, được học tập để nâng cao trình độ mọi mặt; Giúp phụ nữ nâng cao quyền năng, nâng cao lòng tự tin về bản thân, về vai trò và khả năng của phụ nữ nói chung và của bản thân mình nói riêng

III CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

VÀ CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN TỚI BÌNH ĐẲNG GIỚI

Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta Mục tiêu phấn đấu bình đẳng giới luôn được khẳng định trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Quan điểm nam, nữ bình quyền của Đảng và Bác Hồ được xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và Hiến pháp đầu tiên (1946) Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) vẫn tiếp tục khẳng định vấn đề bình đẳng giới Chiến lược về phát triển kinh tế và xoá đói, giảm nghèo 2001-2010 đã xác định bình đẳng giới là mục tiêu có ý nghĩa thiết yếu đối với toàn bộ chiến lược

Luật Hôn nhân và Gia đình được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9/6/2000 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2001 đã quy định rõ Quan hệ hôn nhân và gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; Cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; Cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi; Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như

vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình; Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn và

xử lý nghiêm minh đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình; Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau; Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau; Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người v.v

Luật Bình đẳng giới được Quốc Hội khoá XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 là cơ sở pháp lí quan trọng bảo đảm bình đẳng giới Luật đã quy định rõ các nội dung về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình (lĩnh vực chính trị; Kinh tế; Lao động; Giáo dục và đào tạo; Khoa học và công nghệ; Văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao; Y tế; và trong gia đình), các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

Luật Bình đẳng giới cũng đã nêu rõ Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới như sau:

• Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình;

hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển

Trang 18

• Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam,

nữ chia sẻ công việc gia đình

• Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực

hiện mục tiêu bình đẳng giới

• Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình

đẳng giới

• Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

và vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để

nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển

giới thấp hơn mức trung bình của cả nước

Luật Bình đẳng giới cũng xác định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và quy định trách nhiệm

của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới

Luật Bình đẳng giới quy định Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi

nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng

giới tại địa phương

Điều 42, Luật Bình đẳng giới đã qui định các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới

như sau:

• Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi

phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

• Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại

thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời Việc

xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để

theo đúng quy định của pháp luật

Đặc biệt, để bảo đảm bình đẳng giới đối với phụ nữ,

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,

chính sách đối với phụ nữ nói riêng Tháng 2/1982,

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc

về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại

phụ nữ (Gọi tắt là Công ước CEDAW hay còn gọi là

Công ước về phụ nữ hay Điều ước quốc tế về quyền

phụ nữ) Đây là văn kiện quốc tế mang tính ràng

buộc pháp lí đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt

đối xử đối với phụ nữ Mục đích của Công ước này

là mang lại quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ

Các quyền của phụ nữ được Công ước bảo vệ là:

1) Quyền được giáo dục; 2) Quyền được hưởng các

dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ, bao gồm cả dịch

vụ KKH gia đình; 3) Quyền được vay tiền ngân hàng

và tham gia các hình thức tín dụng khác; 4) Quyền

được tham gia các hoạt động giải trí, TDTT, các mặt

của đời sống văn hoá; 5) Quyền được quyết định số con và khoảng cách giữa các con; 6) Quyền

được chia sẻ nghĩa vụ làm cha, mẹ; 7) Quyền được tham gia bầu cử, ứng cử, tham gia những

chức vụ trong quản lí nhà nước; 8) Quyền được hưởng các cơ hội làm việc như nhau cũng như

các phúc lợi xã hội khác; 9) Quyền được thù lao như nhau trên cơ sở thành qủa công việc; 10)

Quyền được bảo vệ trước mọi hình thức bạo lực về thể chất, tình dục, cảm xúc, tinh thần và kinh

tế, trước mọi hình thức bắt làm nô lệ hay mại dâm v.v

Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến 2010 đã đề ra 5 mục tiêu chính: 1) Thực hiện

Trang 19

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định “Nâng cao trình độ mọi mặt

và đời sống tinh thần; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lí các cấp, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em”

Tóm lại, Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách để thực hiện và đảm bảo bình đẳng giới Đặc biệt, bình đẳng giới đã được thể chế hoá bằng Luật bình đẳng giới

NỘI DUNG CẦN GHI NHỚ

Phấn đấu bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng Đảng và Nhà nước nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia Bình đẳng giới đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, bất bình đẳng giới, đặc biệt bất bình đẳng giới đối với phụ nữ còn nặng nề ở một số địa phương Việc nâng cao nhận thức cho xã hội, cho các cấp lãnh đạo và đặc biệt cho người dân ở cộng đồng về giới và bình đẳng giới là giải pháp quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng giới

Để bảo đảm bình đẳng giới, đặc biệt bình đẳng giới đối với phụ nữ, trước hết bản thân phụ nữ cần phải:

• Tự hào về vai trò và sự đóng góp của mình, của giới mình đối với gia đình, xã hội và sự phát triển của đất nước, về truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu đảm đang” của phụ nữ Việt Nam

• Vượt qua định kiến của xã hội, của chính mình rằng nội trợ là thiên chức của phụ nữ

• Tự tin vào khả năng của mình Phụ nữ có thể làm những công việc mà nam giới làm

• Đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ Phụ nữ đều có quyền, đều bình đẳng với nam giới trong tất cả các lĩnh vực

• Phấn đấu, tự khẳng định mình, không trông chờ vào sự chiếu cố

Trang 20

• Dân số nông thôn: 74,28% Dân số thành thị: 25,78%

(Nguồn: Khảo sát mức sống dân cư, 2004)

II Tỉ lệ nữ trong lực lượng lao động cả nước: 43,6 triệu, chiếm 49%

III Tỉ lệ nữ trong một số ngành nghề

• Nông lâm ngư nghiệp: 50,2%

• Công nghiệp: 39,4%

• Dịch vụ, thương mại, du lịch, bưu chính viễn thông: 51,8%

Nguồn: Ban dân vận “Những điều cần biết về công ước CEDAW”

IV Tỉ lệ nam nữ tham gia các ngành nghề

Hành chính, sự nghiệp, quản lí 29 10

Lao động thủ công có tay nghề 24 9

Trang 21

Nguồn: Website: www.hoilhpn.org.vn

VI Tỉ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng

Chức danh Đại hội VIII 1996 Đại hội IX 2001

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, UBQG STBPNVN, UNDP, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan:

Số liệu thống kê giới của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI

VII Phụ nữ trong UBND và HĐND các cấp

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, UBQG STBPNVN, UNDP, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan:

Số liệu thống kê giới của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI

VIII Tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo Quốc Hội

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, UBQG STBPNVN, UNDP, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan:

Số liệu thống kê giới của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI

Trang 22

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, UBQG STBPNVN, UNDP, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan:

Số liệu thống kê giới của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI

X Tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo HĐND các cấp

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, UBQG STBPNVN, UNDP, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan:

Số liệu thống kê giới của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI

XI Tỉ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên phân theo giới,

dân tộc, khu vực địa lí, nông thôn và thành thị (%)

Năm Chung Dân tộc

thiểu số Nông thôn Thành thị Nam Nữ

Trang 23

Thành thị Nông thôn Thành thị Nông thôn

96,7 96,8 95,9 96,5 88,6 91,8 84,2 88,6

Nguồn: Ủy ban Dân số, Gia đình, Trẻ em, 2003

XIII Tỉ lệ nữ có trình độ trên đại học so với nam giới

Trình độ Nữ Nam

Tiến sĩ 17,5 82,5Phó giáo sư 13,2 86,8

Nguồn: Báo cáo hoạt động VSTBPN Bộ GD-ĐT 2005

XIV Tỉ lệ thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên ở thành thị từ 2001-2003

Trang 24

XVI Số giờ làm việc nội trợ bình quân một ngày của nam và nữ

trong độ tuổi lao động

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, UBQG STBPNVN, UNDP, Đại sứ quán vương quốc Hà Lan:

Số liệu thống kê giới của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI

Trang 25

bố Bắc Kinh khẳng định nỗ lực thúc đẩy quyền được giáo dục của phụ nữ; sự cần thiết phải tạo thuận lợi để phụ nữ phát triển toàn diện và xây dựng đời sống kinh tế - xã hội.

Ngày gia đình ASEAN được tổ chức tại Tokyo với sự tham gia của đại diện 10 nước thành viên ASEAN và nước chủ nhà Nhật Bản với nhiều hoạt động phong phú như giao lưu thể thao, trưng bày ẩm thực, văn nghệ dân tộc đặc sắc do cán bộ các sứ quán biểu diễn góp phần tăng cường gắn bó giữa các nước thành viên ASEAN và các nước xứ Mặt trời mọc Cộng đồng ASEAN tại Áchentina tổ chức Ngày Gia đình ASEAN tại thủ đô Buênốt Ainét với các buổi liên hoan văn nghệ, thi thể thao, vui chơi có thưởng, thưởng thức món ăn dân tộc đặc sắc

Trung Quốc nhấn mạnh sự nghiệp tiến bộ của phụ nữ Theo Hội LHPN Trung Quốc, tính đến giữa tháng 1 năm nay, Hội đã thành lập 12.000 Trung tâm chống nạn bạo hành trong gia đình trên phạm vi toàn quốc với nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý các cuộc điện thoại liên quan bạo hành trong gia đình Cả nước còn có 27.000 tổ chức xã hội, 400 khu cư trú chuyên tư vấn, hỗ trợ pháp lý và thực hiện các dịch vụ khác cho phụ nữ Một trong những hoạt động thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với phụ nữ là dịp Tết Nguyên đán vừa qua, nữ cảnh sát thành phố Trùng Khánh, nơi có nhiều đồi núi với vô số đường dốc, bậc thang đã được đi tuần tra bằng patanh có thiết kế đặc biệt phù hợp dáng vẻ yêu kiều của các bóng hồng cảnh sát

Trước thềm năm mới, Ủy ban Phụ nữ và thể thao quốc gia Campuchia ra mắt và triển khai hoạt động với mục tiêu đẩy mạnh phong trào phụ nữ tham gia thể thao và vì sự bình đẳng giới trong thể thao theo tiêu chí của Ủy ban Ôlympic quốc tế Bà Prak Sompot, Chủ tịch Ủy ban kêu gọi chính quyền các cấp ủng hộ và hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, thể thao

Năm Gia đình 2008 tại LB Nga được khai trương ngay trước thềm năm mới với sự hiện diện của Tổng thống V.Putin và Phó Thủ tướng thứ nhất D.Medvedev Tổng thống V.Putin phát biểu đầy

ấn tượng về vai trò phụ nữ trong gia đình rằng các cơ sở gia đình vững chắc được củng cố bằng

nỗ lực lớn lao hàng ngày, bằng sức lao động, sự kiên nhẫn và trách nhiệm Việc giáo dục của gia đình phần nhiều xác định tương lai của một con người và trong công việc thiêng liêng ấy vai trò nhạc trưởng thuộc về người mẹ mà Nhà nước và các nhà sư phạm tốt nhất không thể thay thế Paragoay lần đầu có nữ ứng cử Tổng thống Đảng Colorado của Tổng thống Nicanor Duarte cầm quyền 47 năm qua ở Paragoay mới đây đã chỉ định Bộ trưởng Giáo dục Blanca Ovelar làm ứng cử viên Tổng thống của Đảng và là nữ ứng cử viên Tổng thống đầu tiên của quốc gia Nam Mỹ này, cho cuộc bầu cử 20-4-2008 Nếu đắc cử, bà Ovelar sẽ trở thành nữ Tổng thống thứ ba ở Nam Mỹ sau Michelle Bachelet ở Chilê và Cristina Fernandez ở Áchentina

Mêhicô quan tâm tạo việc làm cho phụ nữ Chính phủ vạch chương trình hành động năm 2008, chú trọng tạo việc làm cho phụ nữ và khắc phục tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa lao động nữ và nam Đặc biệt, cuối tháng 1 vừa qua, thủ đô Mêhicô đồng loạt lưu hành 13 xe chở khách do phụ nữ lái và chỉ dành cho hành khách nữ, tại hai trong 13 tuyến đường chính

Theo Phụ nữ Thủ đô

Phụ lục 2

THẾ GIỚI HƯỚNG VỀ PHỤ NỮ VÀ VÌ PHỤ NỮ

Trang 26

Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu

•Trai mà chi, gái mà chiSinh ra có nghĩa, có nghì là hơn

•Nhất nam viết hữuThập nữ viết vô

•Tua rua đã quá đỉnh đầu

Em còn cắt cỏ làm giàu cho cha

Giàu thì chia bẩy, chia baPhận em là gái được là bao nhiêu

•Con gái là con người taCon dâu mới thật mẹ cha mua về

•Đàn bà chân yếu tay mềm

Đã không làm được lại hay nỏ mồm

•Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Ra ngõ gặp gái

•Đàn ông rộng miệng thì sang

Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà

Phụ lục 3

MỘT SỐ ĐỊNH KIẾN GIỚI

Trang 27

Tất nhiên con đường công danh chỉ dành cho các bậc nam tử Thế mà vẫn có trường hợp đặc biệt, vị nữ nho sinh Nguyễn Thị Duệ cải nam trang thi đậu tiến sĩ và làm quan đến Hàn Lâm viện thời vua Mạc Mậu Hợp.

Triều Mạc (1527-1592) từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp tồn tại 65 năm, rất quan tâm việc khoa cử để chọn nhân tài, cứ 3 năm (trước đó 6 năm) mở khoa thi, triệu tập sĩ tử tham dự Việc cải nam trang đi học, đi thi và đắc cử của Nguyễn Thị Duệ, sách Lịch triều tạp ký và Quốc triều khoa bảng lục đều chép rõ Nguyễn Thị Duệ vốn phận gái, người làng Kiệt Đạt, huyện Chí Linh, trấn Hải Dương (Hải Dương quê gốc nhà Mạc), gia thế thuộc trung nông và đặc biệt không có truyền thống khoa bảng Năm lên 10 tuổi, Duệ đã đọc được sách thánh hiền, văn hay, chữ tốt nổi tiếng trong vùng Là phận gái mà thông tuệ khác thường, am hiểu tứ thư, ngũ kinh, có chí lớn như bậc nam tử Duệ xin cha mẹ cải nam trang, đổi tên thành Nguyễn Văn Du sang làng khác học, thầy đồ cùng các bạn không ai hay biết Học xong ở làng, Nguyễn Văn Du lên theo học thầy Nguyễn Nhân An, người từng đậu tiến sĩ, làm quan đến Tả Thị Lang đời vua Phúc Nguyên, văn tài của Du được các bạn đồng môn kính nể Có thể kể đến bài Phú Triệu Vương (Triệu Thị Trinh)

về phụ nữ nước Nam đánh giặc, trong đó có câu khẳng khái:

• Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy lệ Hải Bà Vương những muốn bon chân về Bắc quốc

• Ngồi yên ngựa, khách còn hoài cổ, tưởng gặp Lạc Hồng nữ tướng, càng thêm thẹn mặt đấng nam nhi

Qua đó, cũng đủ thấy hùng văn của một khí phách lớn, chứng tỏ hơn người của kẻ văn nhân sĩ

tử được tôi luyện nơi cửa Khổng, sân Trình Nếu không là người thông hiểu kinh sử, sớm nuôi chí lớn thì làm sao có khẩu khí đến thế!

Năm 1585, Nguyễn Thị Duệ (Du) đậu khoa thi Hương chọn cử nhân, tiếp tục đường công danh hoạn lộ Năm 1586, niên hiệu Đoan Thái trong kỳ thi Hội ở Thăng Long, Nguyễn Thị Duệ (Du) đắc tuyển đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân cùng 18 người khoa bảng cả nước Sau lễ xướng danh vinh quy, bái tổ, Nguyễn Văn Du được mời vào kinh sư sung Hàn Lâm viện Đại học sĩ Tiếc thay, đến thời Mạc Mậu Hợp, vị vua cuối cùng họ Mạc bị Triết Vương Trịnh Tùng tiêu diệt, kết thúc 65 năm tồn tại của Bắc triều họ Mạc

Rõ ràng việc học vấn, trí tuệ không phân biệt nam nữ, dù nữ giới vẫn chiếm đỉnh cao của trí thức Cách đây trên 400 năm, cô gái Nguyễn Thị Duệ đã thành đạt trên trường khoa cử là chuyện hiếm

có, độc đáo trong lịch sử khoa bảng Việt Nam

Phụ lục 4

NGUYỄN THỊ DUỆ - NỮ TIẾN SĨ ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ KHOA BẢNG NƯỚC NHÀ

Trang 28

Trong lịch sử Việt Nam có nhiều công chúa cành vàng lá ngọc của nhiều triều đại, sống trong cảnh

phú quý, giàu sang, ít khả năng và ít quan tâm đến chính sự quốc gia

Nhưng người Việt Nam ngày nay vẫn không quên nhắc đến tên công chúa Huyền Trân, con gái

út của Trần Nhân Tông thế kỷ XIII Cuộc đời của công chúa quốc sắc thiên hương đã đi vào lịch

sử và trở thành huyền thoại trong đời sống văn hóa Việt Nam

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư cho hay rằng cha nàng là Trần Nhân Tông với tư cách là Thái Thượng

Hoàng đi du ngoạn đến nước Chiêm Thành được chứng kiến một nền văn hiến phát triển nên

có ý muốn kết giao với nước Chiêm Ông gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế

Mân Vì lợi ích quốc gia nên Huyền Trân đã đồng ý Sau khi làm dâu nước Chiêm Thành, Huyền

Trân quyết tâm học tiếng Chăm, tìm hiểu phong tục tập quán, học âm luật và lập ra đội vũ nữ

nhạc công làm cho hai dân tộc hiểu biết và tôn trọng nhau Sử chép “Công chúa thông tuệ như

một bậc trí giả, Chế Mân - chồng nàng nhận xét” Đoá bạch trà kiều diễm của ta, nàng làm ta vừa

ngạc nhiên, vừa xúc động Vua đưa Huyền Trân đi thăm kinh đô xưa của ChămPa, cho dự thiết

triều Huyền Trân khuyên Vua coi trọng người hiền tài, cải tổ tô thuế, khuyến khích nghề nông,

thương

Cuộc lương duyên của Huyền Trân và Chế Mân được tròn một năm thì Chế Mân qua đời Huyền

Trân trở về quê cha và xuất gia đi tu tại chùa Nộn Sơn (nay thuộc huyện Vụ Bản, Nam Hà) Trong

thời gian tu hành, bà đã đi nhiều nơi giúp dân dựng làng lập ấp Thần tích làng An Ninh (Quỳnh

Phụ, Thái Bình) cho biết bà đã giúp dân lập 36 xã, thôn Sau khi qua đời, công chúa được dân địa

phương lập thành hoàng làng và thờ tại chùa Nộn Sơn

Chỉ với cỗ xe hoa, công chúa Huyền Trân trở thành sứ giả của tình hoà bình và hữu nghị phát

triển của hai quốc gia, tăng cường sự bang giao, nhân dân được sống yên bình Công lao ấy của

một công chúa thật là to lớn Cuộc đời của nàng đẹp đẽ thanh cao và rất gần gũi với nhân dân

Nhân dân bên cạnh lòng tôn kính, biết ơn và cảm thông nỗi ưu tư sâu xa khi nàng làm dâu nơi

đất khách, quê người Ngoài những làng, chùa thờ nàng ở miền Bắc, ở miền Trung ven biển Thừa

Thiên - Huế có một hòn đảo mang tên Huyền Trân, một ngôi miếu thờ nàng ở Quảng Trị Không

ai rõ hòn đảo, ngôi miếu mang tên nàng từ thuở nào nhưng ai cũng rõ đó là biểu tượng tấm lòng

ngưỡng mộ, sức sống lâu bền mà nhân dân dành cho nàng Bởi lẽ công chúa thì nhiều nhưng

công chúa như Huyền Trân thì chưa từng gặp trong lịch sử và có sức mạnh tinh thần mạnh mẽ

trong dân chúng đến vậy Nàng mãi sống với lịch sử và văn hóa Việt Nam

Phùng Thị Tú Anh

Phụ lục 5

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN - SỨ GIẢ CỦA

TÌNH HÒA BÌNH VÀ HỮU NGHỊ

Trang 29

35 cơ sở ở ba thôn của xã; vận động quần chúng chống nộp thuế, đi phu cho giặc

Năm 1950, bộ đội ta đánh bật bốt Thanh Dung, Mạc Thị Bưởi làm liên lạc, lúc nổ súng đồng chí

đã bò qua 3 hàng rào dây thép gai và ra vào vị trí địch ba bốn lần để truyền lệnh và báo tình hình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Nhiều lần đồng chí cùng cán bộ huyện đột nhập vào các xã

để diệt tề, trừ gian, bảo vệ cơ sở

Năm 1951, Mạc Thị Bưởi làm nhiệm vụ vận động nhân dân vùng tạm chiến chuẩn bị gạo, đường, sữa chuyển ra vùng tự do phục vụ chiến dịch Đồng chí đã tổ chức vận chuyển ra vùng tự do chu đáo Trong chuyến cuối cùng, đồng chí không may bị địch phục kích bắt được Từ lâu đồng chí đã

bị địch theo dõi và chúng treo giải thưởng lớn, nếu ai bắt Mạc Thị Bưởi, nhưng không tìm ra tung tích đồng chí Khi sa vào tay giặc, chúng đã tra tấn cực kỳ dã man nhưng đồng chí vẫn không khai một lời, trung thành tuyệt đối với tổ chức Biết không thể khuất phục được người con gái kiên cường này, giặc đã treo đồng chí lên bụi tre và dùng dao chọc tiết lợn giết đồng chí Mạc Thị Bưởi hy sinh khi mới 24 tuổi xuân Nhân dân địa phương và đồng đội vô cùng thương tiếc đồng chí, đã nêu quyết tâm hăng hái chiến đấu và tích cực công tác để trả thù cho đồng chí

Ngày 31/8/1955, Mạc Thị Bưởi được Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng Hoà tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng nhì

Ngày nay Đảng bộ và nhân huyện Nam Sách đã dựng tượng đài Mạc Thị Bưởi, cạnh quốc lộ 5 và xây nhà tưởng niệm tại khu vực đền thờ Mạc Đĩnh Chi để ghi công và tưởng nhớ người con gái anh hùng của quê hương

Trang Web Hội LHPN Việt Nam

Phụ lục 6

ANH HÙNG, LIỆT SĨ MẠC THỊ BƯỞI

Trang 30

3 Trung tâm hỗ trợ và nâng cao năng lực cho phụ nữ CEPEW “Bình đẳng giới trong pháp luật

Việt Nam”, Hà Nội 2007

4 Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam “Số liệu thống kê về giới ở Việt Nam”

Hà Nội 2002

5 Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam “Số liệu thống kê giới những năm đầu

thế kỷ 21”

6 Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục “Tài liệu tập huấn Giáo dục vì sự phát triển bền

vững cho phụ nữ và trẻ em gái”, Hà Nội 2007

7 Trang Web của Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam

8 Trang Web của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Trang 32

Bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng có chiều hướng ngày càng

gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm, tinh vi Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã và đang

gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội, gia đình và đặc biệt đối với bản thân phụ nữ

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã và đang cản trở quá trình thực hiện bình đẳng giới và phát

triển bền vững của từng địa phương, của từng quốc gia

Ngăn chặn và tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói

riêng là trách nhiệm của mọi người, của mọi tổ chức xã hội Việc nâng cao nhận thức của xã hội,

của người dân, đặc biệt của phụ nữ cùng với việc thay đổi những quan niệm, định kiến sai lầm

về phụ nữ và là cần thiết và cấp bách nhằm nhanh chóng đẩy lùi tệ nạn này

I MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI

VỚI PHỤ NỮ

1 Bạo lực gia đình là gì?

Điều 1, Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã xác định “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của các

thành viên gia đình, gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối

với thành viên khác trong gia đình”

2 Những hành vi nào là bạo lực gia đình?

Điều 2, Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định những hành vi sau là bạo lực gia đình

• Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng

• Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm

• Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng

• Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa

cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh chị em với nhau

• Cưỡng ép quan hệ tình dục

• Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

• Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của

thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của thành viên gia đình

• Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính qúa khả năng của

họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài

chính

• Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

Các hành vi bạo lực gia đình nêu trên cũng được áp dụng đối với cả thành viên của gia đình vợ,

chồng đã li hôn hoặc nam nữ không đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng

Điều đó không có nghĩa là khuyến khích việc không đăng ký kết hôn, song cần quy định như trên

bởi thực tế do nhiều lý do khác nhau về hoàn cảnh lịch sử, truyền thống, phong tục tập quán mà

hiện nay ở nước ta vẫn còn hàng triệu cặp vợ chồng không đăng ký kết hôn

Ngoài ra, pháp luật còn nghiêm cấm các hành vi sau:

• Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình

• Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình

• Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin,

ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình

• Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý bạo lực gia đình

• Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái

pháp luật

Trang 33

3 Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là gì?

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là bất kỳ hành động nào gây hậu quả làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho người phụ nữ về thân thể, tình dục hay tâm lí, kể cả những lời đe dọa hay độc đoán tước quyền tự do của người phụ nữ Như vậy, bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm:

vợ, là cách dạy vợ của mình, kể cả những người chồng có trình độ thấp hơn hoặc không phải là trụ cột kinh tế trong gia đình

Bạo lực về tinh thần: Bạo lực tinh thần xẩy ra đối với phụ nữ dưới nhiều hình thức như:

• Người chồng chửi bới, xỉ nhục, lạnh nhạt, bỏ rơi, ngoại tình …

• Người chồng cấm đoán vợ, không cho vợ tham gia các hoạt động bình thường như tham gia các hoạt động xã hội, họp hành, giao tiếp với mọi người, thăm bố mẹ, họ hàng

• Người chồng giám sát, kiểm soát mọi mặt, mọi hoạt động của vợ như cách ăn mặc, đi đứng, nói năng, rình rập, theo dõi, nghi ngờ,

• V.v…

Đây là loại bạo lực mà nhiều phụ nữ cho rằng còn đau đớn hơn so với bị hành hạ về thể xác Bạo hành về tinh thần kéo dài có thể sẽ gây trầm uất, dễ dẫn đến tự tử

Bạo lực về tình dục

Là hình thức không quan hệ tình dục hoặc ép buộc người vợ quan hệ tình dục ngay cả khi họ

ốm đau, mệt mỏi, hoặc không có hứng thú Bạo lực về tình dục còn thể hiện ở chỗ người chồng hoặc người thân trong gia đình người chồng ép buộc người phụ nữ phải sinh nhiều con trong khi

họ không muốn Đây là loại bạo lực còn có nhiều quan niệm khác nhau Nhiều người, kể cả bản thân phụ nữ còn cho rằng đây không phải bạo lực vì đây là trách nhiệm, bổn phận của người vợ

và đây là quyền của người chồng

Tuy nhiên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường được hiểu không đầy đủ, chỉ là những hành vi gây thương tích cho người vợ, người phụ nữ hoặc đe dọa đến tính mạng của họ

4 Nạn nhân bạo lực gia đình có quyền và nghĩa vụ gì?

• Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình

• Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo qui định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình

• Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lí và pháp luật

• Được bố trí nơi tạm lánh, giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình

• Các quyền khác theo qui định của pháp luật

Trang 34

• Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình

cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền

5 Người có hành vi bạo lực phải thực hiện nghĩa vụ gì?

• Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng

• Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

• Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân, trừ trường hợp nạn nhân

từ chối

• Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân khi có yêu cầu và theo qui định của pháp luật

6 Để phòng ngừa bạo lực gia đình, cần có các biện pháp gì?

Luật phòng chống bạo lực gia đình đã đề ra các biện pháp sau:

• Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phòng chống bạo lực gia đình

• Tăng cường công tác hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình

• Tổ chức tốt công tác tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư

Tổ chức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình như thế nào?

Mục đích của thông tin, tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp

phần tiến tới xóa bỏ bạo lực gia đình Nội dung thông tin, tuyên truyền cần tập trung vào các vấn

đề sau:

• Chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, về bình đẳng giới, về quyền và

nghĩa vụ của các thành viên gia đình

• Truyền thống tốt đẹp của con người và gia đình Việt Nam

• Tác hại của bạo lực gia đình

• Biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng chống bạo lực gia đình

• Kiến thức về hôn nhân và gia đình, kỹ năng ứng xử xây dựng gia đình văn hóa mới

• Và các nội dung khác có liên quan tới phòng, chống bạo lực gia đình

Hình thức thông tin, tuyên truyền cần phải đa dạng:

• Thông tin, tuyên truyền trực tiếp qua các buổi chuyên đề, các lớp tập huấn, các buổi nói

chuyện, tọa đàm … tại các Trung tâm học tập cộng đồng

• Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, tivi v.v…

• Lồng ghép tích hợp vào các nội dung giảng dạy của các bộ môn, các hoạt động của các cơ

sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân: Trường tiểu học, THCS, THPT, các trường

cao đẳng, đại học, TCCN, dạy nghề v.v…

• Thông qua các hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt tại cộng đồng và các loại hình văn

hóa quần chúng khác như thi văn nghệ, thi tiểu phẩm, v.v

Tổ chức hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình như thế

nào?

Việc tổ chức hòa giải có thể do gia đình, dòng họ tiến hành, có thể do cơ quan, tổ chức tiến hành

hoặc có thể do tổ chức hòa giải ở cơ sở tiến hành Việc hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các

gia đình cần phải quán triệt các nguyên tắc sau đây:

• Kịp thời, chủ động và kiên trì

• Phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ, pháp luật của Nhà nước, đạo đức

xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

• Tôn trọng sự tự nguyện tiến hành hòa giải của các bên

• Khách quan, công minh, có lí, có tình

Trang 35

• Giữ bí mật thông tin đời tư của các bên.

• Tôn trọng quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cộng đồng

• Không hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp khi vụ việc thuộc tội phạm hình sự (trừ trường hợp người bị hại yêu cầu không xử lí theo pháp luật)

• Không hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp khi vụ việc thuộc hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính

Tổ chức góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư như thế nào?

• Những người từ 16 tuổi trở lên nếu đã được hòa giải mà vẫn tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình thì sẽ bị góp ý, phê bình ở cộng đồng

• Trưởng thôn, làng, bản ấp, phum, sóc, tổ trưởng dân phố hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư quyết định và tổ chức góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư

• Thành phần tham gia góp ý, phê bình bao gồm người có hành vi bạo lực gia đình, đại diện gia đình, hộ gia đình liền kề và các thành phần khác do người đứng đầu cộng đồng dân cư mời

UBND cấp xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư

7 Cá nhân và gia đình có trách nhiệm gì trong phòng, chống bạo lực gia đình?

Trách nhiệm của cá nhân

• Cá nhân phải thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, về hôn nhân và gia đình, về bình đẳng giới, về phòng, chống ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác

• Các cá nhân phải có trách nhiệm kịp thời ngăn chặn các hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền

Trách nhiệm của gia đình

• Gia đình có trách nhiệm giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, về hôn nhân và gia đình, về bình đẳng giới, về phòng, chống ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác

• Gia đình có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực và chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình

• Gia đình có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình và có trách nhiệm thực hiện các biện pháp về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình

II THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ CỦA BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

1 Thực trạng và hậu quả của bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thực trạng

Nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là trẻ con hoặc người lớn, có thể là nam hoặc nữ, có thể là

Trang 36

người chồng hoặc người vợ Tuy nhiên, trong thực tế, phụ nữ/người vợ thường là nạn nhân của

bạo lực gia đình Vì vậy, trong phạm vi của chuyên đề này chủ yếu đề cập tới bạo lực gia đình

đối với phụ nữ

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đang ngày càng gia tăng và ngày càng trở nên không chỉ ở Việt

Nam, mà cả ở các nước trên thế giới và trong khu vực Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng bạo lực

gia đình đối với phụ nữ là một hiện tượng có tính chất toàn thế giới Theo thống kê của Tổ chức

ActionAid, ước tính trên thế giới cứ 3 phụ nữ thì có một người đã từng bị đánh đập, cưỡng ép tình

dục hoặc bị hành hạ với đa số thủ phạm chính là người trong gia đình Kết quả khảo sát của các

nhà nghiên cứu cho thấy trên thế giới cứ trung bình 15 giây thì có một phụ nữ bị bạo lực Kết quả

từ hơn 50 cuộc điều tra trên khắp thế giới cho thấy 16% đến 50% phụ nữ là nạn nhân của những

vụ hành hung thể xác trong những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời (năm 2001) Số liệu thống

kê của Chính phủ Trung Quốc cho thấy bạo lực gia đình chỉ xảy ra ở 30% gia đình, mặc dù con

số này còn dưới sự thật Ở Hàn Quốc theo những điều tra khác nhau có từ 40% - 60% phụ nữ

đã trải qua bạo lực thể chất bởi những người chồng của họ Tại Nhật Bản, tỷ lệ bạo lực gia đình

rất cao (60% phụ nữ trong một số nghiên cứu nói họ đã trải qua bạo lực gia đình); con số đó ở

Thái Lan là 20%; Malaysia là 39% (năm 2001) Theo thống kê ở Hoa Kỳ 95% nạn nhân của bạo

lực gia đình là phụ nữ (năm 2000)

Ở Việt Nam, bạo lực gia đình ở Việt Nam diễn ra ở mọi vùng, cả ở đô thị lẫn nông thôn và trong

các gia đình ở mọi mức thu nhập Một số nghiên cứu gần đây cho thấy 20%-25% gia đình có bạo

lực đối với phụ nữ Nghiên cứu tại một số vùng nông thôn cho thấy vấn đề bạo lực gia đình đối

với phụ nữ ở nông thôn dường như phổ biến khi 87% số người được hỏi nói rằng ở xóm, thôn nơi

họ sinh sống có những hiện tượng bạo lực gia đình, cả bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần

Hiện nay do nhiều nguyên nhân chưa có số liệu thống kê đầy đủ và chính xác về tình hình bạo lực

đối với phụ nữ Theo số liệu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, năm 1994 có 17.897

phụ nữ bị chồng đánh đập xin li hôn Đây chỉ là những trường hợp chị em không chịu nổi tính thô

bạo, vũ phu của người chồng nên đã chọn giải pháp li hôn Trong thực tế còn rất nhiều phụ nữ

bị chồng ngược đãi nhưng vẫn cam chịu vì con cái, vì hạnh phúc gia đình mà không tố cáo hành

vi thô bạo của chồng Một phụ nữ trong thảo luận nhóm đã nói “Nói chung, ở nông thôn chuyện

đánh vợ là chuyện bình thường Người phụ nữ có khi chỉ vì một lí do nhỏ nhặt cũng bị chồng

đánh” Thực tế đáng buồn này đã và đang cản trở sự phát triển bền vững của các quốc gia, của

từng cộng đồng

Theo thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao, trong 5 năm qua các tòa án địa phương đã thụ lý

và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ việc về ly hôn và gia đình Trong số này có tới 186.954 vụ có

hành vi đánh đập, ngược đãi, chiếm 53,1% các nguyên nhân dẫn đến ly hôn

Mặc dù chưa có số liệu quốc gia về bạo lực gia đình, song kết quả khảo sát của Ủy ban các vấn

đề xã hội tại 8 tỉnh, thành phố trong 2000 người được phỏng vấn thì 2,3% gia đình có các hành

vi bạo lực về thể chất (đánh đập), 25% gia đình có hành vi bạo lực về tinh thần và 30% cặp vợ

chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục Tình hình bạo lực gia đình giữa các vùng, miền

không có sự khác biệt đáng kể Theo báo cáo của Bộ công an, trên toàn quốc cứ 2 đến 3 ngày

có 1 người bị giết có liên quan tới bạo lực gia đình

Ngoài ra, nhiều phụ nữ còn bị những người khác trong gia đình chồng như bố mẹ chồng, anh chị

em chồng v.v… hành hạ hoặc xúi bẩy chồng ngược đãi hoặc bỏ vợ Một phụ nữ ở thành phố, 36

tuổi đã nói “Gia đình chồng đã xúi chồng tôi: Mày cứ đánh chết nó đi Mày đánh để dạy nó thì sợ

gì Kể cả đánh chết cũng không ai bỏ tù được mày, bất qúa chỉ là cái án treo Xưa nay chưa có ai

đánh chết vợ mà bị tử hình cả”

Hiện nay, không chỉ những người đàn ông có trình độ văn hóa thấp, kiến thức hạn chế mới có

hành vi bạo lực đối với vợ, mà ngày càng nhiều những người đàn ông có học vấn cao, những đàn

ông trí thức cũng có hành vi bạo lực đối với vợ, nhất là bạo lực về tinh thần Bạo lực gia đình đối

Ngày đăng: 15/02/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w