382.1.1 Bảo vệ quyền con người thông qua các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của người bào chữa ………… 382.1.2 Bảo vệ quyền con người thông qua các quy định của pháp luật t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoanMục lụcDanh mục các chữ viết tắt
Chương 1Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng chế
định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam …… 71.1 Nhận thức chung về bảo vệ quyền con người thông qua chế
định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam …… 71.1.1 Khái niệm về người quyền con người và bảo vệ quyền con
người trong tố tụng hình sự Việt Nam ……… 71.1.2 Khái niệm về người bào chữa và chế định người bào chữa
trong tố tụng hình sự Việt Nam ……… 131.1.3 Khái niệm về bảo vệ quyền con người thông qua chế định
người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam ………… 181.2 Vị trí, vai trò của chế định người bào chữa trong tố tụng
hình sự Việt Nam ……… 221.2.1 Vị trí của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam… 221.2.2 Vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 30
Kết luận chương 1 ……… 36Chương 2Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo vệ
quyền con người thông qua chế định người bào chữa vàthực tiễn áp dụng ……… 382.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo vệ
quyền con người thông qua chế định người bào chữa …… 382.1.1 Bảo vệ quyền con người thông qua các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về quyền của người bào chữa ………… 382.1.2 Bảo vệ quyền con người thông qua các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về nghĩa vụ của người bào chữa ……… 512.2 Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người thông
Trang 4qua chế định người bào chữa ……… 58
2.2.1 Một số kết quả đạt được và nguyên nhân ……… 58
2.2.2 Một số hạn chế và nguyên nhân ……… 71
Kết luận chương 2 ……… 82
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam ……… 84
3.1 Phương hướng xây dựng cơ chế bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam……… 84
3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 85
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về người bào chữa ………… 85
3.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật tố tụng hình sự về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền của người bào chữa…… 95
3.2.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật khác ……… 97
3.3 Các kiến nghị khác ……… 99
Kết luận ……… 104
Danh mục tài liệu tham khảo ……… 107
Trang 5: Cơ quan tiến hành tố tụng: Điều tra viên
: Hội đồng xét xử: Hiệu lực pháp luật: Kiểm sát viên: Người bào chữa: Tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân tối cao: Tiến hành tố tụng
: Trách nhiệm hình sự: Tố tụng hình sự: Vụ án hình sự: Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo quyền con người cũng là một trong những nội dung, mụcđích của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Tinhthần đó được thể hiện đầy đủ trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội
và trong từng văn bản Nghị quyết Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005của Bộ chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định:
“Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các
cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công
lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật vàpháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và viphạm” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đặt ra nhiệm vụ
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, quyền con người”; Cương lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng mớiđây cũng đã chỉ rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồngthời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyềncon người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước và quyền làm chủcủa nhân dân” và “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công lý, tôntrọng và bảo vệ quyền con người” [7, tr 76]
Đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung vàhoạt động tố tụng hình sự nói riêng luôn là vấn đề quan trọng và phức tạp Bởicác hoạt động đó trực tiếp ảnh hưởng đến các quyền dân chủ của công dân
Đó là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giamgiữ, quản lý, giáo dục người chịu án phạt tù, bảo đảm rằng mọi hành vi
Trang 7phạm tội đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, không được làmoan người vô tội Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm quyền con ngườitrong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự trong thời gian qua cho thấy tìnhtrạng vi phạm các quyền tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, xử oanngười vô tội, xét xử sai,… vẫn còn diễn ra khá phổ biến Một số người THTTvẫn chưa nhận thức hết được việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân, minh oan cho người vô tội cũng có ý nghĩa quan trọng như việc xử lýnghiêm minh người phạm tội Tuy nhiên, để bảo đảm các quyền dân chủ củacông dân trong lĩnh vực TTHS không phải là điều dễ dàng đối với cácCQTHTT nhất là trong tình hình tính chất phức tạp, nghiêm trọng của tộiphạm ngày càng cao
Xây dựng và hoàn thiện chế định NBC trong TTHS cũng chính là mộttrong những biện pháp đảm bảo quyền con người trong TTHS Quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền Hiến định và được thể chếthành một trong những Nguyên tắc cơ bản trong Luật TTHS Đồng thời, phápluật TTHS cũng quy định chế định NBC nhằm góp phần đảm bảo nguyên tắcnày
Việc nghiên cứu về chế định NBC trong TTHS để từ đó kịp thời đưa ragiải pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót là cần thiết đối với việc đảm bảo
quyền công dân trong các hoạt động TTHS Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 8Trong thời gian gần đây, vấn đề bảo đảm quyền con người trong hoạtđộng tư pháp nói chung, quyền con người trong TTHS nói riêng đã đượcnhiều tác giả nghiên cứu từ các góc độ với mức độ khác nhau Hầu hết cáccông trình nghiên cứu đó đều cho thấy vai trò, tầm quan trọng cũng như sựcần thiết của NBC đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân trong TTHS Có thể kể tên những công trình nổi tiếng, chuyên sâu như
Luận án tiến sỹ luật học năm 2011 của tác giả Lại Văn Trình: “Đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam”; Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Hoàng Huy: “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay”; Một số
công trình nghiên cứu như: Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia năm 2006
do các tác giả GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS
Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì: “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”; Báo cáo của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc tại Hội thảo về
Quyền con người trong TTHS (do VKSNDTC và Ủy ban nhân quyền
Australia tổ chức tháng 3/2010): “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Bài viết của GS.TSKH Lê Văn Cảm “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”; Bài viết của TS Nguyễn Văn Tuân trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11/2008 “Địa vị pháp lý và mối quan hệ của người bào chữa với bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự”.
Mỗi công trình nghiên cứu, bài viết khoa học đều có một cách tiếp cậnkhác nhau khi viết về bảo vệ quyền con người trong TTHS Có tác giả thìnghiên cứu về việc đảm bảo quyền con người trong các nguyên tắc tố tụng;
Có tác giả thì đi sâu vào nghiên cứu quyền cụ thể là quyền bào chữa của bị
Trang 9can, bị cáo; Cũng có tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu về địa vị pháp lý của NBCthông qua việc tập trung phân tích về quyền, nghĩa vụ của NBC được quyđịnh trong pháp luật hiện hành Chưa có công trình nghiên cứu nào tập trungvào vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua chế định NBC trong TTHS.
3 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
a Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chế định NBC trong TTHSViệt Nam và nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật TTHS vềNBC trong việc bảo vệ quyền con người, nhằm làm sáng tỏ những bất cậphạn chế, để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của việcđảm bảo quyền con người trong TTHS thông qua chế định NBC
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt
ra là:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người trong TTHSthông qua chế định NBC, cụ thể là làm rõ khái niệm quyền con người vàquyền con người trong TTHS Việt Nam; khái niệm bảo vệ quyền con ngườithông qua thông qua chế định NBC Phân tích các quy định của Bộ luật TTHShiện hành liên quan đến quyền bào chữa và quyền, nghĩa vụ của NBC trongTTHS Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về chế định NBC trong việc bảo vệ quyền con người trong TTHS
- Kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy địnhpháp luật TTHS Việt Nam và các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ quyền con người trong TTHS thông qua chế định NBC
Trang 104 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn là những quy định của Bộluật TTHS hiện hành về chế định NBC và thực tiễn áp dụng các quy địnhpháp luật tố tụng về NBC trong việc bảo vệ quyền con người của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo
Phạm vi nghiên cứu là các quy định pháp luật TTHS và các quy địnhpháp luật hiện hành về chế định NBC trong giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS cóhiệu lực đến thời điểm hiện tại
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận nghiêncứu khoa học của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quanđiểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, về công cuộc cải cách tư pháp và đảm bảo quyền con người trongTTHS
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương phápnghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê v.v…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần rõ thêm nhiều vấn đề lý luận
về chế định NBC trong TTHS nói chung và bảo vệ quyền con người thôngqua chế định NBC trong TTHS nói riêng
Trên cơ sở phân tích có hệ thống và tương đối toàn diện các quy địnhcủa BLTTHS, đánh giá việc áp dụng các quy định đó vào thực tiễn, từ đó tìm
ra những hạn chế, bất cập trong bảo vệ quyền con người thông qua chế địnhNBC trong TTHS và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
Trang 11Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là một tài liệu tham khảo trong côngtác nghiên cứu, học tập và hoạt động thực tiễn cho những ai quan tâm đến vấn
đề này
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng chế
định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo vệ
quyền con người thông qua chế định người bào chữa và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ
quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sựViệt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CHẾ ĐỊNH NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM 1.1 Nhận thức chung về bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong
tố tụng hình sự Việt Nam
Quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là một phạm trù đa diện,
do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từtrước đến nay có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố[45], mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra nhữngthuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả cácthuộc tính của quyền con người
Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộcvào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, cómột số định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người
(Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thường được
trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, quyền con người là
những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo
vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entilements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [44,
tr.1]
Trang 13Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác về quyền con người
mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên là: “quyền con người là những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người.” [25, tr 37].
Hay một cách ngắn gọn nhất theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì: Nhân quyền, hay Quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào [45].
Thuật ngữ “Human Rights” trong tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt
là “quyền con người” (theo tiếng thuần Việt) hoặc “nhân quyền” (theo Hán –
Việt) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con
(quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do lập hội,…); Quyền mưu cầu hạnh phúc và Quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà công dân có
Trang 14được trong một nền dân chủ Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận cácquyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyềnchủ chốt mà bất kỳ xã hội dân chủ nào cũng phải duy trì Vì các quyền nàytồn tại không phụ thuộc vào Nhà nước, do đó chúng không thể bị luật phápbãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào
đó Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền conngười cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhưng tất cả các nền dân chủ đềuđược giao trọng trách trong việc xây dựng các cấu trúc xã hội lập hiến, lậppháp để bảo đảm cho các quyền con người đó
Hiện nay, quyền con người được các nước trên thế giới công nhận vàbảo đảm thực hiện thông qua cơ chế, pháp luật quốc gia và quốc tế, đặc biệt làcác công ước của Liên hợp quốc Trong các văn kiện nhân quyền của Liênhợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và hai công ước quốc tế về quyềncon người được thông qua năm 1966, cùng hai nghị định thư bổ sung củaCông ước dân sự, chính trị được gọi là Bộ luật nhân quyền quốc tế
Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người là thành quả và khátvọng chung của nhân loại Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng
và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con người được thế giới thừa nhậnrộng rãi Cương lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: "Con người là trungtâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng vàbảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dântộc, của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân" [7, tr.76]
Nhà nước Việt Nam luôn coi con người là mục tiêu và động lực củamọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảmbảo và thúc đẩy các quyền con người Hiến pháp năm 1992, văn bản có hiệulực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị,
Trang 15kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lýcông việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền
tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo;quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe, không phân biệt giới tính, sắctộc, tôn giáo Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóacác quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền
Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt Nó hiệnhữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự.Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnhvực hành chính, kinh tế, môi trường , nhưng có thể nói, quyền con người trongTTHS là quyền dễ bị xâm phạm và tổn thương nhất và hậu quả để lại cũngnghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinhmệnh chính trị của một cá nhân Bởi lẽ, TTHS với tư cách là quá trình Nhà nướcđưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ bị coi là tội phạm, quá trình nàyluôn thể hiện đậm nét tính quyền lực nhà nước với sức mạnh cưỡng chế nhànước, với sự thiếu quân bình về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS
mà sự yếu thế luôn thuộc về những người bị buộc tội Chính vì vậy, hoạt độngTTHS, trong bất cứ Nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khingười ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người [9]
Bảo vệ quyền con người trong TTHS, đó là trong quá trình điều tra,truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giam giữ, quản lý, giáo dục ngườichịu án phạt tù, bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịpthời và xử lý nghiêm minh, không được làm oan người vô tội Người phạmtội phải bị đưa ra xét xử, chịu hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội Mụcđích của hình phạt không chỉ là trừng trị mà còn chủ yếu là để giáo dục, cảitạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảmquyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 16Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện quốc tế các ghi nhận vềquyền con người trong TTHS như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm
1948 (UHDR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Côngước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985,….Nghiên cứu các văn bản này đưa đến một khẳng định quyền con người trongTTHS chẳng qua là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do, trong lĩnhvực TTHS Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong TTHS Theo đó
(Điều 10, 11 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền – UHDR, Điều 14, 15 và 11 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị - ICCPR) quyền con
người trong TTHS bao gồm những quyền sau:
- Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai
- Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
và quyền tự do cá nhân khác Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS phải trên cơ sở luật định
- Quyền được suy đoán vô tội
- Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ
- Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt
- Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi.…
- Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử
Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội, đối tượng quantrọng nhất cần bảo vệ trong TTHS Tuy nhiên, tham gia vào quá trình TTHSkhông chỉ có những người bị buộc tội mà còn nhiều người khác mà lâu nay
Trang 17khi nghiên cứu về quyền con người trong TTHS, chúng ta hay ít chú ý đó là
quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của người làm chứng
và những người liên quan khác, quyền con người của những người THTTnhư điều tra viên, công tố viên và thẩm phán Những người này họ cũng cóquyền con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh
dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế củamình bằng con đường TTHS
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cảhai phương diện lập pháp và thực tiễn các văn kiện về quyền con người Điều
đó được thể hiện trong Bộ luật TTHS của nước CHXHCN Việt Nam ở mức
độ khác nhau: có thể trang trọng quy định là nguyên tắc cơ bản, có thể thấpthoáng trong các quy định cụ thể Bộ luật TTHS hiện hành có các nguyên tắcnhư: Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự, tôn trọng
và bảo vệ quyền cơ bản của công dân; bảo vệ quyền bất khả xâm phạm vềtính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, suy đoán vô tội (tuy còn chưarõ), quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan… Nghiên cứu quyềncon người trong TTHS không thể không đưa ra định nghĩa về nó Hiện nay,
có một số khái niệm về quyền con người trong TTHS đã được đưa ra nhưngchủ yếu là nhấn mạnh đến quyền của người bị buộc tội mà chưa chú ý đếnquyền của những người khác tham gia TTHS
Đồng quan điểm với tác giả đề tài nghiên cứu “Bảo vệ quyền của người
bị buộc tội”, Ths Đinh Thế Hưng, Viện Nhà nước và pháp luật – Viện
KHXH Việt Nam Khái niệm do Ths Đinh Thế Hưng đưa ra về quyền con
người trong TTHS như sau: “Quyền con người trong TTHS là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật TTHS
mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện và bảo vệ khi bị xâm hại.” [9].
Trang 181.1.2 Khái niệm người bào chữa và chế định người bào chữa trong tốtụng hình sự Việt Nam
Theo từ điển giải thích luật học: “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để bênh vực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo”.
Trong khoa học luật TTHS tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về kháiniệm NBC Nhìn chung các quan điểm đều dựa vào các qui định củaBLTTHS để đưa ra khái niệm NBC Tuy nhiên, với cách tiếp cận khác nhaunên mỗi quan điểm hoặc nhấn mạnh ở một số dấu hiệu của NBC hoặc mangtính liệt kê các qui định của BLTTHS mà chưa phải là một khái niệm hoànchỉnh về NBC có ý nghĩa quan trọng trong khoa học luật TTHS Có thể kể ramấy quan điểm về NBC như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “NBC trong tố tụng hình sự là người thamgia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcủa người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xãhội chủ nghĩa” “Là người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tìnhtiết về vụ án để cuối cùng toà án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật”[40, tr 1]
Quan điểm thứ hai, “NBC là người tham gia tố tụng theo yêu cầu của bịcan, bị cáo, của CQTHTT (nếu thuộc trường hợp bắt buộc) hoặc theo yêu cầucủa những người thân thích của bị can, bị cáo để bảo vệ các lợi ích hợp phápcủa bị can, bị cáo đồng thời giúp cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý để đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình tố tụng” [29, tr 34]
Quan điểm thứ ba, “NBC là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,người đại diện hợp pháp của họ, những người khác được người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo uỷ quyền mời hay được CQTHTT yêu cầu Đoàn luật sư phân công
Trang 19Văn phòng luật cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chứcthành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáonhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý” [11,tr.17]
Cùng chung quan điểm với tác giả Đinh Văn Quế (quan điểm thứ ba),
trên cơ sở phân tích các dấu hiệu đặc trưng của NBC theo qui định củaBLTTHS hiện hành có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về chế định NBCtrong TTHS như sau:
“Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ mời hoặc được CQTHTT yêu cầu và được CQTHTT chứng nhận”.
Để có thể đưa ra khái niệm về chế định NBC như trên, là kết quả củaviệc xác định các dấu hiệu của NBC trên cơ sở các qui định của BLTTHSViệt Nam hiện hành Các dấu hiệu đặc trưng của NBC đó là:
Một là, NBC là người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liênquan đến vụ án Họ tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp cho người bị buộc tội NBC không phải là người THTT mà chỉ làngười tham gia tố tụng Từ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của NBC
“Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình vào một hoạtđộng chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành.Hơn nữa, NBC không phải là người được nhân danh quyền lực nhà nước vàkhông được sử dụng quyền lực nhà nước như những người THTT
Trang 20Dấu hiệu này đã được quy định tại Chương IV của BLTTHS năm 2003.Cho phép phân biệt NBC với những người THTT (gồm: Thủ trưởng, Phó thủtrưởng CQĐT, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát,Kiểm soát viên; Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư
ký toà án), những người trong các cơ quan hỗ trợ tư pháp và những ngườikhác được các CQTHTT mời [28, tr.107]
Hai là, NBC tham gia TTHS với nghĩa vụ và mục đích là để làm sáng tỏnhững tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiếtgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa họ
Dấu hiệu này cho phép xác định rõ nhiệm vụ, mục đích tham gia TTHScủa NBC và cũng đã được cụ thể hoá trong BLTTHS Theo qui định củaBLTTHS năm 2003, NBC được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạmgiữ Và phạm vi đối tượng bảo vệ của NBC hiện nay bao gồm: người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia pháp lý
về vấn đề phạm vi đối tượng bảo vệ của NBC Ví dụ, có ý kiến cho rằng,người bị kết án cũng là đối tượng bảo vệ của NBC [33] Mặc dù giai đoạn thihành án cũng được coi là một giai đoạn trong TTHS và chịu sự điều chỉnhcủa BLTTHS Tuy nhiên, với những qui định của BLTTHS hiện hành về quátrình thi hành án thì chưa đủ cơ sở để khẳng định người bị kết án cũng là đốitượng bảo vệ của NBC
Cũng có ý kiến lại cho rằng quyền được tiếp cận và sử dụng trợ giúppháp lý của NBC không nên chỉ giới hạn khi có quyết định bắt người tạm giữhoặc khi quyết định khởi tố vụ án hình sự, mà ngay cả khi người bị tình nghi
Trang 21phạm tội bị triệu tập mời lên cơ quan công an do có đơn tố cáo hoặc có thôngtin tố giác tội phạm, họ được quyền mời luật sư tham gia tư vấn, trợ giúp vềpháp lý ngay từ đầu Xuất phát từ thực trạng phổ biến việc CQĐT các cấpthường từ chối sự có mặt của luật sư trong các hoạt động “tiền tố tụng”, gây
ra sự lo lắng và quan ngại cho những người bị triệu tập, bị câu lưu nhưng cóđơn “tự nguyện hợp tác với CQĐT”, bị thu giữ hộ chiếu, hạn chế đi lại, Lý
do thường được đưa ra là vụ án chưa khởi tố, người bị tình nghi chưa có tưcách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nên không chấp nhận cho luật sưtham gia Vì vậy, đối tượng bảo vệ của NBC bao gồm cả người bị tình nghiphạm tội, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử [36]
Ba là, NBC chỉ có thể tham gia tố tụng khi đáp ứng đủ các điều kiện dopháp luật qui định Không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia TTHS với tưcách là NBC vì theo qui định của BLTTHS hiện hành NBC chỉ có thể là Luậtsư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữaviên nhân dân Đồng thời phải đáp ứng các điều kiện do BLTTHS quy địnhnhư sau:
- Phải được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người đại diện hợp pháp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời hoặc được CQTHTT yêu cầu Đoàn luật
sư phân công Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho bị can, bị cáo(trong một số trường hợp)
- Không thuộc một trong những trường hợp những người không đượcbào chữa
Ngoài ra NBC còn phải đáp ứng các điều kiện khác do các văn bản phápluật khác qui định, chẳng hạn Luật sư phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật vềLuật sư qui định; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị
Trang 22cáo phải đáp ứng các qui định của Bộ luật dân sự năm 1995 về đại diện Vàmột điều kiện không thể thiếu nữa là phải được CQTHTT chấp nhận bằngviệc cấp Giấy chứng nhận NBC.
Về khái niệm “Chế định” hay “Chế định pháp luật”
Chế định hay chế định pháp luật là tập hợp một nhóm quy phạm phápluật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứngtrong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật Chế định có thể đượchiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Nghĩa chung và rộng là các yếu tố cấuthành cơ cấu pháp lí của thực tại xã hội, nghĩa hẹp là tổng thể các quy phạm,quy tắc của một vấn đề pháp lí [45]
Cơ cấu bên trong của pháp luật có đặc điểm ở tính đa dạng của các chếđịnh, trong đó có chế định liên ngành, nghĩa là có quan hệ đến một số ngànhluật Các chế định pháp luật liên ngành được hình thành và hoạt động khônggiống nhau Hiến pháp là cơ sở pháp lí của tất cả các chế định pháp luật [45].Việc xác định đúng tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội từ đó đề ranhững quy phạm tương ứng có ý nghĩa quan trọng, đó là cơ sở pháp lý để tạo
ra cơ cấu pháp lý của một ngành luật Không thể xây dựng được một văn bảnpháp luật tốt cũng như một ngành luật hoàn chỉnh nếu không xác định rõ giớihạn và nội dung của các chế định pháp luật [45] Nhiều chế định hợp lại sẽcấu thành ngành luật, các ngành luật hợp lại sẽ tạo thành một hệ thống phápluật
Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định có một đặc điểmriêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, chúngkhông tồn tại một cách biệt lập Việc xác định ranh giới giữa các chế địnhnhằm tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp vớithực tiễn đời sống xã hội Và phải đặt các chế định trong mối liên hệ qua lại
Trang 23trong một chỉnh thể thống nhất của pháp luật cũng như một ngành luật Mỗichế định pháp luật dù mang đặc điểm riêng nhưng nó cũng phải tuân theo cácquy luật vật động khách quan, chịu sự ảnh hưởng và tác động của chế địnhkhác trong hệ thống pháp luật [45].
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về Chế định người bào
chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam như sau: “Chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự là nhóm các quy phạm pháp luật được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa với vai trò là người tham gia tố tụng hình sự nhằm mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án để chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
1.1.3 Khái niệm về bảo vệ quyền con người thông qua chế định NBCtrong TTHS Việt Nam
Tố tụng hình sự là hoạt động đặc biệt liên quan đến việc khởi tố, điềutra, truy tố, xét xử vụ án hình sự liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vinguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội
Vì vậy, để đạt được mục đích của tố tụng hình sự, pháp luật TTHS của bất kỳmột quốc gia nào cũng có quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng,các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân.Hay nói cách khác, cưỡng chế tố tụng hình sự, khả năng ảnh hưởng của hoạtđộng tố tụng hình sự tới các quyền con người của công dân là tất yếu
Trong TTHS, nhiệm vụ không để lọt tội phạm phải đi liền với không làmoan người không có tội; Nhiệm vụ phát hiện xử lý tội phạm phải đi liền với việcđảm bảo quyền con người Hoạt động TTHS phải được thực hiện trên cơ sở coitrọng các yếu tố đó Bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nói trên đềuảnh hưởng nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng
Trang 24Nếu muốn chứng minh tội phạm và xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễdẫn đến vi phạm quyền con người Ngược lại, nếu quá chú ý đến việc đảmbảo quyền con người thái quá mà không áp dụng các biện pháp cưỡng chế tốtụng để phát hiện, chứng minh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng thiếuhiệu quả, không thể phát hiện, xử lý kịp thời người phạm tội, thậm chí bỏ lọttội phạm, v.v…
Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờnhư các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường , nhưng có thể nói, quyềncon người trong TTHS là quyền dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất vàhậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền đượcsống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân Bởi lẽ, TTHS với
tư cách là quá trình nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ
bị coi là tội phạm, quá trình này luôn thể hiện đậm nét tính quyền lực nhànước với sức mạnh cưỡng chế nhà nước, với sự thiếu quân bình về thế và lựccủa các bên tham gia quan hệ TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về nhữngngười bị buộc tội Chính vì vậy, hoạt động tố tụng hình sự, trong bất cứ nhànước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đềbảo vệ quyền con người
Quyền con người trong TTHS bao gồm: Quyền được xét xử công bằngbởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai; Quyền bất khả xâmphạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do cá nhânkhác; Quyền bào chữa; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, v.v…
Bản chất của quyền bào chữa là chống lại sự buộc tội và bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình trước các biểu hiện xâm phạm đến từ các chủthể đại diện cho Nhà nước Từ khi một người bị tạm giữ hay khởi tố về hình
sự thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã có nguy cơ bị xâm phạm bởi các
Trang 25chủ thể đại diện cho nhà nước do vậy họ phải được hưởng quyền bào chữa
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Không thể nói Nhà nước củachúng ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nếu người dân không cóquyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các Cơ quan nhànước
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền Hiếnđịnh (Điều 132 Hiến pháp năm 1992), được cụ thể hóa bằng nguyên tắc cơbản của BLTTHS và được quy định chi tiết thông qua các điều luật về quyền,nghĩa vụ của NBC và các điều luật khác của BLTTHS Bào chữa là một trongnhững chức năng quan trọng không thể thiếu trong quá trình giải quyết VAHSnhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuy vậy,trong thực tiễn, vì những lý do khác nhau nên không phải bất cứ người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo nào cũng có khả năng tự bào chữa một cách có hiệu quả
Do đó, pháp luật tạo điều kiện để họ thực hiện quyền bào chữa của mình bằngviệc có thể nhờ người khác bào chữa Nhờ người khác bào chữa là một hìnhthức thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có hiệuquả và góp phần không nhỏ vào việc giúp CQTHTT giải quyết vụ án đượckhách quan Đồng thời, pháp luật quy định các CQTHTT phải áp dụng tất cảcác biện pháp cần thiết để tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáothực hiện quyền bào chữa của họ
Bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trongTTHS chính là bảo vệ quyền được bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo, đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong TTHS Đảm bảo quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là đảm bảo một trong những quyền
cơ bản của công dân
Trang 26Dù ở mức độ khác nhau nhưng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều chỉ
là những người bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đượcBLTTHS quy định là tội phạm Họ là người tham gia tố tụng chiếm vị trítrung tâm trong tố tụng hình sự; không có họ thì không thể có tiến trình tốtụng hoàn chỉnh Đối với họ có thể việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tốtụng hình sự; các hoạt động tố tụng hình sự động chạm đến quyền con ngườicủa họ nhiều nhất Tuy nhiên, vì chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực phápluật của Tòa án đối với họ nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa phải làngười phạm tội Cho nên, từ góc độ bảo đảm quyền con người, các biện phápcưỡng chế tố tụng, các hạn chế tố tụng đối với họ chỉ ở mức cần và đủ để đạtđược mục đích tố tụng là phát hiện nhanh chóng, xử lý công minh tội phạm
và người phạm tội
Thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta cũng như trên thế giới
đã chứng minh để bảo đảm việc bắt giữ, truy tố, xét xử của các cơ quan tiếnhành tố tụng khách quan, đúng pháp luật, hạn chế xâm phạm quyền và lợi íchhợp pháp của công dân thì nhất thiết phải có một cơ chế đối trọng đối với hoạtđộng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người thực hiện cơ chế đó chính làngười bào chữa
Trong lĩnh vực tố tụng đặc biệt là tố tụng hình sự, vai trò của NBCtrong việc bảo vệ quyền con người càng được thể hiện rõ nét Sự tham giacủa NBC trong TTHS không chỉ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn góp phần trong việc xác định sựthật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra, truy tố và xét xử được nhanhchóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội phạm
Cơ sở để thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáothông qua chế định NBC trong TTHS chính là việc quy định các quyền và
Trang 27nghĩa vụ của NBC trong pháp luật TTHS Hay nói các khác chế định NBC thểhiện vị trí, vai trò của NBC trong việc bảo đảm quyền được bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS.
Quyền và nghĩa vụ của NBC trong TTHS Việt Nam được quy định tậptrung chủ yếu trong BLTTHS năm 2003, nguồn cơ bản và quan trọng nhất củapháp luật TTHS Việt Nam Trong mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau người bàochữa có các quyền và nghĩa vụ khác nhau tuy nhiên cũng có những quyền vànghĩa vụ tồn tại trong suốt quá trình giải quyết vụ án
Từ đó có thể khẳng định: “Bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự là bảo vệ những giá trị thiêng liêng của con người khi họ là người bị buộc tội trong quan hệ pháp luật TTHS thông qua những quyền và nghĩa vụ của Người bào chữa được pháp luật quy định
mà những giá trị đó được đảm bảo không bị xâm phạm”.
1.2 Vị trí, vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Vị trí của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
Bào chữa là một trong những chức năng quan trọng không thể thiếutrong quá trình giải quyết VAHS nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo Tuy vậy trong thực tiễn, vì những lý do khác nhau nênkhông phải bất cứ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nào cũng có khả năng tựbào chữa một cách có hiệu quả Do đó, pháp luật tạo điều kiện để họ thực hiệnquyền bào chữa của mình bằng việc có thể nhờ người khác bào chữa Nhờngười khác bào chữa là một hình thức thực hiện quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo có hiệu quả và góp phần không nhỏ vào việc giúpCQTHTT giải quyết vụ án được khách quan
Trang 28Mặc dù còn tồn tại những cách nhìn nhận sai lệch về vị trí của NBCnhưng lịch sử TTHS của thiết chế nhà nước dân chủ đã chứng minh sự thamgia của NBC vào quá trình giải quyết vụ án hình sự là đòi hỏi khách quan đểđảm bảo dân chủ trong hoạt động TTHS nói riêng và trong xã hội nói chungbởi sự tham gia của NBC sẽ tạo ra một sự kiềm chế, đối trọng cần thiết đốivới các chủ thể THTT đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được đúngđắn, hạn chế sự vi phạm quyền con người trong TTHS.
Như vậy, NBC phải có một vị trí nhất định trong hoạt động tố tụng.Pháp luật TTHS hiện hành qui định NBC là một trong những người tham gia
tố tụng, “những người có quyền, lợi ích cần được bảo vệ trước pháp luật hoặc những người có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia vào việc giải quyết vụ
án hình sự theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự và những người khác tham gia để đảm bảo công lý” [11], bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án, người làm chứng, NBC Trong khoa học luật TTHS,NBC được xếp vào nhóm những người tham gia tố tụng để bảo đảm công lýhoặc nhóm những người tham gia tố tụng để giúp đỡ người có quyền và lợiích liên quan bao gồm NBC và người bảo vệ quyền lợi của đương sự Tuynhiên, quan điểm cho rằng NBC là người tham gia tố tụng để bảo đảm công
lý phản ánh được đầy đủ hơn chức năng, nhiệm vụ, vai trò của NBC trongTTHS vì NBC tham gia tố tụng không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp phápcủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn giúp các cơ quan THTT, ngườiTHTT làm rõ những tình tiết liên quan đến vụ án, tránh được những sai lầm
có thể mắc phải trong quá trình giải quyết vụ án, mặt khác NBC còn giúpnhững người tham gia tố tụng khác những mặt pháp lý cần thiết
Trang 29Để làm rõ hơn về vị trí của NBC trong TTHS cần đặt NBC trong mốiquan hệ với các cơ quan, người THTT; với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
và với những người tham gia tố tụng khác
Trong quan hệ với CQĐT, sự có mặt của NBC trong các hoạt động điềutra không hề gây cản trở cho hoạt động đúng đắn của các ĐTV Bởi lẽ, NBCkhông được phép xoá bỏ các dấu vết về vụ án nhằm che giấu hành vi củangười đang bị điều tra, tạo dựng các chứng cứ nhằm mục đích gỡ tội cho họ,
vì NBC có nghĩa vụ phải tôn trọng sự thật, không được phép mớm cung chongười đang bị điều tra, mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khaibáo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật Đồng thời, NBC có trách nhiệmphải giao cho CQĐT những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án mà mình thuthập được khi vụ án đang trong quá trình điều tra Quá trình điều tra vụ ánhình sự của các CQĐT luôn phải tuân thủ thời hạn luật định do vậy rất dễ dẫnđến sự vi phạm pháp luật của các ĐTV để bảo đảm hoàn thành điều tra đúngthời hạn, ngoài ra sự vi phạm pháp luật của ĐTV cũng có thể do các nguyênnhân khác, chẳng hạn vì lợi ích cá nhân Trong những trường hợp đó sự thamgia của NBC sẽ có tác dụng hạn chế đến mức tối đa sự vi phạm pháp luật cóthể có từ phía ĐTV Sự có mặt của NBC khi lấy lời khai của người bị tạm giữhoặc hỏi cung bị can sẽ tạo thuận lợi cho các ĐTV vì người bị tạm giữ, bị canđược giúp đỡ về mặt tinh thần nên sẽ bình tĩnh khai báo và cũng sẽ không xảy
ra tình huống phản cung tại phiên toà Tất nhiên cũng không loại trừ hoàntoàn khả năng NBC thực hiện những việc không được phép làm, khi đó thìđúng là NBC thực sự gây khó khăn cho các ĐTV Tuy nhiên, trong thực tế rấthiếm khi xảy ra khả năng này mà dường như chỉ có sự vi phạm pháp luật tốtụng từ phía các ĐTV Nếu cho rằng NBC gây khó khăn cho các ĐTV thì cóchăng chỉ là NBC đã lấy đi cơ hội lạm quyền của họ trong quá trình thực hiệncác biện pháp điều tra
Trang 30Như vậy, có thể khẳng định sự tham gia của NBC trong các hoạt độngđiều tra không những không gây khó khăn trở ngại cho các ĐTV mà còn giúp
họ hoàn thành nhiệm vụ một cách đúng pháp luật, đưa ra kết luật điều tra cócăn cứ và đúng thời hạn luật định Tuy vậy, sự tham gia của NBC trong cáchoạt động điều tra lại phụ thuộc vào sự đồng ý, cho phép của ĐTV hoặc củaThủ trưởng CQĐT Điều đó tạo ra vị thế bị động của NBC khi họ muốn thamgia vào các hoạt động điều tra của các CQĐT, trong khi với chức năng, nhiệm
vụ, vai trò của mình họ xứng đáng được hưởng một vị thế chủ động
Trong quan hệ với Viện kiểm sát, về hình thức thì dường như NBCluôn chống lại VKS Bởi lẽ, quan điểm của NBC luôn khác thậm chí đốinghịch hoàn toàn với quan điểm của VKS Khi VKS ra quyết định truy tố thìluôn theo hướng khẳng định bị cáo phạm tội với đề nghị khung hình phạt cụthể áp dụng đối với bị cáo và luôn bảo vệ bản cáo trạng mà mình đã đưa ra.Còn NBC thì theo hướng khẳng định bị cáo vô tội hoặc phạm tội khác nhẹhơn hoặc phạm tội thuộc khung hình phạt nhẹ hơn Tuy nhiên, nếu quan điểmcủa NBC có đầy đủ căn cứ thì đã giúp cho VKS hạn chế làm oan người bịtruy tố, đồng thời theo qui định của pháp luật NBC có trách nhiệm giao choVKS tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án mà mình thu thập được tuỳ theo giaiđoạn tố tụng và việc tranh luận về bản cáo trạng sẽ giúp cho VKS đưa ra lờibuộc tội có căn cứ đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội, hoàn thành tốtnhiệm vụ của mình với chức năng công tố Trong trường hợp quan điểm củaNBC không có cơ sở thì cho dù họ có cố gắng bảo vệ cho lí lẽ không thuyếtphục của mình cũng không làm ảnh hưởng đến bản cáo trạng có căn cứ màVKS đã đưa ra và họ cũng không thể trở thành lực lượng đối nghịch gây khókhăn cho VKS, có chăng thì KSV viên chỉ mất thời gian và công sức để bảo
vệ quan điểm của mình bởi khi đó các lý lẽ mà NBC cố gắng đưa ra không cógiá trị và không hề ảnh hưởng đến quyết định của Toà án về vụ án Và trong
Trang 31mọi trường hợp để bảo vệ bản cáo trạng một cách thuyết phục trước các ýkiến bác bỏ của NBC, VKS cần phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình theoqui định của pháp luật để hạn chế những thiếu sót, sai phạm trong Kết luậnđiều tra của CQĐT cũng như những thiếu sót trong bản cáo trạng Về phíamình để có thể tranh luận với Kiểm sát viên một cách có hiệu quả, đưa raquan điểm thuyết phục và bảo vệ được quan điểm của mình thì NBC nhấtthiết phải có một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng thông qua việc thu thập chứng
cứ, nghiên cứu tài liệu liên quan đến vụ án, hồ sơ vụ án
Như vậy, về phương diện hoạt động giữa VKS và NBC có mối quan
hệ tương hỗ lẫn nhau góp phần đảm bảo hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụcủa mỗi bên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên sự tham giacủa NBC vào quá trình giải quyết vụ án hình sự nhiều khi vẫn phụ thuộc vào
sự quyết định của VKS Mặc dù pháp luật tố tụng chỉ qui định một trườnghợp sự tham gia tố tụng của NBC phụ thuộc vào ý chí của VKS đó là trườnghợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhưngthực tế NBC gặp nhiều cản trở hơn từ phía VKS
Trong mối quan hệ với Toà án, sự tham gia của NBC thông qua việccung cấp cho Toà án những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, hỏi nhữngngười tham gia tố tụng khác, tranh luận với Kiểm sát viên về các tình tiết của
vụ án đã được thu thập, về bản cáo trạng của VKS giúp cho HĐXX nhìn nhận
về vụ án một cách toàn diện hơn, tránh được việc xem xét phiến diện một
chiều (nguyên nhân chủ yếu dẫn đến làm oan người vô tội) Qua đó đảm bảo
cho phán quyết về vụ án là công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, bảo đảmxét xử đúng người, đúng tội, hạn chế oan, sai Đồng thời trong quá trình thựchiện chức năng, nhiệm vụ của mình NBC có thể kịp thời phát hiện những biểuhiện sai phạm của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án hoặc những yếu tốlàm ảnh hưởng đến sự công tâm, vô tư, khách quan trong quá trình thực hiện
Trang 32chức năng nhiệm vụ của các chủ thể này từ đó đưa ra các yêu cầu, kiến nghịtheo qui định của pháp luật góp phần giúp cho Toà án thực hiện tốt chứcnăng, nhiệm vụ quan trọng của mình Trong trường hợp quan điểm của NBCđược HĐXX quan tâm đúng mức sẽ giúp cho NBC hoàn thành sứ mệnh vàphát huy được vai trò của mình Ngược lại, nếu ý kiến, quan điểm của NBCkhông được Toà án lưu tâm không những làm mờ nhạt vị trí, vai trò của NBCdẫn đến những nhìn nhận, đánh giá không đúng về vị trí, vai trò của họ màcòn xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo.
Tóm lại, trong mối quan hệ với các chủ thể THTT mặc dù quan điểmcủa NBC luôn trái ngược với quan điểm của các chủ thể THTT thì cũngkhông có nghĩa là NBC chống lại các chủ thể này, chống lại Nhà nước mà họđang thực hiện nhiệm vụ cao cả được pháp luật giao phó
Về mối quan hệ giữa NBC với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (những người được NBC bảo vệ) Có ý kiến cho rằng NBC là người đại diện của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho họ; Quanđiểm khác cho rằng NBC là chủ thể độc lập trong TTHS đồng thời là ngườiđại diện cho lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng đây
là đại diện với hình thức đặc biệt Hiểu theo nghĩa rộng là thay mặt cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ màkhông phải chỉ bó hẹp theo nghĩa là thay mặt cho họ thực hiện những côngviệc được họ uỷ quyền
Vì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự mình bào chữa hoặcnhờ người khác bào chữa nên trong mọi trường hợp ý chí của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo luôn mang tính quyết định đối với việc có hay không sựtham gia của NBC vào quá trình giải quyết vụ án Xuất phát từ ý thức chủquan của mình, người bị buộc tội có thể từ chối NBC ở bất kỳ giai đoạn nào
Trang 33của quá trình tố tụng nếu họ thấy sự tham gia của NBC không làm tốt hơnhoặc làm xấu đi tình trạng của họ Tuy thế nhưng khi người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo đã đồng ý để NBC tham gia tố tụng để bào chữa cho mình thì họkhông thể chi phối các hoạt động, các bước tiến hành công việc của NBC vàNBC sẽ nhân danh mình để tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện nhiệm
vụ, thậm chí NBC có thể có quan điểm khác với quan điểm của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo về hướng bào chữa Chẳng hạn, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo khẳng định mình vô tội nhưng qua xem xét các tình tiết, sự việc của vụ
án NBC nhận thấy người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã phạm tội hoặc ngượclại vì một lý do nào đó mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhận tội nhưngNBC lại khẳng định họ vô tội Tuy nhiên, giữa NBC và người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo thường có sự thống nhất về hướng bào chữa, đây là một trongnhững yêu cầu để việc bào chữa đạt hiệu quả Trường hợp xảy ra bất đồngquan điểm giữa NBC và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà họ không tìmđược tiếng nói chung thì thường dẫn tới việc từ chối NBC từ phía người bịtạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo Mặc dù về phía mình NBC không thể từ chối bào chữa cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo trừ khi có lý do chính đáng theo qui định của phápluật thì cũng không thể khẳng định rằng điều đó tạo nên sự ràng buộc giữaNBC và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà điều đó chỉ ràng buộc NBC vớinhiệm vụ của họ Họ không thể tự ý rời bỏ nhiệm vụ của mình và nhiệm vụ
đó được xác định trên cơ sở qui định của pháp luật chứ không phải trên cơ sởthoả thuận với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Như vậy, có thể khẳng định quan hệ giữa NBC và người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo không thể là quan hệ đại diện theo nghĩa thông thường Tuy nhiên,quan hệ giữa NBC và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có phải là một hìnhthức đại diện đặc biệt hay không thì cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ vì
Trang 34cho đến nay pháp luật chưa qui định thế nào là hình thức đại diện đặc biệt.Đồng thời, cũng có thể khẳng định giữa NBC và người bị tạm giữ, bị can, bịcáo có một sự độc lập nhất định và sự độc lập đó tồn tại từ khi người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo đồng ý để NBC tham gia tố tụng để bào chữa cho mình chođến khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của nhữngngười này muốn chấm dứt sự tham gia của NBC mà họ đã mời hoặc chấpnhận hay là cho đến khi vụ án kết thúc nếu như người bị tạm giữ, bị can, bịcáo, người đại diện hợp pháp của họ không tự ý từ chối NBC.
Về mối quan hệ giữa NBC với những người tham gia tố tụng khác Cóthể nhận thấy mối quan hệ giữa NBC với Người bị hại; Nguyên đơn dân sự;
Bị đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Người làmchứng; Người giám định được biểu hiện rõ nét tại phiên toà xét xử Theo đó,NBC được quyền hỏi những người này theo qui định của pháp luật Mặc dù,NBC và người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều được xếp vào nhómNgười tham gia tố tụng để bảo vệ công lý, nhưng NBC cũng có vị trí khác sovới người bảo vệ quyền lợi của đương sự thể hiện ở quyền được có mặt trongcác hoạt động điều tra, quyền thu thập chứng cứ ở một mức độ nhất định(quyền tương tự các CQTHTT) và nghĩa vụ quan trọng là làm sáng tỏ các tìnhtiết gỡ tội cho người bị buộc tội
Như vậy, mặc dù sự tham gia của NBC vào quá trình giải quyết vụ ánhình sự phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
và nhiều khi phụ thuộc vào sự đồng ý, cho phép của các chủ thể THTT nênphần nào họ còn ở thế bị động Nhưng với sứ mệnh của mình NBC đượcpháp luật qui định có những quyền và nghĩa vụ cụ thể Điều đó tạo nên vị tríđộc lập tương đối cho NBC và khi thực hiện nhiệm vụ của mình NBC cũng
có một sự chủ động nhất định trong hoạt động thể hiện ở các khía cạnh:
Trang 35- NBC không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm nên họ không phải là
người giúp việc cho các CQTHTT (những chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm chứng minh tội phạm);
- Nhiệm vụ của NBC là do pháp luật tố tụng qui định không phải do được uỷ quyền bởi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
- Các bước đi để xây dựng luận điểm bào chữa không bị chi phối bởi bất cứ chủ thể nào; và
- NBC nhân danh chính mình để đưa ra quan điểm về đường lối giải quyết vụ án
1.2.2 Vai trò của NBC trong tố tụng hình sự
Nói tới vai trò của NBC là nói tới những tác động, ảnh hưởng của NBCđối với cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt động của mình, đối với xã hộithông qua chức năng, nhiệm vụ Có thể nhận thấy vai trò của NBC được thểhiện rõ nét trên các mặt sau:
- Thứ nhất, sự tham gia TTHS của NBC góp phần bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Quyền bào chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân
đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản luật (Điều 132 Hiến pháp 1992 và Điều 11 BLTTHS năm 2003) Việc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có ý nghĩa quan trọng bởi khi quyền bàochữa không được thực thi một cách triệt để thì không thể đảm bảo thực thiđược các quyền khác dẫn đến xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng và của công dân nói chung
Trang 36Để tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyềnbào chữa của mình pháp luật qui định: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể
tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Xét về bản chấtviệc tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình là hai hìnhthức biểu hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuynhiên, trên thực tế với tâm lý mình là người bị buộc tội hoặc là đang bị tạmgiữ, tạm giam hoặc do trình độ pháp lý hạn chế nên việc tự mình bào chữakhông đạt hiệu quả và quyền bào chữa khi đó sẽ chỉ mang tính hình thức.Điều này không những ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ
mà còn ảnh hưởng tới việc giải quyết đúng đắn vụ án Do vậy, việc tham gia
tố tụng của NBC là cần thiết Bởi lẽ, NBC không có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan tới vụ án nên họ tham gia tố tụng một cách vô tư và nhìn nhận sự việcmột cách khách quan NBC cũng có khả năng và điều kiện cung cấp chongười bị tạm giữ, bị can, bị cáo những kiến thức pháp lý cần thiết để họ tựbảo vệ mình Sự có mặt của NBC cũng sẽ giúp đỡ cho người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo rất nhiều về mặt tinh thần, mang đến cho họ cảm giác rằng họkhông bị cô lập với xã hội Thông qua NBC, xã hội dường như dang tay ragiúp đỡ họ và với sự giúp đỡ của NBC họ có cơ hội sử dụng một cách đầy đủnhững quyền tố tụng mà họ được hưởng, tích cực tham gia vào nghiên cứunhững tài liệu thu thập được về vụ án, tranh luận và bác bỏ lời buộc tội đốivới họ Ngoài ra, NBC được pháp luật trao cho các quyền nhất định trong quátrình giải quyết vụ án hình sự nên họ có lợi thế hơn người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những đối tượng này.Hơn nữa, việc tham gia của NBC không làm mất đi quyền tự mình bào chữacủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Như vậy, có thể nói chế định NBC trong TTHS chính là một trong cácbiện pháp về mặt lập pháp nhằm bảo đảm thực thi quyền bào chữa của người
Trang 37bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong thực tế khi mà họ không có điều kiện hoặc không thể tự mình thực hiện quyền bào chữa.
- Thứ hai, NBC góp phần vào quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án.
Để đạt đến sự thật khách quan về vụ án thì cần phải có một hệ thốngchứng cứ đầy đủ, hợp pháp, xác thực và có liên quan đến vụ án Tuy nhiên, đóluôn là một việc khó khăn bởi lẽ hành vi phạm tội luôn xảy ra trước khi việcđiều tra thu thập chứng cứ được tiến hành nên các chứng cứ chỉ được thuthập thông qua các dấu vết được ghi nhận trong thế giới khách quan
Với nghĩa vụ làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bịcáo NBC phải tiến hành thu thập chứng cứ bằng các biện pháp do pháp luậtqui định, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận với KSV tại phiên toà về các tìnhtiết, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, về bản cáo trạng của VKS Thông qua việcthu thập chứng cứ, NBC có thể cung cấp cho Toà án những chứng cứ quantrọng mà vì một lý do nào đó CQĐT chưa thu thập được, bổ sung cho hệthống chứng cứ của vụ án được đầy đủ hơn Bằng việc nghiên cứu tài liệu, hồ
sơ vụ án NBC có thể phát hiện được thiếu sót của những người THTT, trên
cơ sở đó để đưa ra các yêu cầu hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụngcủa cơ quan, người THTT, qua đó hạn chế được ý chí chủ quan của ĐTV,Kiểm sát viên trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ Trong quá trình tranhluận tại phiên toà, NBC có thể chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong việc đánhgiá chứng cứ cũng như những sai phạm trong việc thu thập chứng cứ của các
cơ quan, người THTT giúp Toà án loại bỏ được những chứng cứ hoặc khôngxác thực, hoặc không hợp pháp, hoặc không liên quan đến vụ án
Trang 38Ngoài ra sự có mặt của NBC còn giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bịcáo rất nhiều về mặt tinh thần nên họ sẽ bình tĩnh và thành khẩn khai báo giúpcho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng và đúng sự thật vì họ là người đãthực hiện hành vi bị buộc tội nên họ là người biết rõ các tình tiết về vụ án hơnbất cứ người nào khác Với vai trò này NBC được xem như là người bổ trợ
tư pháp, giúp cho các cơ quan, người THTT làm sáng tỏ mọi tình tiết liênquan đến vụ án, qua đó giúp cho quá trình giải quyết vụ án đảm bảo được tínhkhách quan
- Thứ ba, NBC góp phần đảm bảo dân chủ; bảo vệ công lý, công bằng
xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo là biểu hiện cao nhất tính dân chủ trong hoạtđộng TTHS và quyền này chỉ thực sự tồn tại trong các Nhà nước dân chủ.NBC tham gia TTHS là để giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiệnquyền bào chữa của họ một cách có hiệu quả nhất với mục đích là bảo vệ cácquyền tự do dân chủ của họ
Tính dân chủ trong TTHS còn được thể hiện ở khía cạnh đó là mọicông dân, tổ chức đều có quyền tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình
sự NBC với tư cách là một công dân hoặc thành viên của một tổ chức xã hộinào đó khi tham gia tố tụng họ không đại diện cho quyền lực nhà nước mànhân danh mình tham gia tố tụng với mục đích là bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng họ cũng chính là đạidiện cho nhân dân hoặc tổ chức xã hội mà họ là thành viên trong việc giám sát
hoạt động của các cơ quan, người THTT (những chủ thể đại diện cho quyền lực nhà nước) và hoạt động của những người tham gia tố tụng khác Với chức
năng, nhiệm vụ đặc thù của mình NBC được pháp luật trao cho những quyền
Trang 39nhất định trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự
và với những quyền đó NBC được phép có mặt trong một số hoạt động điềutra, đưa ra yêu cầu, khiếu nại, tranh luận bình đẳng với các chủ thể đại diệncho quyền lực nhà nước và được phát biểu quan điểm của mình về vụ án Đóchính là các đảm bảo về mặt lập pháp để NBC phát huy vai trò của họ đồngthời đó cũng là một trong các định chế đảm bảo tính dân chủ trong hoạt độngTTHS
Chính bằng việc sử dụng các quyền của mình và thông qua các quyền
đó NBC có thể phát hiện những biểu hiện vi phạm thủ tục tố tụng của nhữngchủ thể THTT, đồng thời sự có mặt của NBC trong các giai đoạn tố tụnggiống như một người chứng kiến, một kênh giám sát sẽ hạn chế được sự lạm
quyền của những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng (nguyên nhân chính dẫn đến vi phạm pháp luật tố tụng), giúp cho việc giải quyết vụ án đúng
pháp luật Có thể khẳng định chắc chắn rằng, nếu NBC được tạo điều kiệnmột cách đầy đủ để thực hiện một cách triệt để các quyền của họ thì sẽ khôngcòn hiện tượng bức cung, dùng nhục hình, dàn dựng chứng cứ, bỏ sót chứng
cứ, làm sai lệch hồ sơ vụ án, thuyết phục nhận tội Đồng thời, hệ thống chứng
cứ của vụ án vừa đầy đủ hơn vừa đảm bảo các thuộc tính hợp pháp, kháchquan, liên quan đến vụ án, vì NBC vừa có quyền thu thập chứng cứ vừa cóquyền phản biện chứng cứ do CQĐT thu thập và do vậy sẽ giúp cho Toà ánxét xử đúng người, đúng tội, ra bản án công minh, có căn cứ, đúng pháp luật,hạn chế rất nhiều các trường hợp oan, sai trong TTHS Như vậy, công lýđược bảo vệ, nhân dân tin vào công bằng xã hội Pháp luật tố tụng nói riêng
và pháp luật của nhà nước nói chung được tôn trọng
Mặc dù quá trình giải quyết vụ án hình sự với nhiều giai đoạn khácnhau được thực hiện bằng một thủ tục tố tụng được pháp luật qui định chặtchẽ tuy nhiên trên thực tế hiện tượng lạm quyền, chuyên chế, biểu hiện của vi
Trang 40phạm thủ tục tố tụng của các chủ thể THTT không phải là ít Dù nguyên nhâncủa sự vi phạm đó là do khách quan hay chủ quan thì đều là vi phạm phápluật Không thể nói tới việc bảo đảm pháp chế khi mà chính các chủ thể cóchức năng và nhiệm vụ bảo vệ pháp luật lại thực hiện hành vi vi phạm phápluật Bởi Pháp chế hiểu theo nghĩa chung nhất là sự yêu cầu tất cả các cơquan, tổ chức và cá nhân phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật trong tổ chức vàhoạt động của mình Sự tham gia của NBC trong quá trình tố tụng sẽ tạo ramột sự đối trọng nhất định đối với các cơ quan và người THTT có thẩmquyền buộc các chủ thể đó phải ý thức hơn về từng hành vi của mình, phải tựkiềm chế các biểu hiện lạm quyền, chuyên chế, phải tuân thủ một cách triệt đểthủ tục tố tụng, phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân Đó chính là tác dụng phòng ngừa vi phạm có thể xảy ra từ phía cácchủ thể THTT Đồng thời thông qua việc đưa ra yêu cầu hoặc khiếu nại đốivới các chủ thể tiến hành tố tụng, người bào chữa góp phần vào việc khắcphục những sai phạm đã xảy ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo đúng qui định của pháp luật Với sựtham gia tố tụng của mình, NBC không những góp phần hạn chế những viphạm thủ tục tố tụng của các chủ thể THTT mà còn hướng người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo tuân thủ pháp luật vì đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện việcbảo vệ quyền lợi cho chính họ Do vậy pháp luật được đảm bảo thực thi, phápchế được bảo vệ
- Thứ tư, NBC góp phần tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân.
Khi tham gia tố tụng NBC giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáocũng như những người tham gia tố tụng khác hoặc những cá nhân, tổ chứcliên quan đến quá trình giải quyết vụ án hiểu rõ về các quyền và nghĩa vụpháp lý của họ thông qua việc gặp gỡ họ trong quá trình thu thập chứng cứ, và