Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng một số chế định thuộc Phần các tội phạm PLHS...38Kết luận chương 1...45Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG NHỮNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH LÊ VĂN CẢM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa họccủa riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung thực Các kết quả nêu trong Luận vănchưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi đã hoànthành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tàichính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đểtôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Giáp Mạnh Huy
Trang 3CON NGƯỜI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 91.1 Ý nghĩa và khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng pháp
luật hình sự 91.1.1 Ý nghĩa của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự 91.1.2 Khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự 91.2 Đặc điểm của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp
luật hình sự 101.3 Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật
hình sự Việt Nam 111.3.1 Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng một số chế
định thuộc Phần chung PLHS 121.3.2 Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng một số chế
định thuộc Phần các tội phạm PLHS 38Kết luận chương 1 45Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG NHỮNG QUY
PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI 47
Trang 42.1 Một số vấn đề về thực trạng những quy phạm Phần chung
pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành có liên quan đến việc
bảo vệ các quyền con người 472.1.1 Những quy phạm thuộc chế định Đạo luật hình sự có liên quan
đến việc bảo vệ các quyền con người 472.1.2 Những quy phạm thuộc chế định Tội phạm có liên quan đến việc
bảo vệ các quyền con người 512.1.3 Những quy phạm thuộc chế định Các tình tiết loại trừ tính chất tộiphạm của hành vi có liên quan đến việc bảo vệ các quyền con người 572.1.4 Những quy phạm thuộc chế định Trách nhiệm hình sự có liên
quan đến việc bảo vệ các quyền con người 592.1.5 Những quy phạm thuộc chế định Hình phạt có liên quan đến việc
bảo vệ các quyền con người 612.1.6 Những quy phạm thuộc chế định Các biện pháp tha miễn có liên
quan đến việc bảo vệ quyền con người 652.2 Một số vấn đề về thực trạng những quy phạm Phần các tội
phạm pháp luật hình sự Việt Nam có liên quan đến việc bảo
vệ các quyền con người 712.2.1 Những quy phạm thuộc chế định Các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người có liên quan đến
việc bảo vệ các quyền con người 712.2.2 Những quy phạm thuộc chế định Các tội xâm phạm các quyền tự
do, dân chủ của công dân có liên quan đến việc bảo vệ các quyền
con người 78Kết luận chương 2 85
Trang 5Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG
QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON
NGƯỜI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 86 3.1 Thực tiễn áp dụng pháp những quy phạm Phần chung pháp
luật hình sự Việt Nam có liên quan đến việc bảo vệ các quyền
con người và giải pháp hoàn thiện 86 3.1.1 Thực tiễn áp dụng những quy phạm Phần chung pháp luật hình
sự Việt Nam có liên quan bảo vệ các quyền con người tại tỉnh
Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2014 86
3.1.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật: 91
3.2 Thực tiễn áp dụng những quy phạm Phần các tội phạm pháp luật hình sự Việt Nam có liên quan đến việc bảo vệ các quyền con người và giải pháp hoàn thiện 99 3.2.1 Thực tiễn áp dụng những quy phạm pháp luật Phần các tội phạm pháp luật hình sự Việt Nam có liên quan đến việc bảo vệ các quyền con người tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2014 99 3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện 101
Kết luận chương 3 106
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6Biện pháp tha miễnCộng hòa xã hội chủ nghĩa
Cơ quan điều traHình phạt bổ sungHình phạt chínhLuật hình sựNhà nước pháp quyềnPháp luật hình sựQuyết định hình phạtTrước công nguyênTrách nhiệm hình sự
Tư pháp hình sự
Tố tụng hình sựViện kiểm sát
Vi phạm pháp luật
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền con người là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại [10, tr.15].
Trong lịch sử, bảo vệ quyền, lợi ích của con người là nguyên nhân vàcũng là mục đích ra đời của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi chế độ chính trị, xã hội cũng như ởmỗi quốc gia khác nhau thì pháp luật bảo vệ quyền con người thể hiện khácnhau và quyền con người cũng được hiểu khác nhau
Tuyên ngôn nhân quyền đưa ra một chuẩn mực chung về quyền con
người cho tất cả các quốc gia Tại điều 1 nêu “Tất cả mọi người sinh ra tự do
và bình đẳng về phẩm giá và các quyền” [42, Điều 1] Từ đó, chúng ta nhận
thấy một điều rằng “quyền con người” là dành cho tất cả mọi người trên cơ sởđảm bảo lợi ích chung cho cả cộng đồng trong một xã hội dân chủ Tại Điều 29quy định:
Trong việc hưởng thụ các quyền và tự do, mỗi cá nhân chỉ cóthể bị pháp luật hạn chế các quyền và tự do đó vì mục đích đảm bảo
sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác cũngnhư nhằm đảm bảo những yêu cầu về trật tự công cộng, đạo đức vàphúc lợi chung trong một xã hội dân chủ [42, Điều 29]
Với sự ra đời của Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến các quyền con người đãđược ghi nhận một cách trân trọng và tập trung thành 01 chương riêng biệt, đó
là Chương 2 với tên gọi "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân" với tổng số 36 điều luật
Trang 9Với quy định tại khoản 1 Điều 14 "Ở nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp
và pháp luật" [33, Điều 14, khoản 1], Hiến pháp 2013 không chỉ thừa nhận về mặt pháp lý các quyền con người trên 02 phương diện là quyền con người nói
chung và quyền công dân nói riêng mà còn khẳng định một cách rõ ràng cơ chếbảo vệ, bảo đảm thực hiện các quyền này trong thực tiễn đó chính là Hiến pháp
và pháp luật
Tư tưởng bảo vệ các quyền con người được thể hiện rõ nét thông quaviệc Hiến pháp 2013 đã quy định rõ các trường hợp quyền con người, quyềncông dân bị hạn chế Ngoài những trường hợp này, quyền con người, quyềncông dân đòi hỏi phải được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện bởi toànĐảng, toàn dân, toàn xã hội Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ cóthể bị hạn chế trong bốn (04) trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 14bao gồm:
- Vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia
- Vì lý do trật tự, an toàn xã hội
- Vì lý do đạo đức xã hội
- Vì lý do sức khỏe của cộng đồng [33, Điều 14, khoản 2].Đồng thời thông qua quy định tại khoản 2 Điều 14, Hiến pháp 2013cũng quy định rõ cách thức duy nhất để có thể hạn chế quyền con người, quyềncông dân đó là theo quy định của pháp luật Theo đó quyền con người, quyềncông dân chỉ có thể bị hạn chế theo các quy định của pháp luật chứ không thể
bị hạn chế bằng bất cứ hình thức nào khác
Quyền con người, quyền công dân là quyền vốn có, quyền tự nhiên củamỗi con người Những quyền này được Hiến pháp và pháp luật thừa nhận, tôntrọng, bảo vệ và bảo đảm nên đã được nâng lên thành quyền hiến định, quyền
Trang 10luật định Tuy nhiên việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân củamỗi người, mỗi cá nhân trong xã hội không thể tùy tiện, vô lối mà phải đặttrong những khuôn khổ nhất định, có như vậy mới đảm bảo được tính ổn định
và phát triển bền vững của xã hội từ đó có tác động ngược trở lại trong việcbảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân trong thực tiễn.Khuôn khổ mà tác giả luận văn muốn đề cập đến ở đây chính là "việc thực hiệnquyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dântộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" (quy định tại khoản 4 Điều 15Hiến pháp 2013)
Điều 16 Hiến pháp 2013 thực sự là một minh chứng rõ nét cho tính nhânvăn, nhân đạo của bản Hiến pháp này Điều 16 Hiến pháp 2013 khẳng định:
1 Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
2 Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội [33, Điều 16]
Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận về mặt pháp lý một cách khái quátcác quyền cơ bản của con người, của công dân gồm các quyền về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội mà Hiến pháp 2013 còn ghi nhận nội dung cụ thểcủa từng loại quyền trong các nhóm quyền cơ bản nêu trên, trong số đó có một
số quyền liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự từ Điều 19 đến Điều 43
Trên tinh thần đó, pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ các quan hệ xã hộitrong đó con người là chủ thể được bảo vệ khỏi sự xâm phạm của những hành
vi nguy hiểm trái với chuẩn mực xử sự chung của toàn xã hội, mà kết quả củahành vi đó trái với lợi ích của xã hội Trong quá trình đó, pháp luật hình sựViệt Nam buộc phải có những quy định về việc hạn chế quyền của người phạmtội nhằm mục đích trừng trị, răn đe, và giáo dục vì lợi ích của cộng đồng
Vấn đề đặt ra là quy định của pháp luật hình sự phải cân bằng giữa việcbảo vệ quyền lợi ích đúng đắn (toàn xã hội ghi nhận) của mỗi cá nhân, tổ chức
Trang 11và xã hội với việc hạn chế, tước bỏ một số quyền của người phạm tội nhằmmục đích bảo vệ quyền con người Pháp luật hình sự Việt Nam với những quyđịnh của mình mục đích cuối cùng là đảm bảo trật tự xã hội từ đó đảm bảoquyền con người chung cho cả cộng đồng và đối với từng cá nhân cụ thể.
Với sự ra đời của Hiến pháp 2013, nhu cầu hoàn thiện PLHS nói chung
và BLHS nói riêng với tư cách là một trong những công cụ hữu hiệu nhất củaNhà nước trong việc bảo vệ các quyền con người cho phù hợp với tinh thầncủa bản hiến pháp mới này là tất yếu và khách quan
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam” làm luận văn cao học luật của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu khoa học về vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng phápluật hình sự là vấn đề quan trọng và cần thiết Vấn đề này đòi hỏi những quanđiểm, những nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau với nhiều khía cạnh vàgóc nhìn khác nhau Thực tế vấn đề này cũng được nhiều tác giả quan tâmnghiên cứu với nhiều công trình, bài viết có giá trị
Trước hết phải kể đến một số công trình nghiên cứu chuyên sâu trongngành khoa học luật hình sự Việt Nam như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học quốc gia Hà Nội "Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam" do GS.TSKH Lê Văn
Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí và TS.Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì đề tài,nghiệm thu năm 2006
- Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Đại học quốc gia Hà Nội
"Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật về tư pháp hình sự - lý luận, thực trạng và hoàn thiện pháp luật" (Mã số QĐ.TĐ.10.16) triển khai từ năm 2010
đến năm 2013 do GS.TSKH Lê Văn Cảm làm chủ trì
Trang 12- Sách chuyên khảo "Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" do GS.TSKH Lê Văn Cảm làm chủ biên, Nxb Tư pháp Hà Nội,
2007
- Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản cấp Đại học Quốc gia Hà Nội “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam” do TS Trịnh Tiến Việt chủ trì, nghiệm
thu năm 2008 Kết quả: Tốt và đã được Nxb Chính trị Quốc gia in thành sáchchuyên khảo năm 2010
- Sách tham khảo của TS.Trần Quang Tiệp "Bảo vệ quyền con người trong
luật hình sự, luật tố tụng hình sự", NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004.
- Sách chuyên khảo do TS.Võ Thị Kim Oanh chủ biên "Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam", NXB Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 2010
Tiếp đó là loạt bài viết “Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” của GS.TSKH Lê Văn
Cảm (đăng trên các số 11; 12, 13 và 14 năm 2006 của Tạp chí Toà án nhân
dân); các bài viết “ Những vấn đề pháp lý cơ bản về luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người” của TS Trịnh Tiến Việt, Khoa luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội (đăng trên các số 8, 9 và 10 năm 2009 Tạp chí Toà án nhân
dân); "Bảo vệ quyền con người trong các quy định của Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999" của NCS.Phan Anh Tuấn; "Bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật hình sự trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999" của TS.Trần Quang Vinh; "Bảo vệ quyền con người thông qua các quy định củ Phần chung Bộ luật hình sự về hình phạt tử hình" của Ths.Vũ Thị Thúy.
Các nghiên cứu nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau vớiphạm vi khác nhau về việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sựnói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng có ý nghĩa quan
Trang 13trong trong lý luận và thực tiễn bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam.
Với tình hình trên, đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam" sẽ được nghiên cứu
ở cấp độ luận văn thạc sỹ một cách tương đối toàn diện, đầy đủ và đảm bảođược tính logic, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học
đã được công bố
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài *
Mục tiêu nghiên cứu
Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam là mộtvấn đề rộng, đa dạng và phức tạp Do trình độ nghiên cứu khoa học còn hạnchế và trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ có thể đưa ra nhữngvấn đề nào mà theo quan điểm của tác giả là cơ bản và quan trọng hơn cả liênquan đến bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam Trên
cơ sở làm rõ được một số vấn đề lý luận cơ bản và nội dung của một số quyphạm pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về bảo vệ các quyền con người,tác giả mạnh dạn chỉ ra một vài điểm mà theo quan điểm cá nhân của tác giả làcòn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong những quy phạm mà tác giả có điều kiệnnghiên cứu Đồng thời nêu lên một số vấn đề cơ bản liên quan đến thực trạng
áp dụng một số quy phạm pháp luật hình sự về bảo vệ các quyền con người ởnước ta Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tương đối tổng hợp, luận văn sẽ đề xuấtmột vài giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi trênthực tế của một số quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ cácquyền con người
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 14- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự.
- Nghiên cứu một số quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam cơ bản trongviệc bảo vệ các quyền con người Từ đó chỉ ra một vài điểm thiếu sót trongnhững quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về bảo vệ các quyềncon người
- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn tập trung nghiên cứu việc bảo
vệ các quyền con người dưới góc độ luật hình sự thông qua một số quy phạmPLHS Việt Nam cơ bản của 06 chế định thuộc Phần chung bao gồm: Đạo luậthình sự; Tội phạm; Các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi; Tráchnhiệm hình sự; Hình phạt và Các biện pháp tha miễn; 02 chế định thuộc Phầncác tội phạm bao gồm: Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của con người và Chương các tội xâm phạm quyền tự do, dânchủ của công dân Nội dung cốt lõi của luận văn là xoay quanh vấn đề bảo vệcác quyền con người bằng một số quy phạm pháp luật hình sự cơ bản dưới gócnhìn lý luận, luật thực định và thực tiễn áp dụng Do vậy, việc nghiên cứu đềtài sẽ được giới hạn trong phạm vi ba nội dung chính sau đây:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam;
- Một số vấn đề về thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành bảo vệ các quyền con người;
- Tìm hiểu một số vấn đề về thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người và đề xuất giải pháp hoàn thiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ
Trang 15Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việcxây dựng Bộ luật hình sự
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, qui nạp, đối chiếu, sosánh, khảo sát thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tácthực tiễn, sử dụng kết quả thống kê nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nộidung luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau đây:
Thứ nhất: Vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt
Nam được nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và tương đối toàn diện
Thứ hai: Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất một
số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện một vài quy phạm pháp luật hình sự cơbản về bảo vệ các quyền con người, nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ cácquyền con người bằng pháp luật hình sự trên thực tế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng
pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Một số vấn đề về thực trạng những quy phạm pháp luật hình
sự Việt Nam hiện hành có liên quan đến việc bảo vệ cácquyền con người
Chương 3: Một số vấn đề về thực tiễn áp dụng những quy phạm pháp
luật hình sự Việt Nam hiện hành có liên quan đến việc bảo
vệ các quyền con người và giải pháp hoàn thiện
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI
BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Lý luận bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam làmột vấn đề rộng lớn và phức tạp Trong phạm vi luận văn của mình, tác giảluận văn chỉ đề cập những vấn đề lý luận mà theo quan điểm của tác giả là cơbản và quan trọng nhất
1.1 Ý nghĩa và khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng pháp luậthình sự
1.1.1 Ý nghĩa của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự
Trong bất kỳ một nhà nước pháp quyền đích thực nào, các quyđịnh của pháp luật hình sự đều có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng lànhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân với tưcách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nềnvăn minh nhân loại tránh khỏi không chỉ sự xâm hại có tính chất tộiphạm của công dân khác, mà còn tránh khỏi sự tùy tiện của một số quanchức trong bộ máy công quyền đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạmthô bạo pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các quy định của pháp luậthình sự vì các động cơ vụ lợi, cá nhân [11, tr.7]
1.1.2 Khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Hiện nay
trong khoa học luật hình sự, có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề bảo
vệ các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nóichung và pháp luật hình sự nói riêng Tuy nhiên việc định nghĩa và đưa ra kháiniệm thế nào là bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự mới chỉđược TSKH.GS Lê Văn Cảm đề cập trong Đề tài trọng điểm cấp ĐHQGHN về
Trang 17"Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật về tư pháp hình sự - Lý luận, thựctrạng và hoàn thiện pháp luật" theo đó:
Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giaiđoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền là sự ghi nhận (điều chỉnh) đầy
đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sựđảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của PLHS để làm chocác quy định đó phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tươngứng của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự, được tuânthủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất vàtriệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như nhữngngười có chức vụ của các cơ quan này trong thực tiễn điều tra, truy
tố và xét xử, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin của công dân vào
sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng củapháp luật, sức mạnh và uy tín của bộ máy công quyền, tính nhân đạo
và dân chủ của xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền nói chung [18,tr.92]
Theo tôi, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự là việc Nhà nước thông qua BLHS và các văn bản hướng dẫn ghi nhận về mặt pháp lý một cách rõ ràng và đầy đủ các quyền, tự do của con người đồng thời đưa ra một cơ chế nhằm đảm bảo việc thực thi các quy định này trong thực tiễn cũng như những chế tài để xử lý kịp thời và nghiêm minh các hành vi xâm phạm các quyền, tự do này.
1.2 Đặc điểm của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hìnhsự
Từ khái niệm nêu trên, việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luậthình sự có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Trang 18Thứ nhất, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự là sự ghi
nhận của Nhà nước về mặt pháp lý các quyền, tự do của con người thông quacác quy định của BLHS và hệ thống các văn bản hướng dẫn Việc ghi nhận nàykhông phải chỉ mang tính chung chung mà phải rõ ràng và đầy đủ
Thứ hai, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự là việc Nhà
nước đưa ra một cơ chế để đảm bảo việc thực thi các quy định bảo vệ cácquyền con người của BLHS và các văn bản hướng dẫn trên thực tế Cơ chế nàyđược thể hiện ở việc Nhà nước trao thẩm quyền thực thi các quy định nêu trêncho 03 cơ quan TPHS gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đồngthời cũng quy định việc các cơ quan TPHS này khi thực hiện thẩm quyền củamình ở từng giai đoạn tương ứng phải tuân theo một trình tự đặc biệt đượcpháp luật tố tụng hình sự quy định
Thứ ba, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự là việc Nhà
nước đưa ra những chế tài nhằm xử lý kịp thời và nghiêm minh các hành vixâm phạm các quyền con người Việc xử lý này không chỉ được đặt ra với đốitượng là người phạm tội mà còn được đặt ra với ngay cả các cơ quan TPHSđược Nhà nước trao thẩm quyền thực thi các quy định bảo vệ các quyền conngười của BLHS và các văn bản hướng dẫn trên thực tế
1.3 Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình
sự Việt Nam
Tư tưởng bảo vệ các quyền con người là tư tưởng xuyên suốt toàn bộ nộidung của BLHS Việt Nam Tuy nhiên trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ,tác giả chỉ đề cập đến nội dung bảo vệ các quyền con người bằng các quy địnhđược xem là cơ bản và quan trọng hơn cả của 06 chế định thuộc Phần chung(Đạo luật hình sự, Trách nhiệm hình sự, Tội phạm, Hình phạt, Các tình tiết loạitrừ tính chất tội phạm của hành vi, Các biện pháp tha miễn) và 02 chế địnhthuộc Phần các tội phạm (Chương XII và Chương XIII)
Trang 191.3.1 Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng một số chế định thuộc Phần chung PLHS
1.3.1.1 Việc bảo vệ các quyền con người bằng một số quy phạm của chế định đạo luật hình sự
Đạo luật hình sự là văn bản quy phạm PLHS do Quốc hội ban hành theo trình tự luật định, quy định chủ yếu về tội phạm và hình phạt, ngoài ra còn quy định về nhiệm vụ, các nguyên tắc của LHS và các chế định pháp lý hình sự khác.
Hiện nay văn bản pháp lý duy nhất ở Việt Nam thỏa mãn tất cả các dấuhiệu đã nêu ở trên của đạo luật hình sự chính là Bộ luật hình sự năm 1999 (sửađổi, bổ sung năm 2009)
a/ Bằng việc ghi nhận một cách chính thức về mặt pháp lý một số khía
cạnh cơ bản của quyền con người trong xã hội hiện đại bao gồm: "quyền, lợiích hợp pháp của công dân", "tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự củacon người" và "quyền tự, do, dân chủ của công dân" là những khách thể loạiquan trọng được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, BLHS đã thực sự trởthành một trong những công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ các quyềncủa con người ở Việt Nam hiện nay
b/ Để bảo vệ một cách vững chắc các quyền và tự do của con ngườibằng PLHS chống lại sự tùy tiện, chuyên quyền trong nhận thức và hành vi củamột bộ phận quan chức thoái hóa, biến chất và vụ lợi khi thực thi công vụ,BLHS năm 1999 bằng các quy phạm trong Phần chung về 1) nhiệm vụ củaBLHS (đoạn 2 Điều 1) đã ghi nhận tư tưởng “tội phạm và hình phạt đối vớingười phạm tội” phải được luật hình sự quy định, 2) nguyên tắc xử lý mọi hành
viphạm tội “phải được phát hiện kịp thời…theo đúng pháp luật” (khoản 1 Điều3) và bằng cách đó, đã phản ánh ở một mức độ nhất định nguyên tắc pháp chếđược thừa nhận chung của nền TPHS tiến bộ và nhân đạo “Nullum crimen,
Trang 20nulla poena sine lege” (Không có tội phạm, không có hình phạt nếu không cóluật quy định) với tư cách là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của chínhsách hình sự (CSHS) nói chung và của PLHS quốc gia nói riêng [11, tr.7].
c/ Vấn đề bảo vệ các quyền con người còn được BLHS phản ánh thôngqua việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự của những người phạmtội Theo đó việc xác định trách nhiệm hình sự của những người phạm tội phảicăn cứ và tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà họgây ra từ đó phân hóa cụ thể vai trò của từng người phạm tội Điều này đặc biệt
có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự của những người phạm tộiđối với trường hợp vụ án có tính chất đồng phạm
d/ Nguyên tắc nhân đạo là một trong hai nguyên tắc cơ bản và quantrọng nhất của BLHS trong việc bảo vệ các quyền con người Tư tưởng củanguyên tắc này đã được các nhà làm luật hình sự Việt Nam ghi nhận thông quaquy định về hiệu lực thời gian của đạo luật hình sự Theo đó vấn đề hiệu lựchồi tố hay hiệu lực trở về trước đối với những hành vi xảy ra trước khi Bộ luậthình sự Việt Nam năm 1999 có hiệu lực chỉ được áp dụng theo một nguyên tắcduy nhất đó là có lợi cho người phạm tội Có nghĩa là việc áp dụng hiệu lực hồi
tố phải tuân thủ theo nguyên tắc nếu có lợi cho người phạm tội thì mới đượcphép áp dụng và ngược lại, nếu không có lợi cho người phạm tội thì tuyệt đốikhông được phép áp dụng Nguyên tắc này đã cho thấy quyền lợi của ngườiphạm tội đã được Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đặc biệt chú trọng bảo
vệ và hạn chế sự lạm dụng các quy định bất lợi cho người phạm tội ở mức tốiđa
e/ Việc bảo vệ các quyền của người phạm tội còn được các nhà làm luậthình sự Việt Nam ghi nhận thông qua việc thu hẹp dần phạm vi trấn áp hình sự.Đây được coi là một trong những xu hướng phát triển cơ bản của PLHS ViệtNam trong tiến trình hội nhập hiện nay
Trang 211.3.1.2 Việc bảo vệ các quyền con người bằng một số quy phạm của chế định tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy địnhtrong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sựthực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xãhội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợppháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tựpháp luật xã hội chủ nghĩa [32, Điều 8]
Vấn đề bảo vệ các quyền con người mà ở đây là quyền của người phạmtội đã được BLHS đặc biệt chú trọng bảo vệ thông qua một số quy phạm củachế định tội phạm ở Phần chung Điều này xuất phát từ 02 nguyên nhân cơ bảnsau:
- Tội phạm là một chế định quan trọng của PLHS;
- Việc xác định hành vi của một người có bị coi là tội phạm hay khôngkhông chỉ tác động trực tiếp đến quyền của người thực hiện hành vi đó (xácđịnh người đó có phải chịu TNHS hay không) mà còn có tác động rất lớn đếnchính sách hình sự của một quốc gia nói chung và công tác phòng ngừa tộiphạm nói riêng
a/ Minh chứng đầu tiên cho việc bảo vệ các quyền con người bằng cácquy định về tội phạm chính là việc BLHS đã đặt ra một “ngưỡng giới hạn” đểxem xét một hành vi thế nào thì bị coi là tội phạm và đâu không phải là tộiphạm thông qua quy định về khái niệm tội phạm
b/ Việc các nhà làm luật Việt Nam đưa ra chế định về các giai đoạn thựchiện tội phạm đã thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sự
Trang 22của nước ta Bởi lẽ, nếu theo đúng nguyên tắc xác định TNHS thì một người bịxem xét TNHS khi người đó phạm một tội được BLHS quy định Điều này cóthể được hiểu là một người có hành vi hội tụ đủ các cấu thành của một tộiphạm được BLHS quy định là phải chịu TNHS Tuy nhiên việc đưa ra chế định
về các giai đoạn thực hiện tội phạm đã tạo điều kiện cho người phạm tội chỉphải chịu TNHS về hành vi phạm tội của mình ở chính giai đoạn mà người đóthực hiện chứ không phải chịu TNHS về tội phạm ở giai đoạn hoàn thành hoặcchỉ phải chịu TNHS khi họ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặcbiệt nghiêm trọng
c/ Tư tưởng nhân đạo trong BLHS một lần nữa được thể hiện thông quaquy định về khái niệm đồng phạm
d/ Việc BLHS không buộc người có hành vi không tố giác tội phạm làngười ruột thịt hoặc thân thích gần đối với người phạm tội phải chịu TNHS (trừtrường hợp tội phạm mà họ không tố giác thuộc trường hợp đặc biệt nghiêmtrọng hoặc tội xâm phạm an ninh quốc gia) cũng là một biểu hiện rõ nét của tưtưởng nhân đạo trong BLHS khi đề cao giá trị của gia đình, giá trị của chữ
"hiếu", chữ "nghĩa" vốn là những giá trị tinh thần mang tính nhân văn sâu sắc
và làm nên nét đặc thù của con người Việt Nam
1.3.1.3 Việc bảo vệ các quyền con người bằng một số quy phạm về những tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi
Trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là tình tiếtđược điều chỉnh trong PLHS mà khi có căn cứ do luật định thì việcgây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị coi là tội phạm và dovậy, người gây ra thiệt hại đó không phải chịu TNHS [9, tr.504]
Nhà làm luật hình sự Việt Nam đã tạo ra một "tấm lá chắn" bảo vệ những chủ thể mặc dù trên thực tế đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 23nhưng LHS quy định không phải là tội phạm trước nguy cơ bị tước đoạt hoặchạn chế quyền, tự do bởi một hệ thống các tình tiết loại trừ tính chất tội phạmcủa hành vi Ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc của những quy định này đượcthể hiện ở 03 mức độ khác nhau cụ thể:
- Thứ nhất, mặc dù chủ thể đã thực hiện hành vi có dấu hiệu của hành
vi tương ứng nào đó bị LHS cấm tuy nhiên nếu việc thực hiện hành vi nàythuộc các trường hợp được BLHS ghi nhận là có tác dụng loại trừ tính chất tộiphạm của hành vi (sẽ được liệt kê ở phần dưới) thì họ không phải chịu TNHS
Và theo đó cũng không có việc áp dụng hình phạt hay bất cứ biện pháp cưỡngchế nào khác về hình sự đối với họ
- Thứ hai, nguyên nhân sâu xa của việc loại trừ tính chất tội phạm củahành vi mà chủ thể đã thực hiện trong các trường hợp được BLHS quy định làcác tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là: mặc dù việc gây ra (hoặc
có khả năng gây ra) thiệt hại về hình thức có thể coi là hành vi nguy hiểm cho
xã hội nhưng lý do khiến chủ thể gây ra (hoặc có khả năng gây ra) thiệt hại này
là để "bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chínhđáng của mình hoặc của người khác" hoặc do bản thân chủ thể "không thể thấytrước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi" hoặc "đang mắcbệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năngđiều khiển hành vi của mình" Những lý do nêu trên được xã hội thừa nhận làchính đáng, được Nhà nước khuyến khích và do đó hành vi gây ra (hoặc có khả
năng gây ra) thiệt hại mà chủ thể đã thực hiện được nhà làm luật coi là "hợp pháp về mặt pháp lý" [12, tr.8] nên chủ thể không phải chịu TNHS.
- Thứ ba, mục đích cuối cùng mà nhà làm luật muốn hướng tới khi đưa
ra các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi chính là vạch ra một ranhgiới rạch ròi giữa tội phạm và những hành vi "gần tội phạm" (không phải
Trang 24là tội phạm) từ đó dẫn đến hậu quả pháp lý về mặt hình sự là truy cứu haykhông truy cứu TNHS Có thể hiểu các hành vi mà chủ thể đã thực hiện trongcác trường hợp được nhà làm luật quy định là tình tiết loại trừ tính chất tộiphạm của hành vi là các hành vi "gần tội phạm" bởi lẽ nếu đối chiếu với cácdấu hiệu cơ bản của tội phạm thì chúng thiếu đi một trong các dấu hiệu này.Theo đó mặc dù đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chủ thể thựchiện hành vi "gần tội phạm" không phải chịu TNHS Quy định này không chỉhạn chế phạm vi những hành vi bị coi là tội phạm mà quan trọng hơn nó đã hạnchế chính việc hạn chế hoặc tước đoạt quyền, tự do của một nhóm người bịxem là "nguy hiểm cho xã hội" khi họ đáp ứng những điều kiện do PLHS quyđịnh.
Về mặt lý luận thì các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vibao gồm: tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể; sự kiệnbất ngờ; do người chưa đủ tuổi chịu TNHS thực hiện; do người không có nănglực TNHS thực hiện; phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết
a/ Về tình tiết "tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng
kể" Tư tưởng bảo vệ các quyền con người của BLHS thông qua quy phạm này
được thể hiện như sau:
- Nhà làm luật không buộc chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội phải chịu TNHS hay hành vi mà chủ thể đã thực hiện được loại trừ tínhchất của tội phạm là vì về mặt khách quan - tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi là "không đáng kể" do đó chủ thể thực hiện hành vi được xem là khôngnguy hiểm cho xã hội
- Nhà làm luật cũng bảo vệ các khách thể loại của BLHS thông qua quyđịnh chủ thể chỉ được giải phóng khỏi TNHS khi và chỉ khi tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ thực hiện là "nhỏ nhặt" [12, tr.10].
b/ Về tình tiết "do người chưa đủ tuổi chịu TNHS thực hiện" Tư tưởng
Trang 25bảo vệ các quyền con người của BLHS thông qua quy phạm này được thể hiện như sau:
- Chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được xem là khôngnguy hiểm cho xã hội và do đó họ không phải chịu TNHS hoặc bị áp dụng hìnhphạt hay bất cứ biện pháp cưỡng chế nào khác về hình sự vì xét về yết tố chủthể - khi thực hiện hành vi họ chưa đủ khả năng nhận thức và điều khiển được
hành vi của mình hay nói cách khác họ "chưa đạt đến độ tuổi để có khả năng nhận thức được hoặc khả năng điều khiển được hành vi do mình thực hiện"
[12, tr.9]
- Các khách thể loại của BLHS cũng được bảo vệ thông qua quy địnhchủ thể chỉ được giải phóng khỏi TNHS khi và chỉ khi họ thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội trong điều kiện không đủ khả năng nhận thức và điềukhiển hành vi của mình
c/ Về tình tiết "không có năng lực TNHS" Tư tưởng bảo vệ các quyền con người thông qua quy định này được thể hiện như sau:
- TNHS không được đặt ra đối với chủ thể đã thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội trong trường hợp này bởi khi thực hiện hành vi họ không cókhả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình
- Các khách thể loại được BLHS bảo vệ được bảo vệ trước sự xâmphạm của hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện thông qua quyđịnh chủ thể chỉ được giải phóng khỏi TNHS khi và chỉ khi họ thực hiện hành
vivì họ không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình
d/ Về tình tiết "sự kiện bất ngờ" Nét nhân văn, nhân đạo của quy định này được thể hiện như sau:
- Chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịuTNHS hoặc bị áp dụng hình phạt hay bất cứ biện pháp cưỡng chế nào khác vềhình sự vì họ đã thực hiện hành vi trong điều kiện hậu quả nguy hiểm cho xãhội của hành vi hoàn toàn nằm ngoài ý chí chủ quan của họ
Trang 26- Nhà làm luật bảo vệ các khách thể loại được BLHS bảo vệ thông quaviệc quy định chủ thể thực hiện hành vi được giải phóng khỏi TNHS khi và chỉ
khi hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là "không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước" [32, Điều 11].
e/ Về tình tiết "phòng vệ chính đáng" Tư tưởng bảo vệ các quyền con người thông qua quy định này thể hiện như sau:
- TNHS không được đặt ra đối với chủ thể đã thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội trong trường hợp này vì động cơ, mục đích của hành vi lànhằm bảo vệ lợi ích của chính chủ thể đã thực hiện hoặc lợi ích của nhómngười khác bao gồm Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
- Nhà làm luật cũng bảo vệ các khách thể loại được BLHS bảo vệ thôngqua quy định chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được giảiphóng khỏi TNHS khi và chỉ khi:
+ Họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong điều kiện lợi ích mà
họ bảo vệ đang thực tế bị xâm phạm chứ không phải là có khả năng bị xâmphạm
+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện phải đảm bảo yêucầu là "cần thiết" để chống lại hành vi thực tế đang xâm phạm lợi ích mà họbảo vệ
g/ Về tình tiết "tình thế cấp thiết" Tư tưởng bảo vệ các quyền con ngườiđược thể hiện như sau:
- Chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịuTNHS vì động cơ, mục đích của hành vi là nhằm ngăn ngừa một thiệt hại dohành vi nguy hiểm cho xã hội khác đang đe dọa gây ra đối với lợi ích của bảnthân chủ thể, của Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác
- Nhà làm luật cũng bảo vệ các khách thể loại được BLHS bảo vệ thôngqua quy định chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được giảiphóng khỏi TNHS khi và chỉ khi:
Trang 27+ Việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể là cách thứcduy nhất để ngăn ngừa hậu quả nguy hiểm khác đang đe dọa xảy ra đối với lợiích mà chủ thể bảo vệ.
+ Thiệt hại mà hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể thực hiện gây
ra phải đảm bảo yêu cầu "nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa" (Khoản 1 Điều 16BLHS)
1.3.1.4 Việc bảo vệ các quyền con người bằng một số quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự
TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá nhân người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình mà nội dung của nó là hình phạt và các BPCC hình sự khác theo quy định của BLHS.
Việc bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về TNHS có ýnghĩa rất quan trọng
a/ Từ khái niệm TNHS đã được tác giả luận văn đề cập ở trên có thể thấy
một trong những đặc điểm cơ bản và có thể coi là quan trọng nhất của TNHSchính là việc truy cứu TNHS đối với một người sẽ chỉ phát sinh khi và chỉ khi có
sự việc phạm tội Hay nói như Điều 2 BLHS “Chỉ người nào phạm một tội đãđược BLHS quy định mới phải chịu TNHS” Đặc điểm này giúp phân biệt mộtcách rõ ràng giữa TNHS với các loại trách nhiệm pháp lý khác (xử phạt vi phạmhành chính, xử lý kỷ luật …) Đồng thời đặc điểm này của TNHS cũng thể hiện rõ
tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta bởi lẽ một người sẽchỉ bị truy cứu TNHS khi trên thực tế có sự việc phạm tội xảy ra hay người đó đãthực hiện một hành vi bị BLHS coi là “tội phạm”
b/ Biểu hiện rõ nét nhất cho việc bảo vệ các quyền con người mà ở đây
là của người phạm tội chính là việc nhà làm luật hình sự Việt Nam một mặtbuộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của mình (bị hạn
Trang 28chế hoặc tước bỏ quyền, tự do nhất định) nhưng cũng cho họ cái quyền đượcyêu cầu Nhà nước (mà đại diện là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền)phải tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự đối với tất cả các quyền và lợiích hợp pháp của con người và của công dân mà họ được hưởng hay nói cáchkhác là Nhà nước khi truy cứu TNHS của người phạm tội cũng phải tuân thủtheo những căn cứ và những giới hạn nhất định do pháp luật hình sự quy địnhchứ không phải là “tùy tiện” Theo đó trong quan hệ PLHS mà ở đây là TNHSthì Nhà nước và người phạm tội được đặt trong mối tương quan là hai chủ thểđều mang trong mình cả quyền và nghĩa vụ Chứ không phải một bên chỉ cóquyền và một bên chỉ có nghĩa vụ Đây thực sự là một bước tiến dài của PLHSViệt Nam đương đại so với PLHS thời kỳ phong kiến khi mà người phạm tộichỉ được coi là chủ thể có nghĩa vụ còn Nhà nước được coi là chủ thể chỉ cóquyền.
c/ Minh chứng rõ nét nhất cho “cái quyền” của người phạm tội mà tác giả
luận văn đã đề cập ở trên và cũng là nghĩa vụ của Nhà nước khi truy cứu TNHSngười phạm tội chính là việc truy cứu TNHS phải được thực hiện theo một trình
tự, thủ tục nghiêm ngặt do pháp luật tố tụng hình sự quy định Đồng thời việc truycứu TNHS người phạm tội không phải do bất kỳ cơ quan nào của Nhà nước thựchiện mà nó chỉ và chỉ được giao cho một nhóm cơ quan gọi chung là các cơ quan
tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện bao gồm Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát và Tòa án “Cái quyền” của người phạm tội còn được đảm bảothông qua cơ chế thực hiện việc truy cứu TNHS của chính các cơ quan tư pháphình sự có thẩm quyền cụ thể là việc pháp luật tố tụng hình sự quy định ở từnggiai đoạn tố tụng hình sự tương ứng thì chỉ có Cơ quan tư pháp hình sự tương ứngmới có thẩm quyền truy cứu TNHS của người phạm tội Theo đó ở giai đoạn điềutra, chỉ cơ quan điều tra mới có thẩm quyền truy cứu TNHS người phạm tội; ở giaiđoạn truy tố, chỉ có Viện kiểm sát
Trang 29mới có thẩm quyền truy cứu TNHS người phạm tội và ở giai đoạn xét xử, chi
có Tòa án mới có thẩm quyền truy cứu TNHS người phạm tội
d/ Không chỉ đặt ra những "nguyên tắc" mang tính bắt buộc đối với việc
truy cứu TNHS của các cơ quan tư pháp hình sự như đã phân tích ở trên (truycứu TNHS trên cơ sở có sự việc phạm tội; truy cứu TNHS phải do các cơ quan
tư pháp hình sự có thẩm quyền thực hiện, truy cứu TNHS phải được thực hiệntheo một trình tự được luật tố tụng hình sự quy định), nhà làm luật hình sự ViệtNam còn đặt ra một "nguyên tắc" mang tính luật định cho việc thực hiệnTNHS (hình thức thực hiện TNHS) đó chính là việc TNHS chỉ được thực hiệntrong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Điều mà các nhà làmluật hình sự Việt Nam muốn nhấn mạnh ở đây chính là tính đã có hiệu lực phápluật của bản án kết tội của Tòa án Theo đó cho dù người phạm tội đã bị Tòa án(cơ quan tư pháp hình sự duy nhất có thẩm quyền truy cứu TNHS người phạmtội trong giai đoạn xét xử) tuyên là "có tội" bằng bản án nhưng khi bản án đóchưa có hiệu lực pháp luật (do bị kháng cáo, kháng nghị) thì TNHS vẫn chưađược thực hiện trên thực tế hay nói một cách khác chưa có việc hạn chế hoặctước bỏ quyền, tự do của người phạm tội Quy định này hoàn toàn phù hợp vớinguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013
"Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật "
[33, Điều 31, khoản 1]
e/ TNHS với tư cách là hậu quả pháp lý bất lợi, trực tiếp tác động (hạn
chế hoặc tước bỏ) đến quyền, tự do của một người do đó việc áp dụng TNHStrên thực tế một cách "chính xác" là đòi hỏi và yêu cầu tối quan trọng trongviệc bảo vệ các quyền con người "chính xác" ở đây không chỉ là yêu cầu đốivới chủ thể có thẩm quyền truy cứu, thực hiện TNHS mà còn là yêu cầu đối vớiviệc xác định chủ thể bị áp dụng TNHS TNHS chỉ được áp dụng đối với
Trang 30bản thân người phạm tội hay còn được áp dụng đối với cả trường hợp ngườithân thích của họ (như quy định về tội Tru di tam tộc tồn tại dưới thời kỳphong kiến) trong trường hợp những người này không hề biết hay liên quan gìđến hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Nhà nước coi là "tội phạm" của ngườiphạm tội? Nhà làm luật hình sự Việt Nam đã đưa ra câu trả lời cho câu hỏi này
và nó đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất củaPLHS Việt Nam nói chung và BLHS nói riêng đó chính là nguyên tắc tráchnhiệm cá nhân
1.3.1.5 Việc bảo vệ các quyền con người bằng một số quy phạm của chế định hình phạt
"Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội được quy định trong BLHS và do toà án áp dụng đối với người phạm tội” [32, Điều 26].
a/ Trước hết, hình phạt được biết đến với tư cách là một dạng tồn tại,
một hình thức thực hiện phổ biến nhất của TNHS Ngoài hình phạt, TNHS còntồn tại dưới những hình thức khác như các biện pháp tư pháp (quy định tạiChương VI BLHS) Xuất phát từ đặc điểm hình phạt là một hình thức thực hiệnTNHS do đó việc bảo vệ các quyền con người bằng chế định hình phạt cónhững nét tương đồng với việc bảo vệ các quyền con người bằng chế địnhTNHS Cụ thể:
- Hình phạt cũng chỉ có thể được áp dụng trên thực tế khi và chỉ khi có
sự việc phạm tội Theo đó nếu trên thực tế không có hành vi nguy hiểm cho xãhội bị luật hình sự cấm do người có năng lực và đủ tuổi chịu TNHS thực hiệnmột cách cố ý hoặc vô ý thì không thể có việc truy cứu TNHS và do đó cũngkhông thể có việc áp dụng hình phạt Quy định này đảm bảo quyền, lợi ích hợppháp của người phạm tội thông qua việc hạn chế đến mức tối đa sự tùy tiệntrong quá trình áp dụng hình phạt từ phía Nhà nước (ở đây là Tòa án)
Trang 31- Biểu hiện tiếp theo của việc bảo vệ các quyền con người bằng chế địnhhình phạt chính là quy định về việc không phải bất kỳ cơ quan tư pháp hình sựnào cũng có thẩm quyền áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà PLHSViệt Nam chỉ trao thẩm quyền này cho một cơ quan tư pháp hình sự duy nhất
đó chính là Tòa án Xuất phát từ bản chất của hình phạt là một biện phápcưỡng chế và hậu quả pháp lý của nó là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do củamột người do đó việc quy định cụ thể và trao thẩm quyền áp dụng cho một cơquan duy nhất là Tòa án là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc nhânđạo trong đường lối xử lý hình sự của Nhà nước ta Không chỉ quy định cụ thể
về vấn đề thẩm quyền áp dụng hình phạt mà PLHS Việt Nam còn quy định Tòa
án chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với một người bằng và chỉ có thể bằng mộthình thức duy nhất đó là thông qua bản án có hiệu lực pháp luật Điều nàyđược hiểu rằng mặc dù được pháp luật trao cho thẩm quyền tối cao trong việc
áp dụng hình phạt đối với một người nhưng Tòa án cũng không thể thực hiệnthẩm quyền này một cách tùy tiện bằng bất cứ hình thức văn bản nào mà PLHSchỉ cho phép Tòa án thực hiện thẩm quyền này của mình thông qua bản án.Hơn nữa bản án này phải là bản án đã có hiệu lực pháp luật Vì thực tế trườnghợp bản án được tuyên nhưng người bị kết án có kháng cáo hoặc cơ quan Việnkiểm sát có kháng nghị thì việc áp dụng hình phạt cũng không thể được thựchiện Việc quy định chặt chẽ về điều kiện áp dụng hình phạt như vậy giúp choquyền, tự do của người phạm tội được bảo vệ và tránh được sự tùy tiện trongviệc hạn chế, tước bỏ quyền, tự do của người phạm tội thông qua việc áp dụnghình phạt
- Giống như TNHS, hình phạt chỉ được ghi nhận trong một lĩnh vựcpháp luật duy nhất đó chính là PLHS và đồng thời việc áp dụng hình phạt trênthực tế cũng không thể được thực hiện dựa trên ý thức chủ quan của cơ quan tưpháp hình sự đã được Nhà nước trao “quyền” tước bỏ hoặc hạn chế quyền,
Trang 32tự do (thậm chí là cả tính mạng – thứ quý giá nhất của con người) của người bịkết án mà phải tuân theo một trình tự đặc biệt được quy định trong pháp luật tốtụng hình sự.
- Việc áp dụng hình phạt chỉ được Tòa án thực hiện đối với bản thânngười bị kết án chứ không thể áp dụng đối với người thân thích hay người cóquan hệ gần gũi với người bị kết án Nói một cách khác hình phạt cũng nhưTNHS chỉ mang tính cá nhân
b/ Tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong chính sách hình sự của Nhà
nước ta khi đưa ra các quy định về hình phạt được thể hiện thông qua:
- Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua các mục đích của hình phạt trong PLHS của một quốc gia vì các mục đích đó như thế nào (như: trừng trị, trả thù, gây nên sự đau đớn về thể xác, cải tạo hay giáo dục, v.v…) cũng chính là các tiêu chí quan trọng góp phần đánh giá mức độ dân chủ và nhân đạo, pháp chế và nhân văn trong quốc gia đó ra sao? [11, tr.8] Như vậy, bằng quy phạm PLHS thực định (Điều 27 BLHS Việt Nam năm
1999) các mục đích của hình phạt được ghi nhận là: 1) Trừng trị, cải tạo, giáo
dục người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới – ngăn ngừa riêng; 2) Giáo
dục người khác tôn trọng pháp luật hình sự, đấu tranh phòng và chống tội
phạm – ngăn ngừa chung.
- Đối với những loại hình phạt có tính nghiêm khắc cao nhất trong hệthống hình phạt hiện nay là hình phạt tù chung thân và tử hình, BLHS đã đưa
ra quy định về những trường hợp không được áp dụng hai loại hình phạt nàybao gồm: người chưa thành niên phạm tội; phụ nữ có thai hoặc đang nuôi connhỏ dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử
- Tính đa dạng và phong phú về loại, tính chất và mức độ nghiêm khắc của
hệ thống hình phạt Trong hệ thống hình phạt hiện nay, hình phạt không chỉ cóhình phạt chính mà còn có cả một danh sách các hình phạt bổ sung, không
Trang 33chỉ có hình phạt về kinh tế như hình phạt tiền mà còn có cả hình phạt mangtính chính trị như cấm đảm nhiệm chức vụ, trục xuất; không chỉ có hình phạt tù
có thời hạn mà còn có cả hình phạt tù không có thời hạn; hình phạt tước tự do
và cả hình phạt không tước tự do Ngay trong bản thân hình phạt tù có thờihạn, nhà làm luật còn quy định cả mức tối thiểu và mức tối đa trong từng điềuluật cụ thể Điều này vừa tạo điều kiện cho chủ thể có thâm quyền áp dụnghình phạt là Tòa án dễ dàng hơn trong việc lựa chọn loại và mức hình phạt chophù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người phạm tộigây ra từ đó đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội
- Nhà làm luật hình sự Việt Nam đã đưa ra một loạt các tình tiết đượccoi là tình tiết giảm nhẹ TNHS để Tòa án (Hội đồng xét xử) cân nhắc và ápdụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho người phạm tội (bị cáo) trước khituyên bản án kết tội Ngoài ra nhà làm luật còn đưa ra một quy định mang tính
mở theo đó Tòa án (Hội đồng xét xử) có thể căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của bịcáo mà coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo Quyđịnh này mặc dù trên thực tế đã vô tình tạo ra cho Tòa án (hội đồng xét xử) "sựtùy tiện" trong quá trình vận dụng nhưng xét từ mục đích mà quy định nàyhướng tới là cho phép Tòa án (hội đồng xét xử) truy cứu TNHS theo hướng cólợi cho bị cáo thì đây thực sự là một quy định mang tính nhân đạo sâu sắc, nó
thể hiện niềm tin nội tâm của nhà làm luật hình sự Việt Nam đối với khả năng
hoàn lương của người phạm tội (bị cáo) khi họ xuất thân trong một gia đình cótruyền thống (tình tiết giảm nhẹ TNHS trong trường hợp người thân trong giađình bị cáo có công với cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương; bảnthân bị cáo có thành tích đặc biệt) hoặc bản thân họ đã có những hành vi thểhiện mong muốn hoàn lương (tình tiết giảm nhẹ TNHS trong trường hợp bị cáothành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục thiệt hại, ) hoặcmức độ nguy hiểm mà hành vi do họ gây ra không lớn (tình
Trang 34tiết giảm nhẹ TNHS trong trường hợp bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng).
- Nhà làm luật hình sự nước ta còn đưa ra một quy định mang tính mở
và đậm chất nhân văn khác khi cho phép Tòa án được quyết định một hình phạtnhẹ hơn quy định của BLHS trong những trường hợp cụ thể khi có đầy đủ cáccăn cứ mà BLHS quy định Như vậy việc quyết định hình phạt của Tòa ánkhông chỉ bị bó hẹp trong bản thân nội dung các điều luật của BLHS mà Tòa
án còn được trao “quyền” trong việc quyết định một mức hình phạt nhẹ hơnmức hình phạt mà BLHS quy định đối với từng loại tội phạm cụ thể Hơn nữa,bản thân mức hình phạt mà nhà làm luật hình sự đưa ra trong từng điều luật(Phần các tội phạm) về cơ bản đã đảm bảo việc truy cứu TNHS theo đúng tínhchất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội từ đó bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người phạm tội Việc nhà làm luật cho phép Tòa án được quyếtđịnh mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt đã được quy định trong điều luậtthực sự là một biểu hiện rõ nét của tư tưởng nhân đạo trong PLHS Việt Nam
1.3.1.6 Việc bảo vệ các quyền con người bằng một số quy phạm của chế định các biện pháp tha miễn
BPTM trong luật hình sự là quy phạm (hoặc chế định) mangtính chất nhân đạo, phản ánh sự khoan hồng của Nhà nước đối vớingười phạm tội và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền ápdụng chỉ trong một số trường hợp nhất định khi có đầy đủ các căn cứ
và những điều kiện do PLHS quy định [9, tr.712]
a/ Biểu hiện đầu tiên của việc bảo vệ các quyền con người bằng chế định
các BPTM chính là các đặc điểm cơ bản của BPTM trong luật hình sự:
- BPTM trong luật hình sự thường là quy phạm (hoặc chế định) mang tính nhân đạo được ghi nhận trong Phần chung BLHS vì nó thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ các quyền con người bằng PLHS là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung trong nhà nước pháp quyền [18, tr.98].
Trang 35- Sự quan tâm của Nhà nước trong việc cải tạo và giáo dục người phạmtội, khuyến khích họ sửa chữa sai lầm nhằm tránh khỏi con đường phạm tội trở
về với cuộc sống lương thiện và sớm tái hòa nhập vào cộng đồng được phảnánh ở nhiều phương diện, mức độ khác nhau thông qua các BPTM
- Việc áp dụng các BPTM chỉ và chỉ được thực hiện khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định
b/ Thông qua bản chất pháp lý của từng BPTM trong luật hình sự, các
quyền con người được bảo vệ ở các mức độ khác nhau vì tùy thuộc vào sựkhác nhau về bản chất pháp lý của từng BPTM nên khi được áp dụng đối vớingười phạm tội cũng sẽ đưa đến các hậu quả pháp lý khác nhau, mà cụ thể làngười phạm tội sẽ:
- Không bị coi là có án tích nếu không bị truy cứu TNHS, không phải chấp hành bản án kết tội do đã hết thời hiệu, được miễn TNHS, được miễn hình phạt hoặc sau khi đã được xóa án tích [18, tr.98].
- Bị coi là có án tích nếu được áp dụng một trong sáu BPTM có liên quan đến việc CHHP (như: miễn việc CHHP, giảm mức hình phạt đã được tuyên, giảm thời hạn CHHP, án treo, hoãn CHHP tù hoặc tạm đình chỉ CHHP tù) [18, tr.99].
c/ Việc bảo vệ các quyền con người còn được phản ánh thông qua chế
định thời hiệu trong luật hình sự mà cụ thể là:
- Qua khái niệm của nó, tức là một chế định phản ánh nguyên tắc nhânđạo của luật hình sự và được thể hiện bằng việc quy định trong PLHS một thờihạn nhất định mà khi hết thời hạn đó, thì người phạm tội không bị truy cứuTNHS, còn người bị kết án thì không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lựcpháp luật do Tòa án tuyên;
- Qua bản chất pháp lý của chế định này, tức là sau một thời hạn nhấtđịnh do luật định đã qua và khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện được
Trang 36ghi nhận trong PLHS, thì người phạm tội không thể bị Nhà nước truy cứu TNHS và người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được Tòa án tuyên và cuối cùng [18, tr.99];
- Qua bốn đặc điểm của chế định thời hiệu:
+ Căn cứ vào các quy định của PLHS và pháp luật TTHS, quyền truycứu TNHS và thi hành bản án kết tội của các cơ quan TPHS có thẩm quyền củaNhà nước (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan THAHS) đốivới người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm không phải là vô thời hạn, màchỉ trong một thời hạn nhất định được điều chỉnh trong PLHS
+ Khi một thời hạn nhất định do PLHS quy định đã qua rồi, thì bất kỳngười nào mặc dù đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhưng vẫn không thể
bị Nhà nước truy cứu TNHS (vì trong trường hợp này họ đã không còn bị coi
là người phạm tội nữa) hoặc không bị buộc phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được Tòa án tuyên (vì trong trường hợp này họ đã không còn bị coi là người có nghĩa vụ phải chấp hành bản án đó nữa) [18, tr.100].
+ Khi đã hết thời hiệu rồi, nếu như muốn không bị truy cứu TNHS do đãhết thời hiệu (đối với người phạm tội) hoặc không bị buộc phải chấp hành bản
án kết tội (đối với người đã bị kết án), thì ngoài các căn cứ pháp lý ra, còn phải
có một loạt những điều kiện cụ thể khác do PLHS quy định và, chỉ khi nào cótổng hợp đầy đủ chúng (các căn cứ pháp lý và những điều kiện ấy), thì ngườiphạm tội mới không bị truy cứu TNHS hoặc người đã bị kết án mới không bịbuộc phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án
+ Tùy thuộc vào giai đoạn TTHS tương ứng cụ thể, nếu đã hết thời hiệurồi thì việc không truy cứu TNHS (đối với người phạm tội) hoặc không thihành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án (đối với người đã bị kết
án) chỉ được thực hiện bởi một cơ quan TPHS có thẩm quyền nhất định (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát, Toà án
Trang 37hoặc cơ quan THAHS) khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện do PLHS quy định [18, tr.101].
d/ Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua chế định
- Qua ba đặc điểm của chế định miễn hình phạt:
+ Theo thứ tự về mức độ nhân đạo, thì miễn hình phạt là chế định nhânđạo thứ hai (sau chế định miễn TNHS) vì theo quy định của PLHS Việt Nam,
nó chỉ Tòa án áp dụng trong trường hợp đáng được khoan hồng đặc biệt nhưngchưa đến mức được miễn TNHS (Điều 54 BLHS năm 1999) và vì vậy, đâycũng chính là sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nóichung và của PLHS nói riêng trong một Nhà nước
+ Miễn hình phạt chỉ có thể được đặt ra đối với người nào là bị kết án
mà lẽ ra nếu không có đủ các căn cứ và những điều kiện do luật định để được miễn hình phạt, thì người đó phải bị Tòa án áp dụng một hình phạt nào đó trên thực tế theo các quy định của PLHS [18, tr.102].
+ Mặc dù trong PLHS thực định không có sự điều chỉnh rõ ràng và dứtkhoát của nhà làm luật nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, tùy các tình tiết cụ thể của
Trang 38vụ án người được miễn hình phạt vẫn có thể bị (hoặc không bị) Tòa án áp dụngmột hoặc nhiều biện pháp tư pháp do PLHS quy định.
e/ Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua các chế
định liên quan đến việc CHHP:
- Trước hết, qua khái niệm chung của các chế định về CHHP, mà theo đóđược hiểu là những biện pháp cưỡng chế về thi hành án hình sự liên quan đếnviệc CHHP phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, cũng như luậtTHAHS Việt Nam và được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể tương ứngđối với người bị kết án khi có các căn cứ và những điều kiện nhất định doPLHS quy định;
- Qua đặc điểm của các chế định về CHHP:
+ Là những biện pháp cưỡng chế về THAHS liên quan đến việc CHHP phản ánh nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và của luật hình sự, cũng như luật THAHS Việt Nam nói riêng [18, tr.104].
+ Chỉ có thể được áp dụng đối với người bị kết án trong mỗi trường hợp
- Qua bản chất pháp lý của chế định này theo đó Tòa án vẫn quyết địnhmột hình phạt nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với
Trang 39người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, nhưng không buộc ngườinày phải chấp hành toàn bộ hình phạt ấy khi có đầy đủ căn cứ và những điềukiện do PLHS quy định.
h/ BVCQ con người được phản ánh thông qua chế định giảm mức hình
phạt đã được tuyên:
- Trước hết, đó là qua khái niệm giảm mức hình phạt đã được tuyên, theo đó là việc rút ngắn thời hạn của việc chấp hành phần còn lại của loại hình phạt có thời hạn hoặc miễn việc tiếp tục chấp hành phần còn lại của loại hình phạt không có thời hạn đối với người bị kết án [18, tr.105];
- Qua bản chất pháp lý của chế định này: khi có đầy đủ căn cứ và nhữngđiều kiện được quy định trong PLHS, Tòa án quyết định việc rút ngắn thời hạnCHHP cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù có thời hạn đối với người bịkết án đang CHHP tương ứng (nếu người này đã CHHP đó được một thời giannhất định) hoặc miễn phần tiền phạt còn lại đối với người bị kết án đangCHHP tiền
i/ Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua chế định
hoãn CHHP:
- Trước hết, đó là qua khái niệm này: hoãn CHHP tù là việc tạm dừng lạitrong một thời hạn nhất định việc CHHP tù của người bị kết án nếu người nàychưa CHHP tù đó;
- Qua bản chất pháp lý của chế định này: Tòa án quyết định tạm dừng lạiviệc CHHP tù đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối vớingười bị kết án (nhưng chưa CHHP đó) trong một thời hạn nhất định khi cóđầy đủ căn cứ và những điều kiện được do PLHS quy định
k/ Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua chế định
tạm đình chỉ CHHP tù:
Trang 40- Trước hết, đó là qua khái niệm tạm đình chỉ CHHP tù: là việc tạmdừng lại trong một thời hạn nhất định việc CHHP tù của người bị kết án đangCHHP đó;
- Qua bản chất pháp lý của chế định này: Tòa án quyết định tạm dừng lại việc CHHP tù đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án đang CHHP đó trong một thời hạn nhất định khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện được quy định trong PLHS [18, tr.107].
l/ Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua chế định
án treo:
- Trước hết, đó là qua khái niệm án treo: là biện pháp miễn CHHP tù kèmtheo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việcthực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định;
- Qua bản chất pháp lý của chế định này: Tòa án miễn CHHP tù đã tuyên
trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị xử phạt tù có thời hạn không quá 3 năm và ấn định thời gian thử thách từ 1 đến 5 năm đối với người đó khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định [18, tr.108].
m/ Việc bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua chế định
án tích:
-Trước hết, đó là qua ba khái niệm cơ bản có liên quan đến chế định này: +
Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình
phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện TNHS [18, tr.109], được thể hiện trong việc người bị