Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sungmột số điều năm 2009, thì những trường hợp giảm nhẹ TNHS là một trongnhững căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt, vai trò
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO TRỌNG THỦY
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN
Về NHữNG TRƯờNG HợP GIảM NHẹ TRáCH NHIệM HìNH Sự THEO LUậT
HìNH Sự VIệT NAM(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO TRỌNG THỦY
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN
Về NHữNG TRƯờNG HợP GIảM NHẹ TRáCH NHIệM HìNH Sự THEO LUậT HìNH Sự
VIệT NAM(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lấ VĂN CẢM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn vẫn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất
cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Cao Trọng Thủy
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG TRƯỜNG
HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 13
1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của những trường hợp
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 13
1.2 Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình
sự Việt Nam về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự (Từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đến trước
khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999) 33
Kết luận chương 1 38
Chương 2 : THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG TRƯỜNG
HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 39
2.1 Thực trạng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về
những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 39
2.1.1 Nội dung của những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
2.1.2 Nội dung của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Trang 52.2 Thực tiễn áp dụng những trường hợp giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh
Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014) 64
2.2.1 Thực tiễn xét xử một số vụ án có những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 64
2.2.2 Thực tiễn xét xử một số vụ án có những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 68
2.3 Những hạn chế và bất cập trong việc áp dụng những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 75
Kết luận chương 2 77
Chương 3 : NỘI DUNG HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 HIỆN HÀNH VỀ NHỮNG TRƯỜNG HỢP GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 78
3.1 Một số yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện Bộ luật Hình sự năm 1999 hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 78
3.2 Nội dung hoàn thiện một số quy định về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành 80
3.2.1 Hoàn thiện các quy định chung của pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 80
3.2.2 Hoàn thiện các quy định riêng của pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 80
3.2.3 Quy định chi tiết áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 81
3.2.4 Một số giải pháp 82
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhândân, do Nhân dân, vì Nhân dân là một nhiệm vụ tiếp tục được Đại hội XI củaĐảng kế thừa và phát triển, đồng thời tư tưởng chỉ đạo đó đã được hiến địnhmột cách đầy đủ tại Hiến pháp năm 2013, tại Hiến pháp năm 2013 quy định:
“ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [35, Điều 2, Khoản 1] Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó chúng ta cần phát huy dân chủ,
giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế Trong lĩnh vực tư pháp hình sự,định hướng đó đòi hỏi thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế nhằm đưapháp luật vào đời sống xã hội Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm
2005 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ:
Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợpvới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảmbảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo
vệ quyền con người [2, tr.2-3]
Trong pháp luật hình sự, các tình tiết có vai trò quan trọng trong việcxác định và xử lý tội phạm Được sử dụng để phân biệt các tội phạm khácnhau; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của các trường hợp phạm tộitrong cùng loại tội phạm; làm rõ mức độ nguy hiểm cũng như mức độ TNHScủa các trường hợp phạm tội cụ thể Đồng thời còn được áp dụng làm căn cứ
để định tội cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội Nếu thiếu
Trang 9những tình tiết cụ thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tộidanh không đúng, không phù hợp, làm cho hình phạt không đạt được mụcđích khi áp dụng đối với người phạm tội Trong số đó, các trường hợp giảmnhẹ TNHS là cơ sở để giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội và giữ một vai tròhết sức quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt, thực thiđúng các quy định này là bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế Đây cũng
là một trong những nội dung quan trọng trong việc sửa đổi Bộ luật Hình sựnăm 1999
Nghiên cứu lịch sử lập pháp của nước ta cho thấy quy định về nhữngtrường hợp giảm nhẹ TNHS đã tồn tại từ khá lâu trong lịch sử Ngay từ thờiphong kiến, trong Quốc triều hình luật đã có những quy định về những trườnghợp giảm nhẹ trách nhiệm hình Cho đến BLHS năm 1985, những trường hợpgiảm nhẹ TNHS được ghi nhận chính thức như là những chế định độc lậptrong pháp luật hĩnh sự một cách chi tiết và khá hoàn thiện Đến khi pháp điểnhóa pháp luật hình sự Việt Nam lần thứ hai với việc thông qua BLHS năm
1999, các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS cũng đã được sửađổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Tuy nhiên, lần pháp điển hóa thứ hai và đãđược sửa đổi bổ sung năm 2009 thì BLHS vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vềmặt lập pháp đối với chế định này, cũng như thực tiễn áp dụng nó Chẳng hạn,
cả hai BLHS năm 1985 và năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) vẫn khôngđưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê những trường hợp giảm nhẹ hình phạt trongKhoản 1 Điều 46 và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiếtgiảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 46 BLHS Điều đó dẫn đến cách hiểu và ápdụng pháp luật có những bất cập nhất định Việc nghiên cứu những trườnghợp giảm nhẹ TNHS theo Luật Hình sự Việt Nam không chỉ có ý nghĩa vềmặt nhận thức khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong việc
áp dụng các trường hợp giảm nhẹ TNHS
Trang 10Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sungmột số điều năm 2009), thì những trường hợp giảm nhẹ TNHS là một trongnhững căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt, vai trò của những trường hợpgiảm nhẹ TNHS rất quan trọng trong việc quyết định hình phạt:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa làm cho tộiphạm đã thực hiện và nhân thân của người phạm tội ít nguy hiểmhơn so với những trường hợp phạm tội mà không có tình tiết giảmnhẹ đó, đồng thời khi có nó người phạm tội được Tòa án áp dụngloại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn [67, tr 3]
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, vấn đề áp dụng những trường hợpgiảm nhẹ TNHS đang còn có một số vướng mắc, sai sót cần được tháo gỡ.Bởi lẽ theo Nghị quyết 49 đã nêu:
Thực tiễn cho thấy, phạm vi áp dụng của các tình tiết giảmnhẹ TNHS tương đối rộng Lạm dụng hoặc thờ ơ đối với việc ápdụng chúng có thể gây nên tác hại nhất định, hậu quả có thể quyếtđịnh hình phạt quá nhẹ, dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng,chống tội phạm Sự thờ ơ với việc áp dụng các quy định về các tìnhtiết giảm nhẹ TNHS có thể đưa đến việc quyết định hình phạt quánghiêm khắc, dẫn đến phản tác dụng cho quá trình cải tạo, giáo dụcngười phạm tội [2, tr.2]
Hơn nữa, việc áp dụng chính xác những trường hợp giảm nhẹ TNHSgiúp cho việc đánh giá tính chất vụ án, tính chất và mức độ nguy hiểm củahành vi của người phạm tội được chính xác, trên cơ sở đó mới có thể quyếtđịnh loại và mức hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.Đồng thời việc áp dụng đúng những trường hợp giảm nhẹ TNHS đảm bảo choviệc thống nhất trong chính sách hình sự của Nhà nước ta trong công tác đấutranh phòng, chống tội phạm [1, tr.14] Trong khi đó, việc áp dụng không
Trang 11chính xác những trường hợp giảm nhẹ TNHS sẽ đưa đến hậu quả là Tòa án sẽquyết định một bản án thiếu công minh, không chính xác, không đúng phápluật, vì bản án đó không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tộiphạm cũng như nhân thân người phạm tội và công cuộc đấu tranh phòngchống tội phạm.
Với những nhận định nêu trên, cả về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng
pháp luật là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn
2010 - 2014)” để nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp.
Tuy nhiên, đúng như tên gọi và nội dung chủ yếu của đề tài, dưới góc
độ nhận thức khoa học có thể khẳng định rằng: Bản chất của những trường hợp giảm nhẹ TNHS theo luật Hình sự Việt Nam trong đề tài này bao gồm:
Nhóm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999
và các tình tiết trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và do Toà áncân nhắc, theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 Vì vậy, trongphạm vi của một Luận văn thạc sĩ luật học tác giả chỉ đề cập đến nhóm cáctình tiết đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định tại BLHS, trong cácvăn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và do Toà án cân nhắc, xem xét quyếtđịnh trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo,khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội Trường hợp giảm nhẹTNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnhhưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơncủa hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu hình phạt ởmức thấp hơn, có cơ hội được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước
Trang 12Khi đề cập đến tình hình nghiên cứu có thể khẳng định trong nhữngnăm qua đã có những công trình khoa học, các sách, các giáo trình và các bàinghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học mà ở các mức độ khác nhau có đề cậpđến một số vấn đề cơ bản liên quan đến luận văn này Đó là:
2.1 Các sách (Sách chuyên khảo, sách tham, sách hướng dẫn và các giáo trình)
1) Đinh Văn Quế (2000), “Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.
2) GS - TSKH Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
3) Đinh Văn Quế (2009), “Bình luận khoa học về các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, tái bản lần 2, NXB thành phố Hồ Chí Minh.
4) Tập thể tác giả do GS-TSKH Lê Cảm chủ biên (2001), “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung)”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
5) Tập thể tác giả do TS Uông Chu Lưu chủ biên (2001), “Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999 (Phần chung)”, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội
6) Tập thể tác giả do PGS-TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2001),
“Trách nhiệm hình sự và Hình phạt”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
7)Tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2001), “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)”, ĐH Huế, NXB Giáo dục.
8) Kiều Đình Thụ, Tìm hiểu Luật hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh
2.2 Các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học
1) GS-TSKH Lê Cảm (2000), “Chế định trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số 4).
2) GS-TSKH Lê Cảm - TS Trịnh Tiến Việt (2002), “Nhân thân người
Trang 133) Đỗ Văn Chỉnh (2000), “Những vấn đề cần lưu ý trong xét xử”, Tạp
chí Toà án nhân dân (số 1)
4) TS Trịnh Tiến Việt (2003), “Về các điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của BLHS năm 1999”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9
5) TS Trịnh Tiến Việt (2004), “Về ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt”, Tạp chí KHPL số 1.
6) Phạm Hồng Hải (2001), “Chế định truy cứu TNHS và vấn đề áp dụng chế định này trong thực tiễn”, Tạp chí Luật học số 10.
7) Dương Tuyết Miên (2003), “Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng theo BLHS năm 1999”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 1).
8) Trần Thị Quang Vinh (2005), “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, từ 2010 đến 2014 đã có một loạt các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) mà ở các mức độ khác nhau có liên quan đến đề tài này, đó là:
9) Phạm Ngọc Ánh (2014), “Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II (tháng 01).
10) Thái Chí Bình (2014), “Tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án
nhân dân kỳ II (tháng 1)
11) Đỗ Thị Thanh Huyền và Đỗ hải Yến (2014), “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong điều tra các vụ án giết người”, Tạp chí Kiểm
sát (số 11)
12) Lê Xuân Lục (2014), “Bàn về căn cứ và giới hạn của việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định trong Bộ luật Hình sự” Tạp chí Kiểm sát số
06 (tháng 3)
Trang 1413) Đinh Văn Quế (2010), “Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết “tự thú”
và “đầu thú” trong thực tiễn xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 3 (tháng 2).
14) Đỗ Văn Tạo (2011), “Bàn về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Tòa án
nhân dân kỳ II tháng 10, (số 20)
15) TS Phạm Minh Tuyên (2012), “Về áp dụng điều 47 Bộ luật Hình
sự khi quyết định hình phạt”, Tạp chí Kiểm sát số 20 (tháng 10).
16) TS Phạm Minh Tuyên (2013), “Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999”, Tạp chí Kiểm sát số 18 (tháng 9).
17) TS Phạm Minh Tuyên(2014), “Một số vấn đề về tổng hợp hình phạt tù có thời hạn với án treo trong thực tiễn xét xử hiện nay”, Tạp chí Kiểm
sát số 02 (tháng 1)
18) Cao Thị Thu Thắng (2014), “Tăng cường kháng nghị phúc thẩm hình sự theo Chỉ thị 03/CT-VKSTC-VPT1 của Viện trưởng VKSND tối cao để đạt hiệu quả cao hơn”, Tạp chí Kiểm sát số 13 (tháng 7).
19)Phạm Văn Thiệu (2010), “Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của khung hình phạt (Kỳ I)”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II (tháng 3).
20) TS Trịnh Tiến Việt (2013), “Bảo đảm tính thống nhất khi sửa đổi,
bổ sung Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 07(tháng 4).
21) Nguyễn Quốc Việt (2014), “Hoàn thiện chế định loại trừ trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số chuyên đề (tháng 8).
2.3 Các luận án, luận văn
1) Trần Thị Quang Vinh (2001), “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Luật Hình sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Nghiên
cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội
Trang 157
Trang 16thuộc về nhân thân người phạm tội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật
-Đại học Quốc gia Hà Nội
Các công trình nêu trên là cơ sở lý luận để giải quyết những vấn đềchuyên biệt của đề tài, đồng thời là cơ sở làm sáng tỏ những nội trong thựctiễn áp dụng được nêu trong luận văn
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn
3.1 Mục đích của Luận văn
Trong một chừng mực nhất định, luận văn nghiên cứu một cách tươngđối hệ thống và tương đối toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quyđịnh về những trường hợp giảm nhẹ TNHS, luận văn hướng tới mục đích pháttriển lý luận về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề xuấtmột số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự
hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
3.2 Nhiệm vụ của Luận văn
Muốn đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu trên, luận văn cần phảithực hiện các nhiệm vụ sau:
Về lý luận, luận văn đưa ra nhận thức đầy đủ về trường hợp giảm nhẹTNHS, làm rõ cơ chế giảm nhẹ TNHS, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việcphân loại những trường hợp giảm nhẹ TNHS, phân tích quá trình phát triểncủa chế định những trường hợp giảm nhẹ TNHS sau pháp điển hóa Bộ luậtHình sự năm 1985 đến trước khi thông qua BLHS năm 1999 Từ đó, đưa ra sựnhận thức đúng đắn về giới hạn và phạm vi ảnh hưởng của những trường hợpgiảm nhẹ TNHS
Về thực tiễn, luận văn làm sáng tỏ ảnh hưởng của những trường hợpgiảm nhẹ TNHS được phản ánh trong các quy định của Bộ luật Hình sự hiệnhành bằng hệ thống các mức độ và biện pháp miễn giảm trách nhiệm hình sự,nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ
Trang 17TNHS, phát hiện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và làm rõ nguyênnhân của tình hình áp dụng đó Đồng thời, trong phạm vi nghiên cứu luận vănđưa ra một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật Hình sự và một số giải phápnâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về nhữngtrường hợp giảm nhẹ TNHS, luận văn đề cập đến một số vấn đề lý luận vềnhững trường hợp giảm nhẹ TNHS, ngoài ra luận văn còn đề cập đến thựctiễn áp dụng những trường hợp này trong giải quyết các vụ án hình sự tại địaphương Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn nêu lên sự pháttriển các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về những trường hợp giảmnhẹ trách nhiệm hình sự từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 đếntrước khi thông qua Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999 cũng như các trườnghợp giảm nhẹ TNHS trong Nghị quyết áp dụng thống nhất của TANDTC
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở các trường hợp được quyđịnh tại Điều 46 BLHS năm 1999 mà không đề cập đến những tình tiết giảmnhẹ được quy định trong các điều luật khác tại Phần chung Bộ luật Hình sự,luận văn tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của mỗi trường hợp giảm nhẹđến TNHS Đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình ápdụng chế định này trong thực tiễn, và những nguyên nhân của những tồn tại,hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực đinh và nâng caohiệu quả áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn
Mặt khác, do tính chất đa dạng và rộng lớn của đề tài, đồng thời giớihạn số trang của một Luận văn Thạc sĩ Bên cạnh đó, bản thân là cán bộ công
Trang 18tác trong Ngành Thi hành án dân sự, vì vậy việc tiếp cận và khả năng nghiêncứu còn có những hạn chế nhất định, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫncủa các Thầy, Cô giáo để bản thân có thêm kinh nghiệm, kiến thức và phươngpháp nhằm tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về nội dung của đề tài.
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn dựa trên cơ sở vận dụngphép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Phép duy vật biện chứng và duyvật lịch sử là phương pháp luận để nhận thức bản chất của trường hợp giảmnhẹ TNHS và cơ chế giảm nhẹ TNHS, được coi là cơ sở phương pháp luận đểnhận thức ảnh hưởng của điều kiện lịch sử đến quy định của pháp luật hình sự
về những trường hợp giảm nhẹ TNHS; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vềNhà nước và Pháp luật, về tội phạm học, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về nguyên tắc xử lý tội phạm Thông qua đó, việc nghiên cứu làm rõ nhữngnét đặc thù và giá trị kế thừa trong các quy định về những trường hợp giảmnhẹ TNHS Từ đó trang bị cách tiếp cận biện chứng cho việc áp dụng nhữngtrường hợp giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự trong thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu còn kết hợp với một số phương pháp nghiêncứu cụ thể khác như phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp,Luận văn được nghiên cứu tương đối đầy đủ các quy định về những trườnghợp giảm nhẹ TNHS Bằng việc sử dụng các phương pháp nói trên, luận văn
có một số nhận xét về tình hình chung trong áp dụng những trường hợp giảmnhẹ TNHS vào thực tiễn, phát hiện một số vấn đề mâu thuẫn giữa quy địnhcủa pháp luật với việc tuân thủ nó, để có hướng kiến nghị những giải pháphoàn thiện luật thực đinh và nâng cao hiệu quả áp dụng những trường hợpgiảm nhẹ TNHS trong thời gian tới
6 Những điểm mới về mặt khoa học của Luận văn
Một là, trên cơ sở chỉ ra tiêu chí xác định những trường hợp giảm nhẹ
Trang 19TNHS và tham khảo một số quan điểm về những trường hợp giảm nhẹ TNHS,luận văn đã đưa ra được một khái niệm tương đối đầy đủ về trường hợp giảmnhẹ TNHS.
Hai là, trên cơ sở nghiên cứu nêu lên các đặc điểm chủ yếu của quá
trình hình thành và phát triển của chế định những trường hợp giảm nhẹ TNHStrong pháp luật hình sự Việt Nam từ khi pháp điển hóa BLHS lần đầu năm
1985 đến trước khi thông qua BLHS năm 1999
Ba là, phân tích các quy định pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam
về những trường hợp giảm nhẹ TNHS
Bốn là, tập trung nghiên cứu về tình hình áp dụng chế định này trong
thực tiễn, từ đó chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó
Năm là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những
trường hợp giảm nhẹ TNHS theo Luật Hình sự Việt nam và một số kiến nghịnhằm hoàn thiện pháp luật hình sự
7 Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của Luận văn
7.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn trong một phạm vi nhất định góp phầnphát triển một số lý luận về những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong LuậtHình sự Việt Nam
7.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn đưa ra một số luận cứ khoa học choviệc cụ thể hoá chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với việc xử lý tội phạmtrong pháp luật hình sự hiện hành Đồng thời đưa ra giải pháp giải quyết một
số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và nâng cao hiệuquả áp dụng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNHS Kết quảnghiên cứu đề tài có thể phục vụ cho việc trang bị một số kiến thức chuyênsâu đối với cán bộ pháp luật trong lĩnh vực hình sự
Trang 208 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luậnvăn được kết cấu gồm 3 chương Cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về những trường hợp giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt nam
Chương 2: Thực trạng các quy định về những trường hợp giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn ápdụng các quy định này trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014
Chương 3: Nội dung hoàn thiện các quy phạm của Bộ luật Hình sự năm
1999 hiện hành về những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Trang 211.1.1 Khái niệm những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
BLHS không đưa ra khái niệm về những trường hợp giảm nhẹ TNHS.Trong khoa học pháp lý nước ta, quan niệm về vấn đề này cũng chưa thốngnhất Nhìn chung, đa số ý kiến cho rằng, trường hợp giảm nhẹ TNHS làtrường hợp được quy định trong BLHS với tính chất là trường hợp giảm nhẹchung hoặc là trường hợp được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụngpháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồngthời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đốivới người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hìnhphạt Quan niệm trên chưa cho thấy hết được bản chất, nội dung của trườnghợp giảm nhẹ TNHS mà mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý của chúng
Dưới góc độ nghiên cứu của cá nhân, về bản chất, trường hợp giảm nhẹTNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnhhưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơncủa hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở mứcthấp hơn Trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS, trong cácvăn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyếtđịnh trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo,khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội
Những trường hợp giảm nhẹ TNHS có thể hiểu ở nhiều cấp độ khácnhau Ở cấp độ thứ nhất mang tính chất tổng thể, giảm nhẹ TNHS là bất kỳ
Trang 22trường hợp nào, mà sự hiện diện của nó có tác dụng làm giảm bớt mức độTNHS Như vậy, ở cấp độ này, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là tình tiếtđịnh tội giảm nhẹ, định khung giảm nhẹ, các trường hợp được quy định tạiĐiều 46 và các Điều luật khác thuộc Phần chung BLHS, cũng như các trườnghợp được áp dụng theo quy định của khoản 2 Điều 46 BLHS Ở cấp độ thứhai, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có ý nghĩa giảmnhẹ TNHS trên cơ sở đã có một chuẩn mực xác định về TNHS Theo nghĩanày, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp được quy định
và áp dụng theo quy định Phần chung BLHS (không bao gồm các tình tiếtđịnh tội, định khung giảm nhẹ) Ở cấp độ thứ ba, những trường hợp giảm nhẹTNHS là những trường hợp có ý nghĩa giảm nhẹ hình phạt trong giới hạnkhung hình phạt
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, những trường hợp giảm nhẹ TNHS
là những trường hợp có ý nghĩa làm giảm hình phạt trong phạm vi một khunghình phạt [40, tr 205]; [52, tr 244] Quan niệm như vậy là hẹp so với chínhtên gọi và khả năng ảnh hưởng của chúng đến TNHS Như đã trình bày ởphần trên, nội dung của TNHS là các tác động cưỡng chế hình sự bao gồmviệc bị kết án, bị áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích Như vậy,giảm TNHS không chỉ giới hạn ở việc giảm mức hình phạt, mà còn thể hiện
áp dụng các biện pháp khoan hồng khác thay thế hình phạt, miễn hình phạt,thậm chí miễn toàn bộ TNHS Hơn nữa, ngay cả trong khía cạnh giảm hìnhphạt, cách hiểu trên cũng vẫn là một khái niệm hẹp Bởi lẽ, theo quy định củaPLHS, giá trị giảm nhẹ của những trường hợp giảm nhẹ TNHS không thuầntuý chỉ liên quan đến việc giảm hình phạt trong phạm vi khung hình phạt, mà
có thể đưa đến các khả năng giảm nhẹ khác về hình phạt như giảm hình phạtdưới mức tối thiểu của khung hình phạt, chuyển sang hình phạt khác thuộcloại nhẹ hơn, giảm hình phạt theo tỉ lệ luật định, giảm thời hạn chấp hành hình
Trang 23phạt, miễn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (ántreo), miễn hình phạt Do vậy, theo quan điểm cá nhân, cần thiết xây dựngkhái niệm rộng hơn về những trường hợp giảm nhẹ TNHS.
Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có ý nghĩagiảm nhẹ TNHS Để quy định và áp dụng đúng những trường hợp giảm nhẹTNHS, cần thiết phải làm rõ các tiêu chí xác định chúng trên cơ sở làm sáng
tỏ cơ chế giảm nhẹ TNHS Cơ chế giảm nhẹ TNHS được thể hiện thông quacác khía cạnh sau:
Thứ nhất, Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp có
ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nênchúng có giá trị giảm nhẹ TNHS [51, tr 206], [50, tr 244], [63, tr 216] Cơ
sở giảm nhẹ TNHS trong trường hợp này xuất phát từ thừa nhận sự tươngxứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thựchiện với mức độ TNHS Như Mác đã nhận định:
Làm cho sự trừng phạt trở thành hậu quả thực tế của việcphạm tội Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phái là kếtquà tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vicủa chính người đó Giới hạn hành vi của y phải là giới hạn của sựtrừng phạt [12, tr 181]
Điều đó có nghĩa là tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vì phạm tội là thước đo mức độ TNHS Do vậy, để giảm mức độ TNHS, phải
là những trường hợp có ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạm tội Đây là biểu hiện khách quan và chủ quan của tội phạm,biểu hiện về nhân thân người phạm tội mà sự hiện diện của chúng cố ý nghĩalàm giảm đi mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Theo đó, những trườnghợp giảm nhẹ TNHS thường là những trường hợp phản ánh mức độ thực hiệntội phạm chưa trọn vẹn do nguyên nhân khách quan hoặc do sự tự nguyện của
Trang 24người phạm tội; tác hại của tội phạm gây ra không lớn hoặc đã được khắcphục, mức độ lỗi hạn chế do người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế vềkhả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, là người phạm tộitrong tình trạng tinh thần bị kích động vì hành vi trái pháp luật của ngườikhác, là người chưa thành niên Những biểu hiện liên quan đến tội phạm vànhân thân người phạm tội nêu trên đã phản ánh sự hạn chế về mức độ nguyhiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện Do vậy, những trường hợp giảmnhẹ TNHS là những trường hợp có khả năng làm giảm đi mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi phạm tội và đây là căn cứ giảm nhẹ TNHS.
Thứ hai, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp phản
ánh khả năng cải tạo của người phạm tội Nhân thân người phạm tội là mộttrong những nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ TNHS Cơ sở lý luận của khảnăng giảm nhẹ này thể hiện ở chỗ, biện pháp xử lý về hình sự chỉ có thể tronggiới hạn đủ cần thiết nhằm đạt được mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo,giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủpháp luật, các quy tắc của cuộc sống chung Trong hướng giảm nhẹ TNHSnày, những trường hợp giảm nhẹ TNHS phải là những trường hợp phản ánhkhả năng cải tạo tốt của người phạm tội thể hiện thông qua thái độ thành thựchối lỗi về việc thực hiện tội phạm, hạnh kiểm ít lệch chuẩn, có quan hệ tốt vớicộng đồng, gia đình, có thái độ tốt đối với lao động, tinh thần sẵn sàng chịutrách nhiệm, quyết tâm cải tạo phục thiện v.v Mặt khác, việc thực hiện tộiphạm, ở mức độ nhất định cũng có nguyên nhân xã hội Việc thừa nhận conngười hành động trong sự tự do ý chí phải chịu trách nhiệm trước xã hội vềhành vi của mình, một mặt nhấn mạnh rằng, TNHS chỉ đặt ra khi một người
có lỗi trong việc thực hiện một tội phạm, mặt khác không nhằm phủ định tácđộng của xã hội đến hành vi của con người Do vậy, những đặc điểm tiêu cựcthuộc nhân thân người phạm tội được hình thành dưới sự tác động khách quan
Trang 25của môi trường cũng nên được xem là yếu tố có ý nghĩa giảm nhẹ một phầnTNHS đối với người phạm tội mới là thỏa đáng Theo GS TSKH Đào Trí Úc
xác định: “Nội dung của chính sách hình sự về tội phạm và TNHS phải được xây dựng trên cơ sở giải quyết một loạt các mối tương quan, trong đó có mối tương quan giữa trách nhiệm của cá nhân người phạm tội với trách nhiệm của xã hội, của Nhà nước” [57, tr 197] Vậy, những trường hợp giảm nhẹ
TNHS là những trường hợp phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội
và vì thế mà nó có giá trị giảm nhẹ TNHS
Thứ ba, những trường hợp phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người
phạm tội đáng được khoan hồng Trong trường hợp này, việc giảm nhẹ TNHS
là vì lý do nhân đạo hoặc do không còn yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chếhình sự Cơ sở lý luận của khả năng giảm nhẹ này xuất phát trước hết từnguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắcnhân đạo được đặt ra và xây dựng trên cơ sở nghiên cứu khoa học sâu sắc vàngày càng đầy đủ hơn về khả năng thực tế và vai trò của PLHS trong việc tácđộng đến tội phạm Từ nhận thức đó, Nhà nước sử dụng các biện pháp xửphạt hình sự như công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm bằng cách đề caotác động giáo dục cải tạo, hướng thiện đối với người phạm tội Với cách tiếpcận như vậy, khi có cơ sở để khoan hồng đối với người phạm tội, để tin rằngmức độ TNHS được áp dụng đối với họ là đủ cần thiết, Nhà nước sẽ áp dụng
cơ chế giảm nhẹ TNHS Đó chính là chỗ đứng cho các tình tiết giảm nhẹTNHS vì lý do nhân đạo Mạt khác, thực tiễn cũng cho thấy, việc buộc ngườiphạm tội phải chịu TNHS xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của xã hội, bảo
vệ trật tự kỷ cương pháp luật là những điều kiện thiết yếu cho sự phát triểnlành mạnh của một xã hội Nghĩa là việc áp dụng TNHS đối với người phạmtội, xét toàn cục, là một việc làm cần thiết và có lợi Tuy nhiên, áp dụngTNHS đối với họ ở một mức độ nhất định cũng có mặt trái của nó Với tư
Trang 26cách là một con người trong xã hội, người phạm tội tham gia vào đời sống xãhội với nhiều mối liên hệ khác nhau Việc áp dụng biện pháp tác động bất lợi
về hình sự đối với cá nhân người phạm tội có khả năng kéo theo một số hệquả tiêu cực nhất định Ví dụ, người phạm tội là người lao động duy nhất củagia đình thì việc phải thụ hình tại trại giam có thể làm phát sinh một số hệ quảtiêu cực khác như gia đình của họ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vềkinh tế, không có nguồn sống, con cái chưa thành niên của người phạm tội trởthành trẻ không nơi nương tựa, không có người chăm sóc dạy dỗ Trongnhững trường hợp này, bên cạnh mặt tích cực và cần thiết của việc áp dụngTNHS đối với người phạm tội thì khả năng phát sinh những hệ quả tiêu cựckhác vẫn có thể xảy ra và cần được tính tới Do vậy, vấn đề áp dụng TNHS,mức độ của nó như thế nào là một bài toán cần lời giải trên cơ sở giải quyếtđúng đắn mối quan hệ giữa sự cần thiết phải áp dụng TNHS vì lợi ích chungcủa xã hội và khả năng phát sinh hệ quả tiêu cực khác do việc áp dụng TNHS.Mức độ và hình thức TNHS cần áp dụng phải được lựa chọn sao cho, một mặtphải đạt được mục đích của nó, mặt khác phải hạn chế tối đa khả năng phátsinh những hệ quả tiêu cực
Vì vậy, khi quy định hình phạt trong khâu lập pháp và nhất làkhi Toà án quyết định hình phạt, cần tính đến để có biện pháp hạnchế đến mức có thể được những hậu quả phụ của hình phạt đối vớinhững người không gây ra hành vi phạm tội nhưng vì lẽ này hay lẽkhác có mối liên hệ với người phạm [57, tr 262]
Đây chính là cơ sở mà PLHS Việt Nam quy định những trường hợpgiảm nhẹ TNHS vì lý do nhân đạo Trong PLHS và thực tiễn áp dụng đã thểhiện rõ thái độ nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội là phụ nữ đangnuôi con nhỏ, là người chưa thành niên, là người già (Điều 46 BLHS), ngườiđang mắc bệnh nặng, là người lao động duy nhất trong gia đình (Điều 61
Trang 27BLHS), nhiều người trong cùng một gia đình có khả năng phải chịu mức ánđặc biệt nghiêm khắc v.v là những trường hợp giảm nhẹ TNHS Như vậy, đểquy định và áp dụng một trường hợp là trường hợp giảm nhẹ TNHS cần dựavào một trong các tiêu chí sau:
* Tác dụng làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện
* Phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội
* Hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồngMối quan hệ mật thiết của những trường hợp giảm nhẹ TNHS với tínhnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và khả năng cải hoá của ngườiphạm tội thế hiện bản chất pháp lý của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Cơchế giảm nhẹ TNHS nguyên tắc vận hành chủ đạo trong mốt quan hệ đó và làbản chất pháp lý để giảm nhẹ TNHS Do vậy, bản chất pháp lý của nhữngtrường hợp giảm nhẹ TNHS chính là khả năng làm giảm TNHS do đã làmgiảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện, phản ánhkhả năng cải tạo tốt của người phạm tội hoặc đáng được khoan hồng khingười phạm tội có hoàn cảnh đặc biệt
Khi nêu khái niệm những trường hợp giảm nhẹ TNHS sẽ không thểđược coi là đầy đủ nếu không đề cập phạm vi của những trường hợp giảm nhẹTNHS Trong hồ sơ vụ án hình sự có nhiều loại tình tiết Phạm vi của nhữngtrường hợp giảm nhẹ TNHS được định vị trên cơ sở làm rõ mối quan hệ củachúng với các tình tiết trong một vụ án hình sự, các tình tiết liên quan đếnviệc thực hiện tội phạm, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các căn cứquyết định hình phạt Xác định đúng phạm vi những trường hợp giảm nhẹTNHS trong một vụ án hình sự cho phép nhận thức rõ ràng và đầy đủ vềchúng, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng những trườnghợp giảm nhẹ TNHS từ khâu thu thập chứng cứ đến việc giải quyết TNHS đốivới người phạm tội Những phạm vi đó gồm:
Trang 281) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác lập trên cơ sở làm rõmối quan hệ giữa những trường hợp giảm nhẹ TNHS và các dấu hiệu của cấuthành tội phạm Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những dấu hiệu nằmhoàn toàn ngoài cấu thành hay đan xen cùng với các dấu hiệu của cấu thành.Như chúng ta đã biết, cấu thành tội phạm là tổng hợp những đặc điểm chungmang tính điển hình của một loại tội phạm bao gồm khách thể, mặt kháchquan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm Do vậy, cấu thành tội phạmthường được hiểu với ý nghĩa là khuôn mẫu pháp lý của một tội phạm cụ thể.Những dấu hiệu của nó được mô tả trên những nét cơ bản nhất, tạo thành cơ
sở chung của TNHS đối với mọi trường hợp phạm tội thuộc loại tội phạm đó.Tuy nhiên, trong giới hạn khung trách nhiệm đó thì mức độ TNHS như thếnào còn phụ thuộc vào trường hợp phạm tội cụ thể phản ánh mức độ thực hiệnhành vi phạm tội, hình thức phạm tội là đồng phạm hay đơn lẻ, đặc điểm nhânthân người phạm tội Do vậy, ở khía cạnh này, quan hệ của những trường hợpgiảm nhẹ TNHS với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là quan hệ giữa cái
cụ thể với cái chung, trong đó các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được ghinhận trong luật ở mức chung nhất phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tộiphạm Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện cụ thể của từngtrường hợp phạm tội thuộc một loại tội phạm Chúng chỉ rõ các mức độ khácnhau của các dấu hiệu cấu thành tội phạm Đây chính là cơ sở để xác địnhranh giới về mặt lý thuyết giữa các dấu hiệu cấu thành tội phạm với nhữngtrường hợp giảm nhẹ TNHS Như vậy, có thể hiểu trên hai mặt của vấn đề:Một mặt, có những tình tiết tuy liên quan đến việc thực hiện tội phạm và cógiá trị giảm nhẹ TNHS nhưng không được coi là trường hợp giảm nhẹ TNHS
Vì tính khái quát cao, chúng là cơ sở để xây khuôn mẫu pháp lý chung đối vớimột loại tội phạm (gồm dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung) Mặt khác, cónhững trường hợp tuy là biểu hiện của các dấu hiệu cấu thành tội phạm,
Trang 29nhưng chỉ phản ảnh các mức độ nguy hiểm cụ thể của từng trường hợp phạmtội, có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS và giá trị giảm nhẹ TNHS của chúng chưađược ghi nhận trong chế tài Những trường hợp này được gọi là trường hợpgiảm nhẹ TNHS Phản ánh rõ nhất mức độ nguy hiểm cho xã hội của trườnghợp phạm tội và giá trị giảm nhẹ TNHS chưa được phản ánh trong chế tài lànét đặc trưng của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Đây là cơ sở để phânbiệt những trường hợp giảm nhẹ TNHS với các tình tiết định tội, tình tiết địnhkhung và cũng là cơ sở để nhìn nhận vai trò của những trường hợp giảm nhẹTNHS như một phương tiện cá thể hoá TNHS Do vậy, xét trong mối quan hệvới các dấu hiệu cấu thành tội phạm (tình tiết định tội, định khung giảm nhẹ),những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trường hợp đan xen với các dấuhiệu của cấu thành tội phạm Trong mối quan hệ đó, nếu tình tiết định tội,định khung là cơ sở để quy định khung trách nhiệm, thì những trường hợpgiảm nhẹ TNHS đóng vai trò là phương tiện quan trọng để cá thể hoá TNHS.
Như vậy, ở phạm vi này, xét trong mối quan hệ với các dấu hiệu củacấu thành tội phạm, những trường hợp giảm nhẹ TNHS phản ánh các mức độthể hiện khác nhau của các dấu hiệu cấu thành tội phạm trong từng trườnghợp phạm tội Còn các dấu hiệu cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phảnánh mô hình pháp lý của một loại tội phạm ở mức độ chung nhất đối với tất cảcác trường hợp phạm tội cụ thể thuộc loại tội phạm đó Trong ý nghĩa này,những trường hợp giảm nhẹ TNHS tồn tại đan xen cùng với các dấu hiệu củacấu thành và khác với các dấu hiệu đó bởi mức độ khái quát
2) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên cơ sở làm rõranh giới giữa chúng với những trường hợp khác trong một vụ án hình sự Cáctình tiết trong vụ án hình sự phải là những tình tiết liên quan đến vụ án đó.Chúng được sử dụng để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bao gồm việclựa chọn hình thức và mức độ TNHS đối với người phạm tội, quyết định
Trang 30về vấn đề sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của tội phạm, xử
lý vật liên quan đến tội phạm, đưa ra những kiến nghị đối với cơ quan có tráchnhiệm khắc phục sai sót trong quản lý Những trường hợp giảm nhẹ TNHS chỉ
là những tình tiết liên quan đến việc giải quyết đúng đắn mức độ TNHS cần
áp dụng đối với người phạm tội Do vậy, chúng được sử dụng chỉ để giảiquyết một trong những vấn đề của vụ án hình sự Đó là vấn đề về TNHS.Trong ý nghĩa này, không phải tình tiết nào liên quan đến vụ án đều nằm trongphạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS Do vậy, những trường hợpgiảm nhẹ TNHS là những tình tiết liên quan đến việc giải quyết về TNHS.Tính liên quan đến việc giải quyết về TNHS là một đặc tính của những trườnghợp giảm nhẹ TNHS Mặt khác, không phải tình tiết nào liên quan đến việcxác định mức độ TNHS đối với người phạm tội đều là trường hợp giảm nhẹTNHS, bởi lẽ trong số các tình tiết thuộc nhóm này có cả các tình tiết tăngnặng TNHS, tình tiết định khung giảm nhẹ, định khung tăng nặng Ranh giớigiữa những trường hợp giảm nhẹ TNHS với các tình tiết ảnh hưởng đếnTNHS khác được xác định trong các phạm vi tiếp theo
3) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên trên cơ sởphân tích mối quan hệ của chúng với tội phạm được thực hiện Trong trườnghợp này, vấn đề được đặt ra là: Những trường hợp giảm nhẹ TNHS là nhữngtình tiết chỉ liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện tội phạm hay ở cảngoài phạm vi đó Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những tình tiết trực tiếp liênquan đến việc phạm tội, còn có những tình tiết khác, tuy không trực tiếp liênquan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng có ảnh hưởng nhất định đếnviệc lựa chọn biện pháp xử lý đối với người phạm tội Sự hiện diện của nhữngtình tiết đó có thể phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi như “tựnguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại, đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại củatội phạm”,.v.v Chúng cũng có thể phản ánh khả năng cải hoá của người
Trang 31phạm tội như “người phạm tội có thành tích xuất sắc trong lao động, chiếnđấu, học tập”; “tự thú”; v.v Đây là những tình tiết xuất hiện trước hoặc saukhi thực hiện tội phạm Tuy không trực tiếp liên quan tới việc thực hiện tộiphạm, nhưng chúng có ý nghĩa làm giảm bớt mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi hoặc phản ánh khả năng cải hoá của người phạm tội, nên cũng cótác dụng giảm nhẹ TNHS Hơn nữa, xuất phát từ chính sách nhân đạo, tiếtkiệm hợp lý các biện pháp cưỡng chế hình sự trong xử lý tội phạm thì mức độTNHS được quyết định đối với người phạm tội phải và chỉ đủ cần thiết để đấutranh có hiệu quả với tội phạm Nếu không sử dụng những tình tiết tuy khôngthuộc việc thực hiện tội phạm nhưng phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi và khả năng cải hoá của người phạm tội có thể đưa đến hệ quả sửdụng biện pháp cưỡng chế hình sự đối với tội phạm vượt quá mức độ cầnthiết Điều này trái với chính sách hình sự của Nhà nước ta [22, tr 38].
Nhìn chung, ở phạm vi thứ ba, những trường hợp giảm nhẹ TNHS cóthể là những trường hợp thuộc việc thực hiện tội phạm cũng như nhữngtrường hợp tuy không thuộc việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng ảnh hưởngđến mức độ TNHS cần áp dụng đối với người phạm tội Những trường hợptuy không thuộc việc thực hiện tội phạm, để được coi là trường hợp giảm nhẹTNHS trong vụ án phải liên quan đến việc giải quyết TNHS và đáp ứng cácđặc điểm của trường hợp giảm nhẹ TNHS
4) Những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định trên cơ sở phântích mối quan hệ giữa chúng với các căn cứ quyết định hình phạt Các căn cứquyết định hình phạt cũng là những yếu tố mà dựa vào đó Toà án lựa chọnmột biện pháp cưỡng chế hình sự thích hợp đối với một trường hợp phạm tội
cụ thể Hay nói cách khác, chúng cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến mức
độ TNHS Phạm vi thứ tư của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xácđịnh trên cơ sở phân định ranh giới giữa những trường hợp giảm nhẹ TNHSvới các tình tiết thuộc các căn cứ quyết định hình phạt khác
Trang 32BLHS 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết và giảm nhẹ, tăng nặng TNHS” [34, Điều 45] Như vậy, trên cơ sở quy định của luật (là mức độ
đầu tiên của phân hoá TNHS đối với một tội phạm cụ thể), tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, những trườnghợp giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là những căn cứ quyết định hình phạt Dovậy, chúng có cùng một điểm chung là đều ảnh hưởng đến mức độ TNHS.Hơn nữa, ba căn cứ này đan xen với nhau ở một mức độ nhất định, nên việclàm rõ phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS trong quan hệ đan xen
đó là cần thiết Theo quy định của BLHS, những trường hợp giảm nhẹ, tăngnặng TNHS là một căn cứ độc lập trong quyết định hình phạt Tuy nhiên,trong thực tiễn áp dụng, chúng cũng được thể hiện ở mức độ nhất định trongcác căn cứ “tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội”
và “nhân thân người phạm tội” Mặc dù vậy, nhà làm luật vẫn quy định “cáctình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS” là căn cứ độc lập trong quyết định hìnhphạt Điều này xuất phát từ việc giải quyết mối tương quan giữa quy định bắtbuộc do luật định với yêu cầu tuỳ nghi trong áp dụng pháp luật nhằm cân nhắcđầy đủ và toàn diện sự đa dạng phong phú của việc thực hiện tội phạm trongquyết định hình phạt
Lý luận về pháp luật đã xác nhận rằng, sự tùy nghi đó là một biểu hiện
cố nguồn gốc từ tinh chất điển hình và khái quát cao của pháp luật Ớ phápluật, không ai có thể thỏa mãn được hoàn toàn, vì đó là “đại lượng bằng nhaucho những cá nhân khác nhau (C.Mác) Do đó, không thể không tạo ra nhữngkhả năng vận dụng sáng tạo trong thực tiễn Nhưng những khả năng đó phải
do pháp luật quy định, chứ không phải là một sự tùy tiện [57, tr 59]
Như vậy, luật chỉ có thể điều chỉnh ở mức độ khái quát chung cho mọi
Trang 33tội cụ thể này nhưng lại không có trong trường hợp phạm tội khác thì khôngthể dùng nó làm mô hình chung để điều chỉnh mang tính ổn định Sự điềuchỉnh của pháp luật đối với những biểu hiện cụ thể đó chỉ có thể thực hiệntrên cơ sở đưa ra những chỉ định mang tính nguyên tắc Sự chỉ định đó là cầnthiết làm cơ sở pháp lý cho sự thống nhất trong áp dụng pháp luật ở mức độ
có thể Trong sự chỉ định này, TNHS tiếp tục được cá thể hoá để bảo đảm mộtquyết định chính xác về TNHS đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể Đóchính là cơ sở để PLHS quy định những trường hợp giảm nhẹ, tăng nặngTNHS như là một căn cứ độc lập trong quyết định hình phạt Trong mối quan
hệ với căn cứ “tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được thực hiện”,phạm vi của những trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định dựa vào tínhchất cụ thể về biểu hiện của chúng Những tình tiết thuộc về căn cứ “tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội” là những tình tiếtphản ánh tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, có tác dụng xác địnhthang bậc xử lý chung cho các trường hợp phạm tội thuộc thang bậc tráchnhiệm đó Những trường hợp giảm nhẹ TNHS phản ánh rõ hơn mức độ biểuhiện cụ thể của từng trường hợp phạm tội cụ thể Trong mối quan hệ với căn
cứ “nhân thân người phạm tội”, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là nhữngbiểu hiện cụ thể của từng trường hợp phạm tội Nhân thân người phạm tội với
ýnghĩa là căn cứ độc lập của quyết định hình phạt thể hiện thông qua thái độcủa người phạm tội đối với pháp luật, đối với các lợi ích xã hội, quan hệ của
họ đối với cộng đồng xã hội, gia đình, thái độ đối với lao động.v.v Nói lênkhả năng của người phạm tội tiếp nhận sự cải tạo, giáo dục từ phía xã hội.Những biểu hiện cụ thể về nhân thân người phạm tội như tình tiết tự thú, thậtthà khai báo, ăn năn hối cải, lập công, người phạm tội là người chưa thànhniên, thể hiện rõ nét hơn khả năng cải hoá của người phạm tội trong mỗitrường hợp cụ thể v.v Trong mối quan hệ với những trường hợp tăng nặng
Trang 34TNHS, những trường hợp giảm nhẹ TNHS cũng có chung một điểm là nhữngtrường hợp phản ánh mức độ biểu hiện của từng trường hợp phạm tội cụ thể,đều ảnh hưởng đến TNHS Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, phạm vi củanhững trường hợp giảm nhẹ TNHS được xác định bởi “chiều hướng” ảnhhưởng của chúng đến TNHS Theo đó, những trường hợp giảm nhẹ TNHS có
ý nghĩa giảm nhẹ mức độ TNHS thì những trường hợp tăng nặng TNHS có ýnghĩa làm gia tăng mức độ TNHS
Ở phạm vi thứ tư, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những trườnghợp tuy ở mức độ nhất định có sự đan xen cùng với căn cứ “tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện”, “nhân thân ngườiphạm tội”, là biểu hiên cụ thể, phản ánh rõ nét nhất về mức độ nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm được thực hiện, về khả năng cải hoá người phạm tội
Tuy những trường hợp giảm nhẹ TNHS có giá trị giảm nhẹ TNHS đốivới bất cứ tội phạm nào, nhưng chúng có thể có mặt trong trường hợp này màkhông có mặt trong trường hợp phạm tội khác Vì thế, những trường hợp giảmnhẹ TNHS không được sử dụng là dấu hiệu chung để xây dựng chế tài đối vớimột tội phạm cụ thể Hay nói cách khác, giá trị giảm nhẹ TNHS của chúngchưa được ghi nhận trong chế tài Lấy chế tài làm gốc, việc giảm nhẹ TNHSđược áp dụng theo những quy tắc nhất định trên cơ sở cân nhắc giá trị giảmnhẹ của mỗi trường hợp hoặc của một tập hợp các trường hợp
Theo GS TSKH Lê Văn Cảm:
Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trongPhần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc làtình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và được ghi rõ trong bản án(nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là mộttrong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền vàTòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cá thể
Trang 35hóa TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt [6, tr 17].
Theo Từ điển pháp luật hình sự, Tình tiết giảm nhẹ TNHS là “Tình tiết ảnh hưởng đến mức độ TNHS của trường hợp phạm tội cụ thể theo hướng làm giảm xuống so với trường hợp bình thường” [18, tr 240].
Theo quan điểm của TS Trần Thị Quang Vinh:
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiếtcủa vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự,
có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của ngườiphạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của chủng chưa được ghi nhận trong chế tài [70, tr 45]
Theo quan điểm của tác giả Chu Thanh Hà thì:
Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những trường hợp được quyđịnh trong BLHS, trong các văn bản liên quan hay trong thực tiễnxét xử vụ án hình sự, các tình tiết này có ý nghĩa làm giảm mức độnguy hiếm cho xã hội cũng như khả năng cải tạo của người phạmtội nên có giá trị làm giảm nhẹ TNHS mà người phạm tội đáng lẽ raphải chịu nếu không thuộc các trường hợp đó [14, tr 12-13]
Nhìn chung, đa số ý kiến cho rằng, tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiếtđược quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc làtình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay doTòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trongnhững căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạmtội
Về bản chất, Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện về cácđiều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm,
Trang 36qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở đểngười phạm tội có thể chịu TNHS ở mức thấp hơn Tình tiết giảm nhẹ TNHSđược quy đinh trong BLHS, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luậthoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án
cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối vớingười phạm tội Nhân đạo là một trong những nguyên tắc chủ đạo của phápluật hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt, "Tình tiết" được hiểu là sự việc nhỏ trong quá
trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng [64, tr 979] Do vậy, tình tiết giảm nhẹTNHS có thể hiểu là những sự việc nhỏ trong một vụ án có ý nghía làm giảmmức độ TNHS của người phạm tội Nói cách khác, trong vụ án hình sự nhữngtình tiết nào có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS sẽ được coi là tình tiết giảmnhẹ TNHS
Còn “Giảm nhẹ TNHS" có thể được hiểu là việc miễn, giảm tác động
cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của TNHS Các tình tiết giảm nhẹ TNHS cóthể hiểu ở một số cấp độ với những vai trò khác nhau Ở cấp độ bao trùm nhất,tình tiết giảm nhẹ TNHS là bất kỳ tình tiết nào mà sự hiện diện của nó làm giảmbớt mức độ TNHS Như vậy, ở cấp độ này, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là cáctình tiết định tội giảm nhẹ, định khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ tại Điều
46 và các điều luật khác tại phần chung BLHS, cũng như các tình tiết được ápdụng theo khoản 2 Điều 46 Ở cấp độ thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS lànhững tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS trên cơ sở đã có một sự chuẩn mựcxác định về TNHS Theo nghĩa này, tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiếtđược quy định và áp dụng theo quy đinh tại phần chung BLHS (không bao gồmtình tiết định tội, định khung giảm nhẹ) [70, tr 26] Tuy nhiên, theo quan điểmcủa tác giả chỉ nên hiểu “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS” ở đây theo nghĩa là cáctình tiết có vai trò làm giảm TNHS của người phạm tội một
Trang 37cách thuần túy Bởi mặc dù có một số trường hợp xuất hiện tình tiết thuộc tìnhtiết được liệt kê tại Điều 46 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhưnglại đóng vai trò là tình tiết định tội (Ví dụ như tình tiết “Phạm tội do lạc hậu”
là tình tiết định tội đối với tội “Giết con mới đẻ”), như vậy nó sẽ không đóngvai trò giảm nhẹ TNHS nữa nên không thể gọi nó bằng tên “Tình tiết giảmnhẹ TNHS" được bời nó không được coi là có giá trị giảm nhẹ TNHS đối vớingười phạm tội
Tóm lại, xét về phạm vi, những trường hợp giảm nhẹ TNHS là những
trường hợp liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS, có ý nghĩagiảm nhẹ TNHS
Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm những trường hợp
giảm nhẹ TNHS: Những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong BLHS hoặc do Tòa án quyết định, các trường hợp này có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo của người phạm tội và có giá trị giảm nhẹ TNHS hơn mức hình phạt đáng ra người phạm tội phải chịu.
1.1.2 Các đặc điểm của các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các trường hợp giảm nhẹ có giá trị, ý nghĩa pháp lý, chính trị, xã hộikhông đều nhau, có trường hợp có tác động rất lớn đến lượng hình và đối vớimọi trường hợp phạm tội, có trường hợp có tác động ít hơn, có trường hợp chỉ
có ý nghĩa đáng kể đối với một số loại tội phạm còn đối với loại tội phạmkhác có ý nghĩa giảm nhẹ rất ít hoặc thậm chí không có ý nghĩa gì, có trườnghợp mà ý nghĩa giảm nhẹ vào thời gian này, ở nơi này, trong trường hợp nàynhiều hơn là vào lúc khác, ở nơi khác và trong trường hợp khác
Thứ nhất, các trường hợp giảm nhẹ TNHS được quy định cụ thể trong
BLHS (bao gồm 18 trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS
năm 1999) (Theo khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 mới được thông qua
Trang 38tháng 11/2015 là 22 trường hợp) Ngoài ra, nó còn được ghi nhận trong Nghị
quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung củaBLHS năm 1999) Ngoài ra, trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tự mìnhxem xét, cân nhắc coi những trường hợp khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS vàghi rõ lý do trong bản án Đặc điểm này có hai vấn đề cần chú ý: trước hết,những trường hợp giảm nhẹ TNHS nào được BLHS quy định với tính cách làyếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm đượcnêu tại phần các tội phạm cụ thể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không đượcxem xét nó như là trường hợp giảm nhẹ chung được quy định tại Khoản 1Điều 46 BLHS Nghĩa là một trường hợp giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hìnhthức nào thì cũng không thể được áp dụng hai lần cho một trường hợp phạmtội cụ thể Tiếp đó, việc cho phép Toà án có thể coi các tình tiết khác là tìnhtiết giảm nhẹ TNHS trong từng vụ án đối với từng bị cáo cụ thể nhằm mởrộng tính linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động xét xử của Toà án, bảo đảm chohoạt động xét xử được công bằng, chính xác, khách quan Nó giúp Tòa án tínhtoán được sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vớichế tài hình sự Quy định “phải ghi rõ trong bản án” là nhằm tránh sự tuỳ tiệntrong hoạt động xét xử Pháp luật dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể tiênliệu hết mọi tình huống của cuộc sống nên việc cho phép Toà án xem xét cáctình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong hoạt động xét xử là hợp lý và cầnthiết Tuy nhiên, vấn đề này cũng có tính hai mặt của nó Trên thực tiễn,không ít trường hợp Toà án đưa ra những tình tiết giảm nhẹ TNHS không thật
sự thuyết phục, ví dụ: theo Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao năm
2004, đã có trường hợp Toà án cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trong một vụ án
Trang 39hứa cưới nạn nhân làm vợ Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hạn chế sựtuỳ tiện của hội đồng xét xử Điều đó chỉ có thể trả lời bằng đạo đức, lươngtâm, năng lực, trình độ chuyên môn của những người làm công tác xét xử; vaitrò của Toà án cấp trên; sự giám sát của cơ quan dân cử và của các thiết chế xãhội khác…
Thứ hai, trường hợp giảm nhẹ TNHS là căn cứ để Tòa án cân nhắc,
xem xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội,
nó phản ánh các diễn biến bên ngoài của mặt khách quan cũng như diễn biếntâm lý bên trong của mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm hoặc phản ánhyếu tố nhân thân người phạm tội, góp phần mô tả tội phạm, giúp chúng tahình dung được mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội nếu đặt nótrong sự so sánh với trường hợp phạm tội tương tự mà không có tình tiết giảmnhẹ TNHS
Thứ ba, trường hợp giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng như thế nào đến việc
quyết định hình phạt là do Toà án cân nhắc, xem xét Sự hiện diện của tình tiếtgiảm nhẹ TNHS là căn cứ để Tòa án đánh giá, xem xét tính chất, mức độ nguyhiểm của hành vi phạm tội, coi đó là một trong những căn cứ để quyết địnhhình phạt Pháp luật không quy định cụ thể sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ
sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện hữu của tìnhtiết nào thì được giảm TNHS đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét vàcân nhắc của Tòa án
Thứ tư, những trường hợp giảm nhẹ TNHS rất phong phú, không xác
định về mặt số lượng Chúng ta có thể xác định được những trường hợp đượcquy định trong Khoản 1 Điều 46 BLHS và những trường hợp được quy địnhtại điểm c, mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP Ngoài những trườnghợp nói trên thì trong quá trình xét xử từng vụ án cụ thể, Tòa án còn có thể coinhững trường hợp khác là trường hợp giảm nhẹ
Trang 40Thứ năm, ảnh hưởng của từng trường hợp đến mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội không giống nhau Ảnh hưởng của những trường hợp giảmnhẹ TNHS đối với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội là khácnhau và do đó, mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc quyết định hình phạt làkhông giống nhau Những trường hợp giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp lý, xãhội, chính trị không đồng đều nhau Có trường hợp thì ảnh hưởng rất lớn đếnviệc quyết định hình phạt và đối với mọi trường hợp phạm tội, nhưng cótrường hợp thì ảnh hưởng ít hơn Có trường hợp chỉ có ý nghĩa đáng kể vớimột số tội phạm, còn đối với những tội phạm khác thì chỉ có ý nghĩa rất hạnchế Mặt khác, Điều 47 BLHS quy định:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạtdưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy địnhnhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật;trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khunghình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án
có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặcchuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn [34, Điều 47].Theo đó, khả năng “có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấpnhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định” chỉ có thể thực hiện “khi
có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46” Logic này chophép suy đoán rằng, theo quan điểm của nhà làm luật, các trường hợp đượcquy định tại Khoản 1 Điều 46 có vị trí cao hơn, ảnh hưởng nhiều hơn đến mức
độ ít nguy hiểm của hành vi phạm tội so với các trường hợp được hướng dẫntrong điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP và các trường hợpkhác mà Tòa án xem xét, cân nhắc quyết định cho bị cáo được hưởng trongquá trình xét xử