Chẳng hạn phong cách của các tác giả lớn trong văn học Việt Nam nhưNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân…Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm phong cách được hiể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐINH THỊ LỆ THỦY
phong cách thơ anh thơ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐINH THỊ LỆ THỦY
phong cách thơ anh thơ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lưu Khánh Thơ
Hà Nội – 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
6 Cấu trúc luận văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT.
ANH THƠ TỪ THƠ MỚI ĐẾN THƠ CÁCH MẠNG
1 Những vấn đề chung về phong cách nghệ thuật
2 Anh Thơ trong hành trình thơ nữ Việt Nam hiện đại
2.2 Anh Thơ quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời
2.3 Anh Thơ trong phong trào Thơ mới
2.3.1 Khái quát về phong trào Thơ mới
2.3.2 Đôi nét về các nhà thơ nữ trong phong trào Thơ mới
3 Anh Thơ và những chặng đường thơ sau Cách mạng
3.1 Thơ ca kháng chiến chống Pháp và những đóng góp của Anh Thơ3.2 Anh Thơ và đội ngũ thơ nữ trong giai đoạn chống Mĩ
CHƯƠNG II: PHONG CÁCH ANH THƠ NHÌN TỪ NỘI DUNG TRỮ TÌNH
1 Đối tượng thẩm mĩ trong thơ Anh Thơ
1.1 Cảnh quê, tình quê trong thơ Anh Thơ trước Cách mạng
1.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên mang đậm hương vị làng quê
Trang 41.1.2 Cảnh sinh hoạt lao động nơi làng quê
1.1.3 Những lễ hội, phong tục mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
1.2 Cảnh quê, tình quê trong thơ Anh Thơ sau Cách mạng tháng Tám1.3 Hình ảnh con người trong thơ Anh Thơ
1.3.1 Hình ảnh con người trong Bức tranh quê
1.3.2 Hình ảnh con người trên những nẻo đường kháng chiến
2 Cái tôi trữ tình trong thơ Anh Thơ
2.1 Cái tôi trữ tình lãng mạn trong thơ Anh Thơ
2.1 Ngôn ngữ bình dị, gần gũi với đời thường
2.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu tính biểu tượng
3 Giọng điệu
3.1 Giọng điệu nhẹ nhàng, mềm mại giàu nữ tính
3.2 Giọng điệu trữ tình, tha thiết, giàu cảm xúc
3.3 Giọng điệu rắn rỏi, tự tin, khúc triết
KẾT LUẬN
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Anh Thơ là nhà thơ sáng tác ở cả hai giai đoạn Thơ Mới và thơ Cáchmạng Mỗi giai đoạn, Anh Thơ đều có những đóng góp nhất định đối với tiếntrình thơ ca dân tộc Trong phong trào Thơ mới, cùng với Bàng Bá Lân, ĐoànVăn Cừ, Nguyễn Bính… Anh Thơ đã góp một phần không nhỏ vào thành tựucủa dòng thơ đồng quê
Những năm sau Cách mạng sức sáng tạo của Anh Thơ vẫn tiếp tục bền bỉ
và dẻo dai Thơ ca của bà không chỉ thể hiện tình yêu sâu đậm đối với quêhương đất nước mà còn ca ngợi nét đẹp của con người Việt Nam trong cuộckháng chiến, nét đẹp của cuộc sống mới đặc biệt là vẻ đẹp bình dị của người phụ
nữ Việt Nam
Đóng góp của bà đã phần nào được ghi nhận bằng những giải thưởng có
giá trị như: Giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn trao cho tập Bức tranh quê (1939); giải thưởng của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ cho truyện thơ Kể
chuyện Vũ Lăng (1956); giải thưởng Nhà nước đợt I về Văn học nghệ thuật năm
2001 và giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2006
Do đó việc nghiên cứu phong cách thơ Anh Thơ với những đặc trưngriêng trong cách thức tiếp cận cho phép khám phá cá tính sáng tạo và những nétđộc đáo về mặt nghệ thuật của nhà thơ nhằm xác định vị trí và vai trò của nhàthơ trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề.
Cũng như hầu hết các nhà Thơ mới, cuộc đời sáng tác của Anh Thơ trảiqua hai chặng đường: những năm trước và sau Cách mạng tháng Tám Trongsuốt quá trình đó, Anh Thơ đã sáng tác không ngừng nghỉ, điều đó được thể hiệnqua sự xuất hiện của hàng loạt tập thơ
Trang 7Ngay từ khi tập thơ Bức tranh quê xuất hiện trên thi đàn, nó đã trở thành
một hiện tượng mới mẻ, đặc sắc thu hút được sự quan tâm của người đọc Chúngtôi xin điểm lại những bài viết cơ bản về thơ Anh Thơ theo trình tự thời gian
Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã có bài viết và nhận xét về tác giả Anh Thơ, chủ yếu là tập trung nói về Bức tranh quê của nữ sĩ.
Hoài Thanh cho biết: Ông rất kính phục và ngạc nhiên trước tài thơ của AnhThơ Đó là một lối thơ giản dị, mộc mạc, tự nhiên nhưng rất dồi dào cảm xúc mà
không phải ai cũng làm được và ông đã nhận xét về Bức tranh quê: “Tập thơ
này cũng thuộc về lối thơ của người có học” [44, tr189], hay “nhiều lúc tôitưởng người đã đi quá xa Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàmxúc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề.Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: Người dẫn ta vào một thế giới
tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác nữa
Không, thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất với các
vì sao Thơ không cốt tả mà cốt gợi, gợi cảnh cũng như gợi tình Cho nên mỗilần Anh Thơ chịu đi ra ngoài lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắchơn, là thơ bỗng trở nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao Saucâu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: Có lẽ là hồn thi nhân” [44, tr189] Và Hoài
Thanh đã chọn những bài thơ tiêu biểu để in và Thi nhân Việt Nam như Chiều
Xuân, Trưa hè, Rằm tháng bảy, Bến đò ngày xưa.
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến thơ mới nói chung và thơ AnhThơ nói riêng
Việt Nam thi nhân tiền chiến của Nguyễn Tấn Long là một công trình
nghiên cứu khá đồ sộ về Thơ mới Nguyễn Tấn Long đã tìm hiểu, nhận xét, thẩmđịnh từng tác giả và đến nữ sĩ Anh Thơ, nhà nghiên cứu đã khẳng định “nữ sĩ lấythiên nhiên làm bối cảnh, lấy nếp sống nông thôn làm người sáng tác” [33,tr1294]
Trang 8Trong Thơ Mới - Bình minh thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn Quốc Túy
nghiên cứu tìm hiểu về nguồn gốc ảnh hưởng đối với phong trào Thơ Mới
Trong bài “Ảnh hưởng của văn hóa dân gian ca dao, dân ca đối với Thơ Mới”
và bài “Có một thế giới cổ tích trong Thơ Mới”, tác giả nhận định: Anh Thơ là
một nhà thơ tiêu biểu với đề tài nông thôn, với cảnh đẹp làng quê
Trong tác phẩm Một thời đại trong thi ca của Hà Minh Đức đã tập hợp
nhiều bài viết về các tác giả tiêu biểu như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận…Mặc dù chưa đề cập một cách trực tiếp về Anh Thơ nhưng đã khẳng định được
sự hiện diện của “nhóm thi sỹ đồng quê” trong đó Anh Thơ là một tác giả tiêubiểu
Trong cuốn Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca do Giáo sư Hà
Minh Đức và nhà thơ Huy Cận chủ biên, cũng đã tập hợp nhiều bài viết củanhiều nhà nghiên cứu Trong bài “Về Thơ mới” Huy Cận khẳng định sự gắn bó
“cội nguồn dân tộc”, “Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới mộtcách đậm đà đằm thắm Quê hương rõ ràng là máu thịt của hồn thơ trong “ChùaHương” của Nguyễn Nhược Pháp, “Bức tranh quê” của Anh Thơ
Phê bình bình luận văn học của Vũ Tiến Quỳnh, đề cập đến các nhà thơ
nữ tiêu biểu trong đó có Anh Thơ Công trình nghiên cứu này cho ta thấy vai trò,
vị trí của Anh Thơ trong hành trình thơ nữ Việt Nam và những nét cơ bản nhất
về con người, cuộc đời cũng như những tác phẩm tiêu biểu của Anh Thơ trước1945
Tủ sách văn học trong nhà trường của Lâm Quế Phong, tập hợp những bài
viết nghiên cứu về tác giả Thơ mới: Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ, AnhThơ Tập sách đã cho ta một cái nhìn khái quát nhất về toàn bộ sáng tác của AnhThơ
Gần đây ta thấy có một số luận văn viết về Anh Thơ như “Bức tranh quê
trong thơ Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ” của Nguyễn Thị Bình hay
“Dấu ấn văn hóa dân gian trong thơ Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn
Trang 9Nhược Pháp” của Lê Thị Thanh Yên hoặc “Nét đẹp văn hóa làng quê qua sáng tác của 4 nhà thơ Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, thuộc
phong trào Thơ Mới Việt Nam (1930 - 1945)” của Cao Thị Hảo Những công
trình nghiên cứu này đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quát nhất về
tập Bức tranh quê trên nhiều phương diện: con người, thiên nhiên, văn hóa.
Tạp chí Sông Hương, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế,
số 9, năm 2009 có bài viết ca ngợi thơ tình Anh Thơ: “Anh Thơ cũng có thơ tìnhnhưng viết theo định hướng nào, không phải là mối tình quê của trai gái vàobuổi hội hè mà chủ yếu là tâm tình của cô gái bước vào tuổi đang yêu Chỉ cónhững tâm trạng và xúc động giàu nữ tính trong buổi đầu đến với tình yêu,ngượng ngùng, chờ đợi, mong ước và cũng lo lắng băn khoăn” [11, tr20] Chùmthơ tình buổi đầu của Anh Thơ góp phần nói lên một phương diện đẹp của tìnhcảm Anh Thơ trong phong trào Thơ mới
Như vậy các công trình nghiên cứu về Anh Thơ trước và sau cách mạngmới chỉ lướt qua một vài khía cạnh, có tính khái quát mà chưa có những côngtrình chuyên sâu nghiên cứu về phong cách thơ Anh Thơ
Tuy nhiên những ý kiến đánh giá và nhận xét của những nhà nghiên cứu
đi trước là những định hướng quan trọng, đồng thời đó cũng là những gợi ý quýbáu để chúng tôi tham khảo đi vào tìm hiểu thơ Anh Thơ
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật và cá tính sáng tạocủa nhà thơ Anh Thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Tìm hiểu các tập thơ chính của Anh Thơ:
Bức tranh quê (1941), Kể chuyện Vũ Lăng (1957), Đảo Ngọc (1963), Theo cánh chim câu (1965), Hoa Dứa trắng (1967), Mùa xuân màu xanh
(1974), Quê chồng (1977), và những bài thơ lẻ khác đồng thời luận văn còn tìm
Trang 10hiểu qua những sáng tác văn xuôi của tác giả để thấy rõ được một cách đầy đủ
về sự nghiệp sáng tác của Anh Thơ Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành so sánhthơ Anh Thơ với một số nhà thơ khác để làm nổi rõ hơn những đặc điểm tươngđồng và khác biệt trong phong cách sáng tạo của Anh Thơ
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình tìm hiểu về phong cách thơ Anh Thơ, luận văn đã sử dụngnhững phương pháp nghiên cứu sau đây:
6 Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về phong cách nghệ thuật Anh Thơ từ Thơ mới đến thơ Cách mạng
Chương II: Phong cách thơ Anh Thơ nhìn từ phương diện nội dung
Chương III: Phong cách thơ Anh Thơ nhìn từ phương diện nghệ thuật thể hiện
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT ANH
THƠ TỪ THƠ MỚI ĐẾN THƠ CÁCH MẠNG
1 Những vấn đề chung về phong cách nghệ thuật.
Khi nói đến khái niệm phong cách là nói đến một vấn đề phức tạp bởi từtrước tới nay chúng ta chưa đi tới một khái niệm phong cách thống nhất, chính
vì vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phong cách
Phong cách được hiểu là những khám phá nghệ thuật mang tính cá nhânđược định hình thành những nét chủ đạo lặp đi lặp lại trong sáng tác của một tácgiả nào đó Phong cách nghệ thuật trước hết hình thành từ cá tính sáng tạo củatác giả, nhưng cá tính sáng tạo chưa phải là phong cách Nhìn chung khái niệmphong cách thường được dùng để định vị cho những nét nghệ thuật của nhữngtác giả có đóng góp lớn, trong khi đó bất kỳ nghệ sĩ nào hoạt động trong lĩnh vựcnghệ thuật cũng đòi hỏi cá tính sáng tạo riêng
Nhà văn Pháp Bufo (Buyffông) định nghĩ: Phong cách chính là người.Theo Phương Lựu: “Phong cách là cái còn lại hoặc hạt nhân mà sau khi từnhà văn chúng ta bóc đi những cái không phải bản thân anh ta và tất cả nhữngthứ mà anh ta giống với người khác” Phong cách được ông hiểu có tầm quantrọng đặc biệt Một nhà văn không có phong cách tức là anh vẫn còn chưa địnhhình được ngòi bút của mình vẫn bị lẫn vào đám đông Vì quan niệm này, chonên nhiều người hiểu khái niệm phong cách bao gồm trong đó sự đánh giánhững đóng góp lớn lao về mặt nghệ thuật
Trang 12Chẳng hạn phong cách của các tác giả lớn trong văn học Việt Nam nhưNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân…Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm phong cách được hiểu nghiêng nhiều hơn về phía
cá tính sáng tạo và nếu nghệ sĩ có những đóng góp nhất định về nghệ thuật đều
có thể được xem là có phong cách nghệ thuật
Thực chất của vấn đề phong cách chính là cách nhìn, cách quan niệm củanhà văn về thế giới và con người
Nhà văn Pháp M.Proust khẳng định, thực chất của vấn đề phong cáchchính là “vấn đề cái nhìn”
Cái nhìn này tạo ra những yếu tố trội, làm nên nét riêng của nhà văn, làmanh ta nổi bật giữa những cá tính và phong cách khác Vì vậy, nghiên cứu phongcách nghệ thuật phải chỉ ra đặc trưng văn chương của một tác giả Nói như ĐỗLai Thúy “trong những “bức tranh nghệ thuật” của nhà thơ thế nào cũng có mộtyếu tố trội bắt tất cả những yếu tố còn lại phải phục tùng nó, phải phản chiếu ánhsáng của nó” Do đó, cần phải sử dụng phương pháp so sánh đồng đại và lịch đạimột cách tinh tế nhằm chỉ ra những yếu tố trội đó
Theo Raymond Carver, một nhà văn hiện đại xuất sắc Hoa Kỳ thế kỷ XXthì: “Mỗi nhà văn vĩ đại hay thậm chí mỗi nhà văn rất giỏi đều sáng tạo nên thếgiới phù hợp với chính đặc tính của anh ta” Nói cách khác, thế giới nghệ thuậtcủa nhà văn tương thích với phong cách nghệ thuật của nhà văn đó Mối quan hệqua lại này cho phép chúng ta đi từ văn bản nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra đểchỉ ra đặc trưng phong cách nghệ thuật của nhà văn đó… “Đây là dấu ấn khôngthể nhầm lẫn và đặc thù của nhà văn trên mọi thứ anh ta sáng tạo Đấy là thế giớicủa riêng anh ta chứ không phải của bất kỳ một ai khác Đây là một trong nhữngđiều phân biệt nhà văn này với nhà văn nọ (…) một nhà văn thì phải có cáchnhìn đặc biệt nào đó về sự vật và phải in cách diễn đạt nghệ thuật lên cách nhìnđó” [13, tr356]
Trang 13Theo nhà thơ Hoàng Trung Thông: Phong cách và cá tính nhà văn khôngphải là cái gì khó hiểu Đó là biểu hiện của mỗi nhà văn trong khi xây dựng chủ
đề, nhân vật, trong khi vận dụng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học.Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật phải tự tạo cho mình một phongcách riêng, một điệu cảm xúc riêng [24, tr14]
Theo Nguyễn Đăng Mạnh, nói đến phong cách phải nói đến tính thốngnhất của nó, tức là tính độc đáo trong việc kết hợp những nét đặc sắc về nộidung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Nó bao gồm các yếu tố như cá tính củanhà văn, kiến thức, vốn sống, quan điểm sáng tác, nội dung đề tài, nội dung hìnhtượng, phương pháp sáng tác, thể loại, ngôn ngữ… mà cụ thể ở đây là cá tínhcủa chủ thể sáng tạo và sự tự do lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ để thể hiện
nó trong tác phẩm
Đỗ Lai Thúy, trong Con mắt thơ, với phụ đề: Phê bình phong cách Thơ
mới, trước khi đi vào phân tích từng phong cách cá nhân có lưu ý đến hoàn cảnhlịch sử - xã hội nảy sinh hiện tượng Thơ mới, khẳng định các nhà Thơ mới có
“một cái nhìn thế giới” khác với các nhà thơ cổ Điều này cho thấy, phong cách,xét cho cùng sẽ biểu hiện cụ thể nhất ở “cách nhìn” này Tuy nhiên, ông cũngcho rằng, nếu cái nhìn nghệ thuật chung cho cả dòng thơ như một chuẩn, mộtphong cách chung cho cả một thời đại thi ca thì từng cái nhìn nghệ thuật riêngcủa mỗi thi nhân là một lệch chuẩn Chính sự lệch chuẩn này tạo nên phong cách
cá nhân của nhà thơ Như vậy nghiên cứu phong cách thơ Anh Thơ không thểtách rời với phong trào Thơ mới và thơ ca Cách mạng
2 Anh Thơ trong hành trình thơ nữ Việt Nam hiện đại.
2.1 Tác giả Anh Thơ.
Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh ngày 25/01/1921 tại Ninh Giangthuộc tỉnh Hải Hưng Cha là Vương Đan Lộc đỗ tú tài khoa thi Hương cuối cùngcủa chế độ nhà Nguyễn Mẹ là bà Kiều Thị Thư, con gái cụ Phó Bảng
Trang 14Kiều Oánh Mậu, người đã có công lớn trong việc hiệu đính và chú giải truyệnKiều.
Cha nữ sĩ là một công chức nên thường xuyên thuyên chuyển công tác, dovậy chưa qua cấp tiểu học mà Anh Thơ đã phải thay đổi trường 3 lần (HảiDương, Thái Bình rồi Bắc Giang)
Từ bé, chịu ảnh hưởng thơ văn yêu nước của ông ngoại, thấm đậm chấtthơ dân gian trong các chuyện cổ do bà nội kể, bảy tuổi Anh Thơ đã mê thơ vàgiấu cha mẹ tập làm thơ và đến năm 14 tuổi bà đã có thơ đăng trên các báo ĐôngPhương, Tiểu thuyết thứ Năm, báo Đàn Bà…
Anh Thơ đặt chân vào lãnh địa thơ tiền chiến khoảng năm 1936, giai đoạn
mà phong trào Thơ mới đang ở thời kỳ vàng son Khi mới bước vào làng thơ, nữ
sĩ lấy bút hiệu là Tuyết Anh, sau đổi thành Hồng Anh và cuối cùng lấy bút hiệu
là Anh Thơ Bà đã từng công tác trên nhiều tạp chí xuất bản tại Hà Nội từ 1938
-1943 có thể kể đến tờ “Tiểu thuyết thứ Năm”, báo “Ngày Nay”, Hà Nội Báo”,
“Phụ nữ”, “Bạn Đường”…
Riêng về thơ trước cách mạng, Anh Thơ chỉ có hai tập là Bức tranh quê và
Xưa Tập Bức tranh quê được trao giải thưởng của Tự lực văn đoàn và được xuất
bản lần đầu năm 1941 bởi Nhà xuất bản Đời Nay, Hà Nội Tập “Xưa” xuất bản
năm 1941 cộng tác với Bàng Bá Lân bởi Nhà xuất bản Sông Thương, Bắc
Giang Ngoài ra, Anh Thơ còn viết tiểu thuyết Răng Đen xuất bản 1943 do Nhà
xuất bản Nguyễn Du
Năm 1945, Anh Thơ tham gia Cách mạng và bà vẫn tiếp tục sáng tác Từ
sau Cách mạng tháng Tám cho đến khi mất bà có những tác phẩm sau: Kể
chuyện Vũ Lăng (truyện thơ 1957), Theo cánh chim câu (thơ, 1960), Đảo Ngọc
(thơ, 1964), Hoa dứa trắng (thơ, 1967), Mùa xuân màu xanh (thơ, 1973), Quê
chồng (thơ, 1977), và bộ hồi ký văn học: Từ bến sông Thương (1986), Tiếng chim tu hú (1995) và Bên dòng chia cắt (2002).
2.2 Anh Thơ quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời.
Trang 15Trong suốt quá trình sáng tác, từ những tác phẩm đầu tiên là tập Bức
tranh quê cho đến những tác phẩm cuối cùng - tập thơ Cuối mùa hoa, Anh Thơ
luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi để tạo cho mình một phong cách sáng tác riêng,
độc đáo
Anh Thơ quan niệm: “Thơ phải ngắn gọn, không nên rườm rà, phải nói ítviết ít mà người đọc lại hiểu nhiều Thơ hay phải là những gì tinh túy, vĩnh cửunhất từ tâm hồn con người Người làm thơ cũng đừng cầu kì câu chữ quá màkhiến cho người đọc khi đọc rồi cứ phải suy luận Thơ là hào quang soi rọinhững bước đường kháng chiến gian khổ nhất Thơ giải phóng được cuộc đờibình lặng của lớp người con gái dưới thời phong kiến Tôi yêu thơ như yêu một
lẽ sống ý nghĩa nhất trong cuộc đời tôi” Quan niệm này của Anh Thơ được thểhiện rõ nét trong hầu hết các sáng tác của bà
Ngay từ khi làm tập thơ Bức tranh quê, Anh Thơ đã phải trải qua rất nhiều
khó khăn, bị cha ngăn cấm, bị cha bắt được và đánh đòn, may nhờ chị Hai vàcác em giúp đỡ: “Mỗi buổi trưa, chị Hai bưng quả trầu, thúng khâu lên gác, các
em tôi ngồi suốt dọc cầu thang để canh Tôi có một quyển sổ nhỏ và chiếc bútchì Hễ có động là tôi dễ dấu” [8, tr44]
Và khi có thời gian để làm thơ, Anh Thơ cũng luôn băn khoăn, lúng túngkhông biết mình sẽ viết những gì trong thơ đây? Bởi nếu “Thơ tình yêu say mênhư Xuân Diệu? Nhưng tôi đã được yêu và biết yêu đâu? Như Chế Lan Viên nhớ
xứ Chàm nhưng có biết xứ Chàm ở đâu? … Vậy thì viết gì? Tôi lại làm thơ vềphong cảnh xóm làng vậy” [8, tr44-45] Vậy là Anh Thơ chỉ có thể viết về cuộcsống nông thôn; xóm làng có những gì, quê hương có những gì, bà cứ miêu tảnhư vậy, chân chất, giản dị mà mộc mạc, dễ đi vào lòng người Bà tả cảnh bốnmùa; cảnh mưa nắng; cảnh lụt, cảnh hạn; bà tả phiên chợ, đám cưới, đám ma,ngày Tết Cứ nghĩ đến đâu, thích cảnh gì bà làm một bài thơ cảnh đó, cảnh vàngười đã thấm sâu vào máu thịt, và rồi ba mươi bài thơ đã được hoàn thành
Trang 16Và ngay cả khi tập thơ Bức tranh quê đoạt giải khuyến khích của Tự lực
văn đoàn (thơ không có giải nhất, giải nhì, chỉ có giải khuyến khích dành choAnh Thơ và Tế Hanh), Anh Thơ cũng không vì thế mà tự kiêu, tự cho mình làgiỏi mà ngược lại Anh Thơ đã rất khiêm tốn, chân thành Bà đọc lại những lờinhận xét, đánh giá của ban giám khảo về những hạn chế cũng như những ưu
điểm đối với tập thơ Bức tranh quê của mình.
Đối với những hạn chế của tập thơ, Anh Thơ đã đọc đi đọc lại rất nhiềulần, tự rút kinh nghiệm cho bản thân, bà đã nghĩ: “Đến tập thơ thứ hai, tôi sẽtránh được những khuyết điểm này” [8, tr56]
Bên cạnh những hạn chế thì tập thơ cũng được đánh giá rất cao Nhất Linh(thành viên của ban giám khảo) đã nhận xét: “Những nhận xét của cô Anh Thơ rấtđúng Có khi đúng đến nỗi làm người ta phải ngạc nhiên và chịu phục (…) Trong
bài “Chợ mùa hè” có hai câu tỏ rõ tài nhận xét của cô Anh Thơ đến cực điểm:
“Chó le lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóngLợn trói nằm hồng hộc thở căng giây” [8, tr54]
Hay Bàng Bá Lân nhận xét: “Thơ cô rất độc đáo (…) cô lại có tài quansát, khiến tôi cũng giống Nhất Linh, là rất phục cô” [8, tr77] Có thể thấy, AnhThơ đã viết được như những gì bà quan niệm đó là thơ phải ngắn gọn, giản dị,
dễ hiểu, dễ đi vào lòng người
Những năm sau cách mạng, cuộc kháng chiến trường kì và gian khổ của
cả dân tộc đã giúp Anh Thơ có thêm cách nhìn mới về cuộc đời, về nghệ thuật.Đối với bà, bây giờ không phải chỉ ngồi một chỗ để nghĩ và viết ra thơ mà đểsáng tác những bài thơ hay, có giá trị, người nghệ sĩ cần phải đi thâm nhập cuộcsống, phải lăn lộn với cuộc đời, để hiểu và cảm thông với sự vất vả của cả dântộc trong giai đoạn “ngàn cân treo sợi tóc” thì mới ra được những vần thơ hay
Trong một lần Xuân Quỳnh đem sáng tác của mình đến hỏi Anh Thơ, AnhThơ đã tâm sự: “Ai làm thơ qua tập đầu rồi đến tập thứ hai cũng phải chật vậtmột thời gian để có vốn sống mới, em ạ Em nên xin đi thực tế, để lăn lộn
Trang 17với cuộc sống thơ sẽ bật ra”… hay “Cuộc sống thay đổi càng cho em nhiều vốnsống để sau này viết em ạ Các nhà thơ lớn từ đông sang tây có ai được một cuộcsống ổn định đâu? Như cụ Nguyễn Du đấy Biết đâu sau này thơ em lại nổi, vìcuộc sống vất vả hôm nay…” [48, tr360 - 361].
Những tâm sự chân thành của Anh Thơ dành cho Xuân Quỳnh là nhữngkinh nghiệm được Anh Thơ đúc kết và trải nghiệm trong quá trình sáng tác, điềunày đã được minh chứng qua hầu hết các tác phẩm của bà Sau cách mạng vàkháng chiến, Anh Thơ đã trải qua rất nhiều công việc khác nhau như làm báo,công tác phụ nữ, cứu thương, bình dân học vụ… và bà cũng đã đi rất nhiều nơi
từ Bắc vô Nam, từ miền xuôi đến miền ngược; qua bất kì vùng miền nào bà cũng
ghi lại trên những trang thơ như khi ra thăm đảo Cô Tô, bà viết Đảo Ngọc; những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Anh Thơ đi thực tế ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, bà viết hai tập thơ Hoa dứa trắng và Mùa xuân màu xanh; sau ngày giải phóng miền Nam, Anh Thơ đi thực tế các tỉnh phía Nam, bà viết tập thơ
Quê chồng.
Có thể thấy, trong số các nữ thi sĩ của lớp trước, Anh Thơ là cây bút sungsức Bà đi nhiều, viết nhiều nên tầm hiểu biết xã hội của Anh Thơ vượt lên rấtnhiều Điều đó thật đáng trân trọng bởi Anh Thơ đã phải rất cố gắng để từ một
cô gái tỉnh lẻ, trong một gia đình phong kiến trở thành nhà thơ Cách mạng vớinhững đóng góp to lớn cho nền thơ ca dân tộc
2.3 Anh Thơ trong phong trào Thơ mới.
2.3.1 Khái quát về phong trào Thơ mới.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng, mở đầu cho cuộcxâm lược kéo dài gần trăm năm ở nước ta Từ 1858 đến hết thế kỷ XIX, thựcdân Pháp chủ yếu có những hoạt động về quân sự và đến đầu thế kỷ XX, chúngmới thực sự tiến hành cuộc khai thác thuộc địa về kinh tế Sau hai cuộc khai thácthuộc địa, cơ cấu xã hội Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc Từ Nam chíBắc, nhiều đô thị, thị trấn mọc lên như những trung tâm kinh tế, văn hóa, hành
Trang 18chính của xã hội thực dân, xuất hiện nhiều tầng lớp xã hội mới như tư sản, tiểu
tư sản, công nhân Những tầng lớp này có nhu cầu văn hóa thẩm mĩ mới, họ tạothành một công chúng văn học ngày càng đông đảo và đòi hỏi một thứ vănchương mới, chính vì thế đã có tác động trực tiếp, không nhỏ đến đời sống củanền văn học đương thời, do đó văn học trong thời kỳ này (từ đầu thế kỷ XX đếnCách mạng tháng Tám 1945) đã có những bước chuyển biến vượt bậc
Đặc biệt là văn học từ 1930 - 1945, chỉ trong vòng mười lăm năm, vănhọc Việt Nam đã phát triển với một tốc độ nhanh chóng, có sự cách tân văn họcsâu sắc ở các thể loại và xuất hiện nhiều trào lưu văn học khác nhau: Văn họclãng mạn, văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng Mỗi một trào lưu vănhọc đều mang một đặc điểm riêng, có sự phát triển riêng song cùng song songtồn tại và góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền văn học Việt Nam
Trào lưu văn học lãng mạn với nhân tố chính là “phong trào Thơ mới” đã
có tác động đến sự phát triển của văn học lãng mạn nói riêng và văn học dân tộcnói chung Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) xuất hiện đã mở ra một cuộc cáchtân sâu sắc và toàn diện cho thi ca Việt Nam đầu thế kỷ XX: “Phong trào Thơmới là một cuộc cách tân thi ca chưa từng có trong văn học dân tộc Nó chẳngnhững đem lại những tác phẩm hay, những nhà thơ độc đáo mà đặc biệt là đemlại một phạm trù thơ hiện đại, một thi pháp mới, một kiểu trữ tình mới, phân biệt
và thay thế cho thơ trữ tình cổ điển truyền thống” [41, tr11]
Đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền văn học dân tộc, do đóThơ mới nổi bật với những nét đặc trưng không giống với thi ca của bất cứ giaiđoạn nào
Ra đời trong một hoàn cảnh xã hội tương đối đặc biệt với nhiều biến động
về chính trị, kinh tế, văn học nên các nhà Thơ mới với một tâm hồn dễ rungđộng và nhạy cảm trước những biến đổi của cuộc sống đã muốn thoát ra khỏicuộc sống thực tại, họ không chấp nhận một cuộc sống tẻ nhạt, nhàm chán, đơnđiệu, chính vì vậy họ đã chối từ thực tại xã hội, thực tại tầm thường để mơ ước
Trang 19đến một thế giới khác tươi đẹp hơn và họ đã quay trở về quá khứ để tìm thấytrong quá khứ một thế giới huyền ảo, mộng mơ; một thế giới của chốn bồng lai,tiên cảnh mà ta bắt gặp trong thơ Thế Lữ:
“Bồng lai muôn thủa vườn xuân thắm Sán lạn, u huyền, trong khói hương”.
(Mưa hoa)hay đó là giấc mơ của chúa sơn lâm khi nhớ về đại ngàn, nhớ về những ngàytháng oai hùng đã qua:
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Tay say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gợi, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? ”.
Là hình ảnh Chế Lan Viên thả hồn trong âm u với những tháp chàm, với
sự nuối tiếc về dân Chàm vong quốc; là Nguyễn Nhược Pháp khi tìm về vớitruyền thuyết Phong Châu: Mị Nương, Sơn Tinh, Thủy Tinh Và ông đồ Vũ ĐìnhLiên với nỗi lòng canh cánh hoài cổ, về những tiếng loa xưa:
Lòng ta là những hàng thành quách cũ
Tự nghìn năm vẫn vẳng tiếng loa xưa”.
(Lòng ta là những hàng thành quách cũ)cũng như:
“Những người muôn năm cũ Hồn ở đây bây giờ”.
Song chúng ta nhận thấy các nhà Thơ mới tìm về quá khứ không phải vớimột thái độ tiêu cực trốn tránh cuộc đời mà là tìm lại những nét đẹp xưa, đó là
sự trân trọng đối với những tinh hoa của cội nguồn dân tộc
Trang 20Thơ mới ra đời đồng nghĩa với sự khẳng định cái tôi cá nhân đã chiếnthắng “cái phi ngã” trong văn học theo kiểu Á Đông xưa Thực ra không phải chỉđến văn học giai đoạn 1930 cái tôi mới xuất hiện mà trước đó ta đã bắt gặp mộtcái tôi với khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong thơ Hồ Xuân Hương; một cái tôiđầy bản lĩnh cá tính trong thơ Nguyễn Công Trứ, trong thơ Á Nam Trần TuấnKhải hoặc trong thơ Tản Đà… nhưng các tác giả chưa thể bộc lộ cái tôi như mộtkhuynh hướng, một trào lưu văn học thực sự Và chỉ từ sau 1930, cái tôi cá nhânmới thực sự được đề cao, chính vì vậy đã xuất hiện hàng loạt “cái tôi” trong độingũ tác giả Thơ mới: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần mộthồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như HuyThông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa nhưNguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn nhưXuân Diệu” [44, tr29].
Tuy nhiên Thơ mới không chỉ đề cao “cái tôi cá nhân”, sự “tự do cá nhân”
mà trong mạch ngầm cảm xúc của nó còn “len lỏi một mạch tình cảm đáng quý:tâm sự yêu nước thầm kín, thiết tha” [23, tr13] và đặc biệt hơn, chúng ta còn tìmthấy ở đó sự trân trọng, nâng niu những nét đẹp của phong tục, tập quán ViệtNam, những nét đẹp của văn hóa làng quê đã tồn tại hàng ngàn đời nay vớinhững tác giả tiêu biểu như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân và AnhThơ - nữ thi sĩ đã để lại dấu ấn đặc biệt trong phong trào Thơ mới
2.3.2 Đôi nét về các nhà thơ nữ trong phong trào Thơ mới.
Trong phong trào Thơ mới, những cây bút nữ chiếm vị trí không nhỏ và
đã có những đóng góp quan trọng vào sự hình thành và phát triển của nền thơ cadân tộc
Nhìn lại văn học Việt Nam thời trung đại đã có những cây bút nữ nổi tiếngnhư Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, song số lượngthật là hiếm hoi Người ta cắt nghĩa hiện tượng này là do chế độ phong kiến hàkhắc, người phụ nữ không được học hành thi cử; bốn chữ vàng "công,
Trang 21dung, ngôn, hạnh" đã bó buộc người phụ nữ vào bổn phận làm vợ, làm mẹ, tuyệtnhiên không tham gia vào công tác xã hội Vì vậy, họ hiếm có điều kiện để gặp
gỡ và tham gia trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Nho giáo luôn "trọng namkhinh nữ" nên họ quan niệm rằng người phụ nữ học để làm gì? học biết chữ đểthêm lý sự với chồng và lười nhác mà thôi
Thế nhưng sang giai đoạn văn học 1930 - 1945, nếu như "Thơ mới là bìnhminh của thơ Việt Nam hiện đại" thì các nhà thơ nữ có quyền tự hào rằng từ buổibình minh của thơ Việt Nam hiện đại họ đã có mặt Nhà thơ Nguyễn Thị ManhManh là một trong số những người đi tiên phong cho sự lên ngôi và thắng thếcủa Thơ mới Các tên tuổi khác như Mộng Tuyết, Ngân Giang, Vân Đài, HằngPhương, và đặc biệt là nữ sĩ Anh Thơ đã bước vào làng Thơ mới và để lại nhữngdấu ấn riêng
Trong Thi nhân Việt Nam, viết về Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã
mô tả: "Khi nhà thơ Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân dõng dạc bước
ra trận để kết án lối thơ cũ, thì lập tức nhờ có tờ Phụ nữ tân văn lời nói của ông
đã được truyền bá khắp nơi…" và người ủng hộ ông đầu tiên là một bài thơ viếttheo lối mới của một phụ nữ ký tên là Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn ThịKiêm) và Hoài Thanh đã viết tiếp: "Thơ mới đã bắt đầu có cơ sở Trong làngThơ mới người ta càng sốt sắng thêm Từ hai tháng trước, hôm 26-7-1933 một
nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội khuyến học SàiGòn hết sức tán dương Thơ mới Hội khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ
đã 25 năm Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng là lần thứ nhất có mộtcuộc diễn thuyết được đông người nghe đến như thế" [44, tr22] Và bà đã có cả
một bức thư viết bằng thơ "gửi tất cả những ai ưa hay ghét bỏ lối thơ mới".
"Bây giờ tôi thử khuyên khách làm thơ Đổi lại, ai ưa thơ mới lo tìm chỗ dở
Ai ghét, rán kiếm cái hay của thơ Vậy, chê, khen, có giá trị hoa mới sẽ nở".
Trang 22(Bức thư gửi tất cả những ai ưa hay ghét bỏ lới thơ mới.
Nguyễn Thị Manh Manh).Người nữ sĩ thứ hai của phong trào Thơ mới được nhiều bạn đọc biết đến
là Mộng Tuyết Mộng Tuyết tên thật là Lâm Thái Úc - bà còn có những bút danhkhác như Hà Tiên Cô, Thất Tiểu Muội, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Bân Bân nữsĩ…
Thơ Mộng Tuyết là tiếng lòng hồn nhiên, trong trẻo của một người congái, người con gái ấy nhiều khi còn thẹn thùng, e ấp, trước cả vẻ đẹp của chínhbản thân mình:
"Nhớ chuyện đêm qua còn thẹn thùng;
Mặt hồ phẳng lặng ánh trăng trong, Trễ trùng xiêm áo em đang tắm, Làn nước vờn da em lạnh lùng".
(Em xấu hổ)Nếu cho rằng Thơ mới là tiếng nói của những cá nhân, của những tâm hồnvới khát vọng thành thực muốn "nói rõ những điều kín nhiệm" thì tâm hồn thơMộng Tuyết không nằm ngoài cái biên độ đó Người con gái thẹn thùng, e ấptrên kia cũng là người con gái không muốn giấu giếm những khát vọng trẻ trungmãnh liệt của mình: yêu và được yêu:
"Nguồn trong nước sạch mơn man,
Để em xuống tắm gội làn tóc xanh.
Cho anh đặt chiếc lược tình, Món hương trinh bạch để dành từ xưa.
Tâm tình mơn mởn đào tơ, Tặng anh giữa cảnh nên thơ suối rừng".
(Hương rừng)
Trang 23Vẻ đẹp của thơ Mộng Tuyết không phải là vẻ đẹp của cấu tứ và kỹ thuật
mà nó có sức lay động ở sự trong trẻo trong cảm xúc và những hình ảnh có sứcgợi:
"Trăng chảy ngập đường đi thuở ấy,
Để người soi bóng bước song song.
Rồi trăng từ đó tương tư bóng, Chảy ngập đường đi khắp nẻo lòng.
(Bóng trăng tương tư)
và cao hơn còn là vẻ đẹp của một tâm hồn không chỉ quẩn quanh trong nhữngtình cảm riêng tư mà còn biết hướng tâm hồn đến mọi người với một tình yêurộng lớn Người đọc hẳn sẽ ngạc nhiên và cảm động khi thấy một người con gáichỉ luôn sống trong lầu son gác tía, tưởng như chỉ biết:
"Chiều xuân khép cảnh khuê phòng, Soi gương sửa lại má hồng vui vui".
lại cũng là một thi sĩ có trái tim không vô tình khi nghe tin:
"Nghe nói Tràng An giá gạo cao Đói cơm cửu hạn khát mưa rào".
(Giá gạo Tràng An)Chia xẻ với những khó khăn của đồng loại, nhà thơ băn khoăn tự hỏi:
"Chị nghèo biết giúp gì em nhỉ" và trước nạn đói 1945, trước những nỗi thốngkhổ của đồng bào mình, Mộng Tuyết đã đau đớn thốt lên:
"Ai làm non nước chia ba?"
Và nhà thơ đã kêu gọi mọi người hãy vì "tình máu mủ" mà "nhường cơm
xẻ áo"
Trang 24Có thể thấy tiếng thơ ấy cất lên từ một trái tim nhân hậu, từ một trái timbiết yêu thương đồng loại, nhưng nó còn có giá trị hơn khi đặt bên cạnh nhữngtiếng thở dài não nùng của Thơ mới.
Bên cạnh Nguyễn Thị Manh Manh, Mộng Tuyết thì Hằng Phương cũng làmột nữ sĩ có nhiều đóng góp cho phong trào Thơ mới
Hằng Phương nhập cuộc làng thơ bằng bài thơ đầu tay Nhớ con nhỏ Bội
Trinh (1929) đăng trên tờ Phụ nữ tân văn Từ đó, Hằng Phương cũng có nhiều
thơ đăng trên các báo Đàn bà, Tri tân, Ngày nay, Hà Nội tân văn, Phụ nữ tân văn
và in chung với Anh Thơ, Mộng Tuyết, Vân Đài tập thơ Hương Xuân (1943).
Nhà thơ Xuân Diệu không phải ngẫu nhiên đã từng cho rằng chữ "Tâm" làmạch cảm xúc chính trong thơ Hằng Phương Nét nổi bật trong thơ bà là tâmhồn đầy ắp yêu thương, là niềm khắc khoải khôn nguôi của một người con luôngắn bó với cội nguồn:
"Mòn mỏi ngày đêm trông lại trông
Cố hương xa cách mấy nghìn trùng".
(Tự cố hương)Nếu Mộng Tuyết thường lấy nguồn cảm xúc của tâm hồn mình để phủ lênmọi vật thì Hằng Phương dường như ngược lại: cảnh vật bình dị xung quanhluôn là những đề tài mang lại cho bà nguồn cảm hứng, tứ thơ Mỗi ban mai thứcdậy, nhà thơ phát hiện ra:
"Sương đêm còn đọng trên cành Rưng rưng hạt ngọc long lanh nhìn trời"
(Bình minh)
và Hằng Phương luôn lấy tình quê của mình làm đối tượng để giãi bày nguồn thi
hứng Những bài thơ viết về quê hương của Hằng Phương như Tự cố hương,
Tiễn biệt và đặc biệt là Lòng quê là những bài thơ hay được bạn đọc chú ý.
Trang 25Trong làng thơ nữ của phong trào Thơ mới nổi bật lên một bông hoa vớimuôn sắc màu đó chính là Anh Thơ Anh Thơ đã trình diện làng Thơ mới bằng
một sự khởi đầu đầy tốt đẹp với tập thơ Bức tranh quê.
Nhìn trong tương quan với phong trào Thơ mới và trong cả sự nghiệp
sáng tác thì Bức tranh quê quả là khiêm nhường Thế nhưng trong sự khiêm nhường tưởng chừng nhỏ nhoi đó, Bức tranh quê đã tạo được cho mình một sắc
thái riêng biệt độc đáo Nét riêng biệt ấy được tạo nên từ thi hứng về làng quê,
về nếp sống và phong tục miền thôn dã Anh Thơ đã chịu nhiều ảnh hưởng bởithơ văn yêu nước từ ông ngoại, thấm đượm chất thơ dân gian trong các chuyện
cổ do bà nội kể
Khi sáng tác Bức tranh quê, Anh Thơ đã tự tách thi hứng của mình ra
ngoài những biến động xã hội nên thơ nữ sĩ không bị xoay vần theo cái gọi là
"mưa Âu gió Mĩ" Thực ra, trước khi sáng tác Bức tranh quê, bà cũng có sáng tác những vần thơ buồn và lãng mạn như ở Nàng Thu đăng trên Tiểu thuyết thứ
Năm Thế nhưng tâm hồn thơ nữ sĩ "không thích cái giọng buồn chung chunggiống với mọi người, bà đã tâm sự: "Tôi thấy mình cũng có một xứ quê rộngkhắp châu thổ sông Hồng Những nơi tôi theo bố tôi làm việc thời Pháp thuộc vànhất là nơi có con sông Thương đầy nước mắt biệt ly của những đôi vợ chồnglính thú từ xưa Cộng lại những làng xóm, bến sông, ao làng, đồng ruộng, nhữngcon người chân chất mộc mạc mà tôi yêu thương Thế là tôi bắt đầu viết Lời thơ
trong Bức tranh quê có những vần còn thô sơ, nhưng có những câu hay mà đến
bây giờ trình độ có vượt hơn trước rất nhiều tôi cũng không làm được" [20,
tr11] Thật vậy, đọc Bức tranh quê đâu đâu người đọc cũng bắt gặp phong cảnh
thiên nhiên của làng quê Việt Nam, nếp sống nông thôn, phong tục nông thôn; tabắt gặp "những câu thơ kết hợp xưa - nay, hiện đại và truyền thống, mà thực rachưa một thi sĩ nào đã viết được thế" [32, tr76]
"Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi".
Trang 26Xưa kia các thi nhân đời Đường nhìn mây trắng bay hoài bất tận "bạch
vận thiên tải không du du" mà buồn, thì nay nữ sĩ tả trời xanh mây đi vắng mà
buồn thì thật là đầy sáng tạo, độc đáo,
Và đây nữa, một bức tranh của một buổi Chiều xuân, với 3 khoảng khônggian khác nhau:
"Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
… Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ Đàn sáo đen xà xuống
mổ vu vơ
… Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng Lũ cò non chốc chốc vụt bay ra…".
(Chiều xuân)Khung cảnh thiên nhiên này dứt khoát chúng ta không thể tìm thấy ở mộtthành phố ồn ào, náo nhiệt Muốn thưởng thức nó ta phải trở về với những vùngquê của đồng bằng Bắc Bộ, cùng với nhà thơ thả tâm hồn mình hoà vào cuộcsống thanh bình yên ả của đồng quê
Và đây nữa, một đêm 30 Tết thật đáng nhớ - đó là thời khắc chuyển giaogiữa năm mới với năm cũ đầy thiêng liêng Nhà thơ thật tinh tế khi phát hiện ranhững tình cảm, tâm trạng thật khác nhau nhưng cũng rất điển hình của ngườidân quê trong đêm giao thừa đầy ấm cúng bên nồi bánh chưng xanh đang nghingút khói:
"Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục Thằng cu con rụi mắt cố chờ ăn
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm".
(Đêm ba mươi tết)
Trang 28-21-Có thể thấy Bức tranh quê của Anh Thơ mang một nét đẹp đồng nội ngọt
ngào để rồi trong cuộc thi sáng tác văn chương do nhóm Tự Lực Văn Đoàn tổchức năm 1939 (gồm nhiều bộ môn như kịch, thơ, truyện ngắn, truyện dài, hồi
ký, phóng sự…) tập thơ này đã đạt giải khuyến khích Đây là sự khích lệ chonhững cố gắng của Anh Thơ trên con đường lần đầu ngập ngừng đến với thơ,cũng là sự khẳng định về sự tiếp nhận ở người đọc đương thời và là một sự dự
báo về sức sống của hồn thơ Bức tranh quê trong tương lai Và sau này các nhà phê bình cũng đã dành cho Bức tranh quê những nhận xét tốt đẹp: "Thật khó
tưởng tượng bức tranh về nông thôn Việt Nam sẽ ra sao nếu bên cạnh một Bàng
Bá Lân, một Đoàn Văn Cừ sẽ thiếu đi một Anh Thơ", hay "Hơn nửa thế kỷ qua
trên Bức tranh quê, buổi họp chợ ngày nay có nhiều sản vật hơn trước không,
ngày đại hạn có giảm chưa cái cảnh các cô gái… chán nản tát đồng không, bến
đò ngày mưa có thể có đò máy, đám xẩm trở thành những đoàn chèo hay những
đội văn công… Bức tranh quê vẫn còn giá trị nguyên vẹn và bút pháp vẫn là
vầng hào quang toả sáng suốt con đường văn nghiệp của chị"
Tóm lại với 80 thi nhân của phong trào Thơ mới (Theo cuốn "Thơ mới
1932 - 1945" tác giả và tác phẩm NXB Hội Nhà văn 1998), những cây bút nữ
chỉ chiếm một số lượng nhỏ với 9 gương mặt nhưng khi nhắc đến Thơ mới chắchẳn bạn đọc không thể không nhớ đến một Anh Thơ chân tình mộc mạc, mộtMộng Tuyết trong trẻo, hồn nhiên; một Hằng Phương đằm thắm, dịu dàng… vàbấy nhiêu thôi cũng đã góp phần cho nền thơ ca dân tộc thêm đa dạng, phongphú về màu sắc và giọng điệu
3 Anh Thơ và những chặng đường thơ sau Cách mạng.
Cuộc cách mạng Tháng Tám 1945
nguyên mới: Kỷ nguyên của độc lập, tự do
lịch sử to lớn ấy đã kéo theo một cuộc cách
đã mở ra cho nhân dân ta một kỷtiến lên chủ nghĩa xã hội Biến độngmạng sâu sắc trong đời sống văn học
Trang 29dân tộc và nền văn học mới ra đời Cho đến nay, nền văn học mới ra đời đã đitrọn một giai đoạn lịch sử, giai đoạn 1945 - 1975 Văn học 1945 - 1975 đã trảiqua ba mươi năm chiến tranh và đây là một nền văn học thống nhất, có tổ chức,đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng Trong hoàn cảnh đó, quan hệ quốc tếcủa văn học hết sức hạn chế: chủ yếu thu hẹp trong vùng ảnh hưởng của phe xãhội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc.
Với tư cách là một nền văn học mới, văn học cách mạng Việt Nam 1945
-1975 đã thực hiện một cuộc cách mạng trong văn học dân tộc trên nhiều phươngdiện: Quan niệm thẩm mỹ, thể loại, hình tượng, ngôn ngữ, lực lượng sáng tác…
3.1 Thơ ca kháng chiến chống Pháp và những đóng góp của Anh Thơ.
Khảo sát thơ giai đoạn 1945 - 1954 chúng ta thấy rõ quá trình phát triểnthơ gắn liền với quá trình hình thành và trưởng thành của lực lượng sáng tác, gắnliền với sự chuyển biến của văn nghệ sĩ mà nhân tố có ý nghĩa là các nhà thơ đivào cuộc sống, bám sát thực tế cách mạng và kháng chiến dân tộc, từ đó xâydựng và nâng cao nhận thức tư tưởng tình cảm mới, cảm xúc sáng tạo trướcnguồn đề tài phong phú nhiều biến đổi của cuộc sống cách mạng
Nhiều nhà thơ bàn đến vấn đề tìm đường, nhận đường Đặc biệt với cácnhà thơ trưởng thành từ giai đoạn Thơ mới 1932 - 1945 thì đó là quá trình "lộtxác" để đến với Cách mạng Chế Lan viên đã có thể hân hoan "từ thung lũng đauthương đến cánh đồng vui, từ chân trời của một người đến chân trời của mọingười" Xuân Diệu hoà vào cuộc sống mới với nguồn thơ mới yêu đời, tươisáng:
"Có một suối thơ chảy từ gần gũi
Ra xa xôi và đến lại gần quanh Một suối thơ lá ngọt với hoa lành Nói trong xóm và dỡn cười dưới phố".
Nhiều nhà thơ đã lên đường nhập ngũ, sống chiến đấu ở các chiến trường như Tế Hanh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh… Các nhà thơ đi với
Trang 30cách mạng, với kháng chiến đều thấy rõ một cuộc "đổi đời" "tái tạo" Cuộckháng chiến đã có tác dụng quyết định đến sự chuyển biến tư tưởng của các nhàthơ, khơi gợi những tình cảm tốt đẹp, những nhận thức đúng đắn và cách cảm,cách nghĩ về đối tượng văn học Cũng trong thời kỳ này xuất hiện nhiều nhà thơnhư Quang Dũng, Thôi Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, HồngNguyên… Có thể nói, "lớp nhà thơ này do cách mạng mà có, từ cách mạng mà
ra, vì cách mạng mà làm" (Mã Giang Lân)
Bên cạnh đó, thời kỳ này phải kể đến sự chuyển biến trong phong cáchcủa một số nhà thơ nữ như Hằng Phương, Vân Đài và đặc biệt là Anh Thơ Đều
là những nhà thơ xuất hiện từ Thơ mới 1932 - 1945, thơ họ đã có nhiều thay đổikhi bước sang một giai đoạn văn học cách mạng với lý tưởng thẩm mỹ và quanđiểm sáng tác mới mẻ
Vân Đài từ một nhà thơ lãng mạn tiểu tư sản đã gia nhập vào hàng ngũgiai cấp vô sản và đem ngòi bút của mình phục vụ Cách mạng Đó là sự tựnguyện nhưng cũng là một thử thách lớn nhất, sâu sắc nhất trong tâm hồi bà Khiđến với Cách mạng, thơ bà đã mất dần cảm giác hắt hiu cô đơn mà hoà vào cái
hồ hởi của cuộc đời mới, từ giai điệu buồn chuyển sang giai điệu vui Đi vàokháng chiến, thơ Vân Đài có nhiều chi tiết sống hơn: cảnh sinh hoạt kháng chiếnđậm đà tình nghĩa, một chuyến dân công, một đám cưới theo đời sống mới, mộtlớp học bình dân, những tâm tư cảm động của tác giả…
"… Hành quân vượt núi chân chen bước
Đá sắc cheo leo dài dãy dài
Bộ đội cầm tay: "Lên nữa chị"…
Bàn tay tôi nắm một tay chai"
(Vượt lên)
hay: "… Ta nhớ mãi một trưa hè nắng cháy
Dưới bóng tre rủ lá thấp ngang đầu Nghe các anh giảng rõ từng câu
Trang 31"Thế giới đại đồng, thiên đường cộng sản".
(Trà Vinh thương nhớ)Chủ đề về đất nước và những con người có ý thức làm chủ vận mệnh củamình thay thế chủ đề con người cô đơn lẻ chiếc đã đem lại cho thơ bà một ýnghĩa mới, một tác dụng mới
Bên cạnh một Vân Đài với giọng thơ "khoẻ khoắn, tươi vui", Anh Thơ
cũng đã có những đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Pháp Kể chuyện Vũ
Lăng, Tiếng chim tu hú, Như cánh chim câu… là những bài thơ được nhiều
người biết đến
Kể chuyện Vũ Lăng đã đánh dấu một bước phát triển về thơ Anh Thơ Bà
nói về nỗi khổ của người phụ nữ trong chiến tranh nhưng cái hay, đặc sắc củabài thơ là không dừng lại ở việc kể khổ mà bài thơ đã vượt lên tầm cao mới đólà: ca ngợi và sẻ chia niềm vui, nỗi buồn của nhân dân
Tiếng chim tu hú lại là bài thơ nói lên tiếng lòng và tâm sự của thi sĩ vừa
gợi cảm lại vừa sinh động Bài thơ đã nói về tình thương đối với người cha giànhưng vẫn nói về thế hệ trẻ trong tình thương nhớ và chiến đấu Cũng với nhữnglời thơ thắm thiết về cha, thì bà đã có những bài thơ đầy cảm động về mẹ bởi mẹ
bà mất sớm Bà đã làm rất nhiều bài thơ viết về mẹ, trong đó bài thơ: Đêm ba
mươi Tết đã diễn tả cảm xúc thật dạt dào:
"… Đêm nay cũng lại đêm ba mươi Chị đã cùng em lặng ngậm ngùi Dọn án thờ mẹ và chỉ nhớ
Đôi đầu khăn trắng thắt ngang thôi!".
Anh Thơ là tác giả có nhiều bài thơ hay viết về người phụ nữ Bà viết vềngười phụ nữ ở nhiều vị trí, cương vị: lao động, chiến đấu, nghệ thuật với nhữngtình cảm sâu đậm khác nhau Và bà đã dồn tấm lòng yêu thương sâu sắc cho các
bà mẹ, nhất là các bà mẹ có những người thân yêu nhất hi sinh trong chiến tranh:
"Năm con chung một bàn thờ khói hương"
Trang 323.2 Anh Thơ và đội ngũ thơ nữ trong giai đoạn chống Mỹ.
Bên cạnh thế hệ nhà thơ hình thành trong kháng chiến chống Pháp, đếnthời kỳ chống Mỹ, một thế hệ nhà thơ trẻ cũng đã hình thành và đã gặt hái đượcnhiều thành tựu trong sáng tác như Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Nguyễn Duy,Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật… Đây là những nhà thơ trẻ lăn lộn nhiều năm ởchiến trường, "là lớp nhà thơ mà ở mỗi người vốn văn hoá cùng với lý tưởngsống, lý tưởng thẩm mỹ đã được bồi dưỡng và hình thành từ nhà trường xã hộichủ nghĩa" [29, tr311]
Các nhà thơ nữ như Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mĩ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn
và Anh Thơ cũng đã trưởng thành trong giai đoạn thơ ca này và chịu ảnh hưởngtrực tiếp về thi pháp và phong cách thời đại của thơ ca chống Mỹ Họ cũng lànhững nhà thơ có đóng góp nhất định cho nền thơ ca sau 1975
Giống như các nhà thơ cùng thời Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, HữuThỉnh… thơ nữ giai đoạn này cũng có nhiều sáng tác phản ánh đời sống chiến
đấu của nhân dân Xuân Quỳnh viết Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng Đó chính là kết quả của những năm tháng hoà mình vào cuộc sống chiến đấu, sôi động của đất nước và với Gió lào cát trắng, Xuân Quỳnh đã thực sự khẳng định bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ; Phan Thị Thanh Nhàn có Hương thầm, Chân
dung người chiến thắng… Với Hương thầm, Phan Thị Thanh Nhàn đã định hình
một phong cách thơ dịu nhẹ, duyên dáng mà kín đáo và chị đã được giải thưởng
của báo Văn nghệ Khoảng trời và hố bom của Lâm Thị Mĩ Dạ làm người đọc
ngạc nhiên với tứ thơ độc đáo và đã giành giải Nhì của báo Văn nghệ (1972 1973) Đây là bài thơ đầy cảm động kể chuyện cô gái mở đường hy sinh vì bomMĩ…
-Khi đối diện với chiến tranh, họ nhận ra những giá trị đời sống nằm trongnhững điều tưởng như nhỏ nhặt mà không phải bao giờ chúng ta cũng thấu hiểuđược, đặc biệt là trong cuộc sống đời thường Đó là sự bền bỉ của lòng tin, là sứcmạnh của con người và của cây cỏ trước thử thách, trước đau thương, có thể tìm
Trang 33thấy trong thơ họ những câu thơ quyết liệt và đầy thử thách, những câu thơ biến cải vì nó vượt qua hoàn cảnh với một niềm tin mãnh liệt vào ngày mai:
"Rồi sẽ có làng sẽ có cây
Có thành phố, tiếng cười và ánh sáng Dẫu chúng tôi chẳng còn lại gì đâu Còn chúng tôi, chúng tôi còn tất cả".
(Xuân Quỳnh)
hay trong bài thơ Tin ở bàn tay, Lâm Thị Mĩ Dạ đã viết:
"Quen cầm bàn tay không sợ bỏng Nâng cái đàn vuốt thành bản nhạc Khẽ đưa nôi bàn tay thành gió mát Bàn tay đào hầm, bàn tay vá may Trong cuộc chiến đấu này
Chúng tôi tin ở hai bàn tay".
và với Phan Thị Thanh Nhàn, sức sống ấy đã trở thành văn hoá, thành truyền thống của vùng đất thủ đô:
"Phố Khâm Thiên họ huỷ diệt bao giờ Phố của tình yêu ngọt ngào chim hót Phố của bà con làm ăn bận rộn Phố của trẻ thơ ríu rít vui đùa
Và Khâm Thiên, phố của căm thù".
Khi viết về chiến tranh, các nhà thơ nữ đều có một cái nhìn về chiến tranh
mang tính nữ Với những cái tên như: Hương thầm, Trái tim sinh nở, Lời ru trên
mặt đất… người đọc phần nào có thể cảm nhận được tiếng nói trữ tình đầy nữ
tính trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ và Xuân Quỳnh
Trang 34Hiện thực khốc liệt của chiến tranh dường như đã lắng đọng qua tâm hồndịu dàng của người phụ nữ,thấm sâu vào lòng người đọc bằng những cảm nhậnrưng rưng Cái bối rối nhớ thương của một cô gái tiễn người yêu ra trận:
"Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay
Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm Bên ấy có người ngày mai ra trận Bên ấy có người ngày mai đi xa.
(Hương thầm - Phan Thị Thanh Nhàn)hay cái ngậm ngùi chua xót khi chiến tranh tước đi những gì đời thường nhất,giản dị nhất của cuộc sống con người
"Hoá ra rau cũng thành nỗi nhớ Đêm nằm mơ thấy phiên chợ toàn rau Hàng bí ngô bên cạnh hàng bầu Xanh mườn mượt màu xanh rau muống…
Em sơ tán rau dền không mọc nữa Thương mẹ già còn nhớ vị rau đay".
(Rau - Xuân Quỳnh)
và ngay cả trong bài thơ đầy tính tượng hình Khoảng trời hố bom của Lâm Thị
Mĩ Dạ cũng mang đầy tình nữ Chị cảm nhận về sự hy sinh không phải ở cái vĩđại mà ở sự tinh khiết, trắng trong của tâm hồn cô gái trinh nguyên, chính điều
đó đã làm nên sự cao cả: "Nhưng cái ánh sáng lung linh kia thì có lẽ phải đếnthời ta mới có Cũng phải đến thời ta và chưa biết chừng, ở đây cũng phải là mộtcây bút nữ mới có thể vừa nói đến cái trong trắng của tâm hồn vừa nói đến cáimềm mại, cái trắng trong của da thịt:
"Có phải da thịt em mềm mại trắng trong
Đã hoá thành những làn mây trắng"
[34, tr223 - 224]
Trang 35và chính cái trong trắng, thuỳ mị, dịu dàng ấy đã khiến bài thơ có một sức gợicảm rất sâu.
Trong dàn hợp xướng nhiều âm sắc của những cây bút nữ kể trên, AnhThơ nổi lên với một phong cách độc đáo, với một nẻo đi rất khác lạ Nếu các nhàthơ nữ khác như Vân Đài, Lâm Thị Mĩ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, XuânQuỳnh… thiên về đời tư, cảm xúc nội tâm nhiều hơn là những vấn đề cuộc sống
xã hội thì Anh Thơ tạo nên một sắc màu mới mẻ Đó là vừa có cái chung củathời đại, vừa có cái riêng của bản thân mình với một giọng thơ chân thành ấm ápbởi Anh Thơ là một nhà thơ nữ chịu khó đi thực tế Đi nhiều nơi tầm nhìn mởrộng, thơ của bà đi từ bức tranh quê đến bức tranh đất nước Trong những nămđầu hoà bình và trong thời gian chống Mĩ hễ có điều kiện là bà lại tìm cho mìnhnhững chuyến đi đến những vùng khác nhau Những chuyến đi vừa nâng cao sựhiểu biết, lại vừa tạo ra nguồn cảm hứng để sáng tác Với ưu điểm luôn gần gũiđời sống, khai thác chất thơ từ đời sống mà trong chặng đường này, Anh Thơ đã
có được các tập thơ in dấu ấn sáng tạo của một thời kỳ mới: Theo cánh chim câu
(1960); Đảo Ngọc (1963); Hoa dứa trắng (1967); Mùa xuân màu xanh (1974); Quê chồng (1979)… Hiện thực đời sống mở rộng cảm hứng cho thơ ca Thơ của
bà phong phú và đa dạng, không chỉ trong đề tài mà trong cách cảm xúc, vẫn làmột bút pháp quen thuộc tả nhiều hơn gợi, nhưng đã được phả vào đây một tâmhồn mới Nếu như trước đây, người đọc đã từng yêu quý những câu thơ miêu tảđộc đáo cảnh sắc của thiên nhiên Việt Nam như:
"Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời".
thì bây giờ chúng ta lại được nghe nhà thơ ngợi ca cảnh đẹp thiên nhiên đất nướcbằng những câu thơ tươi sáng đầy thú vị:
"Mắt nhìn cau đứng đẹp như tranh
Bò vàng lớp lớp đi bên gốc Mây trắng ngập ngừng trên tán xanh".
Trang 36Bên cạnh đó có thể kể ra những bài thơ viết về đề tài chiến tranh chống
Mĩ cứu nước như Tiếng đập đỗ bà viết ở Ngọc Sơn; hay Tổ săn máy bay Minh
Khôi - đây là một bài thơ dài với 140 câu thơ chặt chẽ nhưng bài thơ lại lôi cuốn
người đọc từ ý nọ sang ý kia liền trong một hơi cảm xúc Bài thơ đã tạo ra mộtkhung cảnh chiến đấu, một lòng chung sức của tổ săn máy bay và cũng là củatoàn dân, nhiều người đã đánh giá đây là một thành công mới của Anh Thơ trongthời kỳ chống Mĩ cứu nước Ngoài ra chúng ta còn có thể kể đến rất nhiều bài
thơ đặc sắc của bà về chống Mĩ cứu nước như: Nhà trực chiến; Phép thiêng;
Chúng em đan lưới… và ở mỗi một bài thơ, Anh Thơ lại xây dựng những cảm
xúc, những tứ thơ khác nhau Vì thế mà nhà thơ Hoàng Trung Thông đã từng cangợi: "Anh Thơ có tài quan sát, nhưng chị không chỉ quan sát bằng mắt mà quansát từ tấm lòng, một tấm lòng kiên trinh theo Đảng, theo Cách mạng Chị đãvượt qua bao khó khăn thuở ban đầu để làm thơ rồi chị lại lăn lộn vào cuộcchiến đấu để làm thơ Làm được một bài thơ hay thì đã khó, trở thành một nhàthơ hay thì càng khó hơn Nếu ai nói thơ chị là khô khan, thì thật là vô duyên.Chẳng khô tí nào cả, tình yêu trong thơ chị hồn nhiên, trong trắng và lai lánglắm Nếu ta nói chị sáng tác dồi dào và đến bây giờ nguồn thơ vẫn chưa cạn, thìđiều đó rất đúng Nếu ta nói những bài thơ hay của chị chưa quá nhiều, songnhững câu thơ hay của chị không ít thì điều đó rất đúng Nhưng đúng hơn lòngyêu cuộc sống, yêu thơ, quyết tâm theo Đảng và theo Cách mạng đến cùng làmcho tâm hồn thơ chị luôn trẻ, thơ văn của chị chân thành và dạt dào sức sống,nhất là những vần thơ của chị về Đảng, về Bác Hồ là những vần thơ đặc sắc Chị
có một vị trí xứng đáng trong làng thơ, nhất là trong làng thơ nữ" [47, tr53]
Trang 37CHƯƠNG II:
PHONG CÁCH ANH THƠ NHÌN TỪ NỘI DUNG TRỮ TÌNH
1 Đối tượng thẩm mỹ trong thơ Anh Thơ.
1.1 Cảnh quê, tình quê trong thơ Anh Thơ trước cách mạng.
Xã hội Việt Nam cổ truyền dựa trên nền văn minh nông nghiệp trồng lúanước với tổ chức xã hội là làng Và trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam,làng quê từ ngàn đời nay là nơi trú ngụ của biết bao thế hệ người dân Việt Nam,
đó là nơi nuôi dưỡng đời sống và tâm hồn dân tộc, là nơi lưu giữ những nét đẹpcủa cảnh sắc Việt Nam, và cảnh sắc Việt Nam không phải là một đề tài mớitrong văn học Việt Nam, ta từng bắt gặp hình ảnh của một chàng trai khi xa quêhương là nhớ tới những gì giản dị nhất, thân thuộc nhất đó là bát canh raumuống, là quả cà mặn… hay hình bóng ai đang lam lũ vất vả một nắng haisương:
"Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao".
(Ca dao)Trong văn học trung đại thì thiên nhiên và tình quê là mạch cảm hứng chủđạo của văn chương Việt Nam Có thể thấy mạch văn này chảy từ văn học Lý -Trần và kéo dài tới tận Nguyễn Khuyến "nhà thơ của quê hương làng cảnh ViệtNam"; Nếu ta gặp trong thơ của Trần Thánh Tông một khung cảnh thiên nhiênyên tĩnh, thanh bình; một buổi chiều ở làng quê Việt Nam với tiếng kèn của mụcđồng, từng đàn trâu thủng thỉnh nối đuôi nhau ra về và hình ảnh từng đôi còtrắng đang chao liệng dưới cánh đồng:
"Xóm trước sau thôn tựa khói lồng
Trang 38Bóng chiều man mác có dường không Theo hồi kèn mục trân về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng".
thì trong thơ Nguyễn Khuyến ta lại bắt gặp không gian làng quê với những đặctrưng riêng: đường làng, ngõ trúc, ao chuôm, bãi chợ… Có thể "nói NguyễnKhuyến là người đã làm phong phú không gian làng quê với những nét mới, cụ
thể, chân thực, sôi động qua chùm thơ thu ba bài nổi tiếng (Thu vịnh, Thu điếu,
Thu ẩm):
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng nước theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo…".
(Thu điếu)
Với làn nước trong veo, với một chiếc thuyền bé nhỏ và hình ảnh hững hờcủa lá vàng rơi, và một ngõ trúc vắng vẻ, quanh co… tất cả đã tạo nên mộtkhông gian thu lành lạnh của mùa thu Bắc Bộ Việt Nam và lần đầu tiên trong thơ
ca cổ điển Việt Nam xuất hiện một mùa thu mang những đặc trưng của làng quêBắc Bộ, khác hẳn mùa thu trong thi ca cổ điển với lá ngô đồng rụng, sen tàn cúcnở… đã từng án ngữ bao lâu nay
Đến phong trào Thơ mới (1932 - 1945), mặc dù đời sống xã hội Việt Nam
có những biến động; mặc dù chịu ảnh hưởng không nhỏ của thơ ca Pháp songhình ảnh làng quê Việt Nam vẫn luôn là mảnh đất ngọt ngào của các thi sĩ trongphong trào Thơ mới
Ta bắt gặp hình ảnh một con sông quê hương trong thơ của Tế Hanh vớinhững hình ảnh thơ vừa phóng khoáng, thi vị lại vừa giản dị, chân chất songcũng đầy tự hào:
Trang 39"Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá".
(Quê hương - Tế Hanh)hay ta bắt gặp một Tràng Giang trong thơ Huy Cận với cảnh sông dài trời rộnglúc chiều tà vừa mang dáng dấp cổ kính thường có trong thơ Đường lại vừa gầngũi thân thuộc đối với người Việt Nam song vẫn toát lên một vẻ đẹp riêng củacon sông Tràng Giang
"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn với con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".
và đây, cảnh thôn Vĩ Dạ của Huế mộng Huế mơ trong thơ Hàn Mạc Tử hiện lên thật trẻ trung, tươi tắn:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền…".
thôn Vĩ hiện lên với vẻ đẹp tươi tốt tràn đầy sức sống của khu vườn xanh mướt,của nắng hàng cau và đặc biệt là vẻ đẹp trẻ trung thanh xuân của khuôn mặt ai
đó đang e ấp, thẹn thùng ẩn sau khóm trúc
Có thể thấy các nhà thơ trong phong trào Thơ mới luôn dành những lờithơ thân thương, trìu mến; những tình cảm yêu thương, trân trọng đối với quêhương Và Anh Thơ đã tiếp tục điểm tô cho làng quê Việt Nam bằng những chitiết, những hình ảnh gợi cảm, gợi tình, gợi hồn người đất Việt đến chân thực
Trang 40Không gian làng quê được tác giả chủ yếu miêu tả bằng dáng vẻ của làng quênông nghiệp cổ truyền, của làng quê Bắc Bộ gắn liền với hình ảnh của các mùatrong năm, hay hình ảnh của cây đa, bến nước, con đò, đồng ruộng, cảnh chợ…hay cả những gì bình dị, gần gũi với cuộc sống mà như Anh Thơ đã từng nói:
"Tôi thích nhất được thoả thuê, trong không khí đầy hoa cau, hoa ngâu, hoa sói,được lũ chim gà quấn quýt bên chân, được xem chúng ăn hăm hở Tôi thích nhất
là được đi giữa cảnh rộn ràng người đi chợ… những gánh thóc tám đỏ như son,những mẹt thị thơm phức mùa hè, những trái mít to phải lồng quang gánh…" [8,tr15]
1.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên mang đậm hương vị làng quê.
Cuộc sống nông nghiệp gắn bó với đồng ruộng đã tạo nên nhịp sống theomùa vụ nơi làng quê Người nông dân quanh năm suốt tháng gần gũi với thiên
nhiên, với ruộng đồng nên ta bắt gặp không gian làng quê trong Bức tranh quê
bắt đầu từ hình ảnh đồng ruộng, một không gian rộng lớn với gốc rơm, gốc rạ,với cây lúa:
"Trong đồng lúa vàng tươi bông lúa chín"
hay "Ngoài đồng lúa một vài cô tát nước
Múc trăng lên theo tiếng hát mơ màng"
(Đêm hè)
hoặc "Ngoài đồng ruộng lúa vàng tươi cháy xác,
Nắng chang chang không một bóng râm chừa".
(Đại hạn)
Có thể thấy không gian đồng ruộng hiện lên thật phong phú, đa dạng vớihình ảnh những cánh đồng trải dài vô tận, những bông lúa vàng tươi chín nặngtrĩu bông hương lúa thơm nồng chắt chiu từ mùi vị ngai ngái của đất, vị caynồng của mồ hôi người dân quê và hình ảnh những cô gái quê đang tát nướctrong khung cảnh thiên nhiên thật nên thơ, mang vẻ đẹp mộc mạc của làng quê,