Cũng với Bến vô thường, nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên nhận xét: “Khó có thể đi tìm một tuyến nhân vật rõ ràng, một nhân vật chính hay một câu chuyện đầu xuôi đuôi lọt trong cuốn tiểu thuyết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TRẦN THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM TIỂU NGUYỄN DANH LAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TRẦN THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Hương
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.Đóng góp của luận văn 12
5.Phương pháp nghiên cứu 12
6 Cấu trúc luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG 13
ĐẠI VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DANH LAM 13
1.1 Đôi nét về tiểu thuyết Việt Nam đương đại 13
1.1.1 Những tiền đề đổi mới của văn học Việt Nam đương đại 13
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một cái nhìn khái quát 16
1.1.2.1 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đang có sự mở rộng về đề tài và chủ đề 16
1.1.2.2 Về sự phát triển của đội ngũ tác giả 19
1.1.2.3 Về phương diện nội dung và nghệ thuật 20
1.2 Nguyễn Danh Lam và nét độc đáo trong sáng tác 22
1.2.1 Đóng góp mới mẻ về mặt nội dung 22
1.2.1.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực 22
1.2.1.2 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người 25
1.2.2 Đóng góp về mặt nghệ thuật 27
Trang 41.2.2.1 Xây dựng nhân vật và cốt truyện theo khuynh hướng hậu hiện đại 27
1.2.2.2 Lối viết kết hợp truyền thống với hiện đại 29
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM 31 2.1 Các loại nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam 32
2.1.1 Những “lạc thể” “Giữa dòng chảy lạc” của cuộc đời 32
2.1.2 Những con người thống khổ bươn bả với khát vọng làm người, khát vọng hạnh phúc trong “Bến vô thường” 39
2.1.3 Những con người luẩn quẩn “Giữa vòng vây trần gian” 45
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 48
2.2.1 Xóa trắng nhân vật 48
2.2.2 Miêu tả chân dung nhân vật 51
2.2.3 Khắc họa nội tâm nhân vật 54
2.2.4 Ngôn ngữ nhân vật 58
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM 61
3.1 Cốt truyện 61
3.1.1 Cốt truyện phân mảnh 61
3.1.2 Mờ hóa cốt truyện 64
3.2 Yếu tố kì ảo – một cách tổ chức kết cấu mới trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam 66
3.2.1 Yếu tố kì ảo trong việc xây dựng nhân vật 67
3.2.2 Hệ thống biểu tượng 71
3.3 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam 74
3.3.1 Giọng điệu lật tẩy, lạnh lùng hình sự 75
3.3.2 Giọng điệu mang dư vị trầm tư triết lý 78
Trang 53.3.3 Giọng điệu mang tính giễu nhại, cật vấn hoài nghi 81
3.3.4 Giọng điệu trữ tình lãng mạn 83
3.4 Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác Nguyễn Danh Lam 85
3.4.1 Lớp ngôn từ suồng sã, thông tục gai góc 86
3.4.2 Lớp ngôn từ giàu chất thơ 88
3.4.3 Câu văn lạ, độc đáo, sắc lạnh, chứa đựng nhiều thông tin 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Danh Lam là nhà văn trẻ sinh năm 1972, hiện công tác tại báo
Mực tím thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Danh Lam sáng tác nhiều thể loại: Thơ,
truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó tiểu thuyết là thể loại mang lại thành công và đónggóp đặc sắc, khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học Việt Nam đương đại
1.2 Sau tập thơ đầu tay Tìm (1998), Nguyễn Danh Lam liên tục cho xuất bản
ba cuốn tiểu thuyết: Bến vô thường (2004), Giữa vòng vây trần gian (2005), Giữa
dòng chảy lạc (2010) và tập truyện ngắn Mưa tháng mười một (2009) Là một người
chịu đọc, chịu nghiền ngẫm và chịu viết…Nguyễn Danh Lam được đánh giá là câybút có năng lực sáng tạo dồi dào và đã khẳng định được phong cách riêng, độc đáo
1.3 Chính sự say mê văn chương và phong cách nghệ thuật độc đáo đã giúpnhà văn sớm khẳng định mình qua các giải thưởng văn học: Giải khuyến khích của
cuộc thi thơ Bút mới báo Tuổi trẻ 1996; Giải nhì cuộc thi truyện ngắn của báo Văn
nghệ 2006 - 2007; Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 cho tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc Tuy mới xuất hiện trên văn đàn nhưng Nguyễn Danh Lam cũng
đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, trở thành đề tài trong một số cuộc tranh luậnvăn chương và thu hút được sự quan tâm mến mộ của đông đảo bạn đọc
1.4 Với mong muốn tìm hiểu và khẳng định những nét mới, riêng, độc đáocũng như những đóng góp trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
trong các sáng tác của Nguyễn Danh Lam, chúng tôi chọn Đặc điểm tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn của mình.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn qua tiểu thuyết của NguyễnDanh Lam được trau dồi thêm kiến thức về tiểu thuyết đương đại Việt Nam Hy vọngđây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc yêu thích Nguyễn Danh Lam nóiriêng, cho việc tiếp nhận, giảng dạy văn học Việt Nam đương đại nói chung
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước hết có thể khẳng định, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cáchtoàn diện về sáng tác của Nguyễn Danh Lam Người đọc có thể gặp đây đó các bài
giới thiệu, phê bình rải rác trên các báo viết, báo điện tử Dân trí, Thể thao và văn
hóa, Phong điệp.net , Sài Gòn tiếp thị… Ngoài ra, là một số cuộc phỏng vấn tác giả
mà ở đó Nguyễn Danh Lam đã ít nhiều “bật mí” cho người đọc những suy nghĩ, trăntrở, nỗi niềm của mình trong sáng tác Nhìn chung bạn đọc chú ý đến tiểu thuyết củaanh trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thể hiện
Mỗi lần ra mắt mỗi cuốn tiểu thuyết mới của Nguyễn Danh Lam đều nhanhchóng thu hút được sự chú ý của dư luận và có những bài viết giới thiệu, đánh giá kếtquả lao động, sáng tạo của nhà văn
Bài viết trên Sài Gòn tiếp thị về Bến vô thường, tác giả đã đưa ra nhận xét:
“Họ mang những cái tên chợ đời, mà tác giả như người chủ nợ, ghi chúng vào trang sách theo cách “bắt thần”: Thằng câm, chị mặt rỗ, cô tóc tém, thằng mắt híp, thằng
“chữ ký”, lão toét, lão cóc? Cuốn sách được cấu thành bởi những đoạn rời rạc Rồi
từ những đoạn rời rạc đó, ta lần tìm một thứ dây mơ rễ má để thấy, hình như chúng phi lý khi đứng cạnh nhau Dù rằng chúng vẫn có một sự gắn kết đặc biệt, một thứ logic phi logic Những con người thống khổ vẫn bươn bả trong khát vọng làm người, khát vọng hạnh phúc Cái khát vọng ấy như những nốt lặng nhiều dằn vặt trước áp lực và sự mâu thuẫn với hoàn cảnh Trong cõi chật hẹp nhân sinh, trong cuộc hành trình dài ngày kiếm tìm hạnh phúc, trong nỗi khát khao làm người ấy, những nhân vật có cảm giác cứ lạc mất nhau Mà ngăn cách, chẳng gì khác, vẫn những ích kỷ, nhỏ nhen, miệt thị, mặc cảm, thù hằn?” [29] Cũng với Bến vô thường,
nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên nhận xét: “Khó có thể đi tìm một tuyến nhân vật rõ
ràng, một nhân vật chính hay một câu chuyện đầu xuôi đuôi lọt trong cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam Đọc lại lần nữa, lại thấy nó không có nhân vật, nói cách khác, nhân vật lại không có mặt người mà biểu hiện rõ nhất trong mớ hỗn độn,
tù túng, ngổn ngang kia là một thế giới người không mặt, không tên.” [29] Những
Trang 8nhận xét trên cho chúng ta thấy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều công nhận sự nỗ lựcsáng tạo và liên tục đưa ra những thể nghiệm mới về nội dung cũng như hình thứccủa Nguyễn Danh Lam nhằm cố gắng chuyển tải những vấn đề của đời sống đươngđại Anh được xem như là một hiện tượng của văn học đổi mới.
Tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam thu hút được nhiều sự quan tâm của độcgiả, nhưng cũng không tránh khỏi được những ý kiến khen chê khác nhau, trong đó
có tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian Hồ Anh Thái đánh giá Giữa vòng vây trần
gian là “ một món ăn lạ” Ở đó Nguyễn Danh Lam đã có những tìm tòi và thành công
nhất định “Cái hành trình luẩn quẩn loanh quanh mà ta phải theo đi, theo đến sốt
ruột, theo đến mệt mỏi rã rời, rốt cục sẽ kết thúc ở một sự bừng ngộ Sự bừng ngộ đi đến tận cùng của nó cũng là cõi mê Các nhân vật đều không tên Riêng nhân vật chính lại có tên Tác giả chủ ý đặt một dấu ngã đè lên cái tên nhân vật: Thữc Tên vận vào người Thữc là tỉnh thức là giác ngộ Nhưng lại có dấu ngã đè lên Thữc Tỉnh thức như vậy là vẫn chưa thoát được cái tự ngã, vẫn còn lâu lắm phải loay hoay trong chốn trần ai…Đi hết một cuốn sách không dễ đọc, độc giả yêu văn chương và cả nghĩ được đền bù cho sự kiên nhẫn của mình bằng một cuốn sách đáng đọc” [3] Từ góc độ bút pháp, đọc Giữa vòng vây trần gian nhà phê bình Hoài Nam
đã đưa ra những ý kiến xác đáng: “Với tôi, cuốn tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian
của Nguyễn Danh Lam thuộc vào loại thứ hai, một cuốn sách không đem lại cho ta
sự phản chiếu đời sống, có chăng, đó chỉ là sự phản chiếu cách nghĩ của tác giả về đời sống, nó đan dệt bằng những biểu tượng, những huyền thoại, nhưng cũng chính
vì thế mà nó tạo ra sự ám ảnh và buộc ta phải nghĩ về đời sống mà mình đang sống”
[30] Có thể nói, Nguyễn Danh Lam luôn tự làm mới mình Mỗi cuốn tiểu thuyết làmột sự thể nghiệm mới về nghệ thuật để đi tới khám phá sâu hơn những góc khuất
của đời sống con người Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Hồ Anh Thái, Giữa
vòng vây trần gian là cuốn tiểu thuyết rất “ đáng đọc” Tuy nhiên, cũng có một đôi ý
kiến “chê” tiểu thuyết khó đọc, quá phức tạp, rối rắm
Trang 9Từ quan niệm: “Nhà văn phải khác biệt” Nguyễn Danh Lam luôn cố gắng làmmới mình, làm mới cách viết của mình Điều này được thể hiện rõ qua tiểu thuyết
Giữa dòng chảy lạc Tiểu thuyết này được các nhà phê bình đánh giá rất cao và được
nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam
Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam nhận xét: “Với cuốn tiểu thuyết Giữa vòng
vây trần gian, Nguyễn Danh Lam đã “chơi” một lối viết kín đặc những biểu tượng
và huyền thoại (lối viết “tối mù” ấy rất có thể sẽ làm nản lòng không ít người đọc) Với cuốn tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc, Nguyễn Danh Lam trả người đọc lại với đời thường bằng những chất liệu của đời thường, những câu chuyện của đời thường, những cách kể chuyện đời thường Dễ tiếp nhận hơn, song không vì thế mà giảm đi sức nặng của những ý tưởng mà tác giả muốn gửi gắm Cá nhân tôi, tôi cho rằng với một nhà văn Việt Nam – viết cho người đọc Việt Nam – thì có lẽ nó là một lựa chọn không tồi” [2] Với nhan đề: Giữa dòng chảy lạc – giữa dòng hiện sinh tác giả Bùi
Công Thuấn nhận xét: “Đó là câu chuyện của một gã tâm thần đơn độc với tuổi già
phiá trước Vợ mới cưới được ba tháng đã bỏ đi Người bạn hoạ sĩ tâm giao cũng
chết đột ngột không rõ nguồn cơn Người bạn thời sinh viên, sau tai nạn phải sống thực vật cũng đã ra đi Mấy lần đi xin việc rồi phải bỏ việc Nhiều lần lên cơn điên hiện sinh tưởng đã chia lià cõi đời phù du này Chỉ còn lại một con người đơn độc, bất lực, vô vọng, không biết về đâu, không chốn nương thân giữa dòng chảy cuộc đời” [43] Đi sâu vào nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam, tác giả nhận xét:
“Ngòi bút Nguyễn Danh Lam miêu tả tuyệt hay chuyện tình của nhân vật Anh, dựng
những cảnh đối thoại chàng và nàng sinh động và trí tuệ đến không ngờ, thâm nhập rất sâu vào tâm thức nhân vật để phát hiện những trạng thái hiện sinh mê cuồng Nguyễn Danh Lam cũng có những chi tiết miêu tả chân thật đến độ sững sờ Một giọng văn đôn hậu ấm áp và một cách viết hấp dẫn đến những dòng cuối cùng” [43].
Còn với tác giả Đoàn Ánh Dương “ Có thể nói, tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết
đều là những “lạc thể” Hầu như họ là những người không “tương thích” với xã hội
kỹ trị, xã hội tiêu dùng Có hai cuộc sống bên lề cuộc sống ấy hiện diện như một
Trang 10tham chiếu nhưng cũng không trở thành lối thoát cho những con người ở trung tâm
xã hội” [8]
Tuy có sự khác biệt trong ý kiến đánh giá nhưng nhìn chung các tác giả đều cónhững đánh giá rất cao tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam Hầu như các nhà nghiên cứuđều thừa nhận, Nguyễn Danh Lam là cây bút có sức viết khỏe, dồi dào, có những tìmtòi, thể nghiệm độc đáo tạo được sự chú ý, quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu vàđông đảo độc giả
Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu, chúng tôi thấy: Cho đến nay, các bài viết vềNguyễn Danh Lam còn ít, phần lớn bài viết mới chỉ khái lược một đôi nét trong tiểuthuyết của nhà văn hoặc mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh nổi bật trong từngtác phẩm cụ thể Bởi vậy, cần có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, hệthống về sáng tác của nhà văn Tuy vậy, những ý kiến nhận xét, đánh giá của nhữngngười nghiên cứu đi trước là những gợi mở quý giá cho chúng tôi khi thực hiện đề tàicủa mình
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm sáng tác của Nguyễn Danh Lam ở thể loại tiểu thuyết trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thể hiện
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khảo sát trực tiếp ba tiểu thuyết
- Bến vô thường(2004), NXB Hội nhà Văn
- Giữa vòng vây trần gian,(2005), Công ty Đông Á và NXB Hội Nhà
văn
- Giữa dòng chảy lạc, (2010), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó Luận văn cũng tìm hiểu sáng của Nguyễn Danh Lam ở các thể loại khác để hiểu rõ hơn những tìm tòi sáng tạo của tác giả
Trang 11Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng phạm vi khảo sát và tham khảo các tiểuthuyết của các nhà văn Việt Nam đương đại để đối sánh, tìm ra những nét tương đồng
và khác biệt của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam với các cây bút khác
4 Đóng góp của luận văn
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam, Luận văn chỉ ranhững đặc trung cơ bản về nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyếtcủa nhà văn Qua đó nhằm khẳng định những đóng góp nổi bật về mặt thể loại củatiểu thuyết Nguyễn Danh Lam vào tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp khái quát, tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu – so sánh
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
Luận văn gồm ba chương :
Chương 1: Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam đương đại và sáng
tác của Nguyễn Danh Lam Chương 2: Xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam
Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DANH LAM
1.1 Đôi nét về tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.1.1 Những tiền đề đổi mới của văn học Việt Nam đương đại
Thứ nhất: Các tiền đề lịch sử, xã hội và ý thức.
Xét về mặt cấu trúc xã hội, chúng ta chưa trải qua thời hiện đại Tuy nhiên, xãhội Việt Nam từ xa xưa đã tiềm tàng “tâm thức hậu hiện đại” Trước hết, ở Việt Nam,tinh thần hoài nghi cái chính thống, thái độ hoài nghi đối với chân lí… vẫn được xem
là một biểu hiện thường tại trong tâm thức cộng đồng Thái độ, tâm thức này có thểtìm thấy trong hàng loạt câu nói dân gian, kiểu như: “Miệng quan, trôn trẻ”, “Muốnnói gian làm quan mà nói”, “Tuần hà là cha kẻ cướp” Ở thời trung đại, trong thơ HồXuân Hương, người ta bắt gặp cái nhìn giải thiêng, thái độ bỡn cợt cái chính thống và
sự xuất hiện khá dày mảng từ vựng thể hiện thân thể phụ nữ, hoạt động tính giao.Gần đây hơn còn phải kể tới hiện tượng thơ Bút Tre (Đặng Văn Đăng) với chất tràolộng đậm đặc, sự giải thiêng, thủ pháp cắt mảnh, giễu nhại… rất gần gũi với cảmthức và tư duy hậu hiện đại như cách hiểu của phương Tây về cụm từ này
Xã hội Việt Nam từ 1945 – 1985 là xã hội luôn đứng cao hơn cái cá nhân vàchủ nghĩa tập thể được xem là nguyên tắc cao nhất cho mọi hình vi của con người.Theo độ lùi thời gian, người ta hiểu ra, cái gọi là sức mạnh tính tập thể, tính cộngđồng và các kế hoạch đầy ảo tưởng, duy ý chí liên quan đến nó, trên thực tế đã pháhủy rất nhiều các mối quan hệ tốt đẹp của con người với con người trong gia đình,ngoài xã hội Cái cá nhân, cái cụ thể bị đè nén, tạo thành những ẩn ức và sự sợ hãi.Điều này cũng được thể nghiệm sinh động trong nhiều tác phẩm văn học sau đấy,
chẳng hạn như Thời xa vắng của Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn
Trang 13Khắc Trường, Ngõ lỗ thủng của Trung Trung Đỉnh, Bước qua lời nguyền, Giã biệt
bóng tối của Tạ Duy Anh
Những năm gần đây, người ta ngày một trở nên quen với những lời hứa suông,trước hiện cảnh nói một đằng, làm một nẻo, và thậm chí, chỉ nói, và không bao giờlàm cả Từ mất niềm tin đến “không có niềm tin để mất”, một kiểu tâm thức rõ rệt đãhình thành Tâm thức này sẽ bén lửa rất nhanh với tâm thức hậu hiện đại, trong bốicảnh giao lưu văn hóa quốc tế và toàn cầu hóa
Thứ hai: Giao lưu văn hóa quốc tế và toàn cầu hóa.
Sau chặng đường hiện đại hóa diễn ra đầu thế kỷ XX như một thành công tolớn của văn hóa Việt, một thế kỷ đã trôi qua Có thể nói đến một công cuộc hiện đạihóa lần thứ hai đang diễn ra của văn học Việt Nam đương đại vào những cuối thế kỷ
XX Văn học đổi mới đã tạo một bước chuyển quan trọng đưa văn học dân tộc thực sựhòa nhập vào quá trình văn học thế giới Không thể không thấy rằng nền văn học ViệtNam, trong những hoàn cảnh đặc thù, đã biệt lập và đánh mất sợi dây liên hệ với kinhnghiệm phong phú của văn học thế giới Trên tinh thần cởi mở “mong muốn làm bạn vớicác dân tộc” và sự tôn trọng mọi nền văn hóa như một sự trưởng thành của ý thức vănhóa Việt, nhiều lý thuyết và kinh nghiệm văn chương thế giới đang được tiếp nhận, đượcvận dụng như một nhu cầu tự nhiên và tự thân của sự phát triển văn học dân tộc Siêuthực, hiện sinh, hiện đại và hậu hiện đại, phân tâm học, tiểu thuyết mới… vốn từng bịcoi là những trào lưu gắn liền với trạng thái phân rã của chế độ tư bản và xã hội hiện đạiphương Tây đang được nhìn nhận đúng đắn hơn: Đó là những trải nghiệm sinh tồn vàthể nghiệm nghệ thuật của chính con người, và đằng sau những trào lưu và lý thuyết cótầm ảnh hưởng rộng lớn như thế luôn có bóng dáng những giá trị nhân văn Nhưng tiếpnhận và học hỏi không thể là sự bắt chước học đòi và không ít những biểu hiện như thếtrong đời sống văn học Nó cần được tiếp biến để trở thành một hiện tượng nội sinh Vàphải chăng chính văn học Việt Nam đương đại cũng đang chạm đến nó như những khámphá của riêng mình: Người ta đã có thể dùng những khái niệm “hiện sinh”, “hậu hiệnđại”, “phân tâm học” và “ tâm
Trang 14linh” trong ngôn ngữ phê bình tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm ThịHoài, Hồ Anh Thái… cùng rất nhiều tác giả và tác phẩm khác.
Một điều kiện căn cốt để giao lưu, hội nhập chính là khát vọng hội nhập vàtinh thần cầu thị đối với cái mới của các nhà văn, trong đó có thái độ ứng xử nghiêmtúc với các kinh nghiệm nghệ thuật của văn chương hậu hiện đại thế giới Ở đây phảinói đến sự chuyển đổi mạnh mẽ trong quan niệm văn học của các nhà văn nhưNguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt
Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh…, sự ủng hộ công nhiên những thử nghiệm hậu hiệnđại và việc vận dụng thực hành sáng tác hậu hiện đại của Inrasara, Lê Anh Hoài,
Đặng Thân… Trong bài: “Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại ở
Việt Nam”, nhà thơ Inrasara viết: “Sáng tạo hậu hiện đại Việt Nam (nhất là thơ ca) bị phân biệt đối xử bởi nhà văn nhà thơ thuộc hệ mĩ học cũ (…) Nhưng dù gì thì gì, văn thơ hậu hiện đại đã tồn tại như nó vẫn tồn tại từ hơn mươi năm nay Vẫn ở ngoại biên như chính định mệnh của nó… Chúng vẫn có cuộc sống của mình (…) Theo tôi, mươi năm qua, chính sự vận động của chủ nghĩa hậu hiện đại đã tạo nên sự sinh động và phong phú của văn chương tiếng Việt đương đại “Sinh động và phong phú” kia không dừng lại ở một, hai trung tâm mà đang mở rộng ra các vùng miền, các thành phần, các thế hệ Tôi tin rằng trong một tương lai không xa, văn học Việt sẽ là một nền văn học đa trung tâm” [25].
Thứ ba: Các tiền đề văn học.
Văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, do những đặc thù của điềukiện lịch sử nên chủ yếu được sáng tác theo cảm hứng sử thi Bên cạnh những thànhtựu, văn học giai đoạn này khó tránh khỏi sự minh họa, giản đơn, một chiều
Trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Nguyễn Minh Châu đã thẳng thắn nhìn nhận lại: “… Mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ
có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta qui cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn” [7].
Trang 15Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc và nhiều nhà văn lớp trước cũng mạnh dạn chỉ ra nhữnghạn chế khó tránh khỏi của một giai đoạn văn học và nhu cầu cần phải vượt qua “ cáithời lãng mạn” ấy Rõ ràng, ý thức sâu sắc của các nhà văn về những hạn chế, bất cậpcủa lối viết cũ, về nhu cầu cấp thiết phải đổi mới và những đổi thay trong thị hiếu củacông chúng tiếp nhận thực sự là những tiền đề, động lực của tiến trình đổi mới vănhọc.
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một cái nhìn khái quát
Tiểu thuyết từ sau 1975 đến nay không cắt lìa truyền thống đã có những ý thứclàm mới, làm giàu, làm khác truyền thống đã và đang trở thành khát vọng / nhu cầumạnh mẽ của hầu hết người viết Tuy có nhiều lời phàn nàn, nhiều cái nhìn hoài nghinhưng không thể phủ nhận được rằng những nỗ lực đổi mới tiểu thuyết hơn ba thập
kỷ qua đã tạo ra không ít tác phẩm có giá trị, bên cạnh sự đông đúc của đội ngũ tácgiả, sự dồi dào về số lượng tác phẩm là sự đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đềtài và chủ đề… Áp lực cạnh tranh từ các phương tiện giải trí – truyền thông, lối sống
và nhịp độ sống của thời đại kỹ trị… vừa là yếu tố kích thích vừa là một nguy cơ làmhao mòn tình yêu văn chương Người viết bây giờ buộc phải đối diện với đòi hỏi
nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình
thức riêng Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” [38]
1.1.2.1 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đang có sự mở rộng về đề tài và chủ đề
Bắt đầu từ Đại hội Đảng XI, hoàn cảnh đất nước lúc này đã có nhiều thay đổilớn lao trên mọi mặt văn hóa, chính trị….điều đó đã tạo nên sự thay đổi lớn trong vănhọc, nhất là với văn xuôi – thể loại gắn với từng khoảnh khắc của đời sống Một khi
tự do, dân chủ trong sáng tạo văn hóa, văn học đã trở thành vấn đề trung tâm đượcĐảng ta đặc biệt chú trọng thì sự đổi mới văn học thực sự diễn ra ở bề sâu với mộtquan niệm đa dạng, nhiều chiều về cuộc sống
Trang 16Cùng với không khí xã hội mở ra từ sau công cuộc đổi mới của Đảng, sự thayđổi khi cuộc sống chuyển từ thời chiến sang thời bình cũng là nhân tố quan trọng tạo
ra những chuyển biến có tính chất bước ngoặt của văn học nói chung, văn xuôi nóiriêng Sau hơn 30 năm phát triển trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, mang cảmhứng chung là động viên, ca ngợi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, bắt đầu
từ giữa thập niên 80, văn học dần trở về trạng thái phát triển bình thường của nó với
sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử sang cảmhứng thế sự đời tư Lúc này, “văn học cần có một cái nhìn thật hơn, sâu hơn, toàndiện hơn đối với đời sống…” So với thời kì trước, văn học ta thực hơn, các nhà vănnhập cuộc vào sự thật “tàn nhẫn” của thời hậu chiến, thời khủng hoảng, thời xây
dựng Nguyễn Khải đã trăn trở “Thời rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết Tôi
thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ” [9] Một cách rất tự nhiên, trong bản thân mỗi con người đều xuất hiện
nhu cấu “nhận thức”, “tự vấn” lại chính mình Nguyễn Minh Châu với một thái độchân thành khi “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” đã tự đánh giá
về Dấu chân người lính – một tác phẩm thành công viết về cuộc kháng chiến chống
Mĩ của ông: “Nhìn chung lại vẫn là ráng chiều quá đẹp để rồi mong muốn được
sáng tác những tác phẩm lớn….với những điều thật không phải bao giờ cũng dễ nghe,
thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm, với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn Chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng sâu của cuộc sống con người trên dải đất này” [7].
Xuất phát từ quan niệm cho rằng “Cái thước đo cuối cùng của văn học chính
là sự đóng góp của nhà văn cho cuộc sống hôm nay, là sự cải tạo nó, tạo dựng lên
nó, và trước tiên là cho xây dựng con người” [9] mỗi nhà văn đều đau đáu là viết sao
cho chạm được vào cái tầng sâu, vào tận đáy sâu những sự thật về đất nước, conngười, tiến vào những chốn thâm u, gai góc của cuộc đời Khuynh hướng “nhận thứclại thực tại” gắn liền với khuynh hướng “hướng tới những vấn đề đạo đức và nhân
Trang 17cách của con người mới trong xã hội ta” Cùng với nhu cầu “được thành thực”, mộtcách tự nhiên, trong văn xuôi hôm nay xuất hiện tiếng nói triết luận sâu sắc đầy suy
tư của người viết trong hành trình bất tận “tự kiếm tìm mình” Chính vì thế, cảmhứng suy nghĩ, tìm kiếm những vấn đề có ý nghĩa triết lý, nhân sinh chi phối dòngmạch chính của văn xuôi tự sự Nhưng như thế không có nghĩa là ăn năn sám hối hayphủ định quá khứ mà chính là thể hiện chân thật lương tâm, trách nhiệm của ngườiviết khi đối diện với “trang giấy trước đèn” Vì vậy, văn học sau đổi mới có thể nói làmột nền văn học hai lần chiến thắng – “lần thứ nhất chiến thắng kẻ thù, lần thứ haichiến thắng chính mình, dĩ nhiên là lần sau vẻ vang hơn”, bởi lẽ “nhận thức lại” đểđược thành thực với cái tôi của người nghệ sĩ không chỉ là nhu cầu mà còn đánh dấu
sự trưởng thành của con người và xã hội
Các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Chu Lai, … đãdám nhìn trực diện vào sự thật, dám đánh giá cả một thời kì lịch sử của cái môitrường nuôi dưỡng mình trước kia với những thành tựu, những sai lầm, những bạihoại nhân luân trong các quan niệm và đạo đức một thời trong các sáng tác của mình
Đó là sự thôi thúc của một cảm hứng mạnh về khám phá sự thật, cái sự thật mà trướckia thường bị che lấp hoặc ngại ngần không muốn nói đến Từ đó, đi sâu khám pháchiều sâu của tâm hồn và đời sống tâm linh của con người Cảm hứng đó cũng hướngmạnh vào việc tự xét mình, tự xét với tư cách cá nhân, hoặc với tư cách cộng đồng,
tư cách dân tộc “Đó là một con đường thật vất vả nhưng cũng đầy hào hứng của
những người làm văn học Con đường đó đang mở ra trước mắt và nhất định sẽ đưa văn học tới một trình độ cao hơn, tốt đẹp hơn” [9] Có lẽ vì thế, đặc trưng nổi rõ
trong nhiều sáng tác gần đây là sự trăn trở kiếm tìm chân lý sống với quan điểm phủđịnh một cách khoa học những cái lỗi thời của một giai đoạn đã qua Đây là một thayđổi lớn, một bước tiến quan trọng của văn học trong quá trình tự làm mới mình
Thuận theo lẽ tự nhiên, văn học trong quá trình phát triển đồng hành với ýthức xã hội thì có những giai đoạn, những chặng đường phát triển cũng gắn liền vớicác cung bậc thăng trầm của nó Văn xuôi và đặc biệt là tiểu thuyết cũng không phải
Trang 18là ngoại lệ Điểm qua những chặng đường đã kể ra ở trên chúng ta thấy nguồn cảmhứng, đề tài bắt nguồn từ cuộc chiến tranh thần thánh của chúng ta gắn với vai trò cánhân anh hùng Kế tiếp đó là cuộc sống của cá nhân trong thời mở cửa kinh tế, bước
ra từ cuộc chiến với mọi đối mặt của cuộc sống đời thường đã trở thành nguồn tư liệuchính cho tiểu thuyết miêu tả và phản ánh Với tiểu thuyết đương đại hôm nay, cảmhứng ngợi ca được thay thế bằng những tiếng nói tri âm, sẻ chia hoặc là bi thươngtrước những quay cuồng của hiện thực đời sống, của đời sống con người cá nhân Sốđông dư luận ghi nhận rằng tiểu thuyết nước ta từ thời đổi mới đã có những bước tiếnđáng kể về cả nội dung và hình thức biểu đạt Và chúng ta có thể nhận thấy nhữngbước tiến ấy từ ý thức chủ thể của người sáng tạo thông qua tác phẩm của mình Cáctrường hợp như:Bảo Ninh Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, TạDuy Anh, Nguyễn Danh Lam… tác phẩm của họ không chỉ thay đổi về cái nhìn, cảmhứng nghệ thuật mà có những thay đổi hết sức quan trọng về giọng điệu, lối viết
1.1.2.2 Về sự phát triển của đội ngũ tác giả
Quan sát tiểu thuyết sau 75 chúng ta thấy có hai thời kỳ Thời kỳ đầu là từ
1975 cho đến đầu năm 80 Tiểu thuyết thời kỳ này tuy có một số biến đổi như mởrộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn… nhưng về cơ bản vẫn gần với đặc điểmcủa văn xuôi giai đoạn trước Nghĩa là ở những sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữmột vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật Chúng ta nhớ đến những sáng tác văn
xuôi ở thời kỳ này như Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã
sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu…
Phải từ những năm 80 văn xuôi mới thật sự có những bước chuyển đáng kể.Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạntrước Người ta thấy trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải,Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lệ Lựu…
đã bắt đầu có những đổi mới Ở đây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, vấn đề mà
còn là ở tư duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết… Nếu trước đây Lê Lựu là Người về
Trang 19đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng Nếu Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ
thì bây giờ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú Nếu Nguyễn
Quang Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Chị Nhung… thì
bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ ràng trước một hiện thực mới, một công
chúng mới với những yêu cầu mới không cho phép nhà văn viết như cũ Sự đổi mớicủa các nhà văn do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ
Đặc biệt với sự xuất hiện của một loại cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt
và diện mạo của tiểu thuyết Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn QuangLập, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Danh Lam… đã manglại cho tiểu thuyết những sắc thái mới mẻ Đọc những cây bút này, người ta có thểchê trách điều này, điều nọ, thảo luận lại nhiều vấn đề, nhưng không thể không thừanhận những đổi mới mà học đã đem đến cho tiểu thuyết giai đoạn này
1.1.2.3 Về phương diện nội dung và nghệ thuật
Vượt qua mọi sự cấm kỵ, văn học sau 1975 nói thật to cái sai, cái xấu và cảcái ác trong nội bộ chúng ta, giữa chúng ta với nhau Nguyễn Mạnh Tuấn thường nóitới cái sai trong cung cách làm ăn, lề lối quản lý Trong sáng tác của Dương ThuHương có cả một lũ tu mi nam tử mũ áo xênh xang, mà nhân cách hèn hạ DươngThu Hương không chỉ nói nhiều về cái hèn, mà còn nói về sự ngu dại của đám ngườinhẹ dạ cả tin Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường nói về sự nhếch nhác và cái xấu củanhững lề thói được nuôi dưỡng hàng ngàn đời nay sau luỹ tre làng Ma Văn Khángnói về sa sút của đạo đức, sự băng hoại không thể nào níu giữ của phong hoá và sựtàn bạo, dữ dội của đời sống bán khai Rất nhiều trang văn của Nguyễn Huy Thiệpnói về sự phân rẽ trong quan niệm nhân sinh giữa các thế hệ và sự đốn mạt của conngười Tuy nhiên, dù viết về cái méo mó nghịch dị, tà nguỵ ma quái, hay cái đẹp, cáixinh, văn học thế sự sau 1975 vẫn là tiếng nói thể hiện khát vọng đổi mới xã hội củacái bể nhân dân chuyển rung đến tận đáy
Không nên nghĩ, sau 1975, văn học chỉ nói tới cái phàm tục dơ dáng, méo mónghịch dị Văn học chân chính bao giờ cũng là vương quốc của cái đẹp Nhà nghiên
Trang 20cứu Hoàng ngọc Hiến có lần nói đến “nguyên tắc tính nữ” như là “điểm tựa tinhthần” “toả một ánh sáng dịu dàng, huyền diệu trong tác phẩm của Nguyễn HuyThiệp” Sau 1975, văn học nói rất nhiều về vẻ đẹp phồn thực của cuộc đời trần thế.Nhiều tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cất lên cái giọng thật hả hê, khoái hoạt, nói vềlòng ái dục như mạch sống thầm thào, mà dạt dào, hăm hở giữa cõi nhân sinh Đúng
là sau 1975, nhiều nhà văn Việt Nam không còn phải “xấu hổ” khi nói chuyện tìnhdục Có lẽ vì thế, văn thơ viết về tình yêu thường đậm mầu sắc dục Sáng tác của MaVăn Kháng, Phạm Thị Hoài và nhiều cây bút khác như báo trước sự xuất hiện củaPhan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh
Sự đổi mới về nội dung phản ánh trong tiểu thuyết sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu làthay đổi các yếu tố thuộc về cơ cấu của văn xuôi như bút pháp, nhân vật trung tâm,cốt truyện, nghệ thuật trần thuật… Chẳng hạn về bút pháp, tiểu thuyết sau 75 nhìnchung thay đổi khác so với trước Xin dẫn ra đây ý kiến của nhà văn Bùi Hiển về vấn
đề này : "Theo nhận xét riêng của tôi về khuynh hướng "hiện đại hóa" trong văn xuôi
hiện nay, một trong những đặc điểm bút pháp của nó là trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, bớt đi vẻ say sưa, nồng nhiệt so với những sáng tác trước đây về cách mạng và kháng chiến, tạo một khoảng cách nhất định với đối tượng miêu tả, do đó bình thản hơn, trí tụê hơn, thấm đậm hơn giọng điệu phê phán, bình giá, trên cơ sở một cái nhìn thiên về bề sâu tâm tưởng, ý nghĩa nhân sinh, tuy nhiên không vì thế mà lạnh lùng khô héo, trái lại nữa, qua giọng điệu lời văn ta vẫn thấy cái hơi ấm nhân tình”
[9] Cái mà nhà văn Bùi Hiển nêu lên về mặt bút pháp như trầm tĩnh hơn, tỉnh táo
hơn, ít vẻ say sưa nồng nhiệt và thấm đậm giọng điệu phê phán, bình giá… thực chất
là kết quả của tư duy tiểu thuyết, của cách tiếp cận tiểu thuyết đối với hiện thực Cái
vô lí, phi lí, chất văn xuôi và vẻ đẹp của đời sống phồn tạp chỉ có thể hoá thân vào
tiếng cười trào tiếu, giễu nhại để văn học thế sự biến thành tiếng nói nghệ thuật Kể
từ sau Cách mạng tháng Tám, chưa bao giờ câu đối, thơ trào tiếu và truyện cười giễu
nhại dân gian lại xuất hiện nhiều như những năm 80 của thế kỷ trước Hình như giễunhại đã trở thành kiểu quan hệ đời sống mang phong cách thời đại
Trang 21Lắng nghe kỹ ta sẽ nhận ra tiếng cười giễu nhại của Lê Lựu, Ma văn Kháng,Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp nhiều khi man mác một cảm giác tái tê, trong đó
có cả nỗi đau âm thầm, lặng lẽ mà mênh mang, sâu sắc Bởi vì lời giễu nhại bao giờcũng là lời đa nghĩa, đa thanh Để tiếng cười giễu nhại cất lên trên những trang văn,các cây bút thời đổi mới như mang đến cho ta thông điệp: Hãy vui vẻ mà chia tay vớiquá khứ Và điều quan trọng hơn, nếu mọi lời nói, dẫu có biến thành điệu hát haytiếng cười, đều có một phần diễn trò, thì liệu có đáng tin chăng tất cả những gì màngười đời đã nói, đã kể cho ta nghe?
Có thể thấy, tiểu thuyết sau 1975 đã có những phát triển đáng kể Sự phát triểnnày không chỉ ở chỗ ngày càng xuất hiện đông đảo đội ngũ các nhà văn, ngày càngnhiều tác phẩm mới ra đời, mà cái quan trọng hơn, sự phát triển của tiểu thuyết đượcghi nhận trên việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệthuật, đổi mới thể tài và phương thức thể hiện… Tất cả những điều đó này không chỉchứng tỏ bước phát triển của tiểu thuyết sau 75, mà còn là cơ sở để xem tiểu thuyếtsau 75 là một giai đoạn phát triển độc lập trong sự phát triển của tiểu thuyết ViệtNam hiện đại
1.2 Nguyễn Danh Lam và nét độc đáo trong sáng tác
1.2.1 Đóng góp mới mẻ về mặt nội dung
1.2.1.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực
Quan niệm hiện thực của các nhà văn được đổi mới triệt để sau 1975 Hiệnthực ở đây không thể hiện đơn giản, xuôi chiều mà phong phú, đa dạng: nó được soichiếu ở mọi góc độ, đi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống bề bộn, ngang trái Quanniệm này không chỉ đi từ quan niệm cá nhân của nhà văn mà còn từ kinh nghiệmcộng đồng, từ những quan niệm nhân bản khác nhau trong xã hội Hiện thực đa chiều
là hiện thực chưa đoàn kết, đòi hỏi nhà văn phải luôn tìm tòi và khám phá Khám pháđời sống từ đời tư phức tạp; từ số phận cá nhân đến số phận chung của cộng đồng
Trang 22Điều này đem lại cho văn học những hiện thực mới mẻ, chân thực, đậm chất nhânvăn và thực sự gần gũi với con người.
Cách nhìn hiện thực, trong quan niệm và sáng tác của Nguyễn Danh Lamkhông phải là cách nhìn xuôi chiều, dễ dãi, lạc quan Với tinh thần nhìn thẳng vào sựthật, nhà văn luôn khai thác những vấn đề gai góc của cuộc sống Nhà văn bộc bạch
những suy nghĩ về mình về cuộc sống: “Nói ra khó lọt tai, nhưng quả thực tôi có
cảm giác như ngồi trong một căn phòng sát bên hè phố vậy, nhiều tiếng động Trong những tiếng động ấy có tiếng rú ga, tiếng bóp còi, tiếng….cãi cọ, tiếng rao…mà rất khó nghe thấy một tiếng nhạc Chắc là có, nhưng bị át mất rồi cũng nên?!” [12]
Có người nói “trong tác phẩm có bóng dáng tác giả”, điều này có lẽ không đúngvới nhà văn Nguyễn Danh Lam Nếu ngoài đời anh luôn hóm hỉnh, tếu táo….thì
văn anh lại nặng trĩu những trăn trở, ưu tư trước thời cuộc và những thân phận conngười Hiện thực trong tác phẩm Nguyễn Danh Lam là hiện thực đa chiều Đó là
cuộc sống khốc liệt, nghèo nàn của những con người lao động nơi xóm ga: “Những
nhà ga, trong kí ức và cả trong suy tưởng; những hành trình tưởng đâu sẽ đến miền đất hứa; cái bến đời vô thường mà bao nhiêu ngộ nhận, bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu điều ân oán ” [29] Trong cõi chật hẹp nhân sinh, trong cuộc hành trình dài
kiếm tìm hạnh phúc, trong nỗi khát khao làm người ấy, những nhân vật dường như
cứ lạc mất nhau giữa dòng đời hỗn loạn, đầy nghi kị, ích kỉ, nhỏ nhen, miệt thị, thù
hằn, mặc cảm (Bến vô thường)
Đó còn là một xã hội với cái nghèo còn chi phối quay quắt trong Giữa dòng
chảy lạc Tháng lương làm thuê của Anh bèo bọt đến nỗi Anh không dám về nhà.
Tuần trăng mật của Anh và cô (bán bảo hiểm) hiu hắt thê lương trong nhà trọ rẻ tiền
vì cả hai người đang thất nghiệp Tiền bà chị gửi thì nhẵn túi Cô gái học anh văn thìchỉ mong gặp người xuất ngoại để thoát nghèo Chủ nghĩa thực dụng làm sụp đổ tất
cả Cô bảo hiểm lấy Anh chỉ là để che đi cái thực tại đồng tính của mình trước mặtcha mẹ và mọi người Vì thế, dù gia đình cha mẹ cô, gia đình cha mẹ và chị của Anh
và cả Anh nữa, có khát khao thế nào, vun đắp thế nào cũng chỉ là xây nhà trên cát
Trang 23Tất cả đều thật đáng thương trước sự phũ phàng của dòng đời hôm nay Nó cứ băng
về phía trước và hất tất cả ra bên lề những con người cố giữ lấy những giá trị truyềnthống, giá trị nhân bản
Với Giữa vòng vây trần gian, thế gian là một cái làng tưởng như chen chúc,
hỗn độn mà chỉ là chốn vắng Vũ trụ kia chỉ là một cái hố đen hư vô Một thiên taiquét qua là xóa sổ Đó là sự giải tạm đến hư vô của mọi tồn tại trong cái vô thủy vôchung của thời gian vũ trụ, sự lệ thuộc không thể cưỡng lại được của con người vào
những thiết chế xã hội và vào chính những định kiến của mình, do mình tạo ra “Khi
con người còn ngụp lặn trong vực thẳm của sự nghi kị và sợ hãi, khi nào mà con người không thể kết nối với con người bằng sự thông hiểu và tình yêu thương,thì khi
đó, cõi trần gian này còn là một vòng vây đầy khổ ải đối với mọi phận người” [30]
Tuy nhiên hiện thực trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam không chỉ là nhữngthù hằn, nghi kị, sợ hãi; không chỉ là nỗi đau của cả một thế hệ trước sự thay đổi khôngđịnh trước của cuộc đời đang vùn vụt lao nhanh Mà còn là một thế giới hết mực thương
yêu của những tấm lòng nhân hậu, bao dung Trong Giữa dòng chảy lạc tình cảm gia
đình được thể hiện qua sự thương yêu chăm sóc của người chị bên nước ngoài với Anh;tình cảm của cha mẹ cô gái bán bảo hiểm đối với con rể (Anh), đối với con (cô gái bánbảo hiểm); tình cảm của bà mẹ tâm thần với đứa con thực vật Hay đó là tình yêu quêhương lắng đọng của ông bạn họa sĩ (bạn Anh) ngay cả khi vào cõi hư vô, lão vẫn nóivới anh cái khát vọng được gửi mình nơi dòng sông quê hương mênh mang, mát rượi
Có thể nói, Nguyễn Danh Lam đã viết được một bài thơ đẹp về tình yêu quê hương, dùrằng những chuyện anh viết, nhiều người đã kể Quê hương không phải là cái gì trừutượng mà là tiếng rao đêm, ly cà phê quán cóc, là những con người nghèo khó, nghĩatình, là cái không khí hít thở hàng ngày Nhiều người muốn đi nước ngoài để có cuộcsống sung túc hơn, thoải mái hơn, điều ấy cũng là bình thường trong cuộc sống hiện đạingày nay, thế nhưng khi hội nhập với thế giới ta không được để mất đi bản sắc văn hóacủa mình, và tình yêu quê hương là một trong những bản sắc văn hóa Việt Nam cần giữ
Trong Giữa dòng chảy lạc – Nguyễn
Trang 24Danh Lam đã khẳng định được điều ấy Có thể nói, Giữa dòng chảy lạc là một bài ca
của yêu thương nặng lòng, yêu thương vượt không gian, thời gian, yêu thương vượt
mọi lẽ sinh tử ở đời Giữa dòng chảy lạc, từ nỗi buồn thấm thía, đắm chìm, gợi lên
một cảnh tỉnh Để đứng dậy và thương yêu, sau khi gập lại trang sách cuối cùng vàngước nhìn cuộc sống còn mênh mông phía trước
1.2.1.2 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
Hiện thực trong sáng tác Nguyễn Danh Lam là một hiện thực bề bộn, lo âu,gai góc Hiện thực đó được nhà văn soi xét, nghiền ngẫm ở nhiều tầng quan hệ Song
nó chủ yếu không phải mục đích phản ánh của nhà văn mà chính là phương tiện đểtác giả trình bày những suy tư, khắc khoải về hai chữ “con người”
Con người trong sáng tác Nguyễn Danh Lam có thể là những con người quẩnquanh trong cảnh giới chính mình tạo ra với đầy rẫy nỗi sợ hãi vô lý Con người tựlưu đày mình trong một thế giới của những tri giác sai lầm và dù có ý thức đi tìm sựthức tỉnh thì trí lực nhỏ nhoi và tâm hồn yếu đuối của con người cũng bị chữ ngã đè
nặng như cái tên của nhân vật chính: Thữc (Giữa vòng vây trần gian) Làm sao sống
được đúng nghĩa chính cuộc sống của mình ?, câu hỏi còn bỏ lửng… Khi nào màcon người còn ngụp lặn trong vực thẳm của nghi kị và sợ hãi, khi nào mà con ngườikhông thể nối kết với con người bằng sự thông hiểu và tình yêu thương, thì khi đó cõitrần gian này còn là một vòng vây đầy khổ ải đối với mọi phận người
Tác giả từng chia sẻ: “Tương ứng với giai đoạn “mười mấy đôi mươi” của thế
hệ tôi là thời kì thoát khỏi nền kinh tế bao cấp, cùng nhiều thứ liên quan Kế theo một khoảng nôn nao chuyển đổi, những “giá trị sống mới” bắt đầu hình thành rồi
“lên ngôi” Khi tôi ngồi học trong nhà trường, thì lý tưởng là những thứ rất… sách
vở, nhưng khi bước ra khỏi cổng thì mọi thứ lại rất khác Tôi bắt đầu cảm nhận mình
là thành viên của một “Lost Generation”, khi cái cũ qua mà cái mới chưa tới” [13].
Do đó trong sáng tác Nguyễn Danh Lam là thế giới của những con người vô danh,thế giới của những bước lỡ, bước chệch quỹ đạo thông thường, thế giới của nhữngthân phận người bị bắn ra và bị chìm xuống dưới cái mẫu số chung tầm thường tạo
Trang 25thành xã hội Tiếng nói của Nguyễn Danh Lam trong tác phẩm là tiếng nói tỉnh táo,
trải nghiệm và rất hồn hậu “Tôi viết về những con người không kịp chuẩn bị kĩ năng
sống, giữa dòng chảy cuồn cuộn và hối hả của thế giới hôm nay Chân phải bước lên
“đoàn tàu mới”, nhưng chân trái bị kẹt lại “sân ga cũ” Thành thử bị….xé làm đôi” [13] Nguyễn Danh Lam có khả năng nhìn xuyên qua nhiều thế giới, để đi tến tận
cùng của phận người, kiếp người, lạc lõng giữa dòng chảy khốc liệt ngoài kia Nhưngđiều mà Nguyễn Danh Lam khẳng định không phải là thái độ bi quan, chán nản,tuyệt vọng buông xuôi trước thực tại mà các nhân vật trong sáng tác Nguyễn Danh
Lam luôn khao khát sống với chính con người mình, sống với tình yêu thương, niềm
tự tôn bản thân cho dù phải trải qua những vật vã, đau khổ của kiếp người Hãy trở
về với dòng sông, trở về với cuộc sống đang trôi chảy, đang vượt lên phía trước.Vâng phải hành động tích cực cho cuộc sống, phải thích ứng được với thời đại Vượtqua sinh tử, đạt tới cõi an nhiên trong tâm thức trước những biến động không ngừngcủa cuộc sống, trước những thực dụng vị kỉ và vô luân
Dù hiện thực có khốc liệt đến bao nhiêu nhưng tiếng nói về con người trongsáng tác Nguyễn Danh Lam vẫn là tiếng nói của niềm tin vào những phẩm chất tốtđẹp của con người Đó có thể là một mớ hỗn độn, tù túng, ngổn ngang của một thếgiới người không mặt, không tên của những con người tận cùng của xã hội Nhưngnhững con người thống khổ ấy vẫn bươn bả trong khát vọng làm người, khát vọnghạnh phúc Cái khát vọng ấy như những nốt lặng nhiều dằn vặt trước áp lực và sựmâu thuẫn với hoàn cảnh
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự suy ngẫm, cắt nghĩa, lý giải của mỗinhà văn về con người Nó là khả năng chiếm lĩnh hiện thực đời sống, năng lực khámphá thế giới tâm hồn con người của nhà văn Trong quá trình sáng tạo của mình, nhàvăn luôn khao khát khẳng định bản ngã, cá tính sáng tạo thông qua sự bày tỏ quanniệm, một cái nhìn, cảm nhận độc đáo mới mẻ về thế giới và con người Với niềmđam mê sáng tạo, Nguyễn Danh Lam không chọn cho mình lối đi bằng phẳng, đơngiản, một chiều mà thử thách ngòi bút của mình bằng con đường đầy chông gai, thử
Trang 26thách, nhà văn tiếp cận con người ở nhiều chiều kích khác nhau Trên con đường giải
mã thế giới nhân vật, nhà văn đã thể hiện được bản lĩnh của một cây bút trẻ đầy tàinăng qua những quan niệm sâu sắc, mới mẻ về con người
Trên đây là những nét khái quát về một số đặc điểm nổi bật trong quan niệm
về hiện thực và con người trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam Bằng việc quan tâmđến những vấn đề hiện thực gai góc và số phận con người bên miệng vực của cái áctrước bao thăng trầm lịch sử - xã hội, tác phẩm của Nguyễn Danh Lam đã mở ranhững chiều sâu mới mẻ về con người và nhân thế Bằng ngòi bút nhân văn, nhữngvỉa tầng triết lý sâu sắc, tác phẩm của Nguyễn Danh Lam đã để lại cho độc giả mộtnỗi ám ảnh riêng “con người cô đơn, con người nhỏ bé trước một xã hội rộng lớn đầybiến động” Đó là động lực để thôi thúc những độc giả yêu cái mới, tìm tòi, sáng tạokhám phá đi vào chiều sâu tác phẩm của nhà văn đương đại này
1.2.2 Đóng góp về mặt nghệ thuật
1.2.2.1 Xây dựng nhân vật và cốt truyện theo khuynh hướng hậu hiện đại
Cảm thức hậu hiện đại xem thế giới là hỗn mang Ở đó, bảng giá trị đời sống
bị đảo lộn, con người hồ nghi về sự tồn tại của chính mình Thế giới nhân vật trongsáng tác Nguyễn Danh Lam hầu như bị “làm dẹt”, bị “tẩy trắng” mọi đường viền lịch
sử (về mặt tiểu sử hay tâm lý, tính cách) chỉ còn một cái tên, một thứ kí hiệu – biểu
tượng, Nguyễn Danh Lam đã nói: “Tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết hay truyện
ngắn của tôi từ trước đến nay đều vô danh, hoặc nếu “hữu danh” thì cũng chỉ là một
“cái gì đó” để gọi vậy chứ không phải tên! Ngoài tên, họ không còn có cả lai lịch và nhiều thứ thuộc về cá nhân khác nữa Cái này không do tôi quyết định, mà là do tôi nhìn thấy họ ở trong cuộc đời này và tôi phản ánh họ vào tác phẩm như vậy” [23].
Đa phần trong số nhân vật hiện diện trong kí ức, không diện mạo, không lai lịch, và
“bóng hình của họ không có chiều dày thực thể, mà chỉ giống những giọng nói, những hình dung, những biểu tượng” (trong khi với tiểu thuyết truyền thống: đó lại
là những điểm tựa, những cái mốc để bạn đọc dễ theo dõi và nhận định về nhân vật).Nếu đối chiếu với những quan niệm truyền thống về nhân vật, ở một góc độ nào đó,
Trang 27có thể gọi đây là kiểu nhân vật “phản – nhân vật” Song cũng chính những “phản –nhân vật” này đã tạo nên sự bí ẩn và kèm theo đó là sức hấp dẫn “mê hoặc” của cáctiểu thuyết Trong tiểu thuyết đương đại, hiện tượng “biến mất” của các nhân vật khỏitiến trình tự sự trở thành một hiện tượng khá phổ biến, tạo nên không ít những
“khoảng tối”, “khoảng trống”, những khúc “vô thanh” cho văn bản Rõ ràng, việcxuất hiện các nhân vật “biến mất”, “vắng mặt” trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lamhoàn toàn không phải một hiện tượng mang tính ngẫu nhiên Với khát vọng thay đổi
vị thế, bản chất cũng như mô hình nhân vật truyền thống, Nguyễn Danh Lam muốntạo ra một lối “giải – nhân vật” mà thực chất là xây dựng nên một kiểu nhân vật mớicho sáng tác của mình Một cuộc sống, một tiến trình đầy ắp sự kiện…đôi khi cũngchính là nguyên nhân đẩy các nhân vật “ra rìa” hay lùi sâu vào “hậu trường” văn bản
Không chỉ độc đáo trong việc xây dựng nhân vật theo cảm hứng hậu hiện đạitác giả còn đem đến một sự cách tân độc đáo trong cách xây dựng cốt truyện Đó là
sự dịch chuyển liên tục các điểm nhìn, cốt truyện lỏng lẻo, hiện thực trong tác phẩm
là những mảnh vụn nhỏ, cấu trúc phi đơn tuyến với lối kể nhảy cóc, lời thoại đaâm… Những kĩ thuật này được Nguyễn Danh Lam sử dụng một cách tài tình, khéoléo nhằm thể hiện một cách sâu sắc những nhân hình, nhân tính đặc biệt đang trong
quá trình hỗn mang của thế giới con người Nguyễn Hưng Quốc nhận xét: “Chủ
nghĩa hậu hiện đại chủ trương phi tâm hóa, chấp nhận sự kết hợp lỏng lẻo giữa các thành tố trong tác phẩm như những thủ pháp nghệ thuật quan trọng… Cũng có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại là sự sụp đổ của những cái đơn nhất và toàn trị để nhường chỗ cho phần mảnh và những yếu tố ngoại biên, là sự khủng hoảng của tính nhất quán và là sự nở rộ của sự dị biệt, là sự thoái vị của tính hệ thống và sự thăng hoa của tính đa tạp” [34] Với việc sử dụng hình thức cốt truyện phân mảnh, Nguyễn
Danh Lam đã tạo ra một sự thay đổi trong nghệ thuật viết tiểu thuyết, đưa người đọcđến với những khả năng mới của tiểu thuyết, báo hiệu một ý thức mới về thể loại,
góp phần trả lời câu hỏi: “Có thể viết tiểu thuyết như thế nào một cách tự giác hơn”.
Trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm hình thức cốt truyện này, có những tác phẩm tới
Trang 28đích, những tác phẩm còn dang dở… Tuy nhiên, đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn
Hưng Quốc đã khẳng định: “Mỗi thử nghiệm nếu không làm xuất hiện những đỉnh
cao, thật cao trong sáng tạo thì nó ít nhất cũng làm cánh đồng văn học nghệ thuật được đa dạng hơn, nhãn giới của những người làm văn nghệ được mở rộng, tâm lý của người đọc cũng dần dần được bao dung hơn, từ đó dễ chấp nhận những cái mới hơn” [34].
Việc xây dựng nhân vật và cốt truyện theo khuynh hướng văn học hậu hiện đại
đã giúp nhà văn thể hiện sinh động thế giới như nó vốn có Nhân vật, cốt truyện làhai phạm trù trung tâm của tiểu thuyết, tìm hiểu và đi sâu vào những địa tầng của tiểuthuyết hậu hiện đại nói chung và của Nguyễn Danh Lam nói riêng chúng ta sẽ có dịpkhám phá và tìm hiểu những cảm thức của một khuynh hướng văn học mới Điều nàygiúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn đối với nền tiểu thuyết đươngđại Việt Nam nói chung và những tác phẩm của Nguyễn Danh Lam nói riêng
1.2.2.2 Lối viết kết hợp truyền thống với hiện đại
Nguyễn Danh Lam đã thành công trong việc kết hợp giữa tính hiện đại vànghệ thuật tiểu thuyết truyền thống Bằng thủ pháp “thả một câu chuyện có đầu cuốitrôi dạt giữa muôn vàn câu chuyện không đầu không cuối”, trong tiểu thuyết NguyễnDanh Lam, thế giới hiện lên với vẻ phong phú, hỗn độn, sôi động Đó là một bản hòasắc kì dị giữa những gam màu ảo và thực, sáng và tối Đến với tiểu thuyết NguyễnDanh Lam, độc giả sẽ được thưởng thức một bản hòa âm lạ lùng giữa tiếng ngọt ngào
từ sâu thẳm tâm linh, từ tâm hồn những con người thống khổ mà vẫn khao khát hạnhphúc, khao khát làm người, với những tiếng gào thét đầy bạo lực, mánh lới của dòngđời cuồn cuộn chảy trôi Đến với tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam chúng ta không chỉđến với nội dung tiểu thuyết độc đáo mà còn đến với phong cách nghệ thuật độc đáo,không lặp lại chính mình Một sự cách tân độc đáo với cấu trúc song trùng, phức tạp,một thế giới phức điệu, giọng văn vừa thô nhám, vừa giàu chất thơ
Nguyễn Danh Lam đã chọn cho mình cách viết nội dung có sự kết hợp giữaviết cái gì và viết như thế nào Nhà văn hiện đại luôn muốn mình phải là người kể
Trang 29chuyện chứ không muốn mình đơn thuần chỉ là kể ra một câu chuyện Cách viết nộidung ở đây có thể hiểu là nội dung không có sẵn từ trước mà viết đến đâu nội dunghình thành đến đó Viết ở đây không phải là để biểu đạt nội dung mà là sản sinh nộidung, tất nhiên người viết có dự định, ý đồ ban đầu nhưng vẫn còn mơ hồ Hình dung
cả một khối hỗn mang những cảm xúc, những hình ảnh hồi ức cộng sinh của ý đồban đầu với khối hỗn mang ngôn ngữ mang lại cho sự sản sinh nội dung Để làmđược điều này đòi hỏi người viết phải có năng khiếu, tài năng nhất định chứ khôngphải ai cũng có thể làm được Dù viết khó nhưng Nguyễn Danh Lam đã chọn chomình lối viết này Câu chuyện cứ trôi đi theo tình tiết sự việc và hành động nhân vật,nhà văn không biết sự việc gì đã xảy ra, cứ để thực tại diễn ra như nó vốn có không
tô vẽ màu mè gì cả Nguyễn Danh Lam thường hướng ngòi bút của mình vào nhữngmảnh vỡ của hiện thực, đó là những tiểu tự sự, những mảnh vỡ hiện thực của cuộcsống, thật khó tóm tắt được một tác phẩm như vậy
Đọc tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam, độc giả có cảm tưởng như rơi vào nhữngvòng xoáy, những suy nghĩ đang tuôn chảy trong mạch suy nghĩ tự nhiên của nhà văn
mà không có sự chuẩn bị từ trước Bằng ngòi bút sắc sảo, với lối viết độc đáo, làmviệc bằng cả tâm huyết, Nguyễn Danh Lam đã cho ra đời hàng loạt những “đứa continh thần” giàu giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật góp phần tô đậm bứctranh muôn màu của đời sống văn chương
Trang 30CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM
Nhân vật là một trong những thành tố cơ bản của tiểu thuyết Chính vì vậy, khitiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại có những đổi mới trong cách viết, lối tự sự, cáchxây dựng nhân vật thậm chí đề xuất tiểu thuyết “phản nhân vật” thì nhân vật vẫn tồntại như một yếu tố quan trọng nhất của cấu trúc tiểu thuyết Nhân vật gắn liền với cốttruyện, chuyển tải nội dung cơ bản cũng như là hạt nhân của các thủ pháp nghệ thuật
Vì vậy, người ta không thể tiêu diệt nhân vật, chí ít tác phẩm vẫn luôn tồn tại nhânvật – người kể chuyện Bởi nhân vật là một thành tố vừa thuộc nội dung, vừa thuộchình thức của tiểu thuyết Nghiên cứu về nhân vật thực chất là đang tìm hiểu xem tácgiả nhìn nhận con người như thế nào và chuyển tải hình tượng đó trong tác phẩm củamình bằng cách nào
Vậy nhân vật là gì? Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế
giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định Theo Từ điển thuật ngữ
văn học thì: “Nhân vật là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng, cũng có thể không có tên riêng… Nhân vật văn
học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người
có thật trong đời sống… Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì vậy nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm” [18]
Trên thế giới, nhìn lại tiểu thuyết của các nhà văn đầu thế kỉ XX ta có thể thấyđược khuynh hướng tấn công vào nhân vật Kafka đã giản lược dần tên của nhân vậtđến khi chỉ còn kí hiệu nhân vật bằng một chữ cái Xóa nhòa cuộc sống thực tại vớicác yếu tố nghề nghiệp, lai lịch, thân nhân chỉ quan tâm đến nhân vật tại thời điểmxảy ra biến cố Dường như tác giả không quan tâm tới quá trình diễn tiến của tínhcách nhân vật mà chỉ cố chuyển tải tâm trạng của nhân vật tại thời điểm kể chuyện.Cách kể như vậy khiến cho kiểu nhân vật điển hình biến mất, thay vào đó ta có nhânvật như một mảng hiện thực bị xé nhỏ, ngổn ngang đầy ắp Thậm chí nhiều nhà văn
Trang 31còn cực đoan phản đối loại nhân vật tâm lý (kiểu nhân vật đã rất thành công của tiểuthuyết thế kỉ XIX) và họ nghĩ nhân vật của họ không còn tâm lý nữa.
Các nhà tiểu thuyết hiện đại Việt Nam cũng đang trong xu thế cách tân nhânvật của mình Từ chỗ coi nhân vật như trung tâm của đời sống xã hội, phản ánh conngười xã hội với những vấn đề lớn lao nhiều nhà văn đã quan tâm đến đời sống tâm
lý – tâm linh của nhân vật (đó cũng là lý do khiến cái kì ảo xuất hiện nhiều hơn trongvăn học Việt Nam hiện đại từ cuối thế kỉ XX), quan tâm tới nhân vật trong tư cáchmột cá nhân, một số phận cụ thể Nguyễn Danh Lam cũng không phải ngoại lệ Anh
đã xây dựng cho tiểu thuyết của mình một thế giới nhân vật rất đặc trưng, với nhiềunét đổi mới táo bạo trong thủ pháp xây dựng nhân vật Truyện của anh không thờithượng bởi nhân vật của anh là người lao động, những số phận bình dân, nghèo túng,lam lũ, chìm khuất và chịu đựng Cảm tưởng như những nhân vật của anh được đặttrong trạng thái quá khứ mịt mờ, hiện tại lổn nhổn và tương lai vô định, những nhânvật của anh sống bản năng nhưng tiềm tàng một niềm tin mãnh liệt vào cuộc đời
Ở Luận văn này, chúng tôi tìm hiểu hai khía cạnh chính trong vấn đề nhân vậtcủa tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam Đó là những nhân vật tiêu biểu trong các tácphẩm của anh nhằm chuyển tải một nội dung nào đó; hai là các thủ pháp xây dựngnhân vật mà nhà văn đã sử dụng Thông qua đó, chúng tôi sẽ đánh giá mức độ thànhcông của nhà văn ở phương diện này trong tương quan so sánh với nền chung củatiểu thuyết Việt Nam hiện nay
2.1 Các loại nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam
2.1.1 Những “lạc thể” “Giữa dòng chảy lạc” của cuộc đời
Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam nhận xét: “Sẽ không quá, nếu muốn nói rằng
thế giới nhân vật trong Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam là một thế giới vô danh, thế giới của những người bước lỡ, bước chệch quỹ đạo thông thường, thế giới của những thân phận người bị bắn ra và chìm xuống dưới cái mẫu số chung tầm thường tạo thành xã hội” [2,378].
Trang 32Ông họa sĩ trong Giữa dòng chảy lạc là một nghệ sĩ đầy tài năng, đầy tâm
huyết với nghề nghiệp nhưng cũng đầy tự tôn Ông muốn sống có ích, được cống
hiến: “Tao nợ cuộc đời này nhiều Nợ hội họa càng nhiều Mất bao nhiêu năm chẳng
vẽ vời gì được Những khát vọng tuổi trẻ bị vùi lấp Cho đến lúc ý thức được ra cũng chỉ vẽ cầm chừng, bởi tự tôn Qua việc vừa rồi, tao thấy mình cần làm một cái gì đó”
[2,71] Trong ông luôn thường trực nỗi cô đơn, sự chênh chao: “Cái bóng cao lớn
như xô nghiêng bên hè phố Có cảm giác chỉ một cơn gió thổi qua cũng hất nó tan mất vào bóng tối Ông cũng mong manh theo kiểu của riêng ông” [2,123] Ông hiểu
được những uẩn khúc của cuộc đời, trải đời “suy cho cùng tao với mày cùng một thế
hệ Giống y nhau, dang dở, nửa nạc nửa mỡ Rốt cuộc là chẳng thích ứng với cái nào cả… Bây giờ cái gì cũng lao vùn vụt, nếu ngay hôm nay mày không biết giật
mình mà ngồi dậy, ráng “tương thích” được phần nào hay phần đó, chỉ ít năm nữa thôi, mày sẽ vĩnh viễn không hòa nhập được nữa…” Nhưng đến lúc xế bóng của kiếp người phải sống ở nước ngoài vật vờ như một cái bóng “không chốn nương thân, cho cuộc sống, cho nghề nghiệp, cho niềm đam mê của mình” [2,336], ông bị đẩy ra ngoài, bị cô đơn trong chính gia đình mình: “Mà hình như từ ngày sang đây tất cả như nhão ra Quan hệ vợ chồng, con cái cũng chẳng được như xưa nữa… Tao như một kẻ dư thừa, ăn bám, vô ích… Tao là một thằng già thừa thãi” [2,336] Ông tàn tạ, héo hon như một cái
cây người ta đem trồng nơi không hợp thổ nhưỡng Ông trở về, phải chăng với ông trở
về quê hương là trở về với thực tại, trở về với dòng sông đang chảy trôi để được tìm lại
chính bản thân mình: “Đêm qua tao vừa nghe thấy tiếng rao! Chỉ vì cái tiếng rao khuya
ấy mà tao trở dậy….” [2,243] Người họa sĩ già, cả
đời đeo đuổi đam mê thánh thiện từ những đường cong hội họa, vùi mình vào sắcmàu miên tưởng của cái đẹp với ước mong cái đẹp cứu rỗi được linh hồn, ấy vậy,
cuối cùng ông cũng phải chua chát cảm nhận trước cái chết: “Cả đời tao đã phải tồn
tại như thế rồi Chỉ khi được tan đi trọn vẹn, tao mới hi vọng có được sự an ổn”
[2,259] Cuộc đời của người họa sĩ ấy vô định như chuyến đò giữa dòng đời khôngbến đậu Thời gian đã làm con người biết ngộ ra cái đẹp phía sau lớp mặt nạ giả tạo
Trang 33mà cuộc đời đã trang điểm lên nó Và có lẽ sau cái chết mới là cuộc sống vĩnh cửu –một sự sống được đo bằng nấc thang hướng ngoại.
Cô gái bán bảo hiểm – vợ của nhân vật anh, một cô gái xinh, đẹp giỏi giang làniềm mơ ước của bao chàng trai, nhưng sự thật cô phải căng mình ra để có sự tồn tạicân bằng giữa con người đích thực của mình – một cô gái đồng tính, và con người màđịnh kiến thông thường của xã hội đã ấn định cho mình Cô từng tâm sự với anh:
“Em cũng có những vấn đề riêng của mình Em cũng muốn kiếm tìm hạnh phúc.
Nhưng hình như em đang lạc lõng….” [2,277] Cô cưới anh vì ba mẹ, vì muốn che
giấu con người thực của mình và cũng phần nào muốn nhờ anh để trở về với cô như
ngày xưa: “Và em đã ngả theo ý nguyện của ba mẹ… Bắt đầu “hẹn hò” với anh Qủa
thực, em quyết nhờ anh để tìm “con người ngày xưa” Tuy em chẳng biết rõ đâu mới
là con người thực của mình” [2,300] Nhưng cuộc sống gia đình với những hố ngăn
cách, những mâu thuẫn đã đẩy anh và cô cùng vào ngõ cụt, bế tắc: “Em đã từng
mong cưới để thay đổi tất cả Để bắt đầu hoàn toàn một cuộc sống mới Nhưng đến lúc này em không thể trả lời cho anh câu hỏi ấy Cũng như em không thể trả lời chính em” [2,300] Cuối cùng không chịu đựng nổi sức nặng của chiếc mặt nạ, cô đã
lựa chọn sự ra đi Cô để lại cho anh một bức thư để nói hết nỗi lòng của mình bởi côbiết, cô không thể giả dối, cô đang tự mình “lạc” ra dòng chảy của cuộc đời, xã hộikhông chấp nhận cô hay chính là không chấp nhận những con người như cô, cô ra đi
để được sống đích thực là con người của mình: “Khi quyết định và viết đến đây, em
thấy nhẹ lòng Không phải em đã “trút bỏ” được anh, hay tìm thấy cuộc đời đích thực của mình, chỉ đơn giản em thấy mình không còn gì để mất thêm được nữa! Em,
sẽ cứ thế đi, tiến về phía trước, như một con ngựa vô tri mang băng che mắt Đi cho đến lúc nào số mệnh không cho em tiếp tục đi nữa, thì tất cả sẽ tự động dừng”
[2,323] Cô đã ý thức được rằng, hạnh phúc chính là cái chết thanh thản bên cạnh ước
mơ của mình Cô đã vượt ra khỏi những lề thói luân thường, đạo lý để chạy theo nỗiđam mê làm người, đam mê sống một cuộc đời không vô vị Cô nhận ra sự đau khổcủa mình không nằm ở mưu cầu hạnh phúc chung, phổ quát mà chính là không dám
Trang 34tự phủ nhận mình không dám vượt qua lằn ranh đạo đức xã hội trong mình Và cuốicùng, một bức thư nằm lạnh lẽo trên bàn như một biểu tượng duy nhất đọng lạichứng minh thuyết phục rằng, cô đã vượt biên khỏi thế giới ý niệm tưởng như đẹp đẽ
để tìm cho mình nơi bình yên của cõi lòng
Giữa dòng chảy lạc nói đến hai sự ra đi mang nhiều ý nghĩa, đó là sự ra đi của
ông họa sĩ già và cô gái bán bảo hiểm Ông họa sĩ già từ nước ngoài về, sống trên quêhương như một người thừa Trên quê hương mình ông bỏ mạng không rõ nguyênnhân, thi hài ông được hỏa táng và thả trôi cùng dòng sông quê hương như ướcnguyện của ông Cô gái bán bảo hiểm chạy trốn cái gia đình giả tạo không hạnhphúc Cô đi đâu không biết, nhưng ít nhất từ sự ra đi ấy cô đã rũ bỏ được mặt nạ vàtrở về với con người đích thực của mình Ra đi cũng có nghĩa là trở về Không có sắcthái tươi tắn, lạc quan nào ở đây, có chăng chỉ là cái giá mà con người ta phải trả để
có được một nhận thức nào đấy
Nhưng, được thể hiện ở mức cao nhất của sự nhạt nhòa hóa, sự vô danh hóa,
sự tầm thường hóa trong Giữa dòng chảy lạc – là nhân vật anh Anh không nghề
nghiệp, cũng chẳng mấy mặn mà với chuyện phải đi tìm cho mình một công việc.Anh sống chủ yếu bằng sự bao cấp của bà chị gái bên Tây Anh không vênh vang với
số phận “tầm gửi” – thậm chí đôi lúc còn thấy áy náy – song cũng chẳng lấy đó làmđiều phải triệt để nỗ lực Anh đối xử với mọi người khá nhân hậu, nhưng sự nhân hậu
không đủ lớn để làm thành một hành vi có hiệu quả tích cực nào hết “Anh lờ nhờ,
thụ động, bất lực” Anh ý thức được sự lờ nhờ, thụ động, bất lực của mình nhưng rồi
cũng chẳng làm được gì để thay đổi tình thế Anh buông mình xuôi theo dòng chảycủa cuộc đời, phó thác bản thân mình cho mọi ngẫu nhiên, được không mừng, mấtkhông tiếc, tất thảy đều nhàn nhạt Lần đi xin việc đầu tiên anh không nhớ tên công
ty của mình: “Xuống đến hành lang anh sực nhớ, cái công ty hẹn mình phỏng vấn
nằm ở tầng nào nhỉ? Thời gian còn lại buổi sáng không đủ cho anh dấn thân vào cái ma trận trong đầu, với mớ thông tin hú họa như thế” [2,24] Cuộc phỏng vấn
không thành anh trở về với căn phòng hôi hám của mình Lần xin việc thứ hai ở một
Trang 35cơ quan nọ, anh lại không thể chịu đựng nổi cung cách làm việc và lề lối sinh hoạt ởđây, anh bỏ việc Ở anh, đơn thuần là một sự bó tay trước thực tế, một sự đầu hàngtrong khi anh phải hòa mình vào cuộc đời cuồn cuộn và làm chủ dòng chảy cuộc đời.Chính sự ỷ lại, nhạt nhòa của anh đã bị guồng quay cuộc sống bắn ra ngoài mà không
có một sự tương thích, cố gắng nào từ phía anh Ngay cả trong tình yêu, hạnh phúc
anh cũng thụ động, để rồi anh mất tất cả: “Hai lá thư để lại, hai người con gái Hai
cung cách biến mất vô dấu tích, ngay cả số điện thoại của họ anh cũng không còn Hai phiên bản chồng lên nhau tạo nên độ nhòe mờ khiến cả hai càng gần với ảo giác” [2,327] Cả anh nữa, tất cả cũng chỉ là một phiên bản của những con người cô
đơn, dang dở, vô vọng: “Tất cả đều lạc nẻo, càng cố trở về càng xa hút, càng cố
kiếm tìm càng hoài công mệt mỏi” [2,304] Nhân vật anh thả trôi đời mình trên sự già
nua của thân xác: “Một gã tâm thân đơn độc với tuổi già phía trước Đúng, thật sự
đó là tuổi già Anh đã già ngay khi còn trẻ Già so với mọi thứ đang lao ầm ầm quanh đây” [2,373] Cuộc sống của anh vô nghĩa như nấc thang thời gian mà anh
sinh hoạt hàng ngày: Ngủ - ăn – ngủ Nhưng chính anh lại là người chứng những cái
chết – một kẻ chứng lạc loài trong thế giới đổ nát niềm tin và hi vọng, để rồi trở vềtrong ý niệm tâm thần mà người đời gán cho anh một cách lạnh lẽo, vô cảm ở phía
cuối thiên truyện Nhưng đó cũng là lúc anh ngộ ra chân lý cuộc sống: “Cuộc đời là
một nhà thương điên, và chúng ta là những cử chỉ man dại góp phần vào vở kịch đang diễn ra trong nhà thương điên ấy” [19] Cái chết của ông già họa sĩ, con mèo,
người bạn học cùng đại học đã chạm tới khắc khoải suy niệm tự thân Cuộc sống của
anh vốn thụ động như cái xác trôi dạt giữa dòng đời, đang cào bới thời gian, tìm lại ýnghĩa hiện sinh cho kiếp người đau khổ, để rồi ngậm ngùi thốt ra tiếng nấc nghẹn
lòng: “Có lẽ lại đến lúc cần phải đứng lên Lần trỗi dậy thứ bao nhiêu rồi nhỉ? Liệu
tất cả có khác đi không? ” [2,359] Khi biết vợ mình là đồng tính, Nguyễn Danh Lam
đã không chỉ cho nhân vật anh tự đi tìm đáp án cuộc tình Đoạn suy tư của anh trên hành trình đi tìm lại chính cuộc sống của mình chứa bao đau xót, ám ảnh: “… Liệu
anh có đưa ra một giải pháp khả dĩ nào đó cho vấn đề này không? Trong phút nao lòng đó, anh tự nhủ, sẽ không thể để mất cô Tự khởi thủy con người cô không mang
bi kịch ấy Đó
Trang 36chỉ là cuộc trôi dạt tạm thời, anh sẽ kéo cô trở về bờ cũ Nhưng phút đặt mình trên
xe, ngẫm lại cả một đoạn đời vừa qua, anh đã góp phần đẩy cô xa thêm Rồi cô sẽ đi
về đâu, cái lạc thể chênh chao ấy? Mà ngay trong bản thân anh, anh có hơn gì cô?
Có khác chăng sự “trôi dạt” của anh không mang khuôn mặt giới tính Tất cả đều lạc nẻo, càng cố trở về càng trôi xa hút, càng cố kiếm tìm càng hoài công, mòn mỏi…” [2,304] Nguyễn Danh Lam đã nhấn nhân vật của mình vào tận cùng của sự
vô nghĩa trong cuộc sống Nhân vật Anh là kẻ dù biết rõ sự tạm bợ, chán ngán và vônghĩa của mình nhưng lại không muốn nói cách khác, không đủ bản lĩnh để thoát rakhỏi cuộc sống đó Cuộc sống của anh chỉ còn là sự tồn tại qua mỗi ngày, nhân vậtchính thực chất chỉ còn là một thân xác con người đang cố đi cho hết hành trình cuộcđời
Sự cô đơn, lạc lõng của con người trong chính đời sống của họ đang sống làmthành không khí u ám của tiểu thuyết Vì sao không có ở đó sự cố kết cộng đồng? Vàngược lại, có không ở đấy, sự khẳng định cái tôi cá nhân cá thể? Không có câu trả lờinào khả dĩ được đặt ra, cũng không có thông điệp nào khả dĩ được gợi ra Cùng lắm ởđấy chỉ có một nhận thức thế hệ như trong cách ông họa sĩ già tâm sự với người bạn
trẻ của mình trước khi xuất ngoại: “Bây giờ cái gì cũng lao nhanh vùn vụt, nếu ngay
hôm nay mày không biết giật mình mà ngồi dậy, ráng “tương thích” được phần nào hay phần đó, chỉ ít năm nữa thôi, mày sẽ vĩnh viễn không hòa nhập được nữa”
[2,197] Sự vỡ ra của một xã hội mới hiện diện khắp tiểu thuyết Đến ngay cả nhữngsuy tư về sự vỡ ra ấy cũng vỡ ra nốt Hầu như các nhân vật trong tiểu thuyết khôngtồn tại như là con người suy tư, cũng ít khi là con người hành động, dù không hẳn họ
đã bạc nhược, bấy yếu hay mang sẵn một quan niệm yếm thế về số phận Có thể nói,tất cả những nhân vật trong tiểu thuyết đều là những “lạc thể” Hầu như họ là nhữngngười không “tương thích” với xã hội kĩ trị, xã hội tiêu dùng Có hai cuộc sống bên
lề cuộc sống ấy hiện diện như một tham chiếu nhưng cũng không trở thành lối thoátcho những con người ở trung tâm xã hội Có hay không một ý đồ ở đây, khi NguyễnDanh Lam cho hai nhân vật của mình, một tìm đến nông trại cà phê (đời sống tiền
Trang 37hiện đại), một tìm đến bến bờ hải ngoại (đời sống hậu hiện đại), đều không tìm thấylời giải cho những câu hỏi của đời sống hiện đại? Người ta chỉ có thể trả lời nhữngcâu hỏi của thực tại từ chính trong thực tại ấy? Đó là lý do Nguyễn Danh Lam khôngđưa ra bất kì một gợi ý nào cho các nhân vật: Tiểu thuyết không tìm cho mình mộtkhuôn khổ hiện thực với những đề xuất luân lý, lãng mạn với kiểu kết thúc có hậu,cũng không là một hiện sinh hay phi lý Và đó chính là điều tác giả muốn để bạn đọccảm nhận qua những câu chữ của mình, mỗi nhân vật là sự điển hình của sự cô đơn,
sự cô đơn của những người bị tách ra hay tự tách ra khỏi xã hội để tự thả trôi mìnhgiữa dòng chảy, lạc với dòng chảy của cuộc sống Ở đây, chúng ta nghĩ đến những
“con người nhỏ bé” trong văn học Nga thế kỉ XIX Thế nhưng, họ là những “conngười nhỏ bé” chỉ trở thành nhỏ bé khi mọi nỗ lực vươn lên của họ bị xã hội đè chobẹp dí, và vì thế, họ là những nhân vật mang sức tố cáo mạnh mẽ Nhân vật anh củaNguyễn Danh Lam thì sao, phải chăng có thể xem đó là một phiên bản khác củanhững “con người nhỏ bé”? Nếu có thể khái quát, liệu anh của Nguyễn Danh Lam sẽchính là chúng ta, những con người mang trong mình đầy tàn dư và hệ lụy của mộtthời kì bao cấp quá dài, ta chán ngấy cái cũ nhưng lại chưa được chuẩn bị để thíchứng với cái mới và vì thế ta buông xuôi chăng?
Tác phẩm No country old men của nhà văn Cormac McCarthy - Một tác phẩm
có cùng chủ đề về những con người vì một lý do khách quan hay chủ quan đã bị tách
ra khỏi dòng chảy sôi động của cuộc sống Và bất chợt, một biến động diễn ra, mộtbiến động khốc liệt, đe dọa cuộc sống của những ai dính vào nhưng nhân vật chính,
kẻ đã và đang sống một cuộc sống nhạt nhòa, thụ động, vô định lại thấy đó chính là
cơ hội để thoát ra, để sống lại Với Giữa dòng chảy lạc, hình ảnh cuối cùng của tác phẩm lại mang niềm hi vọng, khi nhân vật chính bất chợt tìm thấy bộ phim No
country for old men Đây là cái kết mở cho nhân vật, mở ra câu chuyện có phần tươi
sáng để nhân vật anh lại tiếp tục cuộc sống lay lắt của mình nhưng cũng có thể bắtlấy cơ hội để thoát khỏi cuộc sống lay lắt đó như nhân vật chính trong phim đã làm
Trang 382.1.2 Những con người thống khổ bươn bả với khát vọng làm người, khát vọng hạnh phúc trong “Bến vô thường”
Nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên nhận xét: “Khó có thể tìm thấy một tuyến nhân
vật rõ ràng, một nhân vật chính hay một câu chuyện đầu xuôi đuôi lọt trong Bến vô thường của Nguyễn Danh Lam Đọc lại lần nữa, lại thấy nó không có nhân vật, nói cách khác, nhân vật lại không có mặt người mà biểu hiện rõ nhất trong mớ hỗn độn,
tù túng, ngổn ngang kia là một thế giới người không mặt, không tên” [29].
Tất cả các nhân vật trong truyện đều là những con người thống khổ, gặp nhiều
bi kịch trong cuộc đời cả về thể xác lẫn tinh thần Đó là những người lao động nghèoquanh năm đầu tắt mặt tối như mẹ con nhà thằng câm, vợ chồng gã đạp xích lô, côbốn giờ, cô năm giờ, cô sáu giờ…; những người phụ nữ gặp nhiều bất hạnh thiệt thòitrong cuộc sống như chị mặt rỗ, mụ vợ và cô con gái điên nhà lão chủ hàng dệt…;những cô gái dưới đáy cùng của xã hội, làm nghề “bán trôn nuôi miệng” như cô tóctém; hay những đứa trẻ sớm gặp bi kịch về mặt tinh thần như cô bé học sinh trongmột gia đình “trí thức”, tôi, hắn… Nhưng cho dù thế nào những nhân vật thống khổ
đó vẫn luôn bươn bả trong khát vọng làm người, khát vọng hạnh phúc
Đập vào độc giả là những cảm giác mạnh của từng mảng chuyện khốc liệt Đó
là hắn đạp đinh trên nắp ván thiên thối ung cả người, sau cùng thoát chết như mộtphép lạ cùng thằng mắt híp làm mưa làm gió ở xóm ga Hắn đánh nhau, ăn trộm, giởtrò với cô gái con chủ hàng nước rồi vô tình hại chết cô gái cùng hai mẹ con nhàcâm Đại dịch đến xóm, mẹ chết, hắn và cha bỏ xứ lên rừng tìm kế sinh nhai Chứng
kiến cái chết khốc liệt của cha, hắn từ bỏ tất cả: “Một phương trời nào đó, hoàn toàn
không biết được đang đợi hắn phía trước Hắn quyết định buông mình cho số phận đẩy đưa” [1,268] Lêu bêu thế nào hắn trở thành kẻ cắp, rồi trở thành một tên giết
người dù chỉ là vô tình: “Làm gì thì làm nhưng giết người thì thật lòng hắn không hề
muốn Tình thế đưa đẩy hết sức ngẫu nhiên, hắn trở thành sát nhân một cách hết sức ngẫu nhiên” [1,209] Từ những giây phút chạy trốn, bao nhiêu kí ức về xóm ga hiện
lên trong hắn như một thước phim quay chậm: “Mẹ con thằng câm, cô gái ấy bây giờ
Trang 39ở đâu……cuộc sống của cả cái kí ức xa xôi, hỗn loạn, mơ hồ trong hắn Ôi mảnh đất
bị nguyền rủa, bị lưu đày Nơi mà hắn đã chào đời, tồn tại, giành giật những hớp sống đầu tiên …tất cả đảo lộn, co giật trong lồng ngực hắn” Hắn dần ý thức về bản
thân :“Hắn là một tảng đá, một khúc gỗ, một hình hài lù lù trơ ra cùng tuế nguyệt,
cho đến khi không còn biết suy tư về sự tồn tại, về lẽ sinh tử nữa Tất cả chỉ còn lại một bản năng co giật, dạt trôi, hoàn toàn vô nghĩa” [1,293] Ý thức được về thân
phận, ý thức được về những gì mà hắn đã trải qua, trong hắn bừng lên khát vọngđược làm người – một con người đúng nghĩa Nhưng liệu cơ hội có còn đến với hắn
hay giống như là :“Liệu con kênh đen đặc này có tìm ra được biển không, hay cứ
bùng nhùng vẩn xuống vẫn lên, dậm chân một chỗ cho đến một ngày đông đặc lại, mất hoàn toàn dấu tích? Ô hay cuộc đời của hắn sao giống dòng kênh này thế, cứ tanh tưởi ngày ngày theo dịp dềnh lên dềnh xuống, chẳng bao giờ trôi được đến đâu Mang tiếng là kênh nhưng chẳng ai có thể nói rằng, đấy là nước cả Còn trôi ra biển, đó là một mơ ước não lòng” [1,294] Trong cảm giác tuyệt vọng ê chề, tương
lai của hắn mờ mịt, vô định làm sao: “Hắn thoát ra được khỏi cái xóm ngoại ô này,
nơi mà hắn đã thoát từ nơi khác đến, thì mọi sự sẽ ra sao? Hắn sẽ tiếp tục trôi dạt về đâu? Tuyệt chẳng có câu trả lời” [1,129] Và cái khát vọng làm người trong hắn đã
chiến thắng tất cả, không chạy trốn, hắn chọn cho mình một giấc ngủ bình yên trên thành cầu “mắt hắn ríu lại, cứ thế hai chân quặp xuống thành cầu, người duỗi thẳng,
hắn chìm vào giấc ngủ mênh mông” và có lẽ những ngày cuối cùng này, hắn đã tìm
được câu trả lời cho chính mình trong thanh thản và bình yên “trong vùng ánh sáng
người ta thấy hắn nhoẻn một nụ cười” Còn gã đạp xích lô, với số phận bất hạnh
“đứa con út bỏ trong cái hòm bé tí, huyệt mộ chênh vênh bên bờ suối cạn Mảnh vườn, gia sản cuối cùng cũng chôn theo nó chẳng đổi được gì” [1,188] Gã cùng vợ
chăm chỉ, cày thuê cuốc mướn, nhưng số phận dường như đẩy vợ chồng gã đến con đường cùng: “Bão rớt Mưa ủ ê… Đậu thu về ướt nhão không phơi được… Ngày
ngày vợ chồng ngồi nhìn những hạt đậu nảy mầm, nước mắt ứa ra tan xèo xèo trên
gò má hốc
hao…” [1,188] Hắn bỏ đi tha phương cầu thực kiếm tiền về nuôi vợ con, với hắn
đứa con còn lại là tất cả Mất cắp chiếc xích lô, một lần nữa hắn lại rơi vào ngõ cụt,
Trang 40vô tình hắn trở thành kẻ cắp, lấy đi số tiền của cô gái phòng bên để chuộc lại chiếc
xích lô nhưng lương tâm của hắn không được một ngày yên ổn “tim gã thắt lại, quai
hàm giật mạnh, tai ù đặc” Gã quyết định làm việc để trả lại cho cô gái những gì gã
đã lấy đi “gã siết mạnh hơn mọi khoản chi tiêu Cái bọc ấy đầy dần, những tờ bạc
mềm nhũn, lúc nào cũng âm ẩm Điều gã sợ nhất là cô gái bên cạnh dọn phòng ra đi, như thế gã vĩnh viễn nợ cô Món nợ truyền kiếp, báo tận đời con gã” [1,194] Rồi
“gã nhận được một hợp đồng chuyển nhà… Người ngợm mỏi nhừ nhưng gã vui như
thoát nạn Nhận tiền xong gã chạy như bay về hẻm” [1,194] Tưởng rằng chuẩn bị đủ
số tiền trả cô gái, lương tâm hắn sẽ thanh thản, hắn sẽ được trở về con người với bản
chất lương thiện khi xưa Nhưng ngờ đâu chính lúc hắn được làm điều phải thì cũng
là lúc hắn trở thành kẻ gian – một kẻ gian mà không ai có thể minh oan cho hắn Một
kết cục thảm thương giành cho kẻ muốn phục thiện “gã bị rong ra hẻm Thanh niên
cả xóm bu đen Mỗi đứa một đòn Mồm gã lạo nhạo toàn răng, hai mắt mịt mờ lồi ra
đỏ thẫm” [1,195] Không có số phận nghèo khó, bất hạnh như gã đạp xích lô; không
có tuổi thơ dữ dội với bao biến cố khốc liệt như hắn, y – gã chủ cửa hàng “chạp phô”
có tuổi thơ may mắn “y sinh ra là “cậu ấm”, gần mười tuổi vẫn có “vú” riêng, đi
một bước không rời” Lớn một chút y học hành lẹt đẹt, chơi không ai bằng Mười sáu tuổi biết mùi đàn bà…” [1,138] Vợ phản bội, y dính vào tội giết người rồi đi tù Trở
về y nuôi đứa con của bà chị gái và coi đó là nguồn vui, lẽ sống cho những năm còn
lại của cuộc đời Nhưng “cuộc đời hai người đang bình lặng trôi như dòng sống của
xóm nhỏ ngoại thành thì ai ngờ được, y lăn đùng ra chết” [1,136], bao nhiêu hi vọng,
bao nhiêu lo toan, bao nhiêu thương yêu mà y dành cho đứa trẻ bỗng chốc tan nhưmây khói Dù sao ước mơ, khát vọng làm người lương thiện, chôn vùi đi quá khứ tộilỗi ngày xưa cũng giúp y phần nào thanh thản, có những ngày hạnh phúc cuối đời
bên cháu Gã con trai nhà lò rèn – một gã “hung hãn nhất trong số những thằng con
hung hãn của cả gia đình… Gã là mớ cặn trong cái thùng nước tôi thép, thừa hưởng mọi thứ ghê gớm nhất từ cha anh ” [1,241] Mất vợ, chưa kịp có con “thoáng đôi khi nhìn thấy những đứa trẻ con hàng xóm, gã không khỏi xao lòng” [1,243] Gã
đang tâm chiếm đoạt cô gái điên khùng nhà hàng xóm “hẳn nhiên chỉ có ác quỷ mới
đủ tà