Luận án nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu một tác giả tiêu biểu của nền văn học đƣơng đại, phát hiện những nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải, từ đó góp phần đánh giá một cách đầy đủ và hy vọng sẽ thấu đáo hơn về nhà văn. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN VĂN PHƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN VĂN PHƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2001
Tác giả luận án Trần Văn Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1: KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ SAU 1945 18
1.1 Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1945 (Điểm lược trên nét lớn) 18
1.2 Khuynh hướng tiểu thuyết chính luận triết luận của Nguyễn Khải 32
1.3 Sự vận động và những đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn Khải 64
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT CỦA TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI 71
2.1 Các nhân vật tiểu biểu cho từng chặng đường sáng tác của Nguyễn Khải 71
2.2 Những loại nhân vật độc đáo của tiểu thuyết Nguyễn Khải 83
2.3 Nhân vật tư tưởng "kiểu" Nguyễn Khải 93
2.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 106
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU - CỐT TRUYỆN VÀ NGÔN NGỮ - GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI 118
3.1 Đặc điểm kết cấu – cốt truyện và ngôn ngữ - giọng điệu trần thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải 118
3.2 Đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu trần thoại của tiểu thuyết Nguyễn Khải 148
KẾT LUẬN 165
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 169
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170
Trang 5MỞ ĐẦU
1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thuộc trong số các nhà văn xuất hiện và trưởng thành từ phong trào văn nghệ quần chúng trong chín năm kháng chiến, đến nay Nguyễn Khải đã có hơn nửa thế kỷ hoạt động liên tục trên các lĩnh vực báo chí và văn học nghệ thuật Ông đã ba lần nhận giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Năm 2000 Nguyễn Khải được nhận gần như đồng thời hai giải thưởng lớn: giải Asean cho tập tuyển truyện ngắn và giải thưởng Hồ Chi Minh cho cụm tiểu
thuyết Xung đột Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm So với các nhà văn cùng thế hệ, nhiều
người thật có tài, nhưng một số đã hy sinh trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ Một số khác cũng mất sớm vì mắc bệnh hiểm nghèo Số còn lại vì những lý do khác nhau:
hoặc là do thời thế thay đổi nên cảm thấy không còn “hợp thời”; hoặc là do bận bịu với công
tác quản lý ự vụ; hoặc là do tuổi tác rồi ngại viết… hầu hết đều thấy biểu hiện viết ít hơn hoặc không viết nữa, thì Nguyễn Khải vẫn luôn sung sức, viết ào ạt, càng ngày càng được
cảm tình của bạn đọc Ông tâm sự: “Từ ngày có đổi mới tôi viết rất dễ dàng, viết được nhiều (…), bạc đọc xem ra yêu mến tôi hơn, chờ đợi tôi hơn” {125,8}
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải là một tập khảo luận về những vấn đề của cuộc sống và con người Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, trong hoà bình xây dựng kiến tạo xã hội mới, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại: ký, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch
và tạp văn, tản văn, ở thể loại nào cũng có tác phẩm nổi trội Riêng trên lĩnh vực tiểu thuyết, Nguyễn Khải đã kiên trì mở đường và khai phá một hướng đi mới với những tác phẩm đặt ra
và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội chính trị nổi lên trong nhiều thời kỳ quan trọng của đất nước, với một giọng văn ngày càng nghiêng về những suy ngẫm, chiêm nghiệm giàu tính chính luận triết
Trang 6luận Trong ngót 30 đầu sách của Nguyễn Khải thể loại tiểu thuyết và truyện vừa chiếm hơn một nửa Và mặc dù ranh giới phân biệt giữa tiểu thuyết và truyện vừa ở một số tác phẩm của nhà văn chưa thật rạch ròi, nhưng khi ghi dưới tên tác phẩm là tiểu thuyết, chắc chắn tác giả
đã có ý thức sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để tái hiện cuộc sống theo quan niệm của riêng ông về thể loại này Những công trình nghiên cứu về tác giả tác phẩm Nguyễn Khải với nhiều kiến giải sâu sắc, đều thống nhất xếp ông vào vị trí nhà văn tiêu biểu của nền văn học đương đại, song vẫn chưa có công trình chuyên sâu về tiểu thuyết Nguyễn Khải Vì vậy, mục đích của đề tài là tiếp tục đi sâu nghiên cứu các đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn Khải, nhằm chỉ
ra những đóng góp của ông về phương diện tiểu thuyết cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.2 Sau chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, đến thời gian
gần đây tiểu thuyết Việt Nam lại thực sự thu hút giới nghiên cứu, nhất là trong phạm vi chuyên ngành văn học trong các trường đại học Song dường như công việc nghiên cứu chỉ mới khảo sát kỹ các thành tựu tiểu thuyết từ trước Cách mạng tháng Tám Còn tiểu thuyết sau năm 1945 nhìn chung, vẫn nhiều khu vực bỏ ngỏ Đánh giá sự phát triển của văn học Việt Nam từ 1945 đến nay trong tiến trình của nền văn học dân tộc, một trong những phương diện quan trọng là phải chú ý đúng mức đến sự phát triển của thể loại tiểu thuyết
Đặt trong mạch vận động chung của tiểu thuyết Cách mạng Việt Nam từ sau 1945 có
thể nhận thấy, bắt đầu từ Xung đột trở đi, ở Nguyễn Khải đã hình thành một khuynh hướng
tiểu thuyết luôn bát sát những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong từng thời điểm cụ thểcủa đời sống xã hội Và cũng như nhiều thể tài khác của văn học Cách mạng yếu tố chính luận ngày càng xâm nhập vào một cách phổ biến, thì ở tiểu thuyết Nguyễn Khải lúc đầu chính luận cũng được thể hiện như một yếu tố nghị luận về chính trị xã hội, nhưng càng về sau nó càng hướng tới triết luận về mọi vấn đề của đời sống nhân sinh Gần với
Trang 7quan niệm coi “Nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người” [83], tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Khải nghiêng về nghiên cứu đời sống xã hội và những con người đương thời, phát
hiện ra những vấn đề ẩn sau các sự vật hiẹn tượng tưởng thật giản đơn, quen thuộc ông luôn gắng tìm tòi thử nghiệm để không ngừng cách tân thể loại tiểu thuyết trong những giới hạn có thể ở thờiđại mình, lui tới biến hoá một cách thông minh mà vẫn luôn phù hợp với yêu cầu của chế độ và được độc giả chấp nhận Đó là yếu tố tiên quyết đảm bảo sự nghiệp văn học của ông được liên tục Vì những lý do đó, đề tài luận án sẽ góp phần giải quyết vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu một tác giả tiêu biểu của nền văn học đương đại, phát hiện những nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải, từ đó góp phần đánh giá một cách đầy đủ và hy vọng sẽ thấu đáo hơn về nhà văn
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Nhìn chung về việc phê bình, nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Khải
Đọc theo các chặng đường ság tác của Nguyễn Khải đến nay đã có trên 100 bài viết được công bố, trong đó tới 2/3 các công trình nghiên cứu trực tiếp về tác giả, tác phẩm Nguyễn Khải Số còn lại tuy không trực tiếp đặt ra vấn đề nghiên cứu nhà văn nhưng trong bài viết của mình, các tác giả đều có đề cập đến Nguyễn Khải ở cấp độ này hay cấp độ khác
Đáng chú ý nhất là các công trình nghiên cứu về một tác giả văn học Đầu tiên là bài: “Đặc
điểm sáng tác của Nguyễn Khải” trong cuốn Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại (từ sau
1945) của Chu Nga Bà đánh giá rất cao những tác phẩm Nguyễn Khải viết về nông thôn,
đồng thời khẳng định ngòi bút tác giả “thông minh, sắc sảo, giàu tính chiến đấu (…) luôn có
sự đòi hỏi cao đối với bản thân và đối với mọi người” [160] Sáu năm sau đó, Phan Cự Đệ
tiếp tục viết về Nguyễn Khải trong Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (tập 2) Bài viết bao quát
một khối lượng tác phẩm lớn của nhà văn sáng tác trong vòng 30 năm và 20 bài nghiên cứu
có giá trị về tác phẩm Nguyễn Khải Ông nhấn mạnh: “Với một ngòi bút hiện thực
Trang 8tỉnh táo, Nguyễn Khải luôn luôn xông thẳng vào những mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn nội
bộ nhân dân trong xã hội, những Xung đột giữa các tính cách, những đấu tranh giằng xé
trong tâm tư tình cảm của mỗi con người”… Đấy là phong cách độc đáo của tác giả khác xa với “những phong cách hiện thực tỉnh táo trong văn học hiện thực phê phán” [45,497] Năm
1990, do nhu cầu của việc nghiên cứu giảng dạy ngày càng được mở rộng, Giáo trình văn
học Việt Nam 1945 – 1975 (phần tác giả) được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành Trong tập
sách này, bài viết về Nguyễn Khải do Đoàn Trọng Huy biên soạn So với các bài trước, bài viết này ra đời sau nên tầm bao quát tư liệu rộng hơn, được thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước nhiều hơn nên nó được bổ sung thêm nhiều điểm mới, đặc biệt là phần chỉ ra nét phong cách chính luận cũng như những nỗ lực đổi mới cách viết của Nguyễn
Khải để ngày càng “làm cho tác phẩm có sức mạnh thuyết phục riêng” [190] Đến cuối năm
1996 Tuyển tập Nguyễn Khải ra đời do Vương Trí Nhân tuyển chọn và viết giới thiệu Là
cây bút nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp nhiều năm lăn lộn trong nghề, hiểu biết
tường tận những chuyện đời thường (kể cả những “khuất lấp” đằng sau tác phẩm của nhà
văn), Vương Trí Nhàn đã thể hiện trên nhiều trang viết say đắm: bên cạnh khả năng phân tích tác phẩm là sự đồng cảm sâu sắc với tác giả, cho nên nhiều nhận định của ông trong bài viết
đã thực sự “tri âm” với Nguyễn Khải Đặt Nguyễn Khải vào trong tiến trình văn học Cách
mạng qua nửa thế kỷ với những biến dộng dữ dội của lịch sử, Vương Trí Nhàn kết luận:
Ông đã là một trong những nhà văn dẫn đầu của thời đại Với cuộc Cách mạng này, những năm tháng đấu tranh gian khổ này, tác phẩm của ông là một bằng chứng một tài liệu tham khảo thực sự Và muốn hiểu con người thời đại với tất cả những cái hay cái dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, đời sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải [177,61]
Trang 9Với kết luận này, lần đầu tiên Nguyễn Khải được tôn vinh xứng đáng với công lao phấn đấu kiên trì và bền bỉ của ông để đóng góp được nhiều nhất cho sự nghiệp văn học của
đất nước Ở một quy mô nhỏ hơn, Bích Thu trong bài: Nguyễn Khải: một đời vẫn gắn bó
với thời đại và dân tộc [217,109] tiếp tục minh chứng cụ thể hơn cho luận điểm trên đây của
Vương Trí Nhàn Như vậy là từ góc độ tác giả, cùng với bề dày thời gian Nguyễn Khải ngày càng được đề cao
Tuy nhiên, chiếm số lượng nhiều nhất là các bài viết dưới dạng đọc sách hoặc bình luận, đánh giá về một phương diện cụ thể nào đó, một tác phẩm cụ thể nào đó trong sáng tác của Nguyễn Khải Lối tiếp cận này không chỉ có giới nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp,
mà còn thu hút cả các đồng nghiệp của nhà văn cũng như những ai quan tâm đến sáng tác của Nguyễn Khải trong và ngoài nước Theo Nguyễn Khải cho biết còn có dạng phê bình miệng (bạn bè khen chê nhau kịp thời, thẳng thắn) chủ yếu trong nội bộ những người cùng nghe viết với nhau hoặc đôi khi là lời góp ý của các cấp quản lý văn nghệ Tuy nhiên, các bài viết đã đăng tải trên các báo, tạp chí có giá trị học thuật lại chủ yếu của giới nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp hoặc của các nhà văn, nhà thơ (Theo thống kê những bài viết ở dạng này đã lên tới con số trên 60 bài) Giá trị chủ yếu của các bài viết này là tính chất nhạy bén, kịp thời, vừa giúp tác giả nhận ra những chỗ mạnh, chỗ yếu trong sáng tác của mình, vừa giúp độc giả định hướng trong khi nắm bắt thưởng thức tác phẩm
2.2 Về tiểu thuyết Nguyễn Khải
2.2.1 Nguyễn Khải chính thức thành danh từ tiểu thuyết “Xung đột” Phan Cự Đệ
cho rằng: “Tài năng và phong cách Nguyễn Khải bắt đầu hình thành và khẳng định từ khi
“Xung đột” tập 1 được giới thiệu dần trên tạ chí Văn nghệ quân đội năm 1957” [45,482]
Tất cả các bài viết đều nhất trí với ý kiến của Phan Cự Đệ Ngót 50 năm sau Vương Trí Nhàn
lại tiếp tục khẳng định “Tác phẩm vào nghề, tác phẩm đánh dấu cái tên Nguyễn Khải trong
lòng bạn đọc hâm mộ là gì? Dĩ nhiên phải kể “Xung đột” (1975) (…) Đây mãi
Trang 10mãi là một đỉnh cao trong sáng tác của Nguyễn Khải mà mỗi khi nhớ tới người ta phải kính
trọng [177, 29-30] Bản thân tác giả cũng cho rằng: “Với “Xung đột”, tôi bắt đầu ý thức về
chức năng người cầm bút và thực sự bước vào con đường viết truyện” [76]
Bước sang giai đoạn chống Mỹ tiểu thuyết Nguyễn Khải nở rộ Đánh giá về 3 cuốn viết về đề tài chiến đấu của Nguyễn Khải, các nhà phê bình đều thấy rằng đó là những cuốn
sách xuất hiện thật đúng lúc: “Gần như cùng lúc với những sự kiện xảy ra mà lại không bị rơi rụng theo những bản tin thông tấn” [210, 128] Hoặc: “Đối với tình hình sáng tác, nhất là sáng tác tiểu thuyết của ta (…) thì việc “Chiến sĩ” được viết kịp thời là một cố gắng lớn của Nguyễn Khải” [32, 120] Tuy nhiên, có lẽ do “dấu ấn của khuynh hướng sử thi lãng mạn đã trở thành áp lực thời đại mà Nguyễn Khải là người trong cuộc” [217, 111] cho nên: “Dù được cả những chuyến đi lẫn sự nỗ lực của tác giả bảo đảm, mấy quyển tiểu thuyết trên của Nguyễn Khải vẫn không tạo được dư luận rộng rãi, đọc sách người ta biết thêm về chiến tranh mà không được cùng tác giả cảm thấy nó” [177,42]
Từ năm 1979 đến nay Nguyễn Khải viết thêm 6 cuốn tiểu thuyết nữa, trong đó Gặp
gỡ cuối năm được nhận giải thưởng năm 1982 của Hội Nhà văn Trần Đăng Khoa khen:
“Đây là cái truyện Nguyễn Khải viết hay đến từng chữ” [77,118] Mạnh dạn xông vào những
vẫn đề nóng bỏng của miền Nam sau ngày giải phóng mà trung tâm xoáy lốc của nó là Thành
phố Hồ Chí Minh, từ kịch Cách mạng đến tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm tác giả Xung đột lại
thêm một lần chứng tỏ tài năng của mình Nhà thơ Lê Văn Ngăn từng hoạt động trong phong
trào đấu tranh của tuổi trẻ miền Nam thời Sài Gòn cũ cho biết “Các tác phẩm văn học Cách mạng đặt ra nhiều vấn đề đối với bọn tôi còn xa lạ Chỉ có Nguyễn Khải bắt trúng “tâm địa” của bọn tôi hơn Hình như ông đã bước ra khỏi “khu vực” của mình để trở thành nhà văn
của cả nước” (Chuyện trò trực tiếp) Tuy nhiên, 3 cuốn sách sau: Điều tra về một cái chết,
Trang 11Vòng sống đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí lại ít người biết đến, nhất là Vòng
sóng đến vô cùng rơi vào khoảng im lăặnghoàn toàn Tác giả than thở: “Cuốn sách viết
trong vài tháng thì xong, được Nhà xuất bản Trẻ nhận in với số lượg khá lớn (…) Nhưng sách không bán được, sách bị ế, cũng chả có dư luận gì trong giới bạn đọc quen thuộc” [129,
101] Như vậy, từ năm 1979 đến 1989 tiểu thuyết Nguyễn Khải xuất hiện đều đặn hơn và chất lượng tác phẩm được đánh giá tốt tuy cũng có sự trồi sụt
2.2.2 Về nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Khải:
Các nhà nghiên cứu thường nêu lên nhận xét giống nhau là nhân vật của Nguyễn Khải nói chung, phần lớn không hoàn chỉnh Ngay từ 1964 Nguyễn Văn Hạnh đã có ý kiến:
“Trong nhiều trường hợp, có thể nói Nguyễn Khải chưa xây dựng được tính cách mà mới chỉ
có những nhận xét cho dù là những nhận xét khá sắc sảo về tính cách” [61,23] Sau đó thì
nhiều người cùng chung ý kiến với Nguyễn Văn Hạnh Thời ấy tiêu chí đánh giá nhân vật văn
học chủ yếu là coi trọng tính cách, thậm chí còn coi tính cách là “linh hồn của tiểu thuyết”
[61,24] cho nên dường như đặc điểm này bị coi là một nhược điểm cố hữu của Nguyễn Khải
Ngót 20 năm sau Phan Cự Đệ mở rộng thêm: “Nguyễn Khải chưa xây dựng được nhiều nhân vật có số phận (…) Nhiều nhân vật của anh tuy sinh động nhưng hãy còn dang dở, tính cách chưa phát triển trọn vẹn và chưa đa dạng” Ông truy tìm nguyên nhân vì: “Nguyễn Khải quan tâm đến vấn đề nhiều hơn đến vận mệnh, cuộc đời nhân vật Và khi vấn đề hiện ra, được giải quyết rồi thì nhân vật mờ dần hoặc bị bỏ quên” [45, 508] Một số người khác cũng
chung ý kiến với Phan Cự Đệ khi cho rằng nhà văn không chú trọng khắc hoạ tính cách nhân
vật, mà nhân vật xuất hiện “trước hết và chủ yếu là để đưa ra được vấn đề” [1401], “Nguyễn Khải biểu hiện đời sống bằng vấn đề chứ không phải bằng nhân vật” [14,65]… Thì chính
ngay Nguyễn Khải cũng nhận thấy như thế:
Trang 12Tôi cầm bút đã nhiều năm, viết nhiều tác phẩm nhưng chỉ có một nhân vật được bạn đọc quen thuộc thân thiết là ông Tuy Kiền Đó là ông nôn dân Việt Nam chính hiệu, tham lam, trí trá, hống hách khi có dịp, thích khoe công và hay dỗi vặt Nhưng ông vẫn là ông nông dân của hôm nay, vì ông biết sống cho tập thể, cho mục đích lớn [429, 41]
Càng về sau các nhà nghiên cứu càng nhận thấy thế mạnh của nhân vật Nguyễn Khải
không phải ở tính cách hay số phận, mà là ở tư tưởng Lại Nguyên Ân nêu vấn đề: “Diện mạo nhân vật ở anh Khải, nhiều khi chỉ rõ nét do suy nghĩ, tư tưởng của nó” Trần Đình Sử trả lời: “Đúng, đấy là miêu tả tư tưởng, tư tưởng như một hiện thực sống, một sự thực khách quan Đời sống – đó không chỉ là những sự việc, những quan hệ người Đời sống – đó còn là
tư tưởng” [2] Nguyễn Thị Bình chỉ ra nét phong cách nổi bật của Nguyễn Khải là “sự quan tâm đến tư tưởng, nhân vật truyện là nhân vật tư tưởng (…) chính nhu cầu bộc lộ tư tưởng buộc nó phải giỏi lý lẽ (…) cho nên trí tuệ là phẩm chất hàng đầu của các nhân vật mà nàh văn tâm đắc” [15,73] Đào Thuỷ Nguyên nhấn mạnh
Nghiêng về tư tưởng – đó là nét đặc sắc riêng của Nguyễn Khải Nhưng mặt khác, cũng do thế nên thế giới nhân vật của Nguyễn Khải lại có phần nhẹ đi, nhạt đi về mặt tính cách Chúng tôi muốn xem đó là đặc điểm đồng thời là nhược điểm Vì sự kết hợp giữa nhân vật tư tưởng và nhân vật tính cách, theo ý chúng tôi, đó mới là con đường đạt được độ cao và sâu của hiện thực [167, 103]
Ngược lại, Nguyên Đãng cho rằng: “Tiểu thuyểttiết luận không nhất thiết phải xây dựng nhân vật hoàn chỉnh Thế giới nội tâm nhân vật là tất cả” [40, 148] Ở một góc độ
khác, Nguyễn Đăng Mạnh đọc “Chiến sĩ” đã cảm nận thấy nét riêng của thế giới nhân vật
Nguyễn Khải: “Tinh khôn, tháo vát, ham suy nghĩ, triết lý và người nào cũng có tài ăn nói hoạt bát, hóm hỉnh, bất kể già hay trẻ, xuất thân dân cày hay trí thức” [150] Vương Trí
Nhàn cắt
Trang 13nghĩa: khôn “không phải là sự vận động tự thân của trí tuệ mà chỉ là tìm ra một sự thích ứng tối đa với hoàn cảnh” [177,38] Nguyễn Thị Bình mềm dẻo hơn: “Hình như Nguyễn Khải đặc biệt say mê loại nhân vật có khả năng thích ứng với thời thế” [15,74] Bên cạnh đó là
loại nhân vật như Ngô Thảo phát hiện: “Từ “Cách mạng”, “Gặp gỡ cuối năm” rồi đến cả
“Thời gian của người” nhân vật mà anh yêu mến bỗng được lý tưởng hoá một cách hơn nhiều sự hoà hợp bên trong và bên ngoài” [210, 128] Vương Trí Nhàn xem đó là những nhân vật mà nếu đem “đối chiếu với các nguyên mẫu phản ánh vốn có thì chắc chắn là họ đã được thánh hoá” [177,17]
Nói về nghệ thuật xây dựng nhân vật Phan Cự Đệ thấy “Nguyễn Khải miêu tả, biểu hiện thì ít, nhưng kể, nhận xét về nhân vật thì hơi nhiều”, và nhìn chung “các nhân vật sắc sảo của Nguyễn Khải đôi khi cứ như là sự biểu diễn của trí tuệ” [45,508] Trần Đình Sử căn
cứ vào cảm hứng nghiên cứu đời sống, vào ý thức nghệ thuật hướng vào “cái hôm nay” của
Nguyễn Khải, ông coi đó là nguyên nhân dân đến kiểu cấu trúc tác phẩm độc đáo của nhà văn thể hiện ở hai mặt: tác phẩm không có kết thúc và số phận nhân vật cũng không có kết thúc,
nghĩa là còn “dở dang” như chính cuộc sống đang diễn ra vậy Ông cũng tâm đắc với nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật của Nguyễn Khải: “Tôi thấy ở văn xuôi của ta có khá nhiều nhà văn miêu tả tâm lý giỏi, nhưng phân tích tâm lý thì ít ai làm được như anh Khải Đi trước anh, về mặt này, có thể chỉ là Nam Cao” [2] Bích Thu cùng chung quan điểm: “Niềm say mê nghiên cứu những bí ẩn của con người giúp Nguyễn Khải phát huy sở trường phân tích tâm
lý, đưa ông trở thành một trong những cây bút tiếp nối và kế tục xuất sắc truyền thống của Nam Cao” [217, 112]
2.2.3 Về khuynh hướng tiểu thuyết Nguyễn Khải
Năm 1977 Nguyễn Văn Long đã Nhìn lại một chặng đường tiểu thuyết và nhận
thấy rằng trong sự phát triển ngày càng đa dạng của tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1945, Nguyễn Khải là người đã mở ra một khuynh hướng
Trang 14mới- - đó là khuynh hướng tiểu thuyết triết luận Ông nêu lên các tiêu chí để nhận diện Một
là căn cứ vào nội dung có thể đặt tên cho tiểu thuyếtcủa Nguyễn Khải là loại tiểu thuyết thời
sự luận đề Hai là để phục vụ mục đích luận đề nhà văn không chú trọng khắc hoạ tính cách
nhân vật mà anh “thường phân tích nhân vật của mình như một nhà khoa học phân tích đối tượng nghiên cứu Anh cũng không chú ý nhiều đến tính hoàn thiện của cốt truyện…” Ba là
tuy cùng đi theo một khuynh hướng nhưng ở mỗi tác phẩm Nguyễn Khải thường có sự đổi mới ở cách viết nhất định [140]
Năm 1985 tác giả Về một xu hướng tiểu thuyết đang phát triển phấn khởi thông
báo là trong thời gian gần đây có một số chuyển biến tương đối đồng bộ của một loại cây bút tiểu thuyết mở ra một xu hướng mới – xu hướng tiểu thuyết chính luận triết luận Trong xu hướng này ông xếp Nguyễn Khải và Nguyễn Mạnh Tuấn là hai cây bút xuân sắc, nhưng
“riêng Nguyễn Khải thì từ lâu đã viết theo hướng này Bây giờ anh vẫn tiếp tục viết như thế Càng ngày càng viết như thế” Cùng vớ việc chỉ ra một số đặc điểm nhận diện, ông gọi đích
danh những cuốn Chiến sĩ, Chủ tịch huyện, Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm là loại tiểu
thuyết chính luận - triết luận [152]
Đến năm 1990 trong Giáo trình văn học Việt Nam 1945-1975 (tập 2), Đoàn Trọng
Huy đã chính thức coi chính luận là một nét phong cách nổi bật của văn xuôi Nguyễn Khải [190]
Cùng chung những suy nghĩ ấy, năm 1998 Nguyễn Thị Bình lại khẳng định:
Nguyễn Khải ngày càng định hình một phong cách văn xuôi triết luạn Trước đây, ông thiên về chính luận và triết lý xung quanh các vấn đề chính trị (…) nên văn ông trí tuệ mà hơi khô khan, lời “trữ tình ngoại đề” hơi nhiều, nhất là lại mang đậm tinh thần “giáo huấn” (…) Giai đoạn sau này, Nguyễn Khải hướng sự chú ý vào các vấn đề thế sự nhân sinh (…) văn phòng ông chuyển từ chính luận sang triết luận và năng lực hiểu lòng người, năng lực phân tích đã khiến cho nhiều kết luận ông đưa ra đạt tới chiều sâu triết học [15,70-73]
Trang 15Đi vào từng tác phẩm cụ thể, Lại Nguyên Ân coi Cha và con và… là một công trình
“Triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội bằng ngôn ngữ tự sư” [1] Văn Chinh thấy: “Với Thời gian của người, Nguyễn Khải đã góp thêm một thành công mới cho xu hướng tiểu thuyết triết luận của văn học ta” [23,2] Vũ Quần Phương cũng chung ý kiến: “Giá trị khảo luận triết học của tập tiểu thuyết này là một cống hiến của Nguyễn Khải trong văn xuôi Việt Nam” [205] Nguyễn Đăng cổ võ: “Qua thời gian của người, người đọc thấy tiểu thuyết triết luận của Nguyễn Khải đầy triển vọng và là xu hướng rất cân dối với tiểu thuyết của chúng ta ngày này” [40,149] Chỉ có Nguyễn Văn Lưu riết gióng:
Phong cách triết lý của Nguyễn Khải từng đem lại cho bạn đọc những khoái cảm thẩm mỹ thú vị Nhưng pong cách đó cũng có chỗ chưa ổn lắm, và đến đây bộc lộ khá rõ Điều mà anh Vương Trí Nhàn gọi tạm là những triết lý hàm hồ và tuỳ tiện chính xác ra là nhưng thế nào? (…) Cái chưa ổn ở đây thuộc về một dạng khác, ấy là bệnh sính triết lý Đây cũng là một căn bệnh khá phổ biến ở nhiều cây bút hiện nay, không riêng gì ở Nguyễn Khải Nhưng “sự này” ở Nguyễn Khải là phát sinh từ phong cách [147,128]
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu thì khuynh hướng tiểu thuyết Nguyễn Khải được phát sinh từ phong cách của ông
2.2.4 Về hình thức nghệ thuật và ngôn ngữ, giọng điệu của tiểu thuyết Nguyễn Khải:
Nếu so sánh với một số tác giả khác sẽ thấy tiểu thuyết Nguyễn Khải thường ngắn, về
dung lượng tác phẩm chi ngang truyện vừa Lại Nguyên Ân nhận xét: “Những cái anh viết, dài nhất như “Chiến sĩ” không tiêu biểu cho lối viết của anh Ngay những tiểu thuyết của anh mà tôi nghĩ là truyện vừa, người đọc tinh ý cũng thấy độ 1/3 hoặc 1/4 về cuối đọc không thú vị như các phần trước” Trần Đình Sử giải thich:
Trang 16Viết về những cái đang là cùng thời, là nóng hổi, với cảm hứng nghiên cứu, tác phẩm khó mà dài (…) Tác phẩm của anh Khải thường không phức tạp lắm về mặt hư cấu, thường chỉ với một tuyến cốt truyện, một tuyến gồm vài ba nhân vật, với những đoạn như những đoạn ký, ghi chép, lấy thẳng từ ngoài đời Có lẽ nên gọi đó là những truyện ký [2]
Dường như không thoả mãn với cách giải thích của Trần Đình Sử mà Lê Thành Nghị phải lên tiếng:
Đa số những sáng tác của Nguyễn Khải thường là những cuốn ngắn: Chẳng phải Nguyễn Khải luôn luôn quan tâm đến cái hôm nay (…) và vì viết về cái hôm nay thì không thể kéo dài Có thể viết rất dài là đằng khác Nhưng xu thế đang ngắn lại của tiểu thuyết là xu thế của mọi nền văn học, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có vai trò quan trọng của sự tác động của các hệ thống thông tin khác xuất hiện ngày mỗi nhiều hiện nay, trong đó có nhu cầu thay dạng nhận thức càng ngày càng hướng đến cái “vi mô”, càng thu hẹp để hướng đến chiều sâu của vấn đề Một số lượng trang viết ít, hướng vào một vấn đề sâu sắc của cuộc sống, có khi lại trở thành thứ vũ khí sắc bén hơn cả trong tay người đọc [166, 126-127]
Nhà thơ Ngô Văn Phú bằng cảm nhận riêng đã so sánh một cách thuyết phục:
Nguyễn Khải đã mở ra một hướng mới cho tiểu thuyết hiện nay Trong khi nhiều tác giả đã và đang viết những tác phẩm hàng bốn, năm trăm, thậm chí đến bảy, tám trăm trang, anh chỉ thu cuốn tiểu thuyết của mình trên dưới một trăm trang Trong khi bút pháp quen thuộc của những người viết tiểu thuyết hiện nay vẫn nghiêng về tự sự và miêu tả, khắc hoạ nhân vật, thậm chí sa đà vào một khung cảnh, một tình huống mà người viết say đắm, thì Nguyễn Khải lại đem một lối viết chồng chéo đan cài rất khéo léo, đem những đoạn thể hiện sinh động hiện tại kết hợp với những hồi tưởng dồn nén về những ấn
Trang 17tượng dồn dập của quá khứ Anh đã đem đến cái linh hoạt của thủ pháp các nhà điện ảnh
thường dùng ứng dụng khá thành công trong “Gặp gỡ cuối năm” và “Thời gian của người”
Trong khi có nhà văn cố tình làm cho các chi tiết của truyện trở nên lắt léo, ly kỳ, thậm chí đến khiên cưỡng, khắc học những tính cách của nhân vật mình, tỉa tót đến mức người ta thấy
lộ ra cái cố làm cho văn chương, thì Nguyễn Khải lại để cho nhân vật của mình hết sức thoải mái, trong tính cách, nói ngôn ngữ hết sức tự nhiên của đời sống riêng của họ, trước nhưng khung cảnh thật sự bình dị, hàng ngày Trong khi những nhà văn ngần ngại chen vào tiểu thuyết bình luận, nêu những nhận xét của mình, thì tác giả lại tự mình nhảy vào làm người hướng dẫn truyện, trực tiếp dẫn dắt những câu chuyện tạo ra sự đầm ấm chan hoà giữa nhân vật tác giả dựng lên và chính người viết Phải chăng anh đã biết lấy cái hay của những thủ pháp sân khấu mới ứng dụng cho tiểu thuyết? Nguyễn Khải còn đưa vào tiểu thuyết một dung lượng văn chương rất báo chí về đủ mọi thứ chuyện khá tài tình Trên cơ sở những tư liệu hấp dẫn ấy, tác giả giới thiệu, chèn vào miêu tả làm hiện lên cuộc đời từng nhân vật có quan
hệ với những công việc nguy hiểm hoặc thử thách họ Anh biết tận dụng sự mổ xẻ phân tích sắc sảo tâm lý và bản lĩnh nhân vật, và nhờ đó, là cho những tư liệu có tính chất báo chí kia chẳng khô khan một tí nào mà trở nên rất sinh động [200,4]
Như vậy, có thể nói ngắn gọn cũng là một đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn Khải Theo Vương Trí Nhàn cho biết Nguyễn Khải đã nói rõ quan niệm của mình từ năm 1963
Tự lượng sức mình là một điều hết sức quan trọng với mỗi người viết (…) Lúc đùa bỡn, ông bảo: “Viết thế để người ta có thể đọc ù một cái, một hai buổi trưa là xong” Những lúc nghiêm chỉnh hơn, ông tâm sự: “Sức mình chỉ đến thế không nên kéo dài hơn Điều quan tọng là thức tỉnh người đọc cùng nghĩ chứ ai có sức mà nghĩ thay họ được [178,211]
Trang 18Các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long, Đoàn Trọng Huy đều khẳng định khái niệm là cây bút luôn luôn thể nghiệm: mỗi lần cầm bút là một lần thí nghiệm
về một cái gì đó mà anh mới “sáng kiến” ra được, hoặc: mỗi tác phẩm của ông thường là
đọc Cha và con và… thấy: “có cái vắn gọn của một kiểu truyện “cổ điển”, nghĩa là không mới mẻ gì lắm ở bố cục chung” [1] Nhưng Huỳnh Như Phương đọc Gặp gỡ cuối năm đã
chợt liên tưởng đến “nghệ thuật tiểu thuyết của Friedrrich Duercenmatt (…) trong cuốn
“Một vụ hỏng xe” (Diepanne)” [2001] Còn Phạm Khánh Cao đặt Nguyễn Khải bên cạnh văn hào Nga Đôtxtôicpxki: “Gặp gỡ cuối năm” là một cuốn tiểu thuyết gọn mà sâu (…) Kết cấu
ủa một tiểu thuyết có thể đặt vào thời gian thật ngắn (…) “Tội ác và hình phạt” đồ sộ vậy mà chỉ diễn ra không quá 48 tiếng đồng hồ …” [21] Vương Trí Nhàn lại chú ý đến cấu trú “Thời
gian của người”
Cái hình của truyện rất đơn chỉ xoay quanh một cuộc gặp gỡ (…) Mạch truyện rất đơn giản, có thể hình dung nó như một đường thẳng đều đến từ đầu đến cuối, không có đỉnh điểm, cao trào, thắt nút, cởi nút gì hết, tác giả gần như gặp đâu kể đấy, chỉ dùng một ít liên tưởng đơn giản để chuyển mạch truyện (…) những cuốn tiểu thuyết cỡ nhỏ (…) của anh, mỗi cuốn đều có ý vị thật đậm, ở mỗi cuốn thấy gắt lên một sắc thái rõ rệt [175,3]
Về bút pháp của Nguyễn Khải nhiều nhà phê bình đã nhận xét: “Nghiêng về lối kể hơn lối cả Cốt truyện của Nguyễn Khải không có gì ly kỳ Nhiều khi người viết không để ý đến cốt truyện, đến cấu trúc tác phẩm, mà
Trang 19quan tâm làm nôi bật chính kiến, một kiểu sống, cách nói năng ứng xử của nhân vật” [216,113] Vương Trí Nhàn cảm nhận ở những tác phẩm thành công Nguyễn Khải thường
“hiện ra như một người kể chuyện thông minh, la cà khắp nơi chia sẻ với mọi người mọi vui buồn khi quan sát việc đời Đó là một phong cách vừa dân dã vừa hiện đại” [177,59] Bích Thu khen Nguyễn Khải “là một trong những người kể chuyện hấp dẫn và có duyên nhất của văn xuôi hiện đại” [217,113] Còn Trần Đăng Khoa cho Nguyễn Khải thuộc trường phái văn chương thông tấn: “Một mình ông một vị trí độc tôn, không có ai sánh được và cũng không
có ai học được” [77,118]
Về ngôn ngữ Phan Cự Đệ nhận xét, “Phong cách hiện thực tỉnh táo cũng tạo cho tác phẩm Nguyễn Khải một thứ ngôn ngữ đặc biệt Đó là một thứ ngôn ngữ trí tuệ sắc sảo…” [45,498] Lại Nguyên Ân nhấn mạnh: “Phải nói đến đặc sắc ngôn ngữ Nguyễn Khải, một ngôn ngữ rất văn xuôi: nó không nống lên thống thiết mà thường pha ngang sang giọng tưng
tửng, đùa đùa Thêm nữa là tính chất nhiễu giọng của văn xuôi này (…) và nói chung vẫn phải nhận ằng ngôn của của Nguyễn Khải là đặc sắc” [2], Bích Thu cụ thể hơn nữa:
Tác giả đã tỏ rõ ưu thế trong sử dụng khẩu ngữ, những ngôn từ được chắt lọc từ lời
ăn tiếng nói hàng ngày khi trang nghiêm, trân trọng, khi đôn hậu trầm tư, khi thân mật suồng
sã (…) Ngôn ngữ người kể chuyện không chiếm vị trí độc tôn mà hoà nhập, xen lẫn với ngôn ngữ nhân vật (…) Lời văn nghệ thuật của Nguyễn Khải là lời nhiều giọng, được cá thể hoá, mang tính đối thoại của văn xuôi hiện đại [217,113]
Thế mạnh của tác phẩm Nguyễn Khải là ở chỗ ông đã tìm được “một giọng điệu riêng biệt (…), giọng của người kể chuyện luôn luôn là giọng từng trải (…) Sự đùa giỡn của người từng trải có một cái duyên riêng, một niềm kiêu hãnh che giấu dưới vẻ ngoài khiêm nhường, đặc biệt là họ biết tự giêu mình trước lúc giêu người” [15, 73-75] Hoặc “Tác giả thường sử dụng phương thức gia tăng điểm nhìn trần thuật (…) làm phong phú thêm các giọng điệu trần thuật, lồng ghép “truyện trong truyện”, “con người trong con người” làm nổi bật những vấn đề tư tưởng của tác phẩm” [217, 113]
Trang 20Từ tất cả những lời bàn đã nêu ở trên có thể nhất trí với kết luận: “Nguyễn Khải luôn
là gương mặt đáng chú ý của văn xuôi đương đại nước ta, thời nào ông cũng tìm được sự đồng tình của công chúng rộng rãi Bên cạnh khả năng biết thích ứng, phải chăng điều mấu chốt là ở chỗ ông có được một tư duy tiểu thuyết” [15,75]…
Điểm lại những bài nghiên cứu, phê bình về tác giả, tác phẩm, Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy tuy còn đôichỗ khác biệt, thậm chí trái ngược, nhưng về cơ bản là thống nhất Hình như các phương diện của tiểu thuyết Nguyễn Khải cũng như hầu hết các tác phẩm của nhà văn này đều đã được đề cập đến Tuy nhiên trong phạm vi những bài báo lẻ hay những bài viết trong một tập sách chung, các tác giả đều chưa có đủ điều kiện để đi sâu vào lý giải một cách cặn kẽ, toàn diện về đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải và những đóng góp của ông cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Chính vì vậy, luận án sẽ tổng hợp những
ý kiến của người đi trước, về kế thừa vừa có đối thoại, tiến tới hệ thống hoá và phân tích, chứng minh, cố gắng đến mức cao nhất để có được một công trình nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Khải một cách toàn diện và đầy đủ
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng:
Đối tượng khảo sát chính là 12 cuốn tiểu thuyết trong suốt cuộc đời sáng tác của
Nguyễn Khải từ Xung đột (tập 1 – 1959) đến Một cõi nhân gian bé tí (1989) (xin xem bảng
1,1 trang 34) Ngoài ra toàn bộ những sáng tác khác của Nguyễn Khải cũng được đưa vào diện khảo sát coi như tài liệu tham khảo quan trọng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học:
Luận án nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải như một quá trình vận động liên tục gắn với quá trình vận động của hoàn cảnh lịch sử và tiến trình văn học Việt Nam từ sau 1945 Vì vậy phương pháp nghiên cứu tác giả văn học được huy động trên một cái nhìn toàn cảnh về lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1945
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu theo thể loại:
Luận án nghiên cứu chuyên sâu tiểu thuyết Nguyễn Khải cho nên việc vận dụng kiến thức lý luận và những hiểu biết của mình về tiểu thuyết được vận dụng chủ yếu
Trang 213.2.3 Phương pháp tổng hợp:
Để làm phong phú, sáng tỏ thêm ở nhiều phương diện, chúng tôi còn vận dụng những yếu tố hỗ trợ của các phương pháp nghiên cứu văn học khác như phương pháp phân tích cảm thụ tác phẩm văn học, phương pháp tổng hợp hệ thống hoá, phê bình văn học, lý thuyết tiếp nhận văn học… Sự vận dụng những yếu tố của các phương pháp hỗ trợ này chỉ trong những trường hợp thật cần thiết
4 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Khuynh hướng tiểu thuyết Nguyễn Khải trong sự vận động của tiểu thuyết
Việt Nam từ sau 1945
Chương 2: Nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Khải
Chương 3: Đặc điểm kết cấu - cốt truyện và ngôn ngữ giọng điệu trần thuật
5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG
5.1 Đóng góp mới của luận án
Nguyễn Khải là một trong những hiện tượng văn học nổi bật trong tiến trình văn xuôi Cách mạng Việt Nam từ sau 1945 Nhiều nhà nghiên cứu phê bình đã rất quan tâm đến những sáng tác của ông Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tiểu thuyết Nguyễn Khải Nhu cầu tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Khải nói riêng cũng như tàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông nói chung vẫn đang là một vấn đề đặt ra Vì vậy, nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Khải trong tiến trình chung của văn xuôi đương đại Việt Nam, lý giải một cách cặn kẽ, thấu đáo,c hỉ ra mặt thành công và hạn chế của
nó là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa Luận án cố gắng đáp ứng những yêu cầu đó và chúng tôi coi đấy chính là những đóng góp mới trong quá trình nghiên cứu nhà văn Nguyễn Khải
5.2 Khả năng ứng dụng của luận án
Kết quả của luận án có thể dùng để giảng dạy hoặc làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Ngữ văn ở các trường Cao đẳng và Đại học, đồng thời có thể ứng dụng trong việc biên soạn giáo trình, sách văn học sử về một nhà văn Việt Nam hiện đại
Trang 22thường dẫn ra ba cuốn tiêu biểu cho các loại đề tài: về công nhân có Vùng mỏ; về nông dân
có Con trâu; còn về đề tài người chiến sĩ vệ quốc có Xung kích Ở giai đoạn này các nhà
văn đứng trước quá trnhf thức tỉnh, quá trình tự giải phóng của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Sự bình tĩnh những giá trị tiềm tàng trong đời sống tinh thần dân tộc, niềm vui sướng tự tin của mỗi con người - đặc biệt là những người lao động, đã thu hút sự chú ý của các nhà văn Trung tâm cảm hứng của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ
là hướng tới nhân dân Cảm hứng ấy chi phối đến sự chọn lựa đề tài và việc xây dựng những nhân vật trung tâm cho tác phẩm Những cái riêng tư cá thể bị xem là nhỏ bé, vô nghĩa, phiên dịch cho nên nó bị chối từ Nhà văn dường như không có ý định xây dựng những nhân vật mang số phận cá nhân trọng vẹ mà họ thường tậm trung cho việc khắc hoạ những chân dung tập thể (Ở đây không thấy những mâu thuẫn xung dột giữa các cá nhân với nhau mà chỉ thấy những mâu thuẫn xung đột giữa dân tộc giai cấp với kẻ thù) Có lẽ với cảm hứng hướng về nhân dân vĩ đại trong đó những người áo vải chân đất vô danh làm nên lịch sử đã mách bảo các văn nghệ sĩ tìm tới kiểu nhân vật tập thể nỳ Mặt khác với ý hướng xây dựng một nền văn học mới theo phương châm dân tộc khoa học và đại chúng mà Đảng phát động đã khiến các nhà văn tích cực khám phá hiện thực kháng chiến, phát
Trang 23hiện những phẩm chất, những khả năng Cách mạng tiềm tàng ở người lao động Cảm hứng hướng về những nhân vật tập thể muốn người kết lại thành một khối thống nhất ý chí và hành động đã trở thành dấu ấn sâu đậm mang tính chất đặc thù của nền văn học kháng chiến nói chung Trên cái nền chung đó tiểu thuyết kháng chiến quan tâm khai thác những yế tố sử thi
đã tạo ra một thể tài tiểu thuyết với kiểu kết cấu xâu chuỗi những sự kiện, những khung cảnh
xã hội ảộng lớn có quy mô lại với nhau, trong đó nổi bật lên vai trò của quần chúng nhân dân
“động lực thúc đẩy lịch sử” Ngôn ngữ quần chúng (nhất là ngôn ngữ hoạt động xã hội) được
sử dụng nhiều, còn ngôn ngữ mang tính cá thể hoá thường ít được chú ý So với tiểu thuyết trước 1945 thì điều đó thể hiện những cố gắng lớn mở ra những khả năng mới cho tiểu thuyết phát triển Tuy nhiên cố gắng lớn mở ra những khả năng mới cho tiểu thuyết phát triển Tuy nhiên vẫn có cảm giác dường như tiểu thuyết giai đoạn này có sự dứt đoạn với nguồn mạch phát triển của loại tiểu thuyết tâm lý – xã hội vốn đã có thành tựu từ trước Cách mạng tháng Tám
Tiếp theo đó, giai đoạn mười năm hoà bình ở miền bắc (1955-1964) tiểu thuyết phát triển khá rầm rộ và thu được nhiều thành tựu Đề tài kháng chiến chống Pháp tiếp tục được thể hiện ở chiều sâu hơn và có quy mô lớn hơn Trong khung cảnh tạm im tiếng súng trên nửa nước, các nhà văn có đủ thời giờ để bao quát tư liệu, nghiền ngẫm, tái tạo, thai nghén và cho
ra đời những tác phẩm đã được họ ôm ấp dự định từ những năm đi kháng chiến Một loạt
cuốn tiểu thuyết được giải thưởng 1955-1956 như Đất nước đứng lên của Nguyễn Ngọc,
Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Người người lớp lớp của Trân Dần ,… đều tập trung khai
thác đề tài kháng chiến rất thành công Cảm hứng chủ đạo trong những tác phẩm này vẫn là cảm hứng hướng về nhân dân - diễn tả quá trình tự vùng dậy đoàn kết chống kẻ thù của quần chúng Cách mạng và những cán bộ, chiến sĩ cộng sản Thành tựu nổi bật của những taácphẩm
về đề tài kháng chiến được ghi nhận ở chỗ lần đầu tiên nó đã xây dựng được những hình
tượng tiêu biểu của người anh hùng kiểu mới Nhân vật Núp trong Đất nước lớn lên thể hiện
tập trung quy luật phát triển của người anh hùng trong
Trang 24thời đại giải phóng dân tộc; từ chưa hiểu Pháp lúc đầu rồi thử bắn Pháp xem nó có máu không, đến việc đoàn kết các dân tộc quyết tâm chống Pháp giữ vững buôn làng là quá trình chuyển biến Cách mạng không ngừng của người anh hùng và của cả nhân dân các dân tộc Tây Nguyên (Mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến nơi núi rừng hùng vĩ hoang sơ đều gắn chặt với quá trình hình thành bản lĩnh Cách mạng và hoàn thiện nhân cách của người anh hùng) Với nhân vật Núp, Nguyên Ngọc đã đặt nhân vật vào giữa dòng thác lớn của lịch sử để thể hiện và người đọc cũng cảm nhận được rất rõ sự vận động của lịch sử trong sự vận động
của một con người Thành công của Đất nước đứng lên đưa Nguyễn Ngọc lên hàng những
cây bút tiêu biểu của nền văn học mới Trong tác phẩm này màu sắc sử thi rất rõ Quá trình giác ngộ Cách mạng và trưởng thành của người phụ nữ nông dân Nam Bộ được Bùi Đức Ái thể hiện khá đạm nét và gây ấn tượng đẹp trong lòng người đọc qua nhân vật chị Tư Hận
trong tác phẩm Một truyện chép ở bệnh viện Bằng hình thức ghi chép một đoạn đời bị đè
nén sau đó tự vùng dậy và được Đảng giác ngộ của chị Tư Hậu, tác giả đã thành công trong việc ca ngợi sức mạnh vươn lên của con người trong cuộc chiến tranh chính nghĩa Đó là những con người không chỉ vùng dậy để tự giải phóng mình và dân tộc của mình, mà còn khẳng định được nhân cách và định hướng đúng đắn cho những bước đi sau này của bản thân mình nữa Sau đó vào những năm đầu thập kỷ 60, đề tài kháng chiến còn được tiếp tục thể
hiện ở một loạt tác phẩm của Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng của Lê Khâm, Đất lửa của Nguyễn Quang Sáng, Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Phá Vây của Phù Thăng, Trên mảnh đất này của Hoàng Văn Bổn, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, v.v…
Đóng góp của tiểu thuyết viết về đề tài kháng chiến được ghi nhận ở chỗ nó đã giải quyết khá tốt vấn đề miêu tả những hiện tượng lịch sử và góp phần mở rộng hiện thực kháng chiến: hiện thực kháng chiến được phản ánh ở nhiều phương diện, nhiều góc độ, nhiều vùng đất khác nhau Điều quan trọng nhất là nó đã xây
Trang 25dựng được một số tính cách tiêu biểu cho những con người Việt Nam mới sau Cách mạng tháng Tám trong mối quan hệ với lịch sử Giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật cũng được
xử lý một cách tự nhiên và có chiều sâu Cùng với đề tài kháng chiến, nhiều cuốn tiểu thuyết
viết về đề tài trước Cách mạng tháng Tám với những tác phẩm có tấm cỡ lớn như Sóng gầm của Nguyên Hồng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Mười năm của Tô Hoài, Tranh tối tranh
sáng và Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan… Khi viết những tác phẩm này các nhà văn
đều muốn tái hiện một giai đoạn lịch sử của đời sống xã hội Việt Nam trước Cách mạng với những biến động dữ dọi của nó Với ý đồ xây dựng những bức tranh toàn cảnh rộng lớn tập trung vào các “dòng chảy” đến với Cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân lao động, các nhà văn đã rất cố gắng trong việc dàn dựng những bộ tiểu thuyết có quy mô lớn với nhiều tuyến nhân vật Để làm được việc này họ phải giải quyết một ben là tiểu thuyết sự kệin và một bên
là loại tiểu thuyết tâm lý xã hội, tức là phải xây dựng kiểu tiểu thuyết tổng hợp trong nó nhiều dạng tiểu thuyết khác nhau Và đấy chính là một nỗ lực rất lớn đáng ghi nhận Tuy nhiên khi
đi sâu vào diện tả nội tâm của nhiều tầng lớp người trong xã hội lại là một việc làm không thể
dễ dàng VÌ thế mà thành công của những tác phẩm này chỉ nổi bật ở một số mặt nào đó Chẳng hạn ngòi bút Nguyễn Hồng tỏ ra rất có ưu thế trong việc diễn tả đời sống nội tâm của tầng lớp thị dân nghèo là bởi vì ông rất thấm thía với kiếp sống của những con người cùng khổ, vất vưởng dưới đáy xã hội, bị huỷ hoại về thể xác và tinh thần mà ông từng đã trải qua Nhưng như ông nói, tất cả những con người từng bị coi là “cặn bã” ấy “đều không ít trau chuốt cho sự sống tình cảm sâu xa tươi thắm mà các bọn người trong giai cấp bóc lột không thể nào có được Và từ những chốn nhày nhụa đen tối, họ không ngừng vươn lên ánh sáng” như có cây vẫn luôn theo hướng mặt trời Đó là chủ nghĩa nhân đạo Nguyên Hồng được nảy sinh từ đạo lý tình cảm dân tộc kết hợp với màu sắc Cơ Đốc giáo Còn với Nguyễn Đình Thi,
những trang văn hay nhất của ông trong Vỡ bờ là
Trang 26những trang viết về tình cảm gia đình, tình yêu, thể hiện một đất nước Việt Nam thơ mộnt đẹp một cách bi tráng trong những cơn đau trở dạ quặn thắt lịch sử Những nhân vật lưu luyến nhất của ông là những nhân vật số phận, chẳng hạn khi xây dựng nhân vật cô Quế, ngòi bút ông trở nên duyên dáng mẫn cảm lạ lùng! Về mảng đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, những tiểu thuyết có giá trị đã góp phần không nhỏ vào việc phát hiện và góp phần
giải quyết các vấn đề xã hội Qua hai tập Xung đột Nguyễn Khải đặt ra vấn đề có tính chất
toàn xã hội: đối với đồng bào vùng công giáo thì cái quan trọng bậc nhất là phải giải thoát họ
ra khỏi những mê muội tôn giáo, đồng thời phải làm trong sạch môi trường tôn giáo đã bị bọn
cha cố phản động làm vẩn đục Viết Cái sàn gạch rồi Vụ lúa chiêm, Đào Vũ cũng muốn đề
cập vấn đề sự thay đổi về quan hệ sản xuất đã làm lay chuyển tận gốc rễ những tư tưởng bảo
thủ lạc hậu đang cản trở bước tiến xã hội Ở Cái sân gạch hình tượng lão Am với những dằn
vặt trăn trở về việc vào hay không nên vào hợp tác xã đã được thể hiện một cách sinh động và
có chiều sâu nội tâm đáng để cho chúng ta suy nghĩ Cho đến nay hoàn cảnh xã hội đã có nhiều thay dổi, nhưng lão Am của Đào Vũ vẫn còn ám ảnh người đọc như tác giả khẳng định:
Tôi vẫn cho rằng đi lên bằng con đường hợp tác làm ăn vẫn là hơn cả trong hoàn cảnh đất nước ta Tất nhiên hợp tác như thế nào để đi lên, đi xa… còn là chuyện phải tìm tòi Văn học không làm thay được sự tìm tòi ấy, mà nên làm là mở mang càng sâu càng rộng tinh thần hợp tác [223,71]
Tuy nhiên vẫn nhân vật này ở Vụ lúa chiêm thì phần nào đó lại có vẻ như công thức,
sơ lược, vì lúc này vấn đề vào hay không nên vào hợp tác xã đã căn bản giải quyết rồi và lão
Am không còn là nhân vật quan trọng nữa Bằng trực cảm nghệ sĩ các tác giả đã phát hiện ra một số vấn đề nổi cộm lên trong từng thời điểm lịch sử cụ thể, nhưng khi đề xuất cách giải quyết nó thì nhìn chung vẫn chưa vượt qua khỏi tầm nhận thức chung của lịch sử lúc bấy giờ Một
Trang 27số tác phẩm thể hiện một chủ nghĩa nhân đạo tích cực gây được ấn tượng lâu bền ở người
đọc Chẳng hạn tác phẩm Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương viết về một phụ nữ lỡ làng
giữa đường gãy gánh phải chịu cảnh đời goá bụa Chị có quyền đi bước nữa để tìm lại hạnh phúc cho mình Đó là một nguyện vọng chính đáng, rất nhân bản, cần phải được sự ung hộ
rộng rãi Cùng bình diện với Tầm nhìn xa, tiểu thuyết Chủ tịch huyện về sau của Nguyễn
Khải đã có những đóng góp tích cực cho tiểu thuyết về đề tài nông thôn xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Nhìn chung, những cuốn tiểu thuyết viết về xây dựng chủ nghĩa xã hội đã phát triển
lên một mức cao hơn là đã đặt ra vấn đề “cái riêng” trong mối quan hệ với “cái chung”, và ở
tác phẩm nào cũng theo hướng giải quyết tạo được sự hoà hợp thống nhất riêng – chung Nếu
ở giai đoạn kháng chiến chống Pháp vấn đề cái riêng chưa được đặt ra vì lúc đó số phận cá nhân được đặt vào trong số phận của cộng đồng, con người kháng chiến là con người tập thẻ được thể hiện sức mạnh đầy đủ ở giữa đám đông, thì đến lúc này nó đã được phân biệt ra
thành hai phạm trù “cái riêng” và “cái chung” Đấy là một bước phát triển hợp quy luật
Tiếp tục mạch vận động, giai đoạn mười năm chống Mỹ (1965-1975) là một chặng đường đánh dấu sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam lên một bước mới Bước vào những
năm đầu chiến tranh văn học chuyển hẳn đề tài Tác phẩm Cửa sông của Nguyễn Minh Châu
đánh dấu sự chuyển mình kịp thời của thể loại tiểu thuyết trong nhiệm vụ bám sát và phản ánh hiện thực nóng bỏng đang diễn ra hết sức sôi động của Cách mạng Khi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lan ra miền Bắc đã làm thay đổi hẳn cuộc sống quen thuộc của người dân làng Kiều Sơn ở một vùng cửa sông Trong tác phẩm mâu thuẫn trong gia đình một ông nông dân lấy hai bà vợ tưởng chừng không có cách gì giải quyết được, vì hai bà vốn xem nhau là thù địch Chiến tranh xảy đến, họ tự giác xích lại gần nhau để cùng lo cho con cái đang ở ngoài mặt trận, và những mâu thuẫn tự nhiên tan biến Như vậy là lợi ích cộng
Trang 28đồng đã quy tụ mọi vấn đề của đời sống, và chính điều đó đã tạo nên sức mạnh của người Việt Nam Một loạt cuốn tiểu thuyết khác ra đời trong mấy năm này đều có chung đặc điểm
là nóng hổi tính thời sự, tươi nguyên chất sống mà chất lượng nghệ thuật không sút kém đã
làm nức lòng độc giả Đó là những cuốn Vào lửa, Mặt trận trên cao của Nguyễn Đình Thi,
Hòn Đất của Anh Đức, v.v…
Từ giữa cuộc chống Mỹ có bước chuyển mạnh của tiểu thuyết: số lượng tác phẩm xuất hiện nhiều nhất trong mấy năm này và trong mỗi tác phẩm đều có sự mở rộng của đề tài
và dung lượng phản ánh Chẳng hạn Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu dựng lại
khung cảnh của một chiến dịch lớn trong đó có hai thế hệ nối tiếp nhau trưởng thành Trong tác phẩm này, nhân vật Lữ được xem là một điển hình nghệ thuật về người chiến sĩ trẻ đánh
Mỹ Anh vừa là sự tiếp nối của truyền thống dân tộc với những thế hệ đi trước, lại vừa là sản phẩm trực tiếp của chế độ xã hội chủ nghĩa Tư thế hy sinh anh hùng của Lữ trên cao điểm
475 là một thành công mới của Nguyễn Minh Châu trong quá trình xây dựng tượng đài người
chiến sĩ Cách mạng Cùng thời điểm với Dấu chân người lính Hữu Mai có Vùng trời Một
bộ tiểu thuyết lớn về binh chủng không quân Việt Nam trẻ tuổi, còn Nguyễn Khải cho ra mắt
Chiến sĩ viết về chiến dịch lịch sử Đường Chín – Nam Lào, trong đó ông đã cố gắng khắc
hoạ nêu bật vai trò của binh chủng thiết giám trong các trận đánh hợp đồn quân binh chủng đáp ứng những yêu cầu của cuộc chiến tranh hiện đại, thể hiện sự trưởng thành nhanh chóng
và sức mạnh áp đảo của quân đội ta Một số cuốn tiểu thuyết Cách mạng miền Nam lại có khuynh hướng muốn quay trở lại tái hiện sự vận động của lịch sử, phản ánh quá trình thức tỉnh của nhân dân miền Nam Các tác giả thường lấy bối cảnh trước hoặc sau Đồng Khởi là thời điểm bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ, giữa nhân
dân lao động miền Nam với bọn tay sai thân Mỹ như trong caá cuốn Rừng U Minh, Ở xã
Trung Nghĩa, Đất Quảng (Tập 1),v.v… Sự trưởngthành nhanh chóng của thế hệ trẻ miền
Nam đánh Mỹ được đặc biệt
Trang 29chú ý trong tác phẩm Mẫn và tôi của Phan Tứ… Nhìn chung thì từ giữa những năm chiến
tranh các tác giả đã chú ý nhiều hơn đến sự vận động của tính cách nhân vật chứ không xây dựng những tính cách bất biến hiện ra với những vẻ đẹp hoàn hảo như trong các tiểu thuyết ở mấy năm đầu Một số tác giả bám trụ hậu phương tiếp tục viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa
xã hội với nhữg cuốn gây được tiếng vang lớn như Bão hiển, Đất mặn của Chu Văn, Đất
làng, Buổi sáng của Nguyễn Thị Ngọc Tú… Nhà văn Nguyễn Hồng dốc sức hoàn thành bộ Cửa biển (4 tập) và quay sang viết tiểu thuyết lịch sử…
Tiểu thuyết Việt Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước đã đáp ứng rất tốt yêu cầu cổ vũ động viên cuộc chiến đấu Nó đều có chung một định hướng là phát hiện, khám phá
và biểu dương kịp thời những giá trị trong hiện thực chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tiêu chuản của một chân lý đã được xác định Và nhàvăn thường hiện ra với tư cách người làm công việc “đốt lửa nhiệt tình trong trái tim người đọc” bằng việc kể chuyện, mô tả, ngợi ca những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu hy sinh Việc mở rộng đề tài và dung lượng phản ánh cũng đưa đến sự đa dạng hơn trong cách xây dựng nhân vật, nhưng những tính cách nhân vật trong các tiểu thuyết giai đoạn này thường được khắc hoạ dựa trên những chuẩn mực hoàn chỉnh Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam trong quá trình vận động
từ 1945 đến 1975 được ghi nhận ở chỗ: trong sự phát triển thống nhất chung của một nền văn xuôi hiện thực xã hội chủ nghĩa, cùng với sự gia tăng về số lượng và chín về mặt chất lượng, đến giai đoạn Chống Mỹ nó đã dần dần hình thành ra một số khuynh hướng phong cách riêng biệt phù hợp với “cái tạng” riêng của từng nhà văn Chúng tôi thấy có thể chia thành 4 khuynh hướng chính sau đây (Sự phân chia này chỉ có giá trị tương đối nhằm đánh giá sự phát triển ngày càng phong phú, đa dạng của một nền văn học Còn có nhiều cách phân chia khác)
1.1.1.1 Khuynh hướng tiểu thuyết trữ tình anh hùng ca:
Đây là khuynh hướng được thể hiện đặc biệt rõ nét trong những năm chống Mỹ Các tác giả theo khuynh hướng này thường nghiêng về khai thác thể hiện những vẻ đẹp anh hùng gắn với vẻ đẹp trữ tình Anh Đức tiêu biểu
Trang 30cho phong cách trữ tình đi vào khắc hoạ những vẻ đẹp bất biến trong tâmhồn con người, đặc
biệt là người phụ nữ nông dân Nam Bộ như trong các cuốn Một truyện chép ở bệnh viện,
Hòn đất… Các nhân vật trong tiểu thuyết laọi này ít có những biến động về mặt tính cách
mà nó thường được mô tả theo một bút pháp đã được lý tưởng hoá Những bức tranh thiên nhiên đẫm lệ được tô đậm để làm cho người đó có cảm giác là dường như chất thơ đã không ngừng thâm nhập vào thể loại tiểu thuyết, tạo ra vẻ đẹp riêng biệt của nó Trong những năm chống Mỹ còn có hiện tượng là do sức hút của khuynh hướng trữ tình khá mạnh cho nên
nhiều nhà văn đã bị cuốn theo như Hữu Mai viết Vùng trời cũng có khác với Hữu Mai viết
Cao điểm cuối cùng Thu Bồn với Những đám mây màu cánh vạc cũng nghiêng theo
hướng ấy…
1.1.1.2 Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý – xã hội:
(Ở đây thuật ngữ tâm lý xã hội được dùng theo nghĩa hẹp Các chi tiết đời tư, đời thường chưa được thể hiện nhiều như trong các tiểu thuyết tâm lý – xã hội trước 1945 và tiểu thuyết thời kỳ sau 1975) Có thể các tác giả viết về những mảng đề tài rất khác nhau nhưng cach thể hiện đời sống đều có những nét chung về mặt phong cách như trong các tác phẩm
Bão biển, Đất mặn, Mẫn và tôi, Gia đình má Bảy chẳng hạn Sức mạnh nổi trội của ngòi
bút Phan Tứ là nghiêng về hiện thực Trong Mẫn và tôi cuộc đấu tranh giữa Hai Mẫn với
Tám Liệp (vừa là cha nuôi, vừa là người dìu dắt Hai Mẫn hoạt động) cho thấy ngòi bút Phan
Tứ luôn luôn tỉnh táo Còn những nhân vật trong Bảo biển được bộc lộ tính cách qua những
khát vọng, những ham muốn mãnh liệt và hành động triệt để chứ không có nhân vật nửa vời
và rất giàu tính tạo hình Ở Nguyễn Thí trong các tập truyện ngắn viết trước kia như Trăng
sáng, Đôi bạn rất giàu yếu tố trữ tình Sau này vào miền Nam ông muốn vươn tới tổng hợp
nhiều yếu tố trong tác phẩm của mình, nhưng những yếu tố đó không che lấp cái nhìn xác
thực của nhà văn đối với đời sống chiến tranh như trong Ở xã Trung Nghĩa Ông cũng rất có
ý thức kế thừa thành tựu của văn xuôi phân tích tâm lý trước Cách mạng tháng Tám, nhưng
sự kế thừa này cũng mới chỉ dừng lại ở một số
Trang 31yếu tố chứ không triệt để như Nguyễn Minh Châu thời kỳ sau 1975 Trong những năm chống
Mỹ còn có hiện tượng là do sức hút của dòng trữ tình bao trùm nên Phan Tứ về sau cũng cố
gắng gia tăng những chi tiết trữ tình vào trong tác phẩm của mình Đấy là “một sự cố gắng của tác giả đem chất trữ tình hoà quyện vào các yếu tố sử thi tâm lý, tạo cho tác phẩm khả năng phản ánh hiện thực cả trong bề rộng lẫn chiều sâu của nó” [212,90]
1.1.1.3 Khuynh hướng tiểu thuyết sử thi hoành tráng:
Được tiếp nối từ giai đoạn trước chống Mỹ với những thành tựu của Sóng gầm, Vỡ
bờ, Sống mãi với Thủ đô Tác giả Đất nước đứng lên, Đất Quảng là người tiêu biểu cho
khuynh hướng này Ông quan niệm:
Trong mỗi trận đánh anh hùng của mình, người chiến sĩ đâu ó phải chỉ mang vào đó một khẩu súng, dẫu là khẩu súng tối tân nhất, mà giành được chiến thắng Muốn chiến thắng anh phải mang vào trận đánh tất cả quá khứ của anh, trong anh phải có hàng trăm chiến sĩ
khác còn sống hay đã mất, hỗ trợ cho anh những giây phút hiểm nghèo (Trên quê hương
những anh hùng Điện Ngọc)
Trong các tác phẩm đậm nét sử thi, nhân vật chính thường được xây dựng như những mẫu mực của cộng đồng, của thời đại Nhà văn bày tỏ thái độ cảm phục, chiêm ngưỡng nhân vật của mình Và để viết về họ không thể dùng những thứ ngôn ngữ phàm tục đời thường, mà phải dùng thứ ngôn ngữ trang trọng và đẹp với một nghệ thuật biểu hiện giàu sức biểu cảm Vẫn viết về thực tại, nhưng các nhà văn không viết với con mắt người đương thời nhìn ngắm
người đương thời, mà viết với cái nhìn đã được “lịch sử hoa” (M.Bakhtin), tức là đẩy hiện
thực lùi sâu vào quá khứ để ca ngợi, tuyệt đối hoá những mặt tốt của nó
1.1.1.4 Khuynh hướng tiểu thuyết chính luận - triết luận:
Trong các cuốn tiểu thuyết từ Xung đột (1959) đến Chiến sĩ (1973) Nguyễn Khải đã
kiên trì khai phá và theo đuổi khuynh hướng này Tác phẩm của ông lúc đầu giàu tính chính luận thời sự khám phá những vấn đề xã hội – chính trị nổi lên trong từng thời điểm cụ thể của đời sống, càng về sau (nhất là
Trang 32các cuốn tiểu thuyết sau 1975 của ông) càng có thiên hướng vươn tới những khái quát triết lý
về đời sống Ông rất giỏi nắm bắt tâm lý nhưng không theo đuổi xây dựng nhân vật có quá trình tâm lý trọn vẹn Trong tác phẩm cái ông coi trọng nhất là phải phát hiện cho được vấn
đề của cuộc sống để góp tiếng nói trực tiếp của nhà văn Các nhân vật trong tác phẩm dù được Nguyễn Khải phaáthiện rất tinh nhạy những đặc điểm trong tính cách và số phận nhưng
ít khi được xây dựng thành những tính cách đầy đặn với nhiều mối quan hệ phức tạp của đời sống hiện thực Họ có phàn nghiêng về những hình tượng tư tưởng hơn là những hình tượng tính cách hay số phận Tác phẩm của ông cũng thường không có một cốt truyện thật chặt chẽ
1.1.2 Thời kỳ sau 1975
Sau 1975 đề tài chiến tranh Cách mạng vẫn được các cây bút tiểu thuyết quan tâm đặc
biệt Tác giả Mẫn và tôi giành trọn phần đời còn lại để tập trung xây dựng bộ tiểu thuyết
Người cùng quê bao quát một giai đoạn lịch sử từ ngày Nhật đảo chính Pháp cho đến kết
thúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 Điều đó cho thấy rằng sức hấp dẫn của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc vẫn luôn là đề tài cho các nhà văn khám phá, tái tạo và là nguồn cảm hứng chưa bao giờ vơi cạn Một loạt cuốn tiểu thuyết viết về chiến
tranh những năm cuối thập kỷ 70 như Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà của Nguyễn Minh Châu, Năm 1975 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Họ cùng thời với những
ai của Thái Bá Lợi, Cửa gió (2 tập) của Xuân Đức, Đất trắng (2 tập) của Nguyễn Trọng
Oánh v.v… đều là của những nhà văn mặc áo lính Caá tác phẩm này được viết ngay sau khi
chiến tranh kết thúc với những ấn tượng còn nóng hổi của những nguồn tư liệu “mắt thấy tai nghe” chưa đủ thời gian để kịp lắng lại, nhưng vì thế mà nó hấp dẫn sinh động và đặc biệt là
rất kịp thời đáp ứng nhu cầu của người đọc muốn được hiểu rõ hơn về cuộc chiến đấu Tuy nhiên những cuốn tiểu thuyết này cũng đã mang nhiều nét mới so với trước: hiện thực khốc liệt, những tổn thất vô cùng to lớn về người và của, những hy sinh thầm lặng và không kém
vĩ đại của những người ở hậu phương, đặc biệt là những cảnh ngộ, những mảnh tâm trạng hết sức riêng tư nhưng giàu tính nhân bản… là những mảng hiện thực mà ở giai đoạn
Trang 33trước chưa kịp phản ánh hết thì nay nó lại được tiếp tục khai thác với một cảm hứng mới cảm hứng nhân đạo bao trùm Chẳng hạn như trong Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh: cuộc chiến tranh đã bị ông phơi bày ra đúng với bộ mặt thật gớm ghiếc của nó – Có trường hợp cả một trung đoàn cán bộ chiến sĩ ta bị xoá sổ - Có lẽ các tác giả đã cố gắng tiếp cận chiến tranh bằng cái nhìn trực diện với thái dộ dũng cảm trung thực đến cùng để người đọc thấy rõ cái
giá mà chúng ta hải trả cho chiến thắng Và nhìn chung thì “tính chất thi vị réo rắt mất đi, tính chất tỉnh táo, sâu lắng được tăng cường” (Trần Đình Sử) Hình thành một đội ngũ
những cây bút tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ngay từ những năm cuối chống Mỹ như Nguyễn Trí Huân, Thái Bá Lợi, Chu Lai, Khuất Quang Thuỷ, Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh v.v…
Những tác phẩm viết về cuộc sống hiện tại cũng thấy có nhiều trăb trỉư và trầm tư hơn Nguyễn Khải tiếp tục phát hiện những vấn đề xã hội – chính trị của đời sống, thuyết phục người đọc bằng cách đưa ra mẫu nhân vật trí thức công giáo và quá trình đấu tranh tư
tưởng để chấp nhận thức tế lịch sử của họ như Cha và con và… Một số tác giả khác đi sâu
thể hiện những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống miền Nam sau giải phóng Chẳng hạn
tiểu thuyết Những khoảng cách còn lại của Nguyễn Mạnh Tuân đặt ra vấn đề cần phải
nhanh chóng xoá bỏ khoảng cách để đưa cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội Đến đầu những năm 80 đánh dấu bước chuyển mnhj của văn xuôi nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng: chuyển mạnh sang cuộc sống thời bình với những đề tài nổi lên là gia đình, tình yêu, những vấn đề thế sự - đạo đức, hướng vào các giá trị nhân bản, mạnh dạn đề xuất những chuẩn mực đạo đức mới phù hợp với thời đại Rất nhiều cuốn tiểu thuyết thu hút sự chú ý
trong các năm này như Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người của Nguyễn Khải, Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Nhìn dưới mặt trời của Nguyễn Kiên,
Cuộc đời bên ngoài của Vũ Huy Anh, Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hòn đảo một mình của Lê Minh, Chân dung một quán dốc của Nguyễn Hiểu Trường,.v.v…
Trang 34Đến những năm cuối thập kỷ 80 và một số năm đầu thập kỷ 90 nổi lên một khuynh
hoớng tiểu thuyết mang đậm tính chất “nhận thức lại hiện thực” (Một thuật ngữ định danh
của các nhà nghiên cứu) Đây là khuynh hướng mà ở một số tác phẩm cụ thể đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới phê bình văn học Nhìn trên đại thể ở những tác phẩm thành công nó đã phân tíchđược trách nhiệm của mỗi con người đối với chính mình, con người cần phải chịu
trách nhiệm cá nhân đối với số phận và cuộ đời của mình Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê
Lựu được xem là một tác phẩm thành công mở đầu cho khuynh hướng này Trong tác phẩm
Lê Lựu không chỉ đặt vấn đề nhân cách con người mà còn phân tích sự tác động ngặt nghèo của hoàn cảnh đến nhân cách con người: con người trở thành nạn nhân của hoàn cảnh, bị hoàn cảnh nhào nặn thành con người buông xuôi không tự định đoạt được cuộc sống và hạnh
phúc của mình Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiệu khẳng định: “Thành công của “Thời xa vắng” là rất quan trọng, như dư luận đông đảo đánh giá, cuổn tiểu thuyết này cắm mốc cho
sự chuyển mình của giai đoạn văn học mới” [214,31] Quả thật vậy, rất nhiều cuốn tiểu
thuyết đã liên tiếp xuất hiện và trong đó, một số cuốn đã được trao giải thưởng hàng năm ủa Hội Nhà văn Tuy nhiên, cũng đã có một số cuốn đwcj xây dựng trên ơ sở cái nhìn một chiều, thiếu khách quan, tập trung một cách thái quá vào việc miêu tả cái xấu xa (phần con) của những nhan vật là cán bộ Cách mạng và những người kháng chiến do họ tưởng tượng ra
nhiều hơn là xuất phát từ hiện thực (tiêu biểu như các cuốn: Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Ly thân của Trần Mạnh Hảo và nhất là Nổi loạn của Đào Hiệu v.v )
Cũng có tác giả viết rằng sau chiến tranhc hỉ còn lại nỗi buồn và con người hậu chiến cảm thấy mất phwong hướng… Những cuốn sách ấy đã gây ra những phản ứng gay gắt từ phía công luận và độc giả (được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng) Nếu không cs sự phản ứng và cảnh báo đó, những cuốn tiểu thuyết mang tính chất cực đoan nói
trên rất có thể sẽ lại sa vào một thứ “minh hoạ” mới, bất chấp lý tưởng nghệ thuật
Trang 35Riêng Nguyễn Khải vẫn kiên trì theo đuổi khuynh hướng tiểu thuyết chính luận - triết luận đã được hình thành từ thời kỳ trước Từ những năm tám mươi trở đi, nội dung triết luận trong tác phẩm Nguyễn Khải vẫn không xa rời những vấn đề xã hội chính trị nổi lên của đời sống hiện thực, nhưng còn được mở rộng tới nhiều vấn đề của đời sống nhân sinh: đề cập và suy ngẫm về những vấn đề có ý nghĩa quy luật của cuộc sống tuy vẫn bám sát thời hiện tại và
“cái hôm nay” của đời sống Khuynh hướng tiểu thuyết chính luận triết luận của Nguyễn
Khải có khả năng thu hút nhiều cây bút thuộc nhiều thế hệ, trong đó Nguyễn Khải vẫn giữ vị trí nổi bật
Những năm cuối thập kỷ 90 tiểu thuyết xuất hiện thưa thớt hơn, tạo ra một hiện tương
mà nhiều nhà văn, nhà phê bình đã nhắc nhở là hình như “tiểu thuyết chững lại” Ở Nguyễn Khải cũng vậy Ông cho biết: “Lâu nay không viết tiểu thuyết vì muốn tìm ra một cách viết mới, một quan niệm mới, một cách nghĩ mớiđể đưa đến với bạn đọc Còn nếu không thì thôi”
(Chuyện trò trực tiếp) Có lần trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ chủ nhật, ông nói rằng ông vào
lại Sài GÒn chỉ mang theo một cuốn sách “Nghệ thuật viết tiểu thuyết” của M.Kundera mà
Nguyễn Ngọc cho mượn Ông đọc xong thay đổi cả cách nhìn, cách nghĩ, kể cả quan niệm của ôn về tiểu thuyết Nếu còn viết chắcchắn ông sẽ không viết như cũ nữa Một lần khác ông lại tâm sự
Những năm gần đây, tôi vẫn viết đều đặn những cũng là múa võ trên mảnh đất quen thuộc: Tôi vẫn muốn viết khác trước nhưng chưa tìm ra được những hình tượng nghệ thuật kết tính ự từng trải cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề của mình Nó vừa là hình thức vừa là nội dung Không có một nghệ thuật tiểu thuyết đẹp và mới thì sẽ không có bạn đọc, không thể lưu truyền được lâu dài [196,58]
Dù sao thì sự “chững lại của tiểu thuyết” cũng làm cho nhiều người quan tâm đến sự
phát triển của văn học phải suy nghĩ và đã có một số lý giải bước đầu, nói như Nguyễn Ngọc thì tiểu thuyết của ta vẫn chủ yếu mới chỉ là nội dung xã hội – chính trị mà chưa được nhao nặn trong một thứ lò luyện nào đó khác để thực sự biến thành nội dung nghệ thuật mới
Trang 36Nói tóm tại, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam đã đi thêm một chặng đường dài gắn với chặng đường lịch sử 55 năm của nền văn học Cách mạng Cùng với sự phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, tạo được nhiều khuynh hướng phong cách tiếp cận hiện thực, đứng trước
thềm thiên niên kỷ mới, tiểu thuyết đang dừng lại lấy đà để làm “một cú nhảy vọt nào đó”
trong những năm đầu của thế kỷ XXI chăng?
1.2 Khuynh hướng tiểu thuyết chính luận triết luận của Nguyễn Khải 1.2.1 Quan niệm tiểu thuyết và giới thuyết tiểu thuyết Nguyễn Khải
Xét về bản chất thể loại, M Bakhtin cho rằng: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình” [10,21] Vì vậy, tiểu thuyết không thể có
những quy phạm cố định như các thể loại đã hoàn tất Với ý nghĩa là một nghệ thuật khám phá thực tại, trong quá trình vận động diện mạo của tiểu thuyết không ngừng biến dổi để phù hợp với sự phát triển đa dạng, nhiều chiều của cuộc sống và thị hiếu tiếp nhận của người đọc
ở mỗi thời đại Luôn luôn mới, đó là yếu tố làm nên sức hấp dẫn kỳ diệu của tiểu thuyết Nó
có thể “bước qua các ranh giới đặc trưng của văn học - nghệ thuật: lúc thì nó biến thành một bản thuyết giảng đạo đức, lúc thì nó biến thành một khảo luận triết học, lúc thì nó biến thành một diễn văn chính trị…” [10,66] Với sáu đặc điểm đã được nêu trong sách lý luận văn học,
tiểu thuyết là một thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất và đồng hoá caá khả năng
nghệ thuật của các thể loại văn họckhác vào mình Chính điều này đã tạo ra viễn cảnh “mở rộng bến bờ của tiểu thuyết”, thúc đẩy nhanh quá trình tìm tòi thử nghiệm để không ngừng
cách tân tiểu thuyết về thể loại, đem lại cho tiểu thuyết những diện mạo mới, hiện đại Tuy nhiên vấn đề là phải gắn việc đổi mới nghệ thuật kỹ thuật tiểu thuyết với nội dung xã hội – nhân bản của tác phẩm, đó là tinh thần toát lên từ các cuộc hội thảo về tiểu thuyết liên tục diễn ra trên phạm vi thế giới trong các thập kỷ vừa qua của thế kỷ XX
Những quan niệm về tiểu thuyết trên đây được coi là tiền đề đi vào nghiên cứu tế giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải Qua khảo sát tác phẩm và tập hợp ý kiến các nhà nghiên cứu phê bình tiểu thuyết của ông, chúng tôi nhận thấy còn một số điều cần phải được làm rõ
Trang 37Thứ nhất: xét về thể loại tiểu thuyết Nguyễn Khải không có ranh giới rõ rệt với các
thể tài khác của loại hình tự sự như gh chép, truyện hoặc truyện kể Chặn hạn Xung đột in
lần đầu gọi là tập “ghi chép”, khi tái bản lại ghi “tiểu thuyết” Các nhà nghiên cứu cũng
khẳng định nó là tiểu thuyết Song chính tác giả, có lẽ do khiêm tốn, lại vẫn thích gọi là ghi
chép như trong “Phụ sản văn nghệ quân đội” số 7/1998: “Nhờ cái không khí văn chương của Tạp chí và những thách thức của bạn bè cùng bật ra được những trang ghi chép hấp dẫn về
một vùng nông thông công giáo” [124,10] Tác phẩm Vòng sóng đến vô cùng cũng vậy, lần
đàu in ghi là “truyện” (có thể hiểu đó là truyện kể hay truyện dài) Nhưng sau đó 8 năm
Nguyễn Khải lại khẳng định “Đó là cuốn tiểu thuyết” [122,181] và được đưa vào Tuyển tập
tiểu thuyết Nguyễn Khải Trong Tổng tập nhà văn quân đội - kỷ yếu và tác phẩm (tập 4),
các nhà biên soạn cũng xếp các cuốn Đường trong mây, Ra đảo, Chiến sĩ vào thể loại
“truyện” chứ không coi nó là “tiểu thuyết” Có lần được gặp gỡ tác giả tại nhà riêng, tôi có
hỏi về tiểu thuyết của ông, ông chợt buột miệng: truyện kể đúng hơn là tiểu thuyết Cũng có nhân vật, thời gian, sự kiện, lúc thường lúc mạnh, nhưng nó không phát huy hết sức mạnh tiểu thuyết Cũng là do sáp gần với thực tế để cảm nhận thôi chứ không phải học thuyết gì, triết thuyết gì Trong các thể loại văn xuôi tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất Nó
“kết nạp” cả triết học sinh hoạt, cuộ sống… Nó là thể loại hoàn toàn có thể cạnh tranh cùng
với video… Những ý ông nói chung tôi chắp nhặt lại đại khái là như thế Nhiều nhà phê bình
và dồng nghiệp rất khen ngợi Gặp gỡ cuối năm Những nếu chính tác giả không nói ra thì
mấy ai biết ông đã thai nghén tác phẩm vật vã đến thế nào:
Trong mấy năm tôi đã thu thập được rất nhiều tư liệu quý hiếm đã hiểu thêm nhiều người, nhiều việc nhưng cái giây phút hoá thân để bắt đầu lia ngòi bút lên trang giấy vẫn chưa tới (…), không biết bắt đầu từ đâu Bắt đầu tư chuyện chị Hoàng chàng? Nưhng cách vào chuyện sẽ phải như thế nào, cái lõi cái hồn của nó ở đâu? Chia! Bao đâu từ chuyện vợ chồng Đại chàng? Không thể phát triển được, sẽ bị cuốn tròn trong cái lẩn quẩn Hoặc từ chính gia đình của tôi chăng? Ôi cũ kỹ lắm, thiên hạ viết chuyện gia đình cũng hơi nhiều
Trang 38rất khó tránh khỏi sự lặp lại ở mức độ thấp Vẫn liều viết, viết rồi xoá Nản quá! Hết sức nản (…) Tôi bần thần, vật vã cũng đến mấy năm, viết kịch, viết ký sưj, viết truyện ngắn thì được, nhưng đặt bút viết cuốn tiểu thuyết mong đợi chỉ được một hai chương là phải bỏ Chảng đâu vào đâu, người và việc cứ rời ra trong sự gắn bó ép buộc, giả tạp Đến câu văn cũng hẫng hụt vì hình ảnh không gọi nhau, chữ nghĩa không gọi nhau…[122,183]
Như vậy đủ thấy Nguyễn Khải rất có ý thức trong việc tìm kiếm, sáng tạo ra những
cách thể hiện mới, và ông quan niệm tiểu thuyết hết sức đa dạng: “Nó có thể” “Đội lốt”mọi thể tài khác để tạo ra những biến dạng không giống nhau” như Vương Trí Nhàn cho biết
[175] Khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Khải chúng tôi rất tâm đắc với ý kiến của Đặng Anh Đào:
“Ta không thể đòi hỏi những cuốn từ điển khi chỉ đúc kết trong vài dòng mà bao quát hết được một số nét tinh tế nhất của tiểu thuyết mọi thời đại” [36,45]
Thứ hai: xét về dung lượng tiểu thuyết Nguyễn Khải thường ngắn, càng ngày càng có
xu hướng cô đặc lại Có lẽ chỉ trừ có Chiến sĩ là tương đối dài Số còn lại chỏ vọn vẹn trong
vòng trên dưới 200 trang không nhỉnh hơn truyện vừa bao nhiêu (Xem bảng 1.1.)
TT Tên tác phẩm Năm xuất bản Số trang Ghi chú
Trang 39hành động cửa tác phẩm (…) “Sự đắc thế” của truyện vừa trong kỹ thuật tiểu thuyết đặc biệt
lộ rõ khi tác giả xây dựng những cuốn tiểu thuyết trên cơ sở tư duy truyện vừa (…) Ngày nay, dung lượng triết lý của tác phẩ, tính chất toàn vẹn và hữu hiện trong quan niệm về thế giới và con người là những nhân tố quyết định [18,35-39]
Một thực tế khác diễn ra trong đời sống văn học vài thập kỷ vừa qua là sự xuất hiện
của thể tài “Truyện ngắn mini” và “cuộc thi Truyện ngắn 100 chữ” của Tạp chí Kiến thức ngày nay được nhiều người hưởng ứng Vậy thì sự ngày càng ngắn lại của tiểu thuyết Nguyễn
Khải cũng không nằm ngoài xu thế chung
Thứ ba: xét về cái được phản ánh vào trong tác phẩm, tiểu thuyết Nguyễn Khải
không phải là một thế giới tưởng tượng hoàn toàn mà bao giờ nó cũng xuất phát từ những nguyên mẫu, những sự kiện, những câu chuyện có thật hoặc những vấn đề được sự gợi ý từ
cuộc sống Ông cho biết: “Những tiểu thuyết và truyện vừa, truyện ngắn của tôi không bao giờ bắt đầu từ sự tưởng tượng hoàn toàn, từ sự mộng mơ hoàn toàn Tôi chỉ có thể đặt bút viết nếu tôi được chạm vào người, vào việc và những cảnh ngộ có thật trong cuộc sống”
[127] Tất nhiên ở vào thời điểm hiện nay không còn ai đem đối chiếu tác phẩm với cuộc sống ngoài đời xem tác giả của nó có phản ánh hiện thực y như thật hay không Nhưng có lẽ
ai cũng ý thức rằng không thâm nhập cuộc sống thì lấy chất liệu ở đâu mà sáng tác Hiện
tượng “sớm nở tối tàn”, vừa “loé sáng” đã bắt đầu lặp lại mình ở một số cây bút trẻ chứng tỏ
họ đang thiếu vốn sống và một bề dày từng trải Riêng đối với Nguyễn Khải giống như một
người quen ăn dong “Anh đi tới đâu viết tới đó Mọi thứ là ở phía trước: đề tài, chủ đề, nhân vật, vốn sống (…) Thật hiếm có nhà văn nào mà tác phẩm lại gắn bó chặt chẽ với những chuyến đi như vậy” [210,128] Còn Trần Đăng Khoa nhận thấy:
Nguyễn Khải có tài phù phép rất đặc biệt Hình như những chuyện gì ở dọc đường, qua con mắt ông cũng thành văn được (…) Trước khi đi
Trang 40cảnh” Đối với “Nguyễn Khải, việc xác định đó luôn luôn có một ý nghĩa “thức thời” rất
quan trọng Là một nhà văn, không phải không có lúc Nguyễn Khải mong muốn chiếm đoạt quyền Tạo hoá để sáng tạo ra một thế giới rất riêng của mình Nhưng ông cũng biết tự lượng
sức để giới hạn vào trong những cái có thể làm được Ông cho biết: “Khi chưa vươn tới cõi
ảo thì tôi đặt hết mình vào cõi thực (…) chả hơn cao thì chưa với tới, thấp thì không thèm quan tâm, về già rút lại tay trắng, là một kẻ vô danh với những mộng mơ hão huyền, có hối tiếc cũng đã muộn” [429,190]
Thứ tư: về quan niệm và tên gọi Trên thế giới, bước vào nửa cuối thế kỷ XX các nhà
nghiên cứu đã nói tới thể tài tiểu thuyết tiểu luận Chẳng hạn trong buổi luận bàn về tiểu thuyết của Ban biên tập báo Paeze seva vào tháng 3/1965, nhà tiểu thuyết hiện đại người
Italia là Anbertô Môravia đã nêu ý kiến: “Tiểu thuyết đã thành một cái gì đó gần với văn tiểu luận Chúng ta sẽ có những tiểu thuyết tiểu luận” [180,30] Đến năm 1971, phát biểu trong một cuộc thảo luận nói về tiểu thuyết tương lai, ông lại tiếp tục khẳng định: “Không cần phải nói thêm rằng một tiểu thuyết hiện nay là hai biến thức tiểu thuyết: tiểu thuyết tiểu luận (râmn-essai) và tiểu thuyết tư liệu (roman-documenaire)” [180-,186] Ở Liên Xô (cũ) theo
Hoàng Ngọc Hiếu thì cũng đã có một khuynh hướng tiểu thuyết chính luận phát triển mạnh
mẽ theo truyền thống Ôveskin Nhưng cũng tại nước này vào đầu thập kỷ 70 lại thấy xuất
hiện loại tiểu thuyết mà “đặc điểm quan trọng của nó là sự gia tăng và đào sâu tính triết lý trong tác phẩm” [187,24] Người ta liền đặt tên cho nó là “tiểu thuyết triết lý” tiêu biểu như
cuốn Quy luật vĩnh cửu của Đumbaze Như vậy là ở Liên Xô (cũ) tiểu thuyết đã có sự dịch
chuyển từ “chính luận” đến “triết lý”
Ở Việt Nam, như phần lịch sử vấn đề, năm 1977 lần đầu tiên Nguyễn Văn Long dùng khái niệm “triết luận” để định danh cho khuynh hướng tiểu thuyết Nguyễn Khải Đến 1985 Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nhận thấy có cả