1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp Luật Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Trong Lĩnh Vực Bán Hàng Đa Cấp

76 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây là một số khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh:  Theo quy định tại Điều 10 Bis Công ước Pari: Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh không trung thự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Nguyễn Mai Hân Phan Thị Diệp

MSSV: 5075250 Lớp: Thương Mại 3 – K33

Trang 2

MỤC LỤC

- -

TRANG

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM 3

1.1 Khái quát chung về cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh 3

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh 3

1.1.1.1 Khái niệm 3

1.1.1.2 Ý nghĩa của cạnh tranh 4

1.1.2 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 6

1.1.2.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 7

1.1.2.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh 2004 8

1.1.2.3 Mục đích và hậu quả của cạnh tranh không lành mạnh 9

1.1.2.3.1 Mục đích 9

1.1.2.3.2 Hậu quả 10

1.2 Khái quát về bán hàng đa cấp 11

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Đặc điểm 13

1.2.2.1 Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa 13

1.2.2.2 Doanh nghiệp bán hàng đa cấp tiếp thị hàng hóa thông qua những người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau 13

1.2.2.3 Người tham gia được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, các lợi ích kinh tế khác 14

1.2.3.Ý nghĩa 15

1.3 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp 18

1.4 Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp 25

1.5 Nhận dạng hành vi bán hàng đa cấp bất chính 27

CHƯƠNG 2: ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP 30

2.1 Các hành vi bán hàng đa cấp bất chính 30

Trang 3

2.1.1 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng

hóa ban đầu hoặc phải trả một lượng tiền để được tham gia mạng lưới bán hàng đa

cấp 34

2.1.2 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại 36

2.1.3 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp 37

2.1.4 Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia 39

2.2 Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bán hàng đa cấp 43

2.2.1 Đối với doanh nghiệp 43

2.2.2 Đối với người tham gia 47

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM 50

3.1 Một số bất cập trong quy định pháp luật về bán hàng đa cấp 51

3.1.1 Quy định về Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp 51

3.1.2 Quy định về vấn đề ký quỹ của doanh nghiệp 54

3.1.3 Quy định quản lý hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp và người tham gia 56

3.1.4 Quy định về hàng hóa lưu thông trong mạng lưới bán hàng đa cấp 57

3.1.5 Quy định về trách nhiệm mua lại hàng hóa của doanh nghiệp 59

3.1.6 Quy định về thẩm quyền và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bán hàng đa cấp 60

3.1.6.1 Thẩm quyền xử lý trong bán hàng đa cấp 60

3.1.6.2 Biện pháp xử lý vi phạm trong hoạt động bán hàng đa cấp 61

3.2 Giải pháp 63

3.2.1 Về các điều kiện để được cấp Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp 63

3.2.2 Về sản phẩm, hàng hóa lưu thông trong lĩnh vực bán hàng đa cấp 64

3.2.3 Nên mở rộng khái niệm “bán hàng đa cấp” thành “kinh doanh đa cấp” 65

3.2.4 Về thẩm quyền xử phạt và có chế tài xử lý những doanh nghiệp, người tham gia khi thực hiện hành vi bán hàng đa cấp bất chính 65

3.2.5 Về đối tượng tham gia bán hàng đa cấp 66

Trang 4

3.2.6 Cần nâng cao năng lực quản lý, giám sát cho đội ngũ cán bộ công chức và kiến thức cho người dân về bán hàng đa cấp 67

KẾT LUẬN 70

LỜI NÓI ĐẦU - -

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, phương thức bán

hàng đa cấp đã du nhập vào Nước ta và phát triển một cách nhanh chóng Sự xuất hiện của kinh doanh đa cấp không chỉ làm phong phú môi trường kinh doanh mà còn đem lại lợi ích nhất định cho xã hội, doanh nghiệp, người tham gia, người tiêu dùng Tuy nhiên, bên cạnh hoạt động kinh doanh đa cấp lành mạnh, đã có một số doanh nghiệp cố tình lợi dụng võ bọc kinh doanh đa cấp để trục lợi bất chính từ

người tham gia, khách hàng Vì thế, xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh đa cấp là công việc hết sức cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho phương thức kinh doanh đa cấp chân chính phát triển; Đồng thời, ngăn

ngừa và xử lý nghiêm minh những chủ thể kinh doanh đa cấp bất chính

Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều

chỉnh bán hàng đa cấp như Luật cạnh tranh năm 2004, Nghị định

110/2005/NĐ-CP, Thông tư 19/2005/TT-BTM Thế nhưng, qua vài năm áp dụng, các văn bản này đã xuất hiện nhiều mặt hạn chế, chỉ mới ghi nhận kinh doanh đa cấp dưới góc

độ hẹp là hoạt động bán hàng đa cấp; Đồng thời, chưa nêu được chi tiết cụ thể để phân biệt bán hàng đa cấp bất chính và bán hàng đa cấp chân chính, chưa đề cập đầy đủ việc bảo vệ quyền lợi tiêu dùng, người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Do đó, các doanh nghiệp đã lợi dụng khe hở của pháp luật để trục lợi Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định của

pháp luật Do đó, người viết chọn đề tài “Pháp luật cạnh tranh không lành

mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc đưa ra các lập luận để chứng minh sự tồn tại của hoạt động

kinh doanh đa cấp là một yếu tố khách quan cũng như khẳng định vai trò tiến bộ

Trang 5

của hoạt động kinh doanh đa cấp; Đồng thời, nêu cao vai trò quản lý cần thiết của Nhà nước phải quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp theo khuôn khổ của pháp luật Trên cơ sở những quy định của pháp luật, đề tài tập trung phân biệt bán hàng đa cấp bất chính với bán hàng đa cấp chân chính, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, đưa ra những tồn tại và giải pháp cần thực hiện đối với hoạt động quản lý kinh doanh hiện đại này

3 Phạm vi nghiên cứu

Là các vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh, khái quát về bán hàng đa cấp, bản chất, đặc điểm của bán hàng đa cấp, nhận biết bán hàng đa cấp, các quy định của pháp luật, thực trạng của hoạt động bán hàng đa cấp

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn bán hàng đa cấp, chỉ ra những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật; Đồng thời, sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu, đối chiếu pháp luật kinh doanh

đa cấp Việt Nam với pháp luật kinh doanh đa cấp một số nước khác trên thế giới

5 Kết cấu, bố cục của luận văn

Lời nói đầu

Chương 2 Điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động bán hàng đa cấp Trong chương này, tác giả tập

trung nghiên cứu các vấn đề theo quy định hiện hành liên quan đến hoạt động bán hàng đa cấp bất chính và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động bán hàng

đa cấp bất chính nhằm từng bước đưa bán hàng đa cấp vào khuôn khổ pháp luật

Trang 6

Chương 3 Thực trạng về hoạt động kinh doanh đa cấp ở Việt Nam.

Đối với nội dung chương 3, người viết khái quát một số bất cập trong quy định pháp luật về bán hàng đa cấp và giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực bán hàng đa cấp

Kết luận

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM

- -

Để đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp, cần xác định rõ những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và khái quát về bán hàng đa cấp Từ đó, tạo cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu những vấn đề mang tính pháp lý về hoạt động bán hàng đa cấp bất chính

1.1 Khái quát chung về cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và ý nghĩa của cạnh tranh

Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ năm 1986, nền kinh tế Nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Khuôn khổ pháp lí và thiết chế cần thiết để vận hành nền kinh tế mới đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện Ngày 3 tháng 12 năm 2004 Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật cạnh tranh và Luật này có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm

2005 là một trong những nỗ lực quan trọng nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử dựa trên nền tảng của nguyên tắc chung là tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Thuật ngữ “cạnh tranh” là khái niệm khá mới mẽ và chỉ biết đến ở Việt Nam trên chục năm trở lại đây vì khái niệm này chỉ gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên trong suốt thời kì kế hoạch hóa tập trung trước đây cạnh tranh dường như không được tồn tại và thừa nhận Các công trình nghiên cứu về cạnh tranh cũng như Luật cạnh tranh ở nước ta cho thấy là khá hạn chế so với các

Trang 7

ngành luật khác, chủ yếu mới dừng lại ở việc đề cập sự cần thiết ban hành Luật cạnh tranh hoặc phân tích một vài chế định hay khía cạnh của Luật cạnh tranh Muốn hiểu được Luật cạnh tranh trước hết cần phải hiểu được cạnh tranh là gì, nó được cấu thành từ các yếu tố nào Có rất nhiều quan điểm về cạnh tranh:

 Cuốn Black’law Dictionary diễn tả, cạnh tranh là sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hoặc nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba1

 Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà đầu tư trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình2

 Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là chạy đua trong kinh tế, hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau, cung ứng hàng hóa- dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên3

Từ những khái niệm trên, cho thấy có nhiều quan điểm diễn đạt khác nhau

về khái niệm cạnh tranh nhưng phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế, ở

đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn

để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường kinh doanh có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi

1.1.1.2 Ý nghĩa của cạnh tranh

Được thừa nhận là môi trường vận động của cơ chế kinh tế thị trường, cạnh tranh thực sự tồn tại như một quy luật khách quan, là động lực thúc đẩy và điều tiết mọi hoạt động kinh tế4 Các lợi ích mà nền kinh tế- xã hội có được do sự tồn tại của cạnh tranh như đã phản ánh phần nào chức năng của nó đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận những chức năng sau đây:

Trang 8

 Cạnh tranh giúp cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách

tối ưu nhất

Do tính hiệu quả và mục đích tối đa hóa lợi nhuận, các chủ thể kinh doanh khi tham gia thị trường có tính cạnh tranh, không thể không cân nhắc khi quyết định sử dụng các nguồn lực về vật chất và nhân lực của mình vào hoạt động sản xuất và kinh doanh Họ luôn sử dụng một cách tối ưu và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên này sao cho chi phí sản xuất là thấp nhất nhưng lại phải đạt được hiệu quả cao nhất Chính từ đặc điểm này, mà các nguồn tài nguyên được vận động, luân chuyển hợp lý về mọi mặt để phát huy khả năng vốn có đưa lại năng suất cao

 Cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh

Khi một doanh nghiệp đưa ra sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của thị trường, sản phẩm đó nhanh chóng chiếm được ưu thế và tạo điều kiện để doanh nghiệp thu lợi nhuận cao Điều này, khiến các đối thủ cạnh tranh về sản phẩm- hàng hóa cùng loại cũng phải quan tâm tới việc cải tiến về hình thức và chất lượng sản phẩm, bằng việc tiếp cận khoa học và công nghệ mới Chỉ có khoa học công nghệ tiên tiến mới có thể trợ giúp hữu hiệu cho sản xuất, kinh doanh, giảm giá thành sản xuất, tăng tính năng và chất lượng sản phẩm Các hoạt động nghiên cứu

và triển khai nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh sẽ thúc đẩy sự tiến bộ khoa học- công nghệ, hướng tới sử dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất kinh doanh

 Cạnh tranh có chức năng phân phối và điều hòa thu nhập

Cạnh tranh tạo ra áp lực liên tục đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên nền kinh tế thị trường Vì vậy, không có một chủ thể kinh doanh nào có thể mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường Các đối thủ cạnh tranh khác ngày đêm tìm kiếm những giải pháp hữu ích để ganh đua Trong từng thời điểm, một sản phẩm hàng hóa với những ưu việt nhất định thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng có thể chiếm được ưu thế trên thị trường, song vị trí của

nó luôn bị đe dọa bởi những sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn Có cạnh tranh, các nhà kinh doanh không thể lạm dụng vị thế của mình, chất lượng sản phẩm luôn được cải tiến và nâng cao mà giá thành thấp, những sản phẩm không tốt sẽ bị loại

bỏ ra khỏi thị trường Vì vậy, cạnh tranh là một yếu tố sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối và điều hòa thu nhập

 Cạnh tranh là điều kiện góp phần làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và đem lại lợi ích cho họ

Trang 9

Với cách phân tích và lập luận như trên, người tiên dùng được mệnh danh là trung tâm của thị trường Sự lựa chọn và sức tiêu thụ của họ là thước đo chính xác cho tính chất lượng và độ phù hợp của một sản phẩm hàng hóa Cạnh tranh gây tác động liên tục đến giá cả, buộc các doanh nghiệp phải phản ứng tự phát để chọn phương án sản xuất kinh doanh sao cho chi phí nhỏ, hiệu quả cao, chất lượng tốt, phong phú để phù hợp với thị hiếu, nhu cầu, mong muốn của người tiêu dùng Bởi vậy, trong điều kiện có cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả, người tiêu dùng là

“người trọng tài” quyết định sự sống còn của sản phẩm, buộc các nhà kinh doanh phải thỏa mãn yêu cầu của họ

 Cạnh tranh có chức năng điều chĩnh linh hoạt đối với thị trường

Cạnh tranh có hiệu quả không chỉ là một trong những công cụ tốt nhất để sử dụng tối ưu tài nguyên, mà còn là công cụ năng động cho phép duy trì sự di chuyển liên tục các tài nguyên đến nơi sử dụng có hiệu quả hơn Vấn đề đặt ra là

sự di chuyển đó chỉ diễn ra khi có sự chênh lệch giữa thu nhập và chi phí Nếu tính linh hoạt của sự điều chỉnh này không tồn tại trong nền kinh tế hoặc bị cản trở và đưa đến tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh thì nguyên nhân của

nó là nhà nước không thực thi các chính sách một cách hợp lí hoặc cơ cấu thị trường không có cạnh tranh

 Cạnh tranh có chức năng kiểm soát sức mạnh kinh tế

Sự cạnh tranh hiệu quả không loại trừ việc hình thành những tập đoàn có tiềm lực và thế mạnh về kinh tế Song, nếu cạnh tranh được duy trì và bảo đảm trong một trật tự nhất định sẽ từng bước phá vỡ sự tập trung sức mạnh kinh tế này Bản thân hoạt động cạnh tranh có chức năng tự thân kiểm soát sức mạnh kinh tế, nhưng chức năng này khi không đủ sức để kiểm soát sự tập trung sức mạnh kinh tế

ở quy mô quá lớn, nhất định sẽ xuất hiện sự kiểm soát của các thế lực có quyền lực chính trị

Cạnh tranh được coi là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế làm tăng hiệu quả xã hội cho quá trình sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ thực sự có tác dụng tích cực nếu đó là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nếu cạnh tranh không lành mạnh sẽ làm biến dạng quan hệ cung- cầu trên thị trường, gây rối loạn sản xuất và cuối cùng đem lại thiệt hại cho người tiêu dùng Do đó, việc quan tâm đến cạnh tranh là điều cần thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế ở một nước nào đó nói riêng và sự phát triển của một quốc gia nói chung, đòi hỏi quốc gia đó phải có chính sách cạnh tranh cũng như

Trang 10

pháp luật về cạnh tranh hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu là xây dựng, duy trì và bảo

vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh

1.1.2 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Đây là một trong những nội dung quan trọng của Luật cạnh tranh Việt Nam Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới có nhiều cách giải quyết khác nhau về vấn đề cạnh tranh không lành mạnh Một số quốc gia điều chĩnh hành vi cạnh tranh trong một số văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt như Đức, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Nhật Bản Một số quốc gia khác lại xây dựng thành một chế định trong Luật cạnh tranh như Bungari, Hàn Quốc, Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), Mông Cổ, Giamaica Ngoài ra, còn có các quốc gia lại coi cạnh tranh không lành mạnh là một lĩnh vực đặc biệt của pháp luật dân sự như Pháp, Italia Tuy nhiên, mục đích điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia đều nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, bình đẳng

1.1.2.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Khái niệm về hành vi cạnh tranh ở các nước có cách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung tương đồng với nhau Sau đây là một số khái niệm về hành vi cạnh

tranh không lành mạnh:

 Theo quy định tại Điều 10 Bis Công ước Pari: Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh, được tiến hành trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nhằm hưởng lợi ích bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của người khác

hoặc dèm pha đối thủ cạnh tranh, qua đó giành dựt khách hàng về phía mình

 Căn cứ vào khái niệm cạnh tranh không lành mạnh của Công ước Pari, pháp luật cạnh tranh của các quốc gia đã đưa ra định nghĩa của hành vi này trong các đạo luật của mình Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc đã xác định cạnh tranh không lành mạnh là: Các hoạt động của doanh nghiệp, của các chủ thể khác thực hiện trái pháp luật, gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tự kinh tế- xã hội

 Luật cạnh tranh của các Cộng đồng quốc gia độc lập (SNG) đã đưa ra định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh là: Hành vi của các doanh nghiệp với mục đích thu lợi bất chính trong khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, vi phạm tập quán kinh doanh, vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh hoặc gây ảnh hưởng uy tín kinh doanh của họ

Trang 11

 Theo khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam thì: Hành

vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng

Như vậy, khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nước có các cách diễn đạt không giống nhau nhưng về nội dung chủ yếu đều gần giống nhau Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm hai nội dung:

 Đây là hành vi cạnh tranh trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà hành

vi này vi phạm các nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh hay những quy định của pháp luật về cạnh tranh Đó có thể là những vi phạm về thỏa thuận trong kinh doanh, một tập quán kinh doanh mà các nhà sản xuất, kinh doanh điều hiểu và tuân theo hay đó là hành vi vi phạm những quy định pháp luật để thu lợi bất chính, làm giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hoặc có thể làm cho đối thủ cạnh tranh phá sản

 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra thiệt hại cho nhà sản xuất chân chính, người tiêu dùng, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước Điều này có thể thấy thông qua những tác động trực tiếp của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra như: làm cho đối thủ cạnh tranh rơi vào tình trạng khó khăn, sản phẩm không thể tiêu thụ được, doanh thu của doanh nghiệp bị giảm sút hoặc gây thiệt hại không bằng vật chất nhưng cũng không kém phần quan trọng như làm uy tín của doanh nghiệp bị bôi nhọ dẫn đến mất lòng tin ở khách hàng vào sản phẩm, hàng hóa của mình, hoặc hành vi đó làm giảm lòng tin ở đối tác thậm chí hành vi

đó có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước đến sự phát triển cân bằng của nền kinh tế như độc quyền sản phẩm, nâng giá sản phẩm

1.1.2.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm

2004

Dựa vào các khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh nêu trên, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể phân chia dưới góc độ xem xét lợi ích của các chủ thể bị xâm hại, bao gồm: hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh (xâm phạm bí mật kinh doanh; ngăn cản; gièm pha; bôi nhọ đối thủ kinh doanh); hành vi xâm phạm lợi ích của khách hàng (can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng; khuyến mại không trung thực; quảng cáo sai lệch)

Theo Điều 39 của Luật cạnh tranh 2004, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong điều luật tương đối cụ thể và bao quát, tương đồng với

Trang 12

các quy định của pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:

 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

 Xâm phạm bí mật kinh doanh;

 Ép buộc trong kinh doanh;

 Dèm pha doanh nghiệp khác;

 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

 Phân biệt đối xử của hiệp hội;

số mục đích sau :

 Thứ nhất, lợi nhuận Vì khi đã sản xuất, kinh doanh thì không một doanh nghiệp nào không chú ý đến lợi nhuận kiếm được, và chính sức hút quá lớn của đồng tiền mà các doanh nghiệp sử dụng cả những thủ đoạn không đẹp để cạnh tranh và khi tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì nó càng xuất hiện rõ nét và không thể tránh khỏi, điều này chỉ có thể kềm chế khi có sự tự giác của các nhà kinh doanh, sản xuất biết tuân thủ đúng pháp luật và có đạo đức kinh doanh cùng với đó là sự quản lí chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm

 Thứ hai, hạ gục đối thủ Doanh nghiệp nào cũng muốn sản phẩm của mình là duy nhất, không ai cạnh tranh Do đó, về mặt bên ngoài các doanh nghiệp kinh doanh cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật, công bằng nhưng tồn tại trong

họ là những kế hoạch lật đổ đối thủ bằng những chiến lược hay sách lược ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với nhiều hình thức khác nhau và đôi lúc là những hành

Trang 13

vi cạnh tranh không đẹp, không lành mạnh và khi đó pháp luật cần phải can thiệp

để cho nó hoạt động trong khuôn khổ cạnh tranh công bằng, lành mạnh

 Thứ ba, chiếm lĩnh thị trường, thu hút khách hàng Khi đã hạ gục đối thủ muốn có lợi nhuận nhiều thì phải có khách hàng mua sản phẩm, hàng hóa của mình Mặt khác, muốn bán được nhiều hàng hóa của mình thì phải có thị trường rộng lớn, không ai cạnh tranh với mình Nhưng thực tế thì đa số các thị trường tiêu thụ cùng một loại sản phẩm nhưng có nhiều hãng sản xuất giống nhau như bột giặt, bột ngọt, dầu gội đầu, sữa tắm Do đó, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau hàng giờ, hàng ngày rất quyết liệt, khi đó người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn và đôi khi do vấn đề tự do lựa chọn cũng như quá phong phú về các mặt hàng sản phẩm nên nhiều khi sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh không được người tiêu dùng lựa chọn Vì vậy, muốn giảm bớt sự cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường thì phải sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đan xen với những biện pháp cạnh tranh hợp pháp, khi đó Luật cạnh tranh sẽ được đưa vào để kiềm chế hành vi không đẹp đó làm cho hoạt động đó không vượt giới hạn quy định của pháp luật cho phép

để các doanh nghiệp quan tâm khi tiến hành cạnh tranh không lành mạnh, dẫn đến khó khăn cho bài toán làm cho môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, công bằng

Hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là rất lớn, chỉ cần dùng vài thủ đoạn nhỏ như tung tin đồn không tốt về một loại sản phẩm nào đó kém chất lượng, khi sử dụng gây dị ứng, tác dụng phụ là sản phẩm đó thậm chí cả doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó rất khó tồn tại Qua đó, ta có thể thấy được hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng tới

Trang 14

 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng trong kinh doanh: có thể dẫn đến việc làm giảm uy tín của các nhà sản xuất, lợi nhuận giảm sút và có thể gây hậu quả xấu nhất là doanh nghiệp bị phá sản Khi

đã bị đối thủ chơi xấu dùng những thủ đoạn không minh bạch dù các doanh nghiệp

bị hại đã biết thì cũng quá muộn vì đây là cạnh tranh không lành mạnh, không công khai hoặc công khai dưới nhiều hình thức mà không biết được Khi nhà kinh doanh phát hiện thì sự việc đã diễn ra rồi, họ chỉ biết khắc phục hậu quả bằng cách thanh minh, giải thích và có thể gánh chịu toàn bộ hậu quả thua lổ dù mình bị vu oan, bôi nhọ Dù có chứng minh với khách hàng là mình bị hại thì uy tín của họ cũng đã bị giảm sút, người tiêu dùng có quay lại sử dụng sản phẩm, hàng hóa đó cũng sẽ có tâm lý e ngại, lưỡng lự Hậu quả này có thể kéo dài trong vài tháng, có khi cả năm và thiệt hại về vật chất là không thể tránh khỏi

 Người tiêu dùng: Chính khách hàng là người gánh chịu trực tiếp hậu quả

do hành vi cạnh tranh không lành mạnh đem đến Một sản phẩm đã được sử dụng thường xuyên, trong một lúc nào đó lại bị nói xấu, làm cho tâm lý người tiêu dùng rất lo ngại, hoang mang đôi khi bị kích động vì tâm lý khách hàng thường xuyên

sử dụng sản phẩm và rất nhạy cảm với những thông tin về những tin tức dù có thật hay không Dẫn đến làn sóng “tẩy chay” sản phẩm của nhà sản xuất bị hại và người tiêu dùng sẽ quay sang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhưng có thể sản phẩm này không tốt bằng sản phẩm trước đó Ngoài ra, người tiêu dùng còn bị tình trạng độc quyền của sản phẩm cạnh tranh không lành mạnh là tăng giá sản phẩm lên hoặc hạ giá sản phẩm xuống tùy thuộc vào chất lượng hàng hóa tốt hay xấu mà nhà sản xuất cạnh tranh không lành mạnh thắng sẽ quyết định tận dụng

cơ hội này nhưng có một điều chắc chắn là nhà sản xuất, kinh doanh này sẽ tranh thủ triệt tiêu cơ hội này để thu lợi nhuận nhờ vào cạnh tranh không lành mạnh và người tiêu dùng là người chịu thiệt thòi

 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định và cân bằng của nền kinh tế: Khi có hành vi cạnh tranh không lành mạnh đương nhiên sẽ làm nền kinh tế mất ổn định, mất cân bằng Vì nếu không có pháp luật can thiệp để đưa các hoạt động này vào khuôn khổ thì có thể tưởng tượng đến việc các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh với nhau bằng mọi cách, mọi thủ đoạn để có thể hạ gục đối thủ cạnh tranh nhằm chi phối và chiếm lĩnh thị trường sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền, giá cả không kiểm soát được, các doanh nghiệp chân chính không kinh doanh được thì cũng phải trả đũa đối thủ bằng nhiều cách khác nhau và cuối cùng là hậu quả làm mất ổn định kinh tế- xã hội, cuộc sống của người dân có

Trang 15

thể bị đảo lộn trước sức ảnh hưởng của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh như giá cả hàng hóa, các sản phẩm tiêu dùng đều tăng lên, các doanh nghiệp sẽ dùng nhiều thủ đoạn để cạnh tranh với đối thủ , cùng với đó là doanh nghiệp nào không

có khả năng cạnh tranh thì sẽ bị phá sản dẫn tới các lao động sẽ mất việc làm, thất nghiệp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, mất trật tự cho xã hội

1.2 Khái quát về bán hàng đa cấp

Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh hiện đại trong thương mại, phát triển khá mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường tại các nước phát triển như Hoa

Kỳ, Canada, Anh, Đức, Thụy Điển Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, phương thức kinh doanh này đã lan rộng sang các nước châu Á và phát triển mạnh mẽ tại các nước và lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Inđonesia, Trung Quốc, Thái lan Phương thức bán hàng đa cấp được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận là một hình thức kinh doanh hợp pháp và được ghi nhận trong các đạo luật cạnh tranh (như Canada, Đài Loan, Oxtraylia) hay trong đạo luật riêng về bán hàng trực tiếp (như Malaysia)

Bán hàng đa cấp là phương pháp phân phối sản phẩm xuất hiện đầu tiên ở nước ta vào năm 1998- 2000 Đây là hình thức kinh doanh hiện đại được pháp luật cạnh tranh Việt Nam thừa nhận và được cơ quan nhà nước cũng như người dân ủng hộ để đưa vào nền kinh tế

1.2.1 Khái niệm về bán hàng đa cấp

Trong Luật cạnh tranh Việt Nam, hành vi bán hàng đa cấp được hiểu là:

“Bán hàng đa cấp là một hình thức bán hàng trực tiếp, không thông qua địa điểm bán lẻ cố định mà thông qua mạng lưới người tham gia độc lập gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau và được pháp luật các quốc gia bảo hộ”5

Theo khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004, bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

 Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau

 Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia

5

Ts Lê Hoàng Oanh: Bình luận khoa học Luật cạnh tranh, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2005, tr.29

Trang 16

 Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận Trong phương thức bán hàng đa cấp, thu nhập của người tham gia được hình thành từ các nguồn sau: Từ doanh số bán hàng do chính người tham gia đó bán được hàng; Từ doanh số bán hàng do những người tham gia cấp dưới trong mạng lưới do chính người đó tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp đồng ý

1.2.2 Đặc điểm của bán hàng đa cấp

1.2.2.1 Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa

Đây là phương thức bán lẻ hàng hóa mà không phải là một ngành nghề kinh doanh Nói cách khác thông qua mạng lưới tiếp thị, doanh nghiệp tổ chức bán hàng

đa cấp sẽ thiết lập được mối quan hệ mua bán hàng hóa trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng mà không tốn phí các khoản đầu tư thành lập, duy trì mạng lưới phân phối dưới dạng cửa hàng phân phối sản phẩm, hoặc các đại lý phân phối theo pháp luật thương mại Đồng thời, người tiêu dùng có cơ hội mua được sản phẩm

“gốc” từ nhà sản xuất, tránh những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình phân phối như nạn hàng giả, giá cả không trung thực Do đó, doanh nghiệp bán hàng đa cấp có thể là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng hóa được tiếp thị và bán lẻ bằng phương thức đa cấp hoặc chỉ là các doanh nghiệp phân phối hàng hóa do các doanh nghiệp khác sản xuất

Bên cạnh đó, bán hàng đa cấp chỉ xảy ra trong thị trường hàng hóa Luật cạnh tranh 2004 và Nghị định 110/2005/NĐ-CP điều xác định đối tựợng của hành

vi này là thị trường hàng hóa mà không đặt ra đối với thị trường dịch vụ Khi bán hàng đa cấp được hiểu là phương thức tiếp thị để tiêu dùng, thì hoạt động tiếp thị

để cung ứng trong thị trường dịch vụ sẽ không thể là bán hàng đa cấp Do đó, các hoạt động của mạng lưới tiếp thị bảo hiểm không là bán hàng đa cấp, không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh 2004

1.2.2.2 Doanh nghiệp bán hàng đa cấp tiếp thị hàng hóa thông qua những người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau

Người tham gia bán hàng đa cấp được hiểu là những cộng tác viên trong việc tiếp thị, bán lẻ hàng hóa cho doanh nghiệp (được gọi với những tên gọi như đại lí, nhà phân phối độc lập, trực tiêu viên) Trong hoạt động của mình, người tham gia thực hiện việc giới thiệu và bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng

Trang 17

mà không nhân danh doanh nghiệp Như vậy, khi giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, doanh nghiệp đã không là người trực tiếp thiết lập quan hệ với người tiêu dùng mà thực hiện thông qua mạng lưới của người tham gia, cho nên họ độc lập trong quan

hệ khách hàng Do người tham gia bán hàng đa cấp không phải là nhân viên của doanh nghiệp nên doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm hành vi của người tham gia trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm mà chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phạm vi chất lượng sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm do họ cung cấp

Mặt khác, khi tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, người tham gia không phải là các đại lí phân phối theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, không

là các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp thành lập Luật cạnh tranh năm

2004 quy định người tham gia tiếp thị hàng hóa nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng mà không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hay của người tham gia Tức là, người tham gia trực tiếp gặp gở người tiêu dùng để giới thiệu, bán lẻ sản phẩm và họ không phải đăng kí kinh doanh khi tham gia bán hàng

đa cấp

Bên cạnh đó, người tham gia được tổ chức thành những cấp khác nhau theo phương thức mỗi người tham gia tổ chức một mạng lưới phân phối mới, khi được doanh nghiệp chấp nhận Số người tham gia ở cấp sau luôn nhiều hơn so với cấp trước đó Vô hình chung phương thức đó đã tạo ra hệ thống phân phối theo hình tháp Trong quan hệ nội bộ, người tham gia ở cấp trên có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của những người ở mạng lưới cấp dưới

1.2.2.3 Người tham gia được hưởng tiền hoa hồng , tiền thưởng, các lợi ích kinh tế khác

Có thể là nhà ở, phương tiện đi lại, các chuyến du lịch từ kết quả bán hàng của mình và của những người tham gia khác trong mạng lưới do mình xây dựng nên và được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp nhận Cách thức phân chia lợi ích như trên không chỉ kích thích người tham gia tích cực tiêu thụ hàng hóa mà còn kích thích họ tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới Pháp luật nước ta không giới hạn số cấp, nhưng pháp luật một số nước khác lại khống chế số cấp phân phối để người tham gia đầu tiên được chia lợi ích cao từ các cấp dưới là cấp 5 hoặc cấp 6

1.2.2.4 Chính sách mua lại hàng hóa

Chính sách này đã được luật hóa trong các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp của các nước trên thế giới Luật pháp Việt Nam cũng quy định giống như các nước về việc doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải mua lại

Trang 18

hàng hóa đã bán cho người tham gia (hàng hóa này có thể bán lại theo mục đích sử dụng ban đầu) và hoàn lại với số tiền tối thiểu bằng 90% số tiền mà người tham gia

đã bỏ ra để mua hàng sau khi đã trừ các chi phí hợp lí khác

Theo chính sách này, để giảm thiểu thiệt hại cho người tham gia bán hàng

đa cấp nếu như họ không bán được hàng thì doanh nghiệp phải mua lại hàng hóa của người tham gia bằng số tiền tối thiểu là 90% số tiền của hàng hóa mà người tham gia đã bỏ ra mua hàng của doanh nghiệp, 10% số tiền hàng hóa đã mất là số tiền mà người tham gia phải chịu khi không bán được hàng, đây là số tiền mà bảo đảm cho người tham gia bán hàng đa cấp phải cố gắng bán được hàng nếu như không muốn mất 10% số tiền mua hàng

1.2.3 Ý nghĩa của bán hàng đa cấp

Bán hàng đa cấp là một mô hình kinh doanh chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong thời gian 1998- 2000 và phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây Hình thức bán hàng này có nhiều ý nghĩa như sau:

 Đối với xã hội và đất nước

Xã hội tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn dành cho quảng cáo, khuyến mãi, cửa hàng trưng bày Những chi phí khổng lồ này đối với người dân và

xã hội là vô ích khi xét về một mặt nào đó như xã hội phải tốn một số tiền rất lớn cho một panô hoặc áp phích to đùng, thậm chí mất vẻ mỹ quan đô thị chỉ với mục đích nhắc người tiêu dùng nhớ đến một sản phẩm- hàng hóa nào đó

Có thể huy động được nguồn vốn và sức lao động nhàn rỗi hoặc dư thừa trong nhân dân, tạo ra việc làm cũng là một cách góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội cho Nhà nước và cho toàn dân Giải quyết vấn đề cấp thiết hiện nay là việc làm cho người lao động, đặc biệt là người lao động lớn tuổi (vì các công ty truyền thống chỉ tuyển lực lượng lao động có độ tuổi từ 20-45) Những người không có điều kiện làm việc cũng như không có trình

độ, tay nghề cũng có thể tham gia bán hàng đa cấp Mặt khác, phương thức kinh doanh này không giới hạn số lượng người tham gia nên mọi người, mọi lứa tuổi (từ 18 tuổi trở lên) điều tham gia bán hàng được Là môi trường rèn luyện ý chí tìm tòi, sáng tạo cho người tham gia bán hàng đa cấp Qua đó tạo ra cho xã hội một đội ngũ bán hàng năng động, sáng tạo

Loại hình kinh doanh này còn kích thích tiêu dùng, tăng thị phần kinh doanh, góp phần nâng cao mặt bằng mức sống xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống Đóng góp, tăng cường đáng kể ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi xã hội bằng các loại thuế nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế môn bài, thuế lợi tức

Trang 19

doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Hơn thế nữa, Việt Nam đang thể hiện thiện chí, tinh thần cùng các nước hội nhập thực sự về mọi mặt, mọi lĩnh vực kinh tế khi

Nước ta là thành viên của WTO

 Đối với các doanh nghiệp bán hàng đa cấp

Đây là phương thức kinh doanh hiện đại, cắt giảm được hàng loạt các chi phí trung gian như chi phí thuê mặt bằng trưng bày, chi phí vận chuyển, tiết kiệm chi phí quảng cáo khổng lồ Theo hình thức kinh doanh truyền thống, các công ty phải bỏ ra một khoản chi phí để quảng cáo, trưng bày về sản phẩm, hàng hóa kinh doanh của mình, sau đó mới thu lại thông qua việc bán được sản phẩm và hàng hóa Nhưng theo hình thức bán hàng này thì hàng hóa được giới thiệu trực tiếp đến người tiêu dùng nên những khâu trung gian đó được bỏ qua Chi phí tiết kiệm được chủ yếu tập trung cho việc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm nên sản phẩm mang tính ưu việt cao: độc đáo, phong phú về chủng loại, chất lượng cực tốt

để hướng đến thuyết phục và làm hài lòng người tiêu dùng 100% Qua đó,còn chống được hiện tượng hàng gian, hàng giả

Tạo ra một lực lượng tiếp thị, tư vấn, đội ngũ bán hàng khổng lồ, năng động rộng khắp mọi nơi trên đất nước một cách nhanh chóng và ổn định bền lâu Nhiều công ty doanh số vẫn tăng trưởng dù trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn khu vực Mặt khác do mạng lưới phân phối đựơc tổ chức để đưa hàng hóa trực tiếp đến với người tiêu dùng nên có nhiều thuận lợi trong việc quảng bá hàng hóa một cách trực tiếp và hữu hiệu

 Đối với người tham gia

Khi tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, người tham gia có thể tiếp xúc với nhiều người, có thể phát huy được tối đa khả năng ăn nói, khả năng thuyết phục, cách tiếp cận hay chăm sóc khách hàng, khả năng thuyết trình, phát biểu trước đám đông

Phương thức kinh doanh này không đòi hỏi nhiều vốn, bằng cấp, kiến thức, không mất nhiều thời gian nên đây được xem là một công việc tốt để làm thêm ngoài công việc chính, nhưng có thể đem lại thu nhập cao

 Đối với người tiêu dùng

Người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn và nhiều cơ hội mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất nên tránh được nạn hàng giả, hàng kém chất lượng mà giá sản phẩm thấp, phải chăng

Ngoài việc tiêu dùng, khách hàng còn có thể tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Có thêm quyền kinh doanh, thêm ý tưởng kinh doanh sáng tạo (trong

Trang 20

kinh doanh truyền thống, người tiêu dùng chỉ có quyền sở hữu và sử dụng hàng chứ không có quyền kinh doanh) Đây cũng có thể được xem là một ngành nghề làm thêm ngoài công việc chính, là nguồn thu nhập phụ nhưng khá đáng kể cho người dân Đặt biệt là những người nội trợ, sinh viên mặc dù ở nhà, đi học nhưng vẫn có thể tham gia bán hàng đa cấp vì phương thức này không tốn nhiều thời gian cũng như không đòi hỏi tay nghề, vốn kinh doanh

Ngoài ra, kết quả áp dụng phương thức bán hàng đa cấp đã đạt được một số hiệu quả nhất định Tính đết hết năm 2009, có 32 công ty bán hàng đa cấp hoạt động đã thu hút gần 700.000 nhà phân phối, mang lại doanh thu hàng năm hơn 2.100 tỷ đồng (tăng 150% so với năm 2008), đóng góp gần 660 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân vào ngân sách Nhà nước và trên 5 tỷ đồng cho các hoạt động xã hội, từ thiện Các sản phẩm được đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp tính đến thời điểm hiện tại khoảng 1.000 mặt hàng, chủ yếu là thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, đồ dùng cá nhân và đồ dùng gia đình Từ đó cho thấy, phương thức bán hàng hiện đại huy động được sức lao động nhàn rỗi trong nhân dân, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, phát huy tinh thần đoàn kết, tinh thần đồng đội hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng vươn tới thành công, tăng khoản thu cho ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi xã hội Măt khác, do đặc điểm và nguồn gốc của hàng hóa được lưu thông trong bán hàng

đa cấp là hàng hóa ở nước ngoài nên người tiêu dùng Việt Nam có thể tiếp cận với

xu hướng tiêu dùng của thế giới

Mặt khác, sự ra đời của Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam6 đã đánh dấu được bước phát triễn vượt bậc của hoạt động này Hiệp hội ra đời tạo nhiều thuận lợi không chỉ đối với các doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà còn góp phần quan trọng đối với cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động quản lý, giám sát bán hàng

đa cấp Vai trò này được làm rõ như sau:

 Hiệp hội sẽ là tổ chức đại diện cho các doanh nghiệp bán hàng đa cấp của Việt Nam hoạt động một cách tích cực, hiệu quả, hỗ trợ nâng cao năng lực và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên, để từng bước hình thành một hệ thống các doanh nghiệp với quy mô lớn và mang tính chuyên nghiệp cao

6 Vào lúc 8h00 ngày 21/07/2009, tại Nhà khách Quốc Hội, 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 7, Quận 3, TPHCM, Đại hội thành lập Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam đã được diễn ra với sự tham dự của 18 thành viên ban đầu của Hiệp hội là các Công ty đang hoạt động trong ngành kinh doanh đa cấp Tại Đại hội, Ban tổ chức đã công bố Quyết định số 935/QĐ-BNV ngày 15/6/2006 của Bộ Nội Vụ về việc cho phép thành lập Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam và tiến hành bầu cử Ban chấp hành Hiệp hội nhiệm kỳ thứ nhất (2009 – 2014)

Trang 21

 Hiệp hội là cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước thông qua việc thu thập và tổng hợp những đề xuất, kiến nghị của hội viên phản ánh với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Đồng thời, Hiệp hội cũng sẽ

là tổ chức hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật cho các hội viên, cho người tham gia bán hàng đa cấp và cho cộng đồng xã hội Các Sở Công Thương7 và Hiệp hội cần “hợp tác” với nhau

để tăng cường hơn trong việc quản lý, giám sát bán hàng đa cấp, hơn nữa để tạo điều kiện cho hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam ngày càng phát triển bền vững và tuân thủ theo các quy định của pháp luật

Từ đó, cho thấy có Hiệp hội bán hàng đa cấp, nhà nước sẽ dễ dàng quản lý hơn trong việc giám sát, phát hiện ra các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp khi chưa

đủ điều kiện, có hành vi bất chính Đó là “kênh thông tin” để cơ quan quản lý bán hàng đa cấp loại trừ được các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp bất chính; Đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính phát triển

1.3 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Quan hệ bán hàng đa cấp giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp với người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp được xác định và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng bán hàng đa cấp Pháp luật về bán hàng đa cấp ở Việt Nam không định nghĩa hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, tuy nhiên dựa vào bản chất của bán hàng đa cấp thì có thể hiểu hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp là

sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ bán hàng đa cấp Với tư cách là hình thức pháp lí của quan hệ bán hàng đa cấp, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp có những dấu hiệu pháp lí sau:

 Về chủ thể của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Tồn tại hai chủ thể quan trọng đó là doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp

 Doanh nghiệp bán hàng đa cấp không phải là loại hình doanh nghiệp mới trong nền kinh tế nước ta mà thực chất nó tồn tại dưới các dạng loại hình doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CP), công ty hợp danh và công ty tư nhân theo Luật doanh nghiệp 2005 Đối với doanh nghiệp

7

Trong phạm vi bài viết, người viết xin đề cập đến Sở Công Thương để thay thế cho Sở Thương Mại hoặc Sở Thương Mại- Du lịch

Trang 22

bán hàng đa cấp là doanh nghiệp đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy tổ chức đăng kí bán hàng đa cấp8

 Người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp: Là người đã kí kết hợp

đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp

Theo Luật cạnh tranh 2004, cho rằng chỉ có cá nhân mới có quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, còn tổ chức không có quyền này Cơ sở lý luận của quan điểm này xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động bán hàng đa cấp Bán hàng đa cấp là phương thức tiêu thụ sản phẩm dựa vào các mối quan hệ thân quen và là sự quảng cáo trực tiếp của phân phối viên tới người tiêu dùng Chủ thể tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp phải là người trực tiếp sử dụng và đánh giá chất lượng sản phẩm và dùng những hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân để tiếp thị sản phẩm với những người quen Do đó, chỉ có cá nhân là chủ thể hội đủ các yêu cầu

và có khả năng thực hiện việc tiếp thị sản phẩm theo phương thức bán hàng đa cấp Còn tổ chức là một tập hợp cá nhân, tổ chức không phải là chủ thể vừa có tính sinh học vừa có tính xã hội như con người Do đó, tổ chức không có mối thân quen mang tính gia đình, bạn bè, tổ chức càng không thể trực tiếp sử dụng và cảm nhận chất lượng sản phẩm Vì thế, tổ chức không thể là người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Và càng không thể là bên ký kết hợp đồng với doanh nghiệp kinh doanh đa cấp

Không phải mọi cá nhân điều có quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Theo điều 4 NĐ110/2005/NĐ-CP người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp

bị cấm tham gia bán hàng đa cấp như:

 Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản

 Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp

Đây là những quy định mang tính chất phòng ngừa, xuất phát từ đặc điểm phức tạp của bán hàng đa cấp, người tham gia trực tiếp tiếp thị sản phẩm cho người tiêu dùng và trực tiếp lựa chọn, giới thiệu người tham gia mới vào mạng lưới bán hàng đa cấp Do đó, nếu cho phép những người có tiền án hoặc đang chấp

8

Ths.Đoàn Trung Kiên: Bản chất pháp lý của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp – Tạp chí luật học số 11/2008

Trang 23

hành hình phạt tù về những tội xâm phạm sở hữu hoặc các tội về kinh tế khi tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp sẽ dễ dàng xảy ra tình trạng những người này tiếp tục lợi dụng bán hàng đa cấp để lừa đảo người khác Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam là một thành viên trong mạng lưới bán hàng đa cấp quốc tế Do đó, có hiện tượng người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp và phát sinh thu nhập tại Việt Nam khi chưa có giấy phép lao động và có hành vi trốn thuế Vì thế, theo quy định này giúp cho nhà nước có thể kiểm soát việc thu thuế cũng như quản lý được hoạt động của họ tại Việt Nam, ngăn chặn họ tổ chức trái phép mạng lưới bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam

Tùy từng doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà người tham gia được gọi là nhà phân phối, nhân viên tiếp thị bán lẻ trực tiếp, trực tiêu viên, hợp tác viên nhưng họ không phải là nhân viên của doanh nghiệp Lúc này, người tham gia hoàn toàn độc lập tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Họ nhân danh chính mình, tự mình quyết định mọi việc và tự mình gánh chịu trách nhiệm về kết quả bán hàng Tư cách pháp lí độc lập của người tham gia thường được ghi nhận ngay trong hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp hay trong chính sách của doanh nghiệp bán hàng

đa cấp với nội dung như: Người tham gia là nhà phân phối viên độc lập, không là nhân viên hay người đại diện của doanh nghiệp với bất kì mục đích nào Điều này

lí giải tại sao các doanh nghiệp bán hàng đa cấp thường không chịu trách nhiệm về các hành vi quảng cáo gian dối, sai sự thật, lừa đảo của người tham gia vì người tham gia không có quyền nhân danh doanh nghiệp trong hoạt động của mình Vậy hợp đồng được coi là căn cứ duy nhất để xác lập và điều chỉnh quan hệ giữa họ với doanh nghiệp

 Về hình thức của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận kết quả mà các bên tham gia đã thỏa thuận với nhau Hợp đồng có thể được lập dưới nhiều hình thức khác nhau như lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, với tính chất phức tạp của quan hệ bán hàng đa cấp, khả năng phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng bán hàng đa cấp là rất lớn nên hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp luôn được thể hiện dưới các dạng hình thức đảm bảo rõ ràng để giúp cho việc giải quyết tranh chấp trở nên thuận lợi hơn Vì vậy, theo quy định của khoản 1 Điều 9 NĐ 110/2005/NĐ-CP quy định: “Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải kí kết hợp đồng tham gia bằng văn bản với người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp”

Trang 24

Mặt khác, do tính phổ biến và lan rộng của hoạt động tham gia bán hàng đa cấp, nên pháp luật đã xác định hình thức hợp đồng này là văn bản để làm cơ sở pháp lí chắc chắn cho việc giám sát tính hợp pháp của mạng lưới bán hàng đa cấp, thiết lập được cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của từng bên trong giao dịch tham gia bán hàng đa cấp, từ đó có thể ngăn chặn được ý định đùng đẩy hoặc phân tán trách nhiệm cho nhau giữa doanh nghiệp và người tham gia, tạo ra cơ hội bảo

vệ tốt hơn quyền lợi của những bên có vị trí yếu trong các giao dịch mua bán, kể

cả hợp đồng tham gia bán hàng

 Về đối tượng của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Đối tượng của hợp đồng này là lợi ích mà các bên hướng tới khi kí kết hợp đồng Đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, lợi ích mà họ hướng tới là hàng hóa

họ bán được cho người tham gia, tức là hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp là một hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa, theo đó bên bán hàng là doanh nghiệp bán hàng đa cấp, bên mua hàng là người tham gia bán hàng đa cấp Tuy nhiên, mục đích lợi ích mà người tham gia bán hàng đa cấp hướng tới là hàng hóa mà họ mua đựơc thì lợi ích chủ yếu chính là tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh

tế mà họ nhận được từ việc tiếp thị bán hàng của mình cũng như của người tham gia cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp nhận Như vậy, dưới góc độ lợi ích của người tham gia, đối tượng của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp lại là một công việc- bán hàng đa cấp Tiếp cận đối tượng của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp dưới góc độ của người tham gia cho thấy hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp là một dạng hợp đồng trung gian tiêu thụ hàng hóa

 Về nội dung cơ bản của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Theo Thông tư 19/2005/TT-BTM của Bộ Thương Mại (bây giờ là Bộ Công Thương) hướng dẫn một số nội dung quy định tại NĐ 110/2005/NĐ-CP, theo đó Điều 5 của Thông tư này quy định những nội dung cơ bản của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp mẫu Bao gồm:

 Thông tin về chủ thể của hợp đồng (bao gồm tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán hàng đa cấp, họ

và tên, hộ khẩu thường trú (hoặc đăng kí lưu trú đối với người nước ngoài), nơi đăng kí tạm trú, số chứng minh nhân dân (hoặc số hộ chiếu đối với người nước ngoài)

 Nguồn gốc, chủng loại, chất lượng, giá cả, công dụng và cách thức sử dụng của hàng hóa, các điều kiện và phạm vi bảo hành hàng hóa (nếu có)

Trang 25

Thông thường các sản phẩm được doanh nghiệp bán hàng đa cấp kinh doanh là thực phẩm chức năng, mỹ phẩm và các sản phẩm này có xuất xứ từ nước ngoài như Hoa Kì, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan Những sản phẩm này người tiêu dùng Việt Nam hầu như chưa từng biết đến Cho nên nhiều doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã lợi dụng việc thiếu thông tin về sản phẩm để quảng cáo sai sự thật về tính năng, công dụng, chất lượng của sản phẩm Chẳng hạn có doanh nghiệp đã quảng cáo sản phẩm thực phẩm dinh dưởng thành dược phẩm thậm chí là thần dược chữa được nhiều bệnh để bán sản phẩm với giá cao hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm Để phòng ngừa và ngăn chặn hiện tượng này, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp phải có điều khoản quy định rõ về nguồn gốc, chủng loại, chất lượng, giá cả, công dụng và cách thức sử dụng của hàng hóa được bán, giá bán lại hàng hóa Bên cạnh đó, Điều 5 NĐ110/2005/NĐ-

CP còn quy định những hàng hóa không được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp và những điều kiện của hàng hóa kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp tất cả các hàng hóa điều được kinh doanh theo phương thức bán hàng

đa cấp, trừ những trường hợp sau đây: Hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm lưu thông; Danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng giả, hàng nhập lậu theo quy định của pháp luật; Hàng hóa là thuốc phòng chữa bệnh cho người; Các loại vắc xin; Sinh phẩm; Trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế; Các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thủy sản), thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, chế phẩm diệt công trùng, diệt khuẩn dùng trong lỉnh vực gia dụng và y tế; Nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh; Các loại hóa chất độc hại và các sản phẩm có hóa chất độc hại theo quy định của pháp luật Mặt khác, việc cấm bán các loại hàng hóa này vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe cuả người tiêu dùng mà chưa được một cơ quan chức năng nào kiểm định

Hàng hóa được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp phải đáp ứng các điều kiện sau:

 Hàng hóa đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật;

 Hàng hóa bảo đảm rõ ràng, hợp pháp về nguồn gốc, xuất xứ, tính năng, công dụng của hàng hóa;

 Có nhãn hàng theo đúng quy định của pháp luật

Cách thức tính tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác mà người tham gia nhận được từ việc tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và được doanh nghiệp bán hàng đa

Trang 26

cấp chấp nhận cũng được quy định trong hợp đồng Bởi, đây là nội dung quan trọng được ghi nhận trong hợp đồng bán hàng đa cấp Bởi lẻ thông qua nội dung này có thể nhận diện được đâu là doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính

Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bao gồm cả ràng buộc trách nhiệm giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia cũng như trách nhiệm của người tham gia

Về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là do các bên

tự thỏa thuận và những thỏa thuận này sẽ trở thành “luật” của các bên nếu chúng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức của xã hội Điều này đòi hỏi các bên phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, các bên trong hợp đồng không chỉ tuân thủ với nhau về quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng mà còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bán hàng đa cấp, cụ thể như sau:

 Đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp: Theo Điều 6 và Điều 12 NĐ110/2005/NĐ-CP, doanh nghiệp bán hàng đa cấp có nghĩa vụ xây dựng và công bố công khai quy tắc của doanh nghiệp và người tham gia trong hoạt động bán hàng đa cấp; Cung cấp tài liệu cho người có dự định tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp; Đảm bảo tính trung thực và độ chính xác của các thông tin cung cấp cho người tham gia; Đảm bảo cho hàng hóa được bán theo phương thức bán hàng đa cấp; Giải quyết các khiếu nại của người tham gia và người tiêu dùng; Khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân của người tham gia để nộp vào ngân sách nhà nước trước khi chi trả hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác cho người tham gia; Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bán hàng đa cấp, pháp luật

về bán hàng đa cấp cho người tham gia; Quản lí người tham gia qua hệ thống thẻ thành viên của mạng lưới bán hàng đa cấp theo mẫu do Bộ Thương Mại (Bây giờ

là Bộ CôngThương) quy định; Thông báo cho người tham gia những hàng hóa thuộc diện không mua lại trước khi người đó tiến hành mua hàng; Bồi thường cho người tiêu dùng hoặc người tham gia trong các trường hợp người tham gia gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia khác khi thực hiện đúng quy chế hoạt động và chương trình bán hàng của doanh nghiệp hoặc người tham gia không được thông tin đầy đủ về hàng hóa theo quy định của pháp luật; Thường xuyên giám sát hoạt động của người tham gia để đảm bảo cho người tham gia thực hiện đúng Quy tắc hoạt động và chương trình bán hàng của doanh nghiệp

Trang 27

 Đối với người tham gia bán hàng đa cấp: Theo Điều 8

NĐ110/2005/NĐ-CP, khi tham gia hoạt động bán hàng đa cấp người tham gia có nghĩa vụ như xuất trình thẻ thành viên mạng lưới bán hàng đa cấp trước khi giới thiệu hàng hóa hoặc tiếp thị bán hàng; Thông báo đầy đủ những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 6 NĐ110/2005/NĐ-CP khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng

đa cấp; Đưa tin trung thực về loại, chất lượng, giá cả, công dụng, cách thức sử dụng của hàng hóa được bán; Tuân thủ quy định trong quy tắc hoạt động và chương trình bán hàng của doanh nghiệp; Không được yêu cầu người được mình bảo trợ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp phải trả một khoản phí nào dưới danh nghĩa khóa học, khóa đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác; Không được cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa, về họat động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Họ phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình đã được pháp luật hoặc hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp quy định Nếu vi phạm và gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia khác, người tham gia bán hàng đa cấp có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

 Các trường hợp chấm dứt và thanh lý hợp đồng bán hàng đa cấp

 Đối với người tham gia: Người tham gia có quyền chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp bằng việc gửi cho doanh nghiệp bán hàng đa cấp bằng cách thông báo bằng văn bản trước khi chấm dứt hợp đồng tối thiểu là bảy ngày làm việc

 Đối với doanh nghiệp: Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có quyền chấm dứt hợp đồng với người tham gia khi người tham gia vi phạm các nghĩa vụ của mình như đã trình bày ở trên và phải thông báo cho người tham gia biết bằng văn bản trước khi chấm dứt hợp đồng tối thiểu là bảy ngày làm việc

Kể từ khi chấm dứt hợp đồng các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa

vụ theo hợp đồng Tuy nhiên, doanh nghiệp bán hàng đa cấp vẫn phải bị ràng buộc một số trách nhiệm đối với người tham gia được quy định tại khoản 3 Điều 10 NĐ110/2005/NĐ-CP là sau khi chấm dứt hợp đồng các bên phải tiến hành thanh lí hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Những nội dung cơ bản của hợp đồng mẫu nói trên là những nội dung bắt buộc các bên phải thỏa thuận được với nhau trong quá trình giao kết hợp đồng Tất nhiên, trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên không bị giới hạn bởi các nội dung cơ bản của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp mẫu đó

Trang 28

Vậy, trong hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp Quan hệ giữa doanh nghiệp với người tham gia, dường như pháp luật đã dành cho người tham gia được hưởng nhiều quyền hơn Đồng thời, qua việc tìm hiểu bản chất pháp lí của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp cho thấy hợp đồng này không phải là hợp đồng lao động theo pháp luật lao động, cũng không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa trong pháp luật dân sự, pháp luật thương mại Để làm rõ vấn đề này, không chỉ dựa vào chủ thể, hình thức, nội dung, đối tượng của hợp đồng mà còn dựa vào hai chức năng cơ bản của hợp đồng mẫu tham gia bán hàng đa cấp Theo đó, nó là công cụ pháp lí

để tổ chức mạng lưới bán hàng đa cấp, doanh nghiệp đã sử dụng hợp đồng để xác lập tư cách cho người tham gia nhằm hình thành nên mạng lưới đa cấp; Hợp đồng còn là công cụ để doanh nghiệp thực hiện chiến lược phân phối, tiêu thụ hàng hóa

mà doanh nghiệp đang kinh doanh Việc xác định đúng bản chất pháp lí của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp sẽ là cơ sở pháp lí chắc chắn cho việc giám sát tính hợp pháp của mạng bán hàng đa cấp, thiết lập được cơ sở pháp lí để truy cứu trách nhiệm cho nhau giữa doanh nghiệp và người tham gia, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam Hành lang pháp lí về bán hàng đa cấp mà rõ ràng và hoàn thiện thì các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính khó có cơ hội hoạt động, qua đó khuyến khích

và cổ vũ các doanh nghiệp bán hàng đa cấp lành mạnh phát triển bền vững, ổn định mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng, người tham gia, nền kinh tế và môi trường kinh doanh

1.4 Giấy đăng kí tổ chức bán hàng đa cấp

Ở Việt Nam trước khi có Luật cạnh tranh, phần lớn các công ty hoạt động bán hàng đa cấp thường làm đại lý hoặc độc quyền cho các công ty hoặc tập đoàn nước ngoài kinh doanh phương thức bán hàng đa cấp Các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức này điều đăng kí kinh doanh với ngành hàng mua bán, đại

lí kí gửi hàng hóa nhưng giấy đăng kí kinh doanh không thể hiện nội dung bán hàng đa cấp Do vậy, đã dẫn đến phương thức kinh doanh nầy bị biến tướng, nhiều doanh nghiệp lợi dụng để trốn thuế, lừa đảo, hậu quả là gây ra nhiều vấn đề lớn cho xã hội Vì vậy, để bảo vệ người tiêu dùng, người tham gia bán hàng đa cấp và trật tự xã hội cần thiết phải làm rõ bản chất pháp lí của Giấy đăng kí tổ chức bán hàng đa cấp

Thủ tục đăng kí bán hàng đa cấp không là thủ tục đăng kí kinh doanh theo pháp luật doanh nghiệp Bởi lẽ, chức năng của thủ tục đăng kí kinh doanh là xác lập tư cách pháp lí cho các chủ thể kinh doanh Bằng việc cấp Giấy chứng nhận

Trang 29

đăng kí kinh doanh, Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của việc thành lập và thừa nhận tư cách pháp lí cho doanh nghiệp Nói cách khác, đăng kí kinh doanh là thủ tục của quá trình thành lập doanh nghiệp Trong khi đó, thủ tục đăng kí bán hàng

đa cấp được thực hiện khi doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ hàng hóa bằng phương thức đa cấp Vì thế, doanh nghiệp sẽ chỉ được cấp giấy đăng kí bán hàng đa cấp khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và phải kinh doanh hàng hóa phù hợp với ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không được cấp Giấy đăng kí bán hàng đa cấp doanh nghiệp vẫn có quyền kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, vẫn được tổ chức tiêu thụ hàng hóa nhưng không sử dụng mạng lưới bán hàng đa cấp

Mặt khác, Giấy đăng kí tổ chức bán hàng đa cấp cũng không là điều kiện kinh doanh theo pháp luật doanh nghiệp Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều 7 Luật Doanh Nghiệp năm 2005 quy định điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải

có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thực hiện bằng Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác Quy định này cho thấy, điều kiện kinh doanh áp dụng đối với ngành nghề kinh doanh Trong khi đó hoạt động bán hàng đa cấp đơn giản chỉ là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa

Nhưng kinh doanh đa cấp là nghành nghề kinh doanh có điều kiện, vấn đề này được lý giải là pháp luật yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh đa cấp phải chứng minh được khả năng chịu trách nhiệm tài chính trước những người tham gia bằng khoản tiền ký quỹ; Chứng minh về tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh bằng bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và Giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh trong trường hợp kinh doanh hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa kinh doanh có điều kiện

Theo NĐ110/2005/NĐ-CP thì cơ quan quản lí nhà nước là Sở Công Thương (lúc trước là Sở Thương Mại hoặc Sở Thương Mại- Du lịch) cấp tỉnh có quyền thẩm tra tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh, năng lực và thái độ của doanh nghiệp đang có nhu cầu bán hàng theo phương thức đa cấp bằng thủ tục cấp giấy đăng kí Và, điều kiện để doanh nghiệp được cấp Giấy đăng kí tổ chức bán hàng đa cấp được quy định tại Điều 14 NĐ110/2005/NĐ-CP bao gồm:

 Đã thực hiện ký quỹ theo quy định của pháp luật (doanh nghiệp phải ký quỹ là 5% vốn Điều lệ nhưng không thấp hơn một tỷ đồng Việt Nam tại một ngân hàng thương mại hoạt động ở Việt Nam);

Trang 30

 Kinh doanh hàng hóa phù hợp với ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp;

 Có đủ điều kiện kinh doanh hoặc được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật trong trường hợp kinh doanh hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa kinh doanh có điều kiện kinh doanh;

 Có chương trình bán hàng minh bạch và không trái pháp luật;

 Có chương trình đào tạo người tham gia rõ ràng

Mặt khác, hoạt động bán hàng đa cấp chỉ được coi là hợp pháp khi được cấp Giấy đăng kí bán hàng đa cấp Mọi trường hợp bị thu hồi giấy đăng kí chỉ làm chấm dứt quyền được tổ chức bán hàng đa cấp mà không chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Từ những quy định trên có thể thấy rằng thủ tục đăng kí bán hàng

đa cấp có một số chức năng cơ bản, đó là giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định năng lực của doanh nghiệp có nhu cầu bán hàng đa cấp nhằm thiết lập trật

tự lành mạnh trong hoạt động này; Xác lập trên thực tế quyền hoạt động bán hàng

đa cấp cho doanh nghiệp khi họ đáp ứng các điều kiện luật định; Cung cấp các thông số về tình hình hoạt động bán hàng đa cấp trên địa phương cho hoạt động quản lí của cơ quan nhà nước; Những điều kiện được pháp luật đặt ra cho việc cấp giấy đăng kí là cơ sở pháp lí để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp khi có hành vi vi phạm Như vậy, thủ tục đăng kí kinh doanh rất quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp hoạt động bán hàng đa cấp mà còn quan trọng đối với cơ quan quản lí Ngoài ra, với việc quy định điều kiện và thủ tục cấp Giấy đăng ký bán hàng đa cấp, pháp luật cạnh tranh đã đưa bán hàng đa cấp vào nhóm hành vi kinh doanh có điều kiện

1.5 Nhận dạng hành vi bán hàng đa cấp bất chính

Bản chất của bán hàng đa cấp là hợp pháp, được pháp luật các nước ghi nhận Pháp luật của các nước không tự thân lên án phương thức bán hàng đa cấp vì đây là phương thức kinh doanh hiện đại và rất cần cho nền kinh tế thị trường Nhưng hiện nay, hình thức bán hàng đa cấp đang bị biến tướng, bị coi là đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh khi có dấu hiệu không lành mạnh Do đó, cần đưa ra các tiêu chí để nhận biết bán hàng đa cấp hợp pháp và bán hàng đa cấp bất chính

 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng

hóa ban đầu hoặc phải trả tiền, trả một khoản tiền học phí nào dưới hình thức khóa học, khóa đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Đồng thời với việc yêu cầu

Trang 31

người muốn tham gia phải bỏ tiền mua “quyền tham gia” vào mạng lưới bán hàng, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính thường đưa ra khoản hoa hồng rất cao

để lôi kéo nhiều người đặt cọc Sau đó, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp không hoạt động nữa thậm chí bỏ trốn gây thiệt hại về tài sản cho chính những người đặt cọc

 Không cam kết cho người tham gia trả lại hàng hóa và nhận lại tiền ít

hơn 90% khoản tiền mà người tham gia đã trả để nhận được hàng hóa đó Mua lại hàng hóa là việc người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp khi chấm dứt hợp đồng bán hàng đa cấp có thể được trả lại hàng hóa đã mua từ doanh nghiệp bán hàng đa cấp và nhận lại số tiền tối thiểu là 90% số tiền đã bỏ ra đã mua hàng hóa sau khi đã trừ các chi phí hợp lí khác Đây là hành vi của doanh nghiệp bán hàng

đa cấp nhằm mục đích bảo vệ lợi ích và quyền lợi của người tiêu dùng cũng như người tham gia bán hàng đa cấp Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính không cam kết việc mua lại hàng hóa với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại, gây thiệt hại cho người tham gia và

cả người tiêu dùng

 Cho người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng,

tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ, lừa đảo người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Nghĩa là doanh nghiệp trả cho người tham gia một khoản tiền từ số lượng người tham gia mới mà người này tuyển dụng chứ không phải dựa trên doanh số bán hàng, không hướng tới mục đích đưa hàng hóa

ra thị trường đến người tiêu dùng Như vậy, người tham gia trước sẽ không quan tâm đến việc bán hàng mà chỉ tìm cách dụ dỗ nhiều người tham gia mạng lưới để nhanh chóng thu hồi được khoản tiền mà họ đã đặt cọc và được hưởng hoa hồng từ việc giới thiệu người mới cho doanh nghiệp Càng dụ dỗ được nhiều người mới tham gia bán hàng đa cấp họ càng được trả thù lao cao Người lợi nhất là doanh nghiệp vì luôn luôn bán được hàng do người tham gia mới được dụ dỗ phải đặt cọc hoặc trả một khoản tiền mua hàng để có quyền tham gia Khả năng rủi ro, nợ nần,

bế tắc rất dễ đến với người tham gia mới bị dụ dỗ vì họ vừa mất tiền mua hàng, vừa có thể không bán được hàng Người sau muốn gỡ lại và muốn có lãi suất bắt buộc phải đi thuyết phục để dụ dỗ những người mới Cứ như vậy, doanh nghiệp thì được thu lợi nhuận cao, còn người tham gia sẽ thiệt hại rất lớn cả về vật chất lẫn tinh thần

 Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán

hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ

Trang 32

người khác tham gia Các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính thường đưa ra mức hoa hồng khá cao để thu hút người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Mặt khác, hàng hóa lưu thông trong bán hàng đa cấp thường có nguồn gốc từ Nước ngoài, người tiêu dùng Việt Nam ít thông tin về các sản phẩm này Do đó, các doanh nghiệp đã lợi dụng để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm một cách dối trá nhằm bán được hàng hóa và thu hút người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp

Tóm lại, bán hàng đa cấp là một phương thức tiếp thị hàng hóa hiện đại, thể hiện sự sáng tạo và nghệ thuật trong kinh doanh, với nhiều công dụng hiệu quả vượt trội so với phương thức kinh doanh vẫn thường được sử dụng trước đến nay,

vì thế mà pháp luật không thể cấm bán hàng đa cấp Nhưng bên cạnh đó, cũng không kém phần bất lợi nếu như pháp luật không điều chỉnh kịp thời thì phương thức kinh doanh này sẽ bị biến tướng đem lại nhiều hậu quả không lường trước được thiệt hại vật chất cho người tham gia và sức khỏe của người tiêu dùng

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP

- -

Bán hàng đa cấp xuất hiện tại Việt Nam trong vài năm gần đây và sau đó phương thức này đã phát triển mạnh mẽ mà không có một văn bản nào điều chỉnh

Vì vậy, các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính đã lợi dụng phương thức này

để trục lợi Do đó, khi ban hành Luật cạnh tranh năm 2004, bán hàng đa cấp đã được quy định trong văn bản pháp luật này và sau đó được làm rõ tại NĐ110/2005/NĐ-CP Trong các văn bản pháp luật này, đã quy định rõ các hành vi bán hàng đa cấp bất chính và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động bán hàng đa cấp nhằm từng bước đưa hoạt động bán hàng đa cấp vào khuôn khổ pháp luật

2.1 Các hành vi bán hàng đa cấp bất chính

Khi kinh doanh thì mục tiêu hàng đầu được đặt ra là lợi nhuận- lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà các doanh nghiệp hướng đến Chính lợi nhuận cũng làm phát sinh những thủ đoạn không lành mạnh, trung thực trong kinh doanh

Phương thức kinh doanh đa cấp xuất hiện rất lâu trên thế giới Ở Việt Nam kinh doanh đa cấp xuất hiện năm 1998 Trong quá trình phát triển, kinh doanh đa cấp tại Việt Nam đã bị bóp méo, làm biến dạng để phục vụ nhu cầu trục lợi của những kẻ làm ăn bất chính Một cách biến tướng cụ thể là kinh doanh đa cấp bất chính Sở dĩ gọi là bất chính vì nó đi ngược lại với truyền thống kinh doanh, trái

Trang 34

quy định của pháp luật, hậu quả là gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh (các doanh nghiệp khác) và những người tham gia trong hệ thống kinh doanh Nói cách khác, đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bị pháp luật và

xã hội lên án Việc đưa ra khái niệm cụ thể các hành vi về kinh doanh đa cấp bất chính là rất khó, bởi lẽ vì mục tiêu thu lợi bất chính nên mới có hiện tượng kinh doanh bất chính, các hành vi này luôn thay đổi tinh vi và đa dạng Có thể hình dung hành vi chủ yếu của kinh doanh bất chính là mô hình kinh doanh thu lợi từ việc tuyển người tham gia vào hệ thống bán hàng đa cấp Có nghĩa là lợi nhuận thu được không phải từ giá trị thực là thông qua các phân phối viên, doanh nghiệp bán hàng cho người tiêu dùng mà lợi nhuận thu được từ người tham gia mới trong việc

“mua quyền tham gia” Câu hỏi đặt ra là “đến khi hết người có thể lôi kéo vào mạng lưới thì lợi nhuận sẽ được lấy từ đâu?” Đó là lý do kinh doanh đa cấp bất chính gọi là “hình tháp ảo”, ảo là không có thật, không tồn tại và tồn tại không bền vững Khi mà không thể tuyển thêm người vào mạng lưới thì lúc đó “hình tháp ảo”

sẽ sụp đổ, bởi nguồn thu để trang trải các chi phí hoạt động và trả hoa hồng, tiền thưởng cho các phân phối viên mới tham gia đã không còn tồn tại Thực ra, đó là lúc doanh nghiệp và những người tham gia cũ đã bỏ trốn với một lượng tiền tương đối trong tay mà không quan tâm đến hậu quả để lại Rõ ràng đây là hình thức lừa đảo và chắc chắn không tồn tại lâu dài Tuy nhiên sự sụp đỗ của “hình tháp ảo” này để lại những hậu quả nặng nề, đặt biệt đối với những người tham gia mới, người tiêu dùng và những doanh nghiệp làm ăn chân chính khác; Đồng thời, đời sống xã hội bị đe dọa gây mất trật tự cạnh tranh lành mạnh Bởi vậy, pháp luật các nước trên thế giới điều cấm kinh doanh đa cấp bất chính để bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, thiết lập và duy trì môi trường cạnh tranh, đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong mạng lưới kinh doanh đa cấp

Theo Luật cạnh tranh 2004, việc bán hàng đa cấp bị coi là bất chính khi có

đủ hai điều kiện: Thực hiện một trong các hành vi quy định tại Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 và nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới Theo Điều 48 Luật cạnh tranh liệt kê thì các hành vi sau đây được xem là bán hàng đa cấp bất chính:

 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;

Trang 35

 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia

Như vậy, về dấu hiệu khách quan (dấu hiệu vật chất) của hành vi bán hàng

đa cấp bất chính là việc thực hiện một trong bốn hành vi nêu trên; Dấu hiệu chủ quan của nó là mục đích thu lợi bất chính mà doanh nghiệp bán hàng đa cấp mong muốn có được Luật cạnh tranh 2004 đã sử dụng đồng thời cả hai dấu hiệu này để làm cơ sở cấu thành hành vi vi phạm Dưới góc độ so sánh, luật cạnh tranh của Việt Nam có các quy định khá tương đồng với các nước trong việc mô tả dấu hiệu khách quan của hành vi bán hàng đa cấp bất chính Khi quy định dấu hiệu chủ quan để kết luận về tính bất chính của sự vi phạm, pháp luật Việt Nam xác định sự bất chính dựa vào mục đích của các hành vi vi phạm là “nhằm thu lợi bất chính” Trong khi đó, pháp luật của một số nước khác như Canada, Đài Loan tập trung phân tích về bản chất gian dối của hành vi vi phạm khi đưa ra thông tin về lợi ích

mà những người đang tham gia được hưởng hoặc lợi ích sẽ được hưởng khi tham gia vào mạng lưới, để từ đó thiết lập được hệ thống phân phối đa cấp

Mặc dù Luật cạnh tranh Việt Nam đã xác định tương đối rõ ràng về hành vi

vi phạm và bản chất bất chính của nó, song chưa làm rõ được thế nào là nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Có các quan điểm xoay quanh vấn đề về mục đích thu lợi bất chính9:

 Mục đích thu lợi thuộc phạm trù chủ quan, nếu coi nó là một trong hai căn cứ pháp lý để kết luận có hay không có sự vi phạm, pháp luật cần mô tả bằng cách đưa ra những dấu hiệu pháp lý cụ thể, rõ ràng, khách quan và thống nhất Nếu không, sự suy đoán của người thực thi khi kết luận về mục đích của hành vi sẽ làm sai lệch hiệu quả của pháp luật và dễ dàng tạo ra sự tùy tiện khi áp dụng pháp luật  Phải trả lời được câu hỏi mục đích thu lợi có nhất thiết đã đạt được hay chưa? Luật cạnh tranh chỉ sử dụng cụm từ “cấm thực hiện những hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp…” mà chưa trả lời được câu hỏi trên Nếu đòi hỏi mục đích thu lợi đã đạt được, người điều tra vụ việc phải xác định chính xác cụ thể các khoản lợi mà doanh nghiệp đã đạt được từ hành vi bất chính Ngược lại, nếu không đòi hỏi mục

9

Ths.Nguyễn Ngọc Sơn: Tính không lành mạnh của hành vi bán hàng đa cấp bất chính theo Luật cạnh tranh 2004, tạp chí khoa học pháp lý số 3 (34), năm 2006, trang 7

Trang 36

đích đã hoàn thành mà chỉ coi đó là mong muốn của doanh nghiệp khi thực hiện hành vi thì pháp luật cũng cần phải có cơ sở xác thực để kết luận về mục đích của hành vi bởi mục đích chỉ tồn tại trong ý chí chủ quan của người vi phạm, mà nếu

đó là ý chí chủ quan thì rất khó xác định được

 Nguồn gốc của các khoản lợi bất chính, theo Luật cạnh tranh 2004 xác định các khoản lợi bất chính mà doanh nghiệp vi phạm có thể thu được từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới đa cấp, theo nội dung này đã làm tối nghĩa quy định tại Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 Vì tất cả bốn hành vi vi phạm quy định tại Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 đã dự liệu điều đã là nguồn gốc của những lợi ích bất chính mà người tham gia cũng như doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính có thể thu được

 Luật cạnh tranh hiện hành chưa xác định được các khoản lợi bất chính

mà doanh nghiệp thu được là lợi ích vật chất hay lợi ích phi vật chất Theo các hành vi vi phạm mà Điều 48 Luật cạnh tranh quy định, có trường hợp doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải tốn tiền khi thực hiện hành vi bất chính như cho người tham gia nhận hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích vật chất khác chủ yếu từ việc

dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, nên việc xác định các khoản lợi ích bất chính là rất khó Nhưng, các khoản lợi bất chính mà doanh nghiệp trả cho người tham gia không phải là tiền từ doanh nghiệp mà đó là khoản tiền mà người tham gia mới phải mua hàng, phải đặt cọc Do đó, việc xác định các khoản lợi bất chính là không hề đơn giản

 Bàn về tính bất chính của các khoản lợi ích Theo nghĩa Tiếng Việt “bất chính” được hiểu là trái đạo đức, không chính đáng Xác định tính trái đạo đức, không chính đáng của các khoản lợi, người ta cần phải dựa vào nguồn gốc của các khoản lợi Có nghĩa là, các khoản lợi mà doanh nghiệp thu được có nguồn gốc từ đâu Theo các hành vi mà Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 quy định, việc thực hiện hành vi tại điều này có thể đem lại cho doanh nghiệp những khoản lợi bất chính như trường hợp “yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp”, theo trường hợp này, khoản lợi bất chính của doanh nghiệp thu được là từ tiền của người tham gia mới phải bỏ ra để mua quyền tham gia bán hàng đa cấp Vậy, nguồn gốc của các khoản lợi bất chính là những nghĩa

vụ mà người tham gia phải thực hiện hoặc những thủ đoạn mà doanh nghiệp đã áp dụng khi xây dựng mạng lưới bán hàng đa cấp

Trang 37

Việc xác định sự không lành mạnh của hành vi cạnh tranh được xác định căn cứ vào khả năng gây thiệt hại của nó đối với thị trường, đối với đời sống xã hội và bản chất trái đạo đức, tập quán, bản chất kinh doanh hơn là dựa vào khả năng thu lợi cho người tham gia Mặt khác, tự thân bốn hành vi bị cấm đoán đã bao hàm trong đó mục đích bất chính của doanh nghiệp và người thực hiện Chỉ cần thực hiện một trong bốn hành vi mà Luật liệt kê tại Điều 48, doanh nghiệp đã

bị coi là có hành vi bán hàng đa cấp bất chính Không nên coi mục đích thu lợi bất chính từ việc dụ dỗ người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp là một căn cứ độc lập để xác định về sự vi phạm.Cách tiếp cận này đã được NĐ110/2005/NĐ-CP sử dụng khi quy định về các hành vi bị cấm đoán Vì vậy, xác định tính không lành mạnh của bán hàng đa cấp phải được thực hiện dựa trên sự phân tích các biểu hiện của các hành vi bị vi phạm

2.1.1 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một lượng tiền để được tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp

Theo khoản 1 Điều 358 Bộ Luật dân sự năm 2005, đặt cọc “là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây được gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc hợp đồng nghĩa vụ dân sự) Vậy, trong quan hệ pháp luật dân sự, đặt cọc là một trong những biện pháp đảm bảo để thực hiện nghĩa vụ dân sự Nhưng đối với phương thức bán hàng đa cấp, đặt cọc là đồng nghĩa với việc buộc người tham gia phải mua quyền để được tham gia vào mạng lưới bán hàng mà không liên quan đến vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Nếu doanh nghiệp bán hàng đa cấp yêu cầu người muốn tham gia vào mạng lưới này phải đặt cọc, hoặc phải mua một số lượng hàng hóa, hoặc trả tiền cho một khóa học, khóa đào tạo thì sẽ xảy ra hiện tượng doanh nghiệp bán hàng đa cấp chiếm dụng tiền, lừa đảo hoặc thu lợi bất chính từ người tham gia Bên cạnh đó, quy định này cũng nhằm đảm bảo quyền tự

do kinh doanh, chống lại các hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường

Lập luận mà các nhà kinh doanh theo mạng lưới bán hàng đa cấp đưa ra khi yêu cầu người tham gia phải đặt cọc, mua hàng hóa là để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp nên các nghĩa vụ đặt cọc hay trả tiền của người tham gia được coi như biện pháp an toàn, uy tín, bình đẳng trong kinh doanh, là ràng buộc vật chất để bảo đảm người tham gia phải tôn trọng uy tín của doanh nghiệp, sản phẩm của họ

mà không được lừa đảo hoặc nỗ lực, cố gắng bán được hàng Tuy nhiên, dưới góc

Trang 38

độ lý thuyết, sự chiếm dụng của hành vi này được giải thích dựa vào các căn cứ như người tham gia chỉ là người tiếp thị bán lẻ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp Với tư cách của mình, người tham gia tiến hành tiếp thị sản phẩm đến với khách hàng Doanh nghiệp không đưa hàng hóa cho người tham gia bán dùm mà người tham gia trực tiếp tiếp thị hàng hóa cho khách hàng, nếu người tiêu dùng đồng ý mua thì họ chỉ thực hiện theo phương thức mua đi bán lại để hưởng phần chênh lệch Vì vậy, nghĩa vụ đặt cọc hay trả tiền để có quyền tham gia là không có căn

cứ Mặt khác, bản chất của bán hàng đa cấp là người tham gia tiếp thị sản phẩm giúp doanh nghiệp và được hưởng lợi ích từ kết quả tiếp thị, bán hàng của mình và

từ những người tham gia khác trong mạng lưới do mình tổ chức ra Do đó, quan hệ qua lại về lợi ích cũng như nghĩa vụ giữa người tham gia với doanh nghiệp chỉ thực sự phát sinh khi người tham gia thực hiện việc tiếp thị sản phẩm Nếu người tham gia không bán được hàng hóa thì doanh nghiệp cũng không có nghĩa vụ cho

họ hưởng hoa hồng hoặc lợi ích vật chất khác

Việc gia nhập vào mạng lưới bán hàng đa cấp chưa đem lại cho người tham gia bất kì lợi ích nào hết, nên chưa thể ràng buộc trách nhiệm vật chất của họ đối với doanh nghiệp Một vấn đề nữa liên quan đến bản chất đặt cọc trong các giao dịch phát sinh trên thị trường, đặt cọc là biện pháp bảo đảm vật chất mà các chủ thể phải thực hiện với nhau nhằm đảm bảo cho một nghĩa vụ, việc trả tiền là thanh toán cho một chủ thể được hưởng một lợi ích ngang giá Chính các vấn đề đó, việc doanh nghiệp buộc người muốn tham gia phải thực hiện các nghĩa vụ nói trên như một điều kiện để xem xét việc có được tham gia mạng lưới hay không là trái với bản chất của việc đặt cọc hay của nghĩa vụ trả tiền trong các thương vụ Từ các lý

lẽ trên, xét thấy những khoản tiền mà doanh nghiệp thu được từ nghĩa vụ đặt cọc hay mua hàng hóa để có quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp là vô lý, vô tình đã tạo ra các khoản thu bất chính mà doanh nghiệp chiếm dụng được

Mặt khác, mục đích và bản chất của phương thức bán hàng đa cấp là nhằm tạo việc làm, tạo thêm thu nhập cho người lao động, những người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp chủ yếu là dựa trên nhu cầu tự nguyện, không ai ép buộc cho nên người tham gia không có nghĩa vụ phải mua số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để có quyền tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp Vì người tham gia chỉ là người giúp doanh nghiệp tiếp thị và tiêu thụ hàng hóa mà không phải là đại lý bao tiêu hay người tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp (trong trường hợp người tham gia muốn mua hàng hóa để thuận lợi trong việc tiếp thị sản phẩm thì doanh nghiệp phải bán lại hàng hóa đó với giá gốc)

Ngày đăng: 23/10/2020, 22:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w