Còn theo quy định của pháp luật Việt Nam thì định nghĩa về “ hành vi cạnh tranh không lànhmạnh “được quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh: “hành vi cạnh tranh không lành mạnh là h
Trang 1MỞ BÀI
Cạnh tranh là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường cùng với xu hướng ngày càng hội nhập và mở cửa ra thị trường quốc tế Trong đó, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là một vấn đề đáng quan tâm và đang diễn ra rất phức tạp ở Việt Nam hiện nay Mặc dù, thị trường dịch vụ ngân hàng được đánh giá là thị trường nhiều tiềm năng
và đang phát triển rất mạnh Song, từ sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, điều này đã có tác động không nhỏ đến hệ thống ngân hàng cả nước nói chung
và từng ngân hàng nói riêng Theo các cam kết mà Việt Nam phải tuân thủ thì nước ta sẽ
mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng ngày rộng và đa dạng hơn Điều này đồng nghĩa rằng cuộc cạnh tranh “ không cân sức” giữa các ngân hàng trong nước với nhau và giữa ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài sẽ trở nên khốc liệt và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Trong quá trình cạnh tranh đó, không thể tránh khỏi những bất cập đi kèm đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng thương mại Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và quyền lợi của Nhà nước và của người tiêu dùng
Từ những thực tiễn trên, bài viết này nhằm mục đích giúp cho bạn đọc có cái nhìn
cụ thể về những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng, những nguyên nhân – hệ quả và thực trạng áp dụng cũng như giải pháp làm giảm thiểu hành vi cạnh tranh không lành mạnh và tăng cường môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng ở Việt Nam hiện nay.
Với kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn của chúng em - những sinh viên đang ngồi trên ghế giảng đường, còn chưa đầy đủ và có nhiều thiếu sót cần được trau dồi và học hỏi thêm, mong thầy và các bạn thông cảm và góp ý nhiệt tình vào bài viết để chúng em có thể khắc phục những thiếu sót đó và hoàn thiện hơn trong những bài viết sau này
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1. Tổng quan về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1 Khái niệm
Định nghĩa về “cạnh tranh không lành mạnh “được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay được quyđịnh tại (1) Điều 10 bis Công ước Paris: “(2) Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong côngnghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh.” Tiêu chí “trái với tập quántrung thực trong công nghiệp và thương mại “không rõ ràng và ổn định Bởi vì, ở mỗi quốc gia khácnhau sẽ có điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sử , khác nhau dẫn đến các tập quán của mỗi quốc gia cũngkhác nhau Việc để mở khái niệm về “cạnh tranh không lành mạnh “ của Công ước Paris là nhằm để chopháp luật quốc gia của các nước thành viên Công ước tự định đoạt Ví dụ: Tại Bỉ và Luxembourg cáctiêu chí này gọi là “thông lệ thương mại trung thực”, tại Tây Ban Nha và Thuỵ Sỹ là “nguyên tắc ngaytình”, tại Italia là “tính chuyên nghiệp đúng đắn”, tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan là “đạo đức kinh doanh”.Còn tại Hoa Kỳ, một số các toà án đã xác định từ nguồn án lệ định nghĩa cạnh tranh lành mạnh là “các
nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”.
Còn theo quy định của pháp luật Việt Nam thì định nghĩa về “ hành vi cạnh tranh không lànhmạnh “được quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh: “hành vi cạnh tranh không lành mạnh
là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Định nghĩa về cạnh tranh không lành
mạnh của Luật cạnh tranh của nước ta cũng tương tự như định nghĩa của Điều 10 bis Công ước Paris vàpháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Tại định nghĩa này, một lần nữa có thể thấytiêu chí đánh giá về tính chất không lành mạnh của hành vi cạnh tranh chỉ được nêu chung chung là
“các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh”.
1.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh
Đây là đặc điểm thể hiện về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh Theo đó, chủ thể thực hiệnhành vi cạnh tranh là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể,các hiệp hội ngành nghề, cá nhân có đăng ký kinh doanh Ngoài ra còn có các cơ quan quản lý nhà nước,đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế… tuykhông là đối tượng điều chỉnh trong quan hệ cạnh tranh nhưng vẫn tham gia vào quan hệ pháp luật vềcạnh tranh không lành mạnh
Mặt khác, mỗi hành vi kinh doanh của một doanh nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranhtrong tương quan với các doanh nghiệp khác, do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị xemxét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và quy định về cạnh tranh không
Trang 3Lưu ý rằng trên thực tế có thể phát sinh tình huống một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vịtruyền thông… thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp,
ví dụ tung tin không trung thực về doanh nghiệp, về hàng hóa, dịch vụ… tuy liên quan đến hoạt độngcạnh tranh của các chủ thể là doanh nghiệp ở trên nhưng đây là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh và
vi phạm về các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật dân sự, báo chí…
+ Hành vi cạnh tranh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh
Đây là đặc điểm thể hiện bản chất không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, đó là tính chất đốilập, đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh - có thể hiểu là những quy tắc xử
sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Pháp luậtcạnh tranh đã quy định một số nội dung sau:
• Quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật cạnh tranh như: Chỉ dẫn gâynhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệpkhác; gây rối hoạt động kinh doanh của người khác; hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh; khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử trong hiệphội; bán hàng đa cấp bất chính và một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác ()
• Quy định giới hạn của một số hành vi cạnh tranh hoặc nghiêm cấm một số hành vi (ví dụpháp luật khuyến mại quy định giới hạn của giá trị khuyến mại)
• Quy định về việc vận dụng các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộngrãi được áp dụng đối với những hành vi chưa được pháp luật dự liệu là cạnh tranh khônglành mạnh
+ Hành vi gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp khác
và người tiêu dùng
Đây là đặc điểm biểu hiện hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnhtranh không lành mạnh có thể gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần cho các đối tượng được pháp luậtbảo vệ như các đối thủ cạnh tranh, Nhà nước, người tiêu dùng và các chủ thể khác khi tham gia thịtrường
Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể đã xảy ra hoặc có căn cứ để xác định rằng hậu quả chắc chắn
sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn hành vi đó Do đó, một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh có cấuthành vật chất như dèm pha doanh nghiệp khác; một số hành vi có cấu thành hình thức như hành viquảng cáo không trung thực…
Dưới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lànhmạnh thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức của con người về tính nguy hại và mức độ xâmhại của hành vi đó đối với lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ
1.3 Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 4Xét từ gốc độ kinh tế, bản chất hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi chiếm đoạt
ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi hủy hoại ưu thế cạnh
tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.
• Hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác, chẳng hạn bằng cách chiếmđoạt các bí mật thương mại (vốn là các tài sản mà đối thủ cạnh tranh đã phải đầu tư rấtnhiều công sức mới có được) hoặc hành vi nhái nhãn mác, kiểu dáng, thương hiệu, tạo sựnhầm lẫn trong khách hàng gây thiệt hại trực tiếp cho đối thủ cạnh tranh
• Hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác như gièm pha đối thủ cạnhtranh, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác v.v khiến cho đối thủ cạnhtranh bị mất uy tín, mất thời gian công sức để xử lý các vấn đề mới phát sinh cũng gâyảnh hưởng trực tiếp cho đối thủ cạnh tranh
• Hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo thông qua việc quảng cáo gian dối, nhái thươnghiệu, kiểu dáng sản phẩm của doanh nghiệp khác v.v vừa trực tiếp gây thiệt hại cho đốithủ cạnh tranh lại vừa gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Bản chất pháp lý của hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là mọi hành vi trái với cácchuẩn mực trung thực và lành mạnh trong quan hệ thương mại, gây thiệt hại chủ yếu đến doanh nghiệp
là đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan Các yếu tố cấu thành của cạnh tranh không lành mạnhgiống như các yếu tố cấu thành trách nhiệm dân sự truyền thống, đó là hành vi cạnh tranh không lànhmạnh, lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường được nhấn mạnh đến tính “không lành mạnh”, tức
là những hành vi cạnh tranh “không đẹp”, không phù hợp với đạo đức kinh doanh và có khả năng gâythiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêudùng, làm thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị trường
Từ những phân tích trên, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh được thể hiện quanhững dấu hiệu sau:
• Đây là hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực nhất địnhnhư ngân hàng, bảo hiểm, may mặc, da giầy ;
• Hành vi này phải nhằm tới những đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định được trên cùng mộtphân khúc thị trường;
• Trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh hoặc trái với pháp luật;
• Có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, Nhà nước hoặc các lợi ích xãhội khác
2. Phân tích các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh
Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa, số lượng các doanh nghiệp ngày càng nhiều, quy mô lớn, tham gia hầu hết các lĩnh vực nền kinh
tế quốc dân, hoạt động cạnh tranh trở nên đa dạng, phức tạp và gay gắt Các hành vi thoả thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vị trí độc quyền sảy ra ngày càng nhiều Hành vi cạnh tranh không lành mạnh làhành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về
Trang 5Ép buộc trong kinh doanh
Gièm pha doanh nghiệp khác
Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Nhóm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động xúc tiến thương mại
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Khuyến mãi nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Nhóm các hành vi khác
Phân biệt đối xử giữa các hiệp hội
Bán hàng
đa cấp bất chính
pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng Dựa vào quy định trong điều 39 Luật cạnh tranh cóthể chia các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành 4 nhóm hành vi cơ bản như sau:
Nhóm hành vi này điều chỉnh các hành vi thuộc phạm vi Sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp.Đây là những hành vi xâm hại đến các đối tượng trên thông qua việc sử dụng trái phép, tiếpcận, thu thập, tiết lộ trái phép các đối tượng trên Hành vi thực hiện nhằm trục lợi bất chính từviệc khai thác giá trị của các đối tượng liên quan đến sở hữu trí tuệ
2.1.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn:
Đó là những chỉ dẫn thương mại liên quan đến đặc tính để nhận biết hàng hoá, dịch vụ Luật cạnhtranh cấm doanh nghiệp sử dụng các chỉ dẫn thương mại làm sai lệch nhận thức của khách hàng và hànghoá dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh Biểu hiện: Là việc sản xuất và cho lưu hành hàng hoá và sảnphẩm mà các dữ kiện và thông số về chúng là không trung thực
Ví dụ: Vừa qua bộ y tế kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm Sẩn phẩm sữa trên thị trường, kết quảcho thấy nhiều loại sữa có chứa chất Melamin, nhiều loại sữa có hàm lượng chất đạm thấp hơn từ 1 - 30lần như đã công bố trên sản phẩm Hai kết qủa trên ảnh hưởng rất sấu cho sức khoẻ của người tiêu dùng,nhất là trẻ em Việt Nam
2.1.2 Xâm phạm bí mật kinh doanh:
Bí mật kinh doanh là thông tin không phải là những hiểu biết thông thường, có khả năng áp dụng
Trang 6không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó Đây được coi là một bộ phận thuộc lợi ích hợp phápcủa từng doanh nghiệp nên chúng có nhu cầu được pháp luật bảo vệ.
Đối tượng của các hành vi này là hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác, tác độngđến khách hàng hoặc đối tác của các doanh nghiệp đó nhằm làm cho hoạt động kinh doanhtrở nên gián đoạn, cản trở, làm mất uy tín, mất khách hàng, mất cân đối tài chính, suy giảmlợi nhuận, ngoài ra có thể làm cho một hoặc một số hoặc toàn bộ bộ phận của doanh nghiệp
bị tác động dẫn đến hoạt động không đúng chức năng
2.2.1 Ép buộc trong kinh doanh:
Đó là khi họ dồn khách hàng vào tình thế bắt buộc phải mua hoặc không được phép mua hànghoá mà họ không có cách lựa chọn nào khác
Các hành vi ép buộc, đe doạ khách hàng và các đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để bắt
họ không được giao dịch hoặc ngừng giao dịch với đối thủ cạnh tranh được coi là hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh và bị pháp luật nghiêm cấm
Trước đây có nhiều doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ví dụ như nghành ngân hàng,bưu chính viễn thông
Ngày nay chúng ta thấy hầu hết các ngành đã có sự cạnh tranh giữa các dịch vụ, sản phẩm.Còn một số ít vẫn độc quyền, chẳng hạn như sản phẩm điện sáng Người dân sử dụng điện sáng không
có lựa chọn doanh nghiệp Nhiều nơi người tiêu dùng bị doanh nghiệp đối xử cứng nhắc, nếu vì điềukiện nào đó nộp giá cước chậm một chút là bị doanh nghiệp ngắt điện sáng ngay , gây nhiều người dânbức xúc, nhưng không có quyền được chuyển sang sử dụng của doanh nghiệp khác
2.2.2 Dèm pha doanh nghiệp khác:
Luật cấm hành vi này: Cấm doanh nghiệp dèm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp haygián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp đó
2.2.3 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác:
Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vitrực tiếp hay gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
mại:
2.3.1 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
Nhằm đạt được mục tiêu, doanh nghiệp có thể thực hiện quảng cáo không trung thực tăng bốc giátrị và chất lượng thật của hàng hoá, sản phẩm Đó là những phương thức như khẳng đinh ưu thế củamình bằng cách so sánh hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác, sử dụng sản phẩm quảng cáo hoặcnhững thông tin có thể gây nhầm lẫn lừa dối khách hàng để lôi kéo họ, quảng cáo hàng hoá trên cơ sởlạm dụng uy tín của 1 sản phẩm khác cùng loại, những hoạt động quảng cáo như thế đều nhằm mục đíchcạnh tranh không lành mạnh
Trang 72.3.2 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
Luật cạnh tranh cấm các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như: Tổ chức khuyến mãi màgian dối về giải thưởng, khuyến mãi không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừadối khách hàng
Chúng ta thấy nhiều doanh nghiệp quảng cáo khuyến mãi cào có trúng thưởng có thời hạn ghitrên bao bì hoặc thẻ cào, nhưng khi người tiêu dùng cào trúng thưởng chiếc ô tô, xe máy thị doanhnghiệp trả lời hết hạn khuyến mãi Như vậy khách hàng bị lừa khi mua sản phẩm của doanh nghiệp trongđợt khuyến mại
2.4.1 Phân biệt đối xử của hiệp hội:
Thông qua các hành vi như: Từ chối việc gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội của các doanh nghiệp
có đủ điều kiện mà việc từ chối mang tính phân biệt đói xử và làm cho doanh nghiệp đó bất lợi trongcạnh tranh, hạn chế bất hợp lí các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan đến mụcđích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên
2.4.2 Bán hàng đa cấp bất chính:
Bán hàng đa cấp bất chính khi nó được thực hiện 1 cách không lành mạnh, hành vi như: Yêu cầungười tham gia bán hàng phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoảntiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, không cam kết mua lại với giá ít nhất là 90%giá hàng hoá đã bán cho người tham gia để bán lại
3. Nguyên tắc xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Việc xử lýhành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ dựa vào các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính (1) và nguyêntắc xử lý hành vi vi phạm trong pháp luật cạnh tranh (2) Cụ thể là:
- Mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng công minh và triệt để, đốivới những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của phápluật
- Việc xử lý hành vi vi phạm phải tuân theo các trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh và phải
do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng thẩm quyền mà pháp luật quy định Theo quy địnhcủa Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn, Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ CôngThương là cơ quan có chức năng tiến hành điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lànhmạnh
- Một hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh chỉ bị xử lý một lần, một doanh nghiệp thực hiệnnhiều hành vi vi phạm thì bị xử lý đối với từng hành vi vi phạm
- Không tiến hành xử lý hành vi vi phạm theo pháp luật đối với những hành vi vi phạm có dấu hiệutội phạm
- Việc bồi thường thiệt hại sẽ thực hiện theo pháp luật tố tụng dân sự
- Không áp dụng miễn trừ cho hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 84. Căn cứ và chế tài xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
4.1Căn cứ áp dụng chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
4.1.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh có bản chất là hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh, hủy hoại ưu thế cạnh tranhcủa doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo
4.1.2 Thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh
Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và là điểm phân biệt giữacạnh tranh không lành mạnh với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Việc xác định thiệt hại (vật chất hoặctinh thần) là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại có căn cứ đòi bồi thường và cơ quan cóthẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
4.1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại
Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp, nội tại, không phải là sựsuy diễn chủ quan Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn ra trước,thiệt hại trực tiếp dohành vi đó gây ra xảy ra sau Bên thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ phải chịu tráchnhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây ra thiệt hại nhất định cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyênnhân trực tiếp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh của mình
4.1.4 Lỗi trong cạnh tranh không lành mạnh
Lỗi được xác định là trạng thái tâm lý của người có hành vi vi phạm, phản ánh nhận thức của người
đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện Việc xác định lỗi trong cạnh tranh thườngphải dựa vào các tập quán nghề nghiệp Hành vi cạnh tranh bị coi là có lỗi và không lành mạnh là hành
vi vi phạm các tập quán nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ bình đẳng, công bằng trong quan hệ cạnh tranhtrên thị trường
4.2.1 Chế tài hành chính
Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, các hình thức chế tài xử lý vi phạm về cạnh tranh khônglành mạnh chủ yếu là các chế tài hành chính, được quy định trong các quy phạm pháp luật mang tính xửphạt và khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra (Điều 117) Các hình thức xử lý đó đã được Nghịđịnh 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết, bao gồm:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền đến 100 triệu đồng
- Các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi
vi phạm, bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm Ngoàicác hình thức xử phạt đó, đối tượng vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộccải chính công khai Trong dự thảo nghị định Về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
4.2.2 Chế tài hình sự
Trang 9Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tạiChương XVI "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm
2009, biểu hiện dưới các tội danh như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); tội sản xuất, buônbán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); tội sản xuất,buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống câytrồng, vật nuôi (Điều 158); tội lừa dối khách hàng (Điều 162); tội quảng cáo gian dối (Điều 168); tộixâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171); tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sựthật trong hoạt động chứng khoán (Điều 181a); tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán(Điều 181b); tội thao túng giá chứng khoán (Điều 181c) Hình phạt áp dụng đối với các tội danh trênthường là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn Một số trường hợp bị áp dụng hình phạtrất nặng như tù chung thân hoặc tử hình Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch thu một phầnhoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
4.2.3 Chế tài dân sự
Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống chế tài áp dụng đối với hành vi cạnhtranh không lành mạnh Chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắpnhững tổn thất về vật chất và tinh thần mà bên mang quyền phải gánh chịu do hành vi vi phạm các quytắc trong kinh doanh của bên kia gây ra Vì vậy, pháp luật cạnh tranh của nước nào cũng quy định chế tàinày Theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì phải dẫn chiếu đếnpháp luật dân sự Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
sẽ được áp dụng theo các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Chương XXIcủa Bộ luật Dân sự năm 2005 và pháp luật có liên quan Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặcđịnh được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh Vì vậy, chếtài bồi thường thiệt hại có thể áp dụng đồng thời với các chế tài khác
Trang 10
CHƯƠNG 2: CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG
1. Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
1.1Trong giai đoạn đầu:
Trong điều kiện hạn chế của lịch sử, các ngân hàng ở Việt Nam trong nền kinh tế vận hành ở giaiđoạn trước đều theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung Chính chế độ kinh tế tập trung của thời kì
“bao cấp” đã không cho những ngân hàng ở Việt Nam trở thành những chủ thể kinh doanh độclập theo đúng nghĩa và do đó cũng không có được một môi trường để cạnh tranh thực sự Điều đóxuất phát từ việc Nhà nước áp đặt các quyết định về nhận tiền gửi và cho vay lên mỗi ngân hàngnhằm thực hiện những kế hoạch pháp lệnh, chứ không phải xuất phát từ ý chí tự thân của mỗingân hàng Do đặc thù của cơ chế kinh tế chỉ huy bằng mệnh lệnh hành chính, hầu như mỗi ngânhàng không có cơ hội để tự mình quyết định giá cả của các sản phẩm do mình cung cấp cho thịtrường, bởi lẽ hệ thống lãi suất huy động vốn và cho vay đều do Nhà nước quy định sẵn và được
áp dụng thống nhất cho tất cả các ngân hàng đang hoạt động trong nền kinh tế này Bên cạnh đó,mỗi ngân hàng cũng không có quyền tự quyết định về kế hoạch huy động vốn và cho vay, khôngđược tự do lựa chọn khách hàng và cũng không thể tự xây dựng cho mình những chiến lược kinhdoanh thích hợp hay một phong cách kinh doanh độc đáo để tạo ra dấu ấn riêng mang tínhthương hiệu Có thể nhận định rằng trong giai đoạn này, gần như không thấy được vấn đề cạnhtranh trong lĩnh vực ngân hàng
1.2Giai đoạn từ năm 1990 đến nay:
Kể từ năm 1990 trở lại đây, trước sự chuyển đổi của nền kinh tế từ hướng cơ chế kế hoạch hoátập trung (1) sang cơ chế kinh tế thị trường (2) đã tạo ra những bước ngoặt lớn nhất trong lịch sửngân hàng Việt Nam, đó là sự hình thành hệ thống tổ chức tín dụng chuyên nghiệp mà hạt nhân
là các ngân hàng thương mại Những ngân hàng thương mại này đã mang đầy đủ ý nghĩa và tưcách như là những chủ thể kinh doanh độc lập trong thị trường dịch vụ tài chính, dịch vụ ngânhàng Hiện tại, pháp luật không chỉ thừa nhận tư cách pháp nhân cho mỗi tổ chức tín dụng màcòn thừa nhận quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự do cạnh tranh giữa các tổ chức tíndụng Cũng chính từ đây, hiện tượng cạnh tranh, cũng như những hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong lĩnh vực ngân hàng ra đời
Trong luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi 2004), đã từng đề cập đến việc cạnh tranh tronglĩnh vực ngân hàng, cụ thể là các tổ chức hoạt động ngân hàng được hợp tác và cạnh tranh hợppháp Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, gây tổn hại đến việc thực hiện chínhsách tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và lợi ích hợp pháp của các bên Cáchành vi cạnh tranh bất hợp pháp bao gồm:
- Khuyến mại bất hợp pháp;
- Thông tin sai sự thật làm tổn hại lợi ích của tổ chức tín dụng khác và của khách hàng;
- Đầu cơ lũng đoạn thị trường tiền tệ, vàng, ngoại tệ;
- Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác
- Luật Cạnh tranh được ban hành năm 2004 quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vicạnh tranh không lành mạnh Như vậy, điểm mới quan trọng trong Luật Cạnh tranh 2004 là
Trang 11phân biệt hành vi cạnh tranh thành hai loại là hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh.
Về sau, trong luật các tổ chức tín dụng 2010 () cũng có quy định về hợp tác và cạnh tranh tronghoạt động ngân hàng () Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được hợptác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định củapháp luật Nghiêm cấm hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh cónguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của
hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân và giao cho Chính phủ quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộng ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này
Cũng chính từ những quy định về trong Luật cạnh tranh và luật các tổ chức tín dụng 2010, Toà
án Nhân dân tối cáo đã rút ra những dấu hiệu về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các tổchức tín dụng như sau:
- Đó là hành vi của các tổ chức tín dụng phát sinh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tráivới đạo đức thông thường trong kinh doanh;
- Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức tín dụng khác hoặc với khách hàng Về dấu hiệu này, cần quy định hết sức thận trọng,đặc biệt là xác định như thế nào là thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại, ai là người chứng minhthiệt hại Có thể xem thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh là:
• Thiệt hại ở đây được là những thiệt hại về vật chất, tức là ảnh hưởng tới doanh thu,khả năng sinh lợi trong hoạt động của đối thủ cạnh tranh và những tổn hại về uy tíncủa đối thủ cạnh tranh trên thị trường Về dấu hiệu có thể gây thiệt hại cần xem xét kỹlưỡng, vì hoạt động ngân hàng rất nhạy cảm với những thông tin không tốt vì nó sẽảnh hưởng tới hoạt động của các tổ chức tín dụng, nó có thể “giết chết” một tổ chứctín dụng cũng như gây tác động xấu đối với xã hội, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi củangười gửi tiền Do vậy, khi có dấu hiệu có thể gây thiệt hại, đối thủ cạnh tranh cần tìmđến một giải pháp hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tránh thiệt hạicho cả hai bên cũng như đối với nền kinh tế và xã hội;
• Người phải chứng minh mức độ thiệt hại là đối thủ cạnh tranh của tổ chức tín dụng;
cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi công vụ nếu phát hiện ra hành vicạnh tranh không lành mạnh thì phải báo cáo kịp thời đến Ngân hàng Nhà nước, CụcQuản lý cạnh tranh Bộ Công Thương để có biện pháp phối hợp xử lý;
• Thông thường, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng tiêu cựctrên thị trường hẹp, thường chỉ tác động lên một số chủ thể nhất định mà không ảnhhưởng đến một khu vực thị trường rộng như hành vi hạn chế cạnh tranh, ngay cả khihành vi đó do tính chất mức độ nguy hại của nó xâm phạm đến các đối tượng đượcLuật Hình sự bảo vệ Tuy nhiên, đối với lĩnh vực ngân hàng, do sự khác biệt tronghoạt động, việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnhtrong lĩnh vực ngân hàng cần được hiểu là trên phạm vi rộng, trên toàn bộ thị trườngngân hàng, bởi lẽ:
Trang 12+ Trong thực tiễn hoạt động, xu hướng hợp tác giữa các tổ chức tín dụng với nhau
để cùng tồn tại và phát triển là tất yếu, vấn đề đặt ra là sự hợp tác của các tổ chứctín dụng được thực hiện đến đâu và đến mức nào là nội dung cần phải được quantâm giải quyết triệt để Một ví dụ điển hình là sự kiện Ngân hàng thương mại cổphần Á Châu do tin đồn thất thiệt đã bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanhtoán các khoản nợ, nếu không có sự cam kết của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
và sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại trên địa bànthì nguy cơ phá sản ngân hàng này là điều có thể xảy ra Bên cạnh đó, trong hoạtđộng các tổ chức tín dụng hỗ trợ cho nhau Sự hợp tác giữa các tổ chức tín dụngchỉ thật sự bình đẳng, thân thiện và minh bạch nếu việc hợp tác này diễn ra côngkhai, rõ ràng và có thể kiểm soát được
+ Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động rủi ro rất cao, thường xuyên chịu sựtác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như tình trạng lạm phát, thay đổi trongchính sách của Ngân hàng Nhà nước và dựa trên niềm tin của người gửi tiền nênnếu ngân hàng “gặp sự cố” thì sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung cấp vốn cho nềnkinh tế
+ Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, các tổ chức tín dụng tiếp nhận kỹthuật, công nghệ, sản phẩm kinh doanh và dịch vụ ngân hàng; đặc biệt, trongnhững năm gần đây, số lượng sản phẩm kinh doanh và dịch vụ ngân hàng mớităng lên nhanh chóng về quy mô và đa dạng về loại hình càng làm cho vấn đềkiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh trở nên khó khăn và phức tạp hơn.Qua những dấu hiệu cơ bản trên cùng phân tích về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trongchương 1, có thể nhận diện được các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngânhàng như sau:
• Nhóm các hành vi liên quan đến Sở hữu trí tuệ:
- Những chỉ dẫn gây nhầm lãn:
Bao gồm các hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về nội dung, hình thức, hành vi kinhdoanh sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Trong lĩnh vực ngân hàng có thể nói đến chính là hành vi cung cấp thông tin dễ gây hiểu
lầm có hại cho các tổ chức tín dụng và khách hàng khác Trong hoạt động thương mại nói
chung, việc cung cấp thông tin dễ gây nhầm lẫn thường liên quan tới sự không rõ ràng vềviệc nhận dạng nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, ví dụ thông tin khiến khách hàng nhầmlẫn trong việc xác định xuất xứ hàng hóa
Trong hoạt động ngân hàng, việc cung cấp thông tin thông tin gây hiểu lầm có thể đượcthể hiện như:
+ Sử dụng các tên gọi, logo, chỉ dẫn địa lý dễ gây nhầm lẫn với các tổ chức tín dụngnước ngoài, khiến cho khách hàng tưởng nhầm dịch vụ đó do tổ chức tín dụng uytín hoặc nổi tiếng cung cấp
+ Cung cấp thông tin sai sự thật về các chiến lược trong tương lai với các đối tác