Cho đến nay, các nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của EVFTA đối với Việt Nam chủ yếu tập trung đánh giá tác động đến thương mại, phúc lợi xã hội và tác động trong một số ngành cụ thể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ KIẾN CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ KIẾN CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
VIỆT NAM - EU ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS TS Nguyễn Anh Thu
2 PGS TS Nguyễn Thị Kim Chi
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong Luận án là trung thực, khách quan, được trích dẫn rõ ràng và đúng quy định Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài Luận án, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, khuyến khích, động viên từ các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Không có sự hỗ trợ đó, sẽ thật khó để tôi có thể hoàn thành được Luận án này
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Nhà trường, lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Phòng Đào tạo Trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án
Tôi cũng gửi lời tri ân tới các chuyên gia đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cũng như chia sẻ tài liệu tham khảo giúp tôi hoàn thiện các nội dung trong Luận án,
cụ thể là GS TS Phùng Xuân Nhạ, PGS TS Hà Văn Hội, PGS TS Nguyễn Thị Kim Anh, PGS TS Nguyễn Duy Dũng, PGS TS Phạm Thái Quốc, PGS TS Doãn
Kế Bôn, PGS TS Đặng Hoàng Linh, PGS TS Tô Minh Thu, TS Vũ Thanh Hương, TS Phạm Thu Phương, TS Cấn Văn Lực, TS Trần Hồng Quang, ông Nguyễn Nội
Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai giáo viên hướng dẫn của mình
là PGS TS Nguyễn Anh Thu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh Tế, ĐHQGHN và PGS TS Nguyễn Thị Kim Chi, Giảng viên Khoa KT&KDQT đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, đưa ra những lời khuyên và định hướng trong suốt quá trình tôi thực hiện Luận án
Cuối cùng, tôi dành tất cả tình yêu thương và sự tri ân tới bố mẹ, chồng và các con tôi Họ đã luôn là nguồn động lực mạnh mẽ để tôi cố gắng phấn đấu hoàn thành Luận án Tiến sĩ này
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh Phương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 8
1.1 Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.2.1 Các nghiên cứu đánh giá tác động tiền kỳ 10
1.2.2 Các nghiên cứu đánh giá tác động hậu kỳ 12
1.3 Các nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU 20
1.4 Khoảng trống nghiên cứu và đóng góp mới của luận án 23
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 28
2.1 Khái quát về hội nhập kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực 28
2.1.1 Định nghĩa hội nhập kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực 28
2.1.2 Các hình thức hội nhập kinh tế khu vực 28
2.2 Khái niệm Hiệp định thương mại tự do 31
2.2.1 Định nghĩa Hiệp định thương mại tự do 31
2.2.2 Phân loại Hiệp định thương mại tự do 32
2.3 Tác động của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 40
2.3.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 40
2.3.2 Các kênh tác động của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 46
2.3.3 Các yếu tố quyết định tác động của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 51
Trang 62.3.4 Tác động tổng thể của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu
tư trực tiếp nước ngoài 55
2.4 Giới thiệu về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU 58
2.4.1 Bối cảnh hình thành và các diễn biến của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU 58
2.4.2 Các cam kết chính trong Hiệp định EVFTA 59
2.5 Kết luận chương 2 70
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 72
3.1 Cách tiếp cận 72
3.1.1 Cách tiếp cận hệ thống 72
3.1.2 Cách tiếp cận lịch sử 73
3.2 Phương pháp nghiên cứu 73
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 73
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 81
3.3 Số liệu 88
3.4 Kết luận chương 3 91
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 93
4.1 Đánh giá tác động của EVFTA đến FDI vào Việt Nam: tiếp cận từ khung phân tích tác động 93
4.1.1 Yếu tố 1: Bản chất của EVFTA 93
4.1.2 Yếu tố 2: Sự tương đồng và mối quan hệ kinh tế, ngoại giao giữa Việt Nam và EU 99
4.1.3 Yếu tố 3: Quan hệ đầu tư của Việt Nam và EU 102
4.1.4 Yếu tố 4: Chênh lệch giữa cam kết trong EVFTA với các cam kết khác hoặc chính sách hiện hành của Việt Nam 119
4.1.5 Yếu tố 5: Các yếu tố bên ngoài 138
4.2 Đánh giá tác động của EVFTA đến FDI từ EU vào Việt Nam: Kết quả từ mô hình kinh tế lượng 143
4.2.1 Kết quả mô hình 143
Trang 7EU 155
5.1 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong thu hút FDI khi tham gia EVFTA 155
5.1.1 Cơ hội 155 5.1.2 Thách thức 166
5.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút dòng vốn FDI trong bối cảnh tham gia EVFTA 168
5.2.1 Tăng cường công tác nghiên cứu, tuyên truyền và phổ biến về EVFTA 168 5.2.2 Rà soát, điều chỉnh về pháp luật, thể chế đồng thời nâng cao khả năng thực thi của các quy định pháp lý 170 5.2.3 Xây dựng định hướng, chiến lược và các chính sách chủ động thu hút FDI có chọn lọc, đặc biệt là FDI từ EU 171 5.2.4 Cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao trình độ công nghệ và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực 173 5.2.5 Nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng liên kết của doanh nghiệp trong nước 176
KẾT LUẬN 178 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 182 TÀI LIỆU THAM KHẢO 184 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
1 ACFTA ASEAN – China Free Trade
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản
5 ASEAN Association of South East
7 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
8 EC European Community Cộng đồng châu Âu
9 EU European Union Liên minh châu Âu
10 EuroCham European Chamber of
13 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
14 FPI Foreign Porfolio Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
15 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
Trang 9TT Viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
16 GATS General Agreement on Trade
description and coding system
Hệ thống hài hòa mã hóa và
mô tả hàng hóa
23 ILO International Labor
Organization
Tổ chức Lao động quốc tế
24 IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
25 ISDS Investor – State Dispute
Settlement
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư
26 M&A Merger and Acquisition Sáp nhập và mua lại
27 MEAs Multilateral Environmental
Agreements
Công ước đa phương về môi trường
28 MFN Most-favored Nation Nguyên tắc tối huệ quốc
29 MNC Multinational Corporations Công ty đa quốc gia
30 MST Minimum Standard of
Treatment
Chuẩn đối xử tối thiểu
31 OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
32 PCI Provincial Competitiveness
Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
33 PTA Preferential Trade Agreement Thỏa thuận thương mại ưu đãi
Trang 10TT Viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
34 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
35 RTA Regional Trade Agreement Hiệp định thương mại khu
vực
36 SHTT Sở hữu trí tuệ
37 SME Small and Medium
Enterprises
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
38 SPS Sanitary and Phyto-Sanitary
40 TNC Trans-National Corporations Công ty xuyên quốc gia
41 TRIPS Trade – related aspects of
Intellectual Property Rights
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
42 UNCTAD United Nation Conference on
Trade and Development
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
43 VCCI Vietnam Chamber of
Commercial and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
44 VKFTA Vietnam – Korea Free Trade
Agreement
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc
45 WB World Bank Ngân hàng Thế giới
46 WIPO World Intellectual Property
Organization
Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới
47 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1 1 Một số nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng
để đánh giá tác động hậu kỳ của hội nhập kinh tế khu vực đối với dòng vốn FDI
13
2 Bảng 1 2 Tóm tắt kết quả tổng quan tài liệu 23
3 Bảng 2 1 Các yếu tố đẩy đối với FDI của nước đầu tư 42
4 Bảng 2 2 Các yếu tố hút đối với FDI của nước chủ nhà 44
5 Bảng 2 3 Tỷ lệ cam kết xóa bỏ thuế quan nhập khẩu trong
EVFTA
60
6 Bảng 2 4 Cam kết của EU dành cho một số sản phẩm xuất
khẩu chính của Việt Nam sang EU
61
7 Bảng 2 5 Cam kết của Việt Nam dành cho một số sản phẩm
xuất khẩu chính của EU sang Việt Nam
62
8 Bảng 3 1 Thông tin đối tượng phỏng vấn 80
9 Bảng 3 2 Các biến được sử dụng trong mô hình 82
10 Bảng 3 3 Bảng phân nhóm hàng hóa 89
11 Bảng 3 4 Nguồn số liệu của các biến trong mô hình kinh tế
lượng
90
12 Bảng 4 1 Tỷ trọng quy mô của các nền kinh tế trong EVFTA
trong nền kinh tế thế giới năm 2018
97
13 Bảng 4 2 Bản chất của EVFTA và tác động của EVFTA đến
FDI vào Việt Nam
98
14 Bảng 4 3 GDP bình quân đầu người và cơ cấu kinh tế của
Việt Nam và EU năm 2018
99
15 Bảng 4 4 Các mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam - EU 101
16 Bảng 4 5 Sự tương đồng, mối quan hệ kinh tế - ngoại giao 102
Trang 12STT Bảng Nội dung Trang
Việt Nam – EU và tác động của EVFTA đến FDI vào Việt Nam
17 Bảng 4 6 FDI của EU vào Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư, lũy
kế đến 20/03/2019
112
18 Bảng 4 7 Quan hệ đầu tư của Việt Nam và EU và tác động
của EVFTA đến FDI vào Việt Nam
117
19 Bảng 4 8 Mức thuế MFN đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt
Nam sang EU và hàng hóa nhập khẩu của VIệt Nam
từ EU theo nhóm ngành
120
20 Bảng 4 9 So sánh cam kết trong WTO và EVFTA trong các
ngành, phân ngành dịch vụ mà Việt Nam cam kết
mở cửa hoàn toàn
123
21 Bảng 4 10 So sánh cam kết trong WTO và EVFTA trong
các ngành, phân ngành dịch vụ mà Việt Nam cam kết mở cửa rất hạn chế
126
22 Bảng 4 11 Các cam kết mở cửa sâu hơn của Việt Nam trong
EVFTA so với WTO ở một số phân ngành dịch vụ quan trọng
127
23 Bảng 4 12 Chênh lệch cam kết trong EVFTA với cam kết
WTO/ chính sách hiện hành của Việt Nam và tác động của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam
135
24 Bảng 4 13 Các yếu tố khác và tác động của EVFTA đến FDI
vào Việt Nam
142
25 Bảng 4 14 Kết quả ước lượng phương trình hồi quy 144
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1 1 Quy trình nghiên cứu của luận án 7
2 Hình 2 1 Tóm tắt các kênh tác động chính của FTA đối với
FDI
51
3 Hình 3 1 Khung phân tích tác động của EVFTA đối với FDI
vào Việt Nam
74
4 Hình 4 1 Giá trị và số dự án FDI vào Việt Nam, 1991 -2018 103
5 Hình 4 2 FDI từ EU vào Việt Nam, lũy kế đến tháng 04/2019 106
6 Hình 4 3 FDI vào Việt Nam theo đối tác, lũy kế đến
10 Hình 4 7 FDI từ EU vào Việt Nam trong ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo, lũy kế đến tháng 04/2019
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của luận án
Sau hơn 30 năm kể từ khi thực hiện Đổi Mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể như tăng trưởng GDP nhanh, kinh tế vĩ
mô ổn định, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo, Đóng góp không nhỏ vào những thành công đó là chính sách hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là sự kiện Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn thông qua việc tham gia vào nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, đa phương và khu vực Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết tổng cộng 13 FTA và đang đàm phán 03 FTA khác
Trong số các FTA đó, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được đánh giá là Hiệp định tham vọng nhất mà Việt Nam từng tham gia; đồng thời cũng là FTA có mức độ cam kết cao nhất mà EU từng ký kết với một quốc gia đang phát triển (Ủy ban châu Âu, 2018) EVFTA vì vậy được kỳ vọng có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn cho cả hai bên, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và đầu tư (Ủy ban châu Âu, 2018, MUTRAP, 2017, Baker và các cộng sự, 2014) EU hiện đang là đối tác kinh tế lớn và tiềm năng của Việt Nam Việc ký kết EVFTA vào ngày 30/06/2019 đánh dấu một sự kiện quan trọng, đưa quan hệ hợp tác song phương lên một giai đoạn phát triển mới, toàn diện và sâu sắc hơn; đồng thời đưa Việt Nam trở thành tâm điểm thu hút của các dòng vốn đầu tư toàn cầu Kể từ khi chính thức kết thúc đàm phán năm 2015, Hiệp định này đã góp phần thúc đẩy làn sóng FDI thứ ba vào Việt Nam (sau hai làn sóng đầu tiên lần lượt được dẫn dắt bởi sự kiện gia nhập ASEAN và sự kiện gia nhập WTO) Với mức độ cam kết mở cửa cao nhất từ trước đến nay, EVFTA có thể giúp gia tăng FDI từ cả các đối tác EU và các đối tác ngoài
EU nhằm tận dụng các ưu đãi mà EU dành riêng cho Việt Nam Bên cạnh đó, là một FTA thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng, vượt ra ngoài các cam kết về xóa bỏ
Trang 15thuế quan, EVFTA không chỉ tác động tích cực đến số lượng FDI mà còn có thể giúp cải thiện chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam thông qua các cải cách thể chế, chính sách và môi trường đầu tư Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đưa ra những điều chỉnh quan trọng trong chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, theo đó chủ động thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu
và có tác động lan tỏa, gắn kết chặt chẽ với khu vực kinh tế trong nước; đồng thời gia tăng thu hút đầu tư từ các đối tác châu Âu và Mỹ (Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Thế giới, 2018)
Tuy nhiên, lợi thế trong thu hút FDI của Việt Nam từ việc sớm ký kết FTA với EU chỉ có tính chất ngắn hạn khi các đối thủ cạnh tranh chính về đầu tư trong khu vực ASEAN chưa có FTA với EU Trong bối cảnh EU và ASEAN hướng tới
ký kết một FTA chung giữa hai khối và trước mắt EU đang tiếp tục đàm phán FTA song phương với Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia, Việt Nam cần khẩn trương tận dụng triệt để “khoảng thời gian vàng” khi các nước ASEAN khác chưa
có FTA với EU để thu hút dòng vốn chất lượng cao trước khi lợi thế bị triệt tiêu Ngoài ra, bên cạnh các tác động tích cực, EVFTA cũng có thể mang đến một
số tác động tiêu cực cho Việt Nam như làm giảm FDI theo chiều ngang từ EU, lợi ích từ FTA rơi vào doanh nghiệp các nước thứ ba, gia tăng sức ép cạnh tranh, áp lực
và chi phí liên quan đến cải cách thể chế, chính sách, Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cũng chỉ ra rằng tác động của FTA đến FDI vào các nước thành viên là không rõ ràng Vì vậy, việc nghiên cứu về tác động của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng; giúp cung cấp thông tin hữu ích cho Chính phủ và doanh nghiệp để có thể tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua các thách thức mà Hiệp định mang lại
Cho đến nay, các nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của EVFTA đối với Việt Nam chủ yếu tập trung đánh giá tác động đến thương mại, phúc lợi xã hội và tác động trong một số ngành cụ thể Mặc dù tác động của EVFTA đối với FDI là
Trang 16một trong những tác động được mong đợi nhất, có rất ít các nghiên cứu sâu và toàn diện về vấn đề này Để lấp vào khoảng trống nghiên cứu đó, tác giả lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Đánh giá tác động dự kiến của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam -
EU đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là đánh giá tác động dự kiến của Hiệp định thương mại
tự do Việt Nam – EU đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; từ đó đưa
ra một số gợi ý chính sách để Việt Nam chủ động thu hút FDI có chọn lọc trong bối cảnh hội nhập EVFTA
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu mà Luận án tập trung trả lời cụ thể như sau:
- EVFTA sẽ có tác động như thế nào đến dòng vốn FDI nói chung và FDI từ
EU vào Việt Nam nói riêng?
- FDI vào Việt Nam trong những ngành/ phân ngành nào sẽ chịu tác động nhiều nhất từ EVFTA?
- Đâu là kênh tác động chính của EVFTA đến FDI vào Việt Nam?
- EVFTA mang lại những cơ hội và thách thức gì đối với Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn FDI?
- Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức
mà EVFTA mang lại trong việc thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam?
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động dự kiến của EVFTA đối với FDI
vào Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Việc ký kết EVFTA có tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như thương mại, đầu tư, tài chính, việc làm, GDP, giá cả,… Trong khuôn khổ luận
Trang 17án này, tác giả tập trung nghiên cứu tác động của EVFTA đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm cả FDI từ EU và ngoài EU vào Việt Nam
Luận án phân tích tình hình thu hút FDI của Việt Nam nói chung và FDI từ
EU vào Việt Nam nói riêng trong giai đoạn 1991-2018 Đây là khoảng thời gian mà FDI của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể sau khi Luật Đầu tư năm 1987 được ban hành và các số liệu về FDI theo từng năm được thống kê cụ thể Một số thông tin và
số liệu được cập nhật tới năm 2019 tùy theo mức độ sẵn có của số liệu
Để phân tích các yếu tố nước chủ nhà tác động đến FDI từ EU vào các nước đang phát triển, luận án lựa chọn nghiên cứu 12 nước đang phát triển đã ký kết FTA với EU trong giai đoạn 1990 – 2017 Danh sách 12 nước này được trình bày cụ thể
ở Phụ lục 7
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
4.1 Ý nghĩa khoa học
Trước hết, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về FTA, đặc biệt làm rõ hơn
một số vấn đề lý luận về tác động của FTA thế hệ mới đối với FDI vào các nước thành viên Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng khung phân tích tác động của FTA đối với FDI vào các nước thành viên bao gồm các kênh tác động; các yếu tố ảnh hưởng đến tác động và tác động tổng thể của FTA đến FDI Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của FTA đối với FDI trước đây mới chỉ phân tích các kênh tác động một cách tương đối rời rạc và chưa tính đến các tác động nhiều chiều của FTA thế hệ mới Các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của FTA đến FDI cũng chưa được phân tích một cách toàn diện Vì vậy, việc làm rõ cơ sở lý luận về tác động của các FTA thế hệ mới đối với FDI là một đóng góp mới, nhất là trong bối cảnh các quốc gia có
xu hướng ký kết các FTA toàn diện thay vì các FTA chỉ tập trung vào việc cắt giảm thuế quan như trước đây Khung phân tích tác động của FTA đối với FDI vào các nước thành viên có thể được sử dụng để phân tích tác động của một FTA bất kỳ đến FDI vào các nước tham gia FTA
Trang 18Ngoài ra, bên cạnh việc tham khảo các kết quả nghiên cứu trước đây về đánh giá tác động kinh tế của EVFTA sử dụng mô hình mô phỏng cân bằng tổng thể khả toán (CGE) hay điều tra khảo sát thì luận án này sử dụng một cách tiếp cận khác sử dụng mô hình kinh tế lượng để xem xét tác động của yếu tố cùng tham gia FTA tới quyết định đầu tư của các đối tác EU sang các nước đang phát triển Với cách tiếp cận này, luận án có thể đưa ra dự đoán đối với tác động của việc tham gia EVFTA đối với FDI từ EU vào Việt Nam Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu như vậy có thể được áp dụng với các nghiên cứu tương tự và đặc biệt là phù hợp với việc tập trung đánh giá tác động của FTA đối với FDI thay vì đánh giá tác động kinh tế của FTA ở các khía cạnh khác như trong mô hình CGE
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong các nước ASEAN, cho tới nay mới chỉ có Việt Nam và Singapore đã
ký kết FTA song phương với EU – một đối tác kinh tế được đánh giá là lớn về quy
mô và tốt về chất lượng Việc sớm ký kết FTA với EU mang lại lợi thế lớn cho Việt Nam so với các nước cạnh tranh trong khu vực trong thu hút dòng vốn FDI từ các nước EU Luận án này đánh giá tác động của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam giúp cung cấp thông tin cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dân Việt Nam để có
sự chuẩn bị tốt hơn nhằm tận dụng cơ hội và hạn chế những thách thức từ Hiệp định EVFTA
Bên cạnh đó, luận án cung cấp một bức tranh tổng quan về thực trạng FDI vào Việt Nam nói chung và từ EU vào Việt Nam từ năm 1991 đến nay Điều này giúp đánh giá được những thành tựu và hạn chế của việc thu hút FDI của Việt Nam
kể từ sau khi Đổi mới; từ đó giúp Chính phủ đưa ra những điều chỉnh trong chính sách nhằm thu hút FDI một cách hiệu quả và có chọn lọc trong bối cảnh phát triển mới của đất nước
Cuối cùng, luận án đưa ra một số đề xuất nhằm giúp Việt Nam tận dụng EVFTA thu hút dòng vốn FDI một cách chọn lọc Những đề xuất này được đưa ra dựa trên sự phân tích một cách hệ thống và các phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 19hiện đại, phù hợp; có thể được sử dụng như một đầu vào đáng tin cậy cho Chính phủ và doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định
5 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, xây dựng khung phân tích tác động của FTA đối với FDI, trong đó làm rõ các kênh tác động; các yếu tố ảnh hưởng đến tác động và tác động tổng thể của FTA đối với FDI vào các nước thành viên
Thứ hai, đánh giá tác động của EVFTA đến FDI nói chung vào Việt Nam sử dụng khung phân tích tác động được tác giả xây dựng và kết quả từ phỏng vấn sâu chuyên gia Kết quả nghiên cứu từ các phương pháp nghiên cứu định tính nêu trên giúp trả lời câu hỏi EVFTA có các tác động tích cực và tiêu cực như thế nào đến FDI vào Việt Nam; nhận diện những ngành, phân ngành có cơ hội thu hút FDI nhiều nhất nhờ các cam kết trong EVFTA; đồng thời chỉ ra các kênh tác động chính trong ngắn hạn và dài hạn
Thứ ba, phương pháp định lượng được sử dụng để xác định các yếu tố nước chủ nhà tác động đến đầu tư của EU sang các nước đang phát triển Kết quả từ mô hình kinh tế lượng là cơ sở để dự báo tác động của EVFTA đối với lượng vốn FDI
từ các nước EU vào Việt Nam
Cuối cùng, dựa vào các kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ luận án này, tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách để Việt Nam có thể tận dụng các cơ hội và hạn chế các thách thức từ EVFTA trong thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam
6 Cấu trúc và quy trình nghiên cứu của luận án
Luận án bao gồm 05 chương Các chương và quy trình nghiên cứu của luận
án được trình bày cụ thể ở hình 1.1 như sau:
Trang 20Hình 1 1: Quy trình nghiên cứu của luận án
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
- Nghiên cứu lý thuyết về tác động của FTA đối với FDI
- Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của FTA đối với FDI
- Nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của EVFTA
Phát hiện khoảng trống nghiên cứu
Xác định mục tiêu nghiên cứu và đóng
góp mới của luận án
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FTA
- Khái quát về hội nhập kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực
- Khái niệm FTA
- Tác động của FTA đối với FDI
TÁC ĐỘNG CỦA EVFTA VỚI FDI VÀO VIỆT NAM
- Kết quả đánh giá tác động từ khung phân tích tác động
- Kết quả đánh giá tác động từ mô hình kinh tế lượng
- Kết quả đánh giá tác động từ phỏng vấn chuyên gia
HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trang 21CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của Hiệp định thương mại tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra và phân tích các tác động của hội nhập kinh tế khu vực nói chung và FTA nói riêng, chủ yếu là FTA truyền thống đối với FDI Mức độ tác động phụ thuộc vào phạm vi, nội dung và độ sâu của cam kết hội nhập
mà quốc gia đó tham gia (Moon, 2009, Thangavelu và Findlay, 2011); cũng như tính chất của FDI và nước đầu tư là nước nội khối hay ngoại khối (Yeyati và các cộng sự, 2003, Jaumotte, 2004, López và Orlicki, 2006, Salike, 2010, Nayak và
Choudhury, 2014, Yeyati và các cộng sự, 2003)
Trước hết, các tác động của FTA dối với FDI thường được phân tích thông qua các cam kết tự do hóa thương mại bao gồm xóa bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế Theo Yeyati và các cộng sự (2003), các cam kết này làm giảm FDI theo chiều ngang giữa các nước nội khối khi động cơ đầu tư là để tránh thuế quan nhập khẩu của nước chủ nhà; đồng thời làm gia tăng FDI theo chiều dọc giữa các nước cùng tham gia FTA Hai kênh tác động này có tác động ngược chiều nhau, và do
đó tác động tổng thể của việc xóa bỏ hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan thông qua FTA đối với FDI nội khối là chưa rõ ràng, phụ thuộc vào bản chất FDI giữa các quốc gia tham gia FTA chủ yếu là FDI theo chiều ngang hay FDI theo chiều dọc Theo Yeyati và các cộng sự (2003), bản chất FDI vào các nước đang phát triển lại phụ thuộc vào mức độ của hàng rào thuế quan mà nước đó đang áp dụng Nếu hàng rào thương mại áp dụng ở mức cao thì FDI thường là FDI theo chiều ngang, và trong trường hợp đó FTA sẽ làm giảm FDI vào các nước đang phát triển Nếu hàng rào thương mại áp dụng ở mức thấp thì FDI chủ yếu là FDI theo chiều dọc, và trong trường hợp này FTA sẽ làm tăng FDI từ các nước nội khối Ngoài ra, các tác giả còn cho rằng chưa tính đến tác động tổng thể của FTA lên FDI thì việc tham gia FTA cũng có thể làm thay đổi bản chất FDI của một
Trang 22quốc gia từ FDI theo chiều ngang sang FDI theo chiều dọc khi hàng rào thương mại được dỡ bỏ
Trong khi tác động tổng thể của FTA đối với FDI giữa các nước nội khối là chưa rõ ràng thì nhìn chung, các nghiên cứu trước đây đều cho rằng FTA có tác động tích cực đối với FDI ngoại khối dù đó là FDI theo chiều dọc hay chiều ngang (Yeyati và các cộng sự, 2002, Moon, 2009, Thangavelu và Findlay, 2011) Tuy nhiên, Yeyati và các cộng sự (2003) cũng lưu ý rằng FDI gia tăng từ các nước không thuộc FTA vào các nước thành viên FTA có thể được phân bổ không đồng đều; thậm chí luồng vốn FDI vào khu vực có thể được tái phân bổ giữa các nước thành viên sau khi FTA được thành lập, phụ thuộc vào lợi thế địa điểm giữa các nước trong FTA Các tác giả còn đề cập đến tác động “chệch hướng đầu tư” (FDI diversion) – một khái niệm tương tự với chệch hướng thương mại của Viner (1950) – theo đó các nước đầu tư có thể chuyển đầu tư từ các nước chủ nhà ngoài khối FTA sang các nước chủ nhà trong cùng FTA; do đó FTA làm giảm FDI vào các nước không phải là thành viên FTA Khi FTA có thêm thành viên tham gia, dòng vốn FDI một lần nữa có thể được phân bổ lại từ nước thành viên cũ sang nước thành viên mới Hiện tượng này được gọi là tác động “pha loãng đầu tư” (FDI dilution)
Bên cạnh đó, FTA cũng giúp hình thành mạng lưới doanh nghiệp khu vực, làm giảm chi phí dịch vụ Nhà đầu tư thực hiện được chuyên môn hoá sản xuất cao, khai thác được hiệu quả của phân công lao động quốc tế Để tăng thị phần trong khu vực, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất bằng cách xây dựng mới hoặc mua lại và sáp nhập các cơ sở hiện có, do đó làm tăng dòng vốn FDI (Phùng Xuân Nhạ, 2013) Ngoài ra, bản thân việc ký kết FTA giữa các quốc gia có vai trò như một sự đảm bảo về một môi trường chính trị và thể chế tốt hơn, giúp gia tăng niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài và cải thiện dòng vốn FDI vào các nước thành viên (Chang và các cộng sự, 2005, Thangavelu và Findlay, 2011)
Như vậy, các nghiên cứu lý thuyết trước đây chủ yếu tập trung phân tích tác
động của việc xóa bỏ hàng rào thuế quan trong các FTA truyền thống đối với FDI vào các nước thành viên cũng như các tác động gián tiếp khác như việc hình thành
Trang 23mạng lưới doanh nghiệp khu vực, đảm bảo hơn về chính trị, thể chế của nước tham gia FTA Từ các nghiên cứu lý thuyết cho thấy tác động tổng thể của FTA đối với FDI là chưa rõ ràng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mục đích, hình thức đầu tư, các yếu tố liên quan đến nước đầu tư và nước chủ nhà Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa phân tích đầy đủ các kênh tác động cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của một FTA thế hệ mới đối với FDI vào các nước thành viên
1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của Hiệp định thương mại
tự do đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Với những tác động đa chiều và phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, việc đánh giá tác động tổng thể của FTA đối với FDI là một nhiệm vụ đầy thách thức Tới nay
đã có các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của hội nhập kinh tế khu vực đối với FDI Mặc dù cách tiếp cận, phương pháp và đối tượng nghiên cứu khác nhau, nhìn chung hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa việc tham gia FTA và dòng vốn FDI vào các nước thành viên Có thể phân chia các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của FTA đối với FDI thành hai nhóm chính, bao gồm: (i) nghiên cứu tiền kỳ (ex-ante analysis) dự báo tác động dự kiến của các FTA sắp được ký kết hoặc có hiệu lực và (ii) nghiên cứu hậu kỳ (ex-post
analysis) đánh giá tác động sau khi các FTA đã có hiệu lực
1.2.1 Các nghiên cứu đánh giá tác động tiền kỳ
Đối với nhóm nghiên cứu dự báo tác động dự kiến của các FTA sắp được ký kết hoặc có hiệu lực, phương pháp thường được sử dụng là mô hình cân bằng tổng thể khả toán (CGE), điều tra khảo sát và dự báo kinh tế lượng dựa trên mô hình hồi quy (Li, 2015)
Mô hình CGE được sử dụng khá phổ biến để đánh giá tác động của quá trình hội nhập kinh tế, nhất là trong đánh giá tác động dự kiến của các FTA đang đàm phán hoặc vừa được hình thành (Kitwiwattanachai, 2008, Plummer và các cộng sự,
2010, Cassing và các cộng sự, 2010) Mô hình này được gọi là cân bằng tổng thể vì
nó được xây dựng trên giả định cân bằng đồng thời của các loại thị trường và khu vực trong nền kinh tế Trong các mô hình CGE đánh giá tự do hoá thương mại, có
Trang 24rất ít mô hình tích hợp cả FDI Tuy nhiên cùng với sự gia tăng trong tự do hoá dịch
vụ, ngày càng có nhiều nghiên cứu quan tâm đến tác động đối với FDI
Petri (1997) tiên phong trong việc phát triển một mô hình cân bằng tổng thể
có tích hợp cả FDI Theo mô hình của Petri, vốn sẽ được phân phối vào những hoạt động thu được lợi nhuận cao nhất nhưng cũng xem xét đến yếu tố sở thích của nhà đầu tư đối với các danh mục đầu tư Petri đã áp dụng mô hình FDI-CGE để phân tích tác động kinh tế của Tuyên bố Bogor của APEC Các rào cản FDI được thể hiện trong mô hình như là một loại thuế đánh vào lợi nhuận FDI, ước tính bằng ½
so với mức thuế quan tương ứng áp dụng trong các ngành sơ cấp và chế tạo Các rào cản đối với FDI trong lĩnh vực dịch vụ thường cao hơn các lĩnh vực khác theo dự báo của Hoekman, được giới thiệu và áp dụng trong nghiên cứu của Brown và các cộng sự (1995) Kết quả chỉ ra rằng nếu đạt được các mục tiêu Bogor, phúc lợi toàn cầu sẽ tăng khoảng 260 tỷ USD mỗi năm Dựa trên bài viết của Petri (1997) và kết hợp với mô hình GTAP, Hanslow (2000), Dee và Hanslow (2000) tích hợp FDI vào
mô hình FTAP Đặc điểm của mô hình FTAP là giả định lợi nhuận tăng theo quy
mô và cạnh tranh độc quyền nhóm diễn ra ở tất cả các lĩnh vực; đồng thời vốn di chuyển dễ dàng hơn giữa các khu vực trong một lĩnh vực cụ thể so với di chuyển giữa các lĩnh vực trong một khu vực nào đó Dee và Hanslow (2000) chỉ ra rằng lợi ích của tự do hoá dịch vụ cũng nhiều như lợi ích từ việc tự do hoá các rào cản thương mại khác trong hàng hoá chế tạo và nông nghiệp Các nghiên cứu gần đây
sử dụng mô hình CGE tích hợp FDI nhưng xem xét thêm yếu tố khác biệt năng suất giữa các công ty trong nước và các MNCs; giữa vốn ngoại và vốn nội địa như Jensen và các cộng sự (2004, 2007), Lakatos và Fukui (2013), Latorre và các cộng
sự (2009), Lejour và các cộng sự (2008) và Li (2015) Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng FTA có tác động tích cực đối với FDI
CGE là mô hình khá toàn diện và phản ảnh gần với nền kinh tế thực song phức tạp và đòi hỏi một bộ cơ sở dữ liệu đồ sộ bao trùm tất cả các lĩnh vực kinh tế
Để đánh giá tác động dự kiến của FTA đối với FDI, bên cạnh mô hình CGE, nhiều nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp dự báo từ mô hình kinh tế lượng
Trang 25Jaumotte (2004) sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của quy
mô thị trường khu vực do quá trình hội nhập kinh tế khu vực đối với luồng vốn FDI vào các nước thành viên Từ kết quả của mô hình sử dụng số liệu của 71 nước đang phát triển trong giai đoạn 1980-1999, tác giả đánh giá tác động dự kiến đối với FDI vào các nước Maghreb nhờ sự thiết lập thị trường khu vực giữa Algeria, Morocco
và Tunisia Kết quả là sự mở rộng thị trường khu vực nhờ RTA có thể giúp làm tăng đồng thời FDI vào cả ba quốc gia, cụ thể làm tăng 62% ở Algeria, 85% ở Morocco
và 165% ở Tunisia
Yeyati và các cộng sự (2003) cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng với số liệu FDI từ 20 nước OECD đầu tư vào 60 nước chủ nhà trong giai đoạn 1982-1999 để đánh giá các yếu tố tác động đến FDI, từ đó dự báo tác động của việc hình thành Hiệp định thương mại tự do châu Mỹ (FTAA) Nghiên cứu cho thấy mỗi nước thành viên MERCOSUR sẽ tăng FDI từ Hoa Kỳ và Canada khoảng 60% và từ ngoại khối 26% FDI nội khối vào các nước thuộc cộng đồng Andean tăng 82%, FDI ngoại khối tăng 44% Các nước có tác động nhiều nhất là Panama, Costa Rica và Chile do các nước này có quy mô thị trường mở rộng gia tăng nhiều nhất Các nước chịu tác động ít nhất là Mexico, Canada và Hoa Kỳ
Ngoài ra, các nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động hậu kỳ được giới thiệu ở 1.2.2 cũng có thể được áp dụng để dự đoán tác động
dự kiến của một FTA nào đó đối với FDI vào các nước thành viên
1.2.2 Các nghiên cứu đánh giá tác động hậu kỳ
Đối với nhóm nghiên cứu đánh giá tác động sau khi các FTA đã có hiệu lực, phương pháp thường được sử dụng là mô hình kinh tế lượng Từ cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu đưa các yếu tố quan trọng nhất tác động đến FDI vào mô hình bao gồm: quy mô thị trường (GDP, tốc độ tăng GDP, thu nhập bình quân đầu người, quy mô thị trường khu vực), khoảng cách, hội nhập (FTA, mức độ tự do hoá), yếu
tố đầu vào cho sản xuất (dân số, lao động),… Bảng 1.1 sau đây thống kê một số nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động hậu kỳ của việc hội nhập kinh tế khu vực đối với dòng vốn FDI
Trang 26Bảng 1 1: Một số nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lƣợng để đánh giá tác động hậu kỳ của hội nhập kinh tế khu vực đối với dòng vốn FDI
1 Yeyati và các
cộng sự (2003)
Tham gia FTA làm tăng dòng vốn FDI nội khối 27% trong khi yếu tố thị trường chung lớn hơn tác động đến FDI nước chủ nhà với mức co giãn 0.1
3 Adams và các
cộng sự (2003)
Trong 09 FTA được đánh giá có 06 FTA có tác động tạo lập đầu tư, 01 FTA có tác động chệch hướng đầu tư và 02 FTA không có tác động có thể quan sát được
4 Lederman và các
cộng sự (2005)
Kỳ vọng tham gia FTA làm tăng dòng vốn FDI đến hơn 1/3, trong khi tham gia thị trường chung có quy mô lớn gấp hai lần thị trường nước chủ nhà có thể làm tăng dòng vốn FDI từ 20% trở lên
5 Jaumotte (2004) Tác động tích cực đáng kể của quy mô thị trường được mở
rộng ở giai đoạn đầu đối với dòng vốn FDI ở giai đoạn cuối
6 Moon (2009) FDI theo chiều dọc sẽ tăng lên nhờ tự do hóa thương mại
trong khi FDI theo chiều ngang sẽ bị thay thế bởi xuất khẩu
7 Park và Park
(2008)
Các nước thành viên thu hút nhiều FDI hơn thông qua cải cách nền kinh tế trong nước sau khi tham gia các FTA
8 Dunning (1997) Cả FDI nội khối và ngoại khối của Cộng đồng châu Âu
(EC) đều được thúc đẩy sau Chương trình Thị trường thống nhất (IMP) năm 1985
9 Pain (1997) Tăng nhanh FDI nội khối EU sau khi thực hiện Chương
trình Thị trường thống nhất năm 1985
Trang 27TT Nghiên cứu Kết quả
10 Pain và Lansbury
(1997)
Tương tự như Pain (1997) đối với đầu tư của Đức vào các nước thành viên EU còn lại
11 Girma (2001) Quy mô của thị trường khu vực và chi phí lao động tương
đối từ việc tham gia IMP có tác động quan trọng đối với FDI so với quy mô thị trường nội địa
12 Egger và
Pfaffermayr
(2004)
Các sự kiện IMP, Chương trình mở rộng và Hiệp định giữa
EU và các nước Trung Đông Âu (CEEC) có tác động tích cực đến FDI vào các nước thành viên
13 Blomstrom và
Kokko (1997)
- FDI nội khối vào Canada giảm sau FTA Canada – Mỹ (CUSFTA), lượng giảm này được bù đắp bởi gia tăng FDI ngoại khối FDI ròng vào Mỹ tăng lên nhờ CUSFTA chủ yếu do tăng FDI từ ngoại khối
- Gia tăng FDI vào Argentina và Brazil sau MECOSUR nhờ đạt được ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng cao
và gia tăng xuất khẩu trong toàn bộ khu vực
14 Buckley và các
cộng sự (2001)
Đầu tư từ các nước châu Âu gia tăng vào ba nước Bắc Mỹ nhờ NAFTA, đặc biệt là đầu tư của các MNCs của Anh và Thụy Sỹ vào Mỹ
15 Waldkirch
(2003)
NAFTA có tác động tích cực đối với FDI nội khối từ Mỹ
và Canada vào Mexico; trong khi đó NAFTA hầu như không có tác động đối với FDI ngoại khối vào Mexico
16 Lim (2001) FDI tính theo tỷ lệ % của GDP tăng lên hơn hai lần trong
04 năm sau khi Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tham gia EU, Brazil tham gia MECOSUR và Mexico tham gia NAFTA;
và tăng lên 70% cho Argentina sau 04 năm gia nhập MECOSUR
17 Lederman và các
cộng sự (2005)
Tương tự như Lim (2001) đối với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; nhưng FDI không thay đổi đối với Hy Lạp sau khi gia
Trang 28TT Nghiên cứu Kết quả
nhập EU FDI vào Mexico tăng trong hai năm đầu gia nhập NAFTA nhưng nhanh chóng bão hòa sau đó, tương tự với việc các nước mới gia nhập EU
18 Globerman
(2002)
Sau CUSFTA và sau đó là NAFTA, FDI từ châu Âu vào Canada tăng nhanh hơn nhiều so với FDI từ Mỹ vào Canada
23 Plummer và
Cheong (2008)
Sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, năm 1998 dòng vốn FDI vào các nước ASEAN bị giảm đi nhưng FDI nội khối lại gia tăng nhờ hội nhập ASEAN
Nguồn: Medvedev (2012), Li (2015) và tổng hợp của tác giả
Kết quả nghiên cứu đánh giá tác động của nhiều FTA cùng một lúc không cho kết quả đồng nhất song nhìn chung chỉ ra tác động tích cực nhiều hơn tác động tiêu cực Yeyati và các cộng sự (2003) sử dụng mô hình trọng lực với số liệu dòng vốn FDI từ 20 nước OECD tới 60 quốc gia nhận đầu tư trong giai đoạn 1982-1998 Kết quả chỉ ra rằng việc cùng tham gia một FTA với nước đầu tư giúp tăng gần gấp đôi dòng vốn FDI vào một quốc gia Việc mở rộng quy mô thị trường nhờ hội nhập
Trang 29kinh tế khu vực cũng mang lại lợi ích quan trọng cho các nước thành viên: Nếu quy
mô thị trường mà nước chủ nhà có khả năng tiếp cận tăng gấp đôi sẽ làm tăng tổng vốn FDI chảy vào quốc gia đó 6% Balaubramanyam và các cộng sự (2002) cũng sử dụng mô hình trọng lực xem xét 381 dòng vốn FDI song phương được thực hiện năm 1995 nhưng kết quả cho thấy các yếu tố kinh tế của nước chủ nhà và nước đầu
tư chứ không phải là hội nhập kinh tế khu vực mới là yếu tố tác động quan trọng đến dòng vốn FDI Jaumotte (2004) tích hợp các biến liên quan đến khu vực (quy
mô thị trường khu vực, tốc độ tăng trưởng thực tế trung bình ở nước đối tác, sự chênh lệch trong trình độ lao động, rủi ro tài chính và cơ sở hạ tầng giữa nước nhận đầu tư và các nước trong khu vực) vào mô hình kinh tế lượng truyền thống (với các biến độc lập chỉ liên quan đến nước tiếp nhận đầu tư bao gồm GDP thực tế, tăng trưởng GDP thực tế, giáo dục, rủi ro tài chính, cơ sở hạ tầng, mức độ mở cửa thương mại của nước nhận đầu tư) Nghiên cứu sử dụng số liệu của 71 nước đang phát triển trong giai đoạn 1980-1999 Kết quả chỉ ra rằng quy mô thị trường khu vực có tác động tích cực đáng kể đối với FDI Tác động của hầu hết các biến (trừ biến chênh lệch trình độ lao động và mức độ mở cửa) trong mô hình có yếu tố khu vực có mức độ tác động ít hơn so với mô hình chỉ có các biến nội địa của nước tiếp nhận đầu tư Adams và các cộng sự (2003) phát triển Chỉ số tự do hoá thành viên (Member Liberalization Index) thể hiện mức độ tự do hoá của các FTA Các tác giả xác định tác động riêng biệt của các yếu tố thương mại và phi thương mại (bao gồm đầu tư, cạnh tranh và sở hữu trí tuệ) Kết quả là các yếu tố phi thương mại có tác động lớn hơn đến FDI Trong 09 FTA mà nghiên cứu xem xét có 06 FTA có tác động tạo lập đầu tư, 01 FTA có tác động chệch hướng đầu tư và 02 FTA không có tác động đối với đầu tư Từ cách tiếp cận khác, nghiên cứu của Park và Park (2008) lại chỉ ra rằng các nước thành viên thu hút FDI nhiều hơn nhờ thực hiện các cải cách kinh tế được thúc đẩy bởi FTA Ethier (1998) lập luận rằng các nước nhỏ không tham gia WTO cần thể hiện cho các công ty đa quốc gia thấy những cam kết
rõ ràng về cải cách kinh tế nhằm cạnh tranh được với các quốc gia tương tự trong thu hút dòng vốn FDI Thông thường, việc tham gia FTA với các nước lớn và là
Trang 30thành viên của WTO là dấu hiệu về cải cách, giúp tăng mức độ hấp dẫn của các nước nhỏ đối với các công ty đa quốc gia Trong khi đó, Moon (2009) trong luận án tiến sĩ của mình đánh giá tác động của các FTA đối với FDI theo chiều dọc và chiều ngang Do gặp khó khăn trong việc thu thập các số liệu FDI theo từng hình thức khác nhau, tác giả giả định rằng FDI theo chiều dọc thường có xu hướng xảy ra giữa các nước có sự khác biệt lớn trong yếu tố sản xuất trong khi FDI theo chiều ngang
có xu hướng xảy ra giữa các nước có quy mô thị trường lớn Nghiên cứu này cho thấy FDI theo chiều dọc tăng lên giữa các quốc gia cùng tham gia FTA với điều kiện nước chủ nhà mở cửa hơn với thương mại hàng hoá và có sự khác biệt lớn trong yếu tố sản xuất giữa hai quốc gia FDI theo chiều ngang nội khối giảm trong khi FTA theo chiều ngang ngoại khối tăng lên Tuy nhiên, sự thiếu hụt các số liệu
FDI theo chiều dọc và chiều ngang là một hạn chế lớn của nghiên cứu này
Không chỉ đánh giá tác động của nhiều FTA cùng một lúc nhằm đưa ra mối quan hệ giữa FTA đối với FDI, nhiều nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của một FTA cụ thể nào đó Trong số đó, các FTA liên quan đến hội nhập trong EU, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Thị trường chung Nam Mỹ (MECOSUR), và Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) là các FTA nhận được sự quan tâm nhiều nhất Nhìn chung, các nghiên cứu về một hiệp định cụ thể chỉ ra sự gia tăng FDI sau khi hội nhập, như trường hợp Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (Lim, 2001, Lederman và các cộng sự, 2005) và các nước EU khác sau khi tham gia
EU (Pain, 1997, Pain và Lansbury, 1997, Dunning, 1997), Mexico sau NAFTA (Lim, 2001, Lederman và các cộng sự, 2005, Globerman, 2002, Monge-Naranjo,
2002, Waldkirch, 2003), Mỹ và Canada sau FTA Canada – Mỹ (CUSFTA) và Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) (Blomstrom và Kokko, 1997, Globerman,
2002, Buckley và các cộng sự, 2001, Feils và Rahman, 2008), Brazil và Argentina
sau MERCOSUR (Lim, 2001)
Thứ nhất về tác động của quá trình hội nhập kinh tế khu vực châu Âu, đánh giá Chương trình thị trường thống nhất (IMP) giữa các nước thuộc Cộng đồng châu
Âu (EC), Dunning (1997) đưa ra kết luận rằng IMP có tác động tích cực đối với cả
Trang 31FDI nội khối và FDI ngoại khối; tuy nhiên tác động đối với FDI ngoại khối nhiều hơn so với FDI nội khối Yếu tố tham gia IMP không quan trọng như các yếu tố khác tác động đến FDI, Dunning đặt ra câu hỏi liệu IMP có thể thực sự được coi là một biến độc lập hay không vì tác động chủ yếu của nó là thông qua các yếu tố quy
mô thị trường, mức thu nhập, cơ cấu hoạt động kinh tế và mức độ tích tụ kinh tế Pain (1997), Pain và Lansbury (1997) đánh giá tác động của việc thực hiện IMP trong giai đoạn 1980-1992 đối với FDI của Anh và Đức vào nội khối EU Sử dụng
số liệu cấp độ ngành, các bài viết xem xét tác động tổng thể và tác động ngành của IMP Kết quả của hai nghiên cứu này cho thấy IMP có tác động lớn, tích cực đối với đầu tư nội khối EU của Anh và Đức trong cả các lĩnh vực công nghiệp và lĩnh vực dịch vụ IMP giúp làm tăng dòng vốn FDI nói trên khoảng 27 tỷ USD tính đến năm
1992, tương đương 0,5% GDP của EU Lĩnh vực dịch vụ chiếm ½ tổng lượng đầu
tư tăng lên Các tác giả cũng nhận thấy đầu tư ở châu Âu trong lĩnh vực hoá chất và máy móc giảm đi, phù hợp với giả thiết cho rằng việc xoá bỏ các rào cản đối với thương mại dẫn tới sản xuất trở nên tập trung hơn Girma (2001) đánh giá tác động của IMP đối với dòng vốn FDI vào lĩnh vực chế tạo Tuy nhiên, thay vì để IMP là một biến giả trong mô hình thì Girma tương tác biến giả IMP với các yếu tố tác động tới FDI Tác giả kết luận rằng quy mô của thị trường khu vực và chi phí lao động tương đối có tác động quan trọng hơn đối với FDI so với quy mô thị trường nội địa Egger và Pfaffermayr (2004) đánh giá tác động của ba sự kiện khác nhau trong quá trình hội nhập của EU trong những năm 1990 đối với dòng vốn FDI trong khối EU, bao gồm: Chương trình thị trường thống nhất (IMP), Chương trình mở rộng năm 1995 và Hiệp định giữa EU và các nước Trung Đông Âu (CEEC) Các tác giả nhận thấy có mối quan hệ tích cực giữa các sự kiện nêu trên với luồng vốn FDI, đặc biệt diễn ra giữa khoảng thời gian công bố và chính thức thực hiện của các mốc hội nhập
Thứ hai về Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được thành lập năm 1992 và là sự mở rộng của Hiệp định thương mại tự do giữa Canada và Hoa
Kỳ (CUSFTA) năm 1989 (thêm một thành viên là Mexico) Blomstrom và Kokko
Trang 32(1997) chỉ ra rằng các Hiệp định giữa các nước phát triển như CUSFTA không tạo
ra thay đổi lớn trong FDI nội khối đối với Canada Tuy nhiên, Hiệp định giữa các nước phát triển và nước đang phát triển như NAFTA đã tạo ra cơ hội mới cho các nhà đầu tư nội khối và ngoại khối đầu tư vào Mexico cũng như Canada Theo giả thiết quy mô quốc gia, Buckley và cộng sự (2001) cho thấy gia tăng đầu tư từ các nước châu Âu nhờ NAFTA dường như nhiều hơn so với dự báo từ lý thuyết Các MNCs của Anh và Thuỵ Sỹ đã đầu tư nhiều hơn vào Hoa Kỳ như là kết quả của quá trình hội nhập Bắc Mỹ Waldkirch (2003) lấy Mexico làm trường hợp nghiên cứu
để đánh giá xem liệu một nước đang phát triển có thể tận dụng việc hội nhập kinh tế với một nước lớn phát triển như là một công cụ để thu hút FDI hay không Bài viết chỉ ra rằng NAFTA có tác động tích cực đối với FDI nội khối từ Hoa Kỳ và Canada vào Mexico; trong khi đó NAFTA hầu như không có tác động đối với FDI ngoại khối vào Mexico
Thứ ba, một FTA khác thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
là MERCOSUR được thành lập năm 1991 giữa các nước Nam Mỹ như Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay Sự thiết lập MERCOSUR đã thúc đẩy mạnh mẽ luồng vốn FDI vào khu vực, đặc biệt là Argentina và Brazil Blomstrom và Kokko (1997) lập luận rằng việc đạt được ổn định kinh tế vĩ mô dường như là điều kiện tiên quyết giúp gia tăng FDI vào Argentina và sau đó là Brazil Hơn nữa, các chương trình tư nhân hoá được thực hiện trong giai đoạn này ở hai quốc gia nói trên có thể là một
yếu tố dẫn đến sự gia tăng FDI Cuối cùng, dòng vốn FDI vào khu vực này được
phân bổ không đều giữa các nước thành viên; tuy nhiên các lợi ích chính mà MERCOSUR mang lại là tốc độ tăng trưởng cao và gia tăng xuất khẩu trong toàn
bộ khu vực
Thứ tư, sự gia tăng FDI liên quan đến Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) vào đầu những năm 1990 đã thúc đẩy một số nghiên cứu về tác động FDI của AFTA Sử dụng mô hình trọng lực, Ismail và các cộng sự (2009) kết luận rằng hội nhập kinh tế ASEAN trong giai đoạn 1995-2003 làm tăng đầu tư nội khối của ASEAN5 vào các thành viên ASEAN mới; còn đối với FDI ngoại khối, EU tăng
Trang 33đầu tư vào ASEAN nhiều hơn vào các khu vực khác trong khi Hoa Kỳ và Nhật Bản đầu tư nhiều hơn vào ASEAN5 so với các thành viên khác của ASEAN Bende-Nabende, Ford và Slater (2001) nhận thấy AFTA có tác động trễ đối với dòng vốn FDI trong đó có lợi hơn đối với các nước phát triển hơn và bất lợi hơn đối với các nước kém phát triển hơn Plummer và Cheong (2008) sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá các tác động liên quan đến hội nhập ASEAN đối với FDI sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Nghiên cứu chỉ ra rằng sau năm 1998, tổng dòng vốn FDI vào các nước ASEAN bị giảm đi nhưng FDI nội khối lại gia tăng
Như vậy, các nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng, trong đó một số nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá tác động của các FTA đã có hiệu lực đối với dòng vốn FDI vào các nước tham gia FTA đưa ra nhiều kết quả khác nhau về mức độ ảnh hưởng và các yếu tố ảnh hưởng chính Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy việc tham gia FTA có tác động tích cực đến FDI vào các nước thành viên bao gồm cả FDI nội khối và FDI ngoại khối
1.3 Các nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam – EU
Kể từ khi bắt đầu đàm phán EVFTA đã có một số nghiên cứu đánh giá tác động dự kiến của Hiệp định này Các phương pháp được sử dụng bao gồm: mô hình cân bằng tổng thể khả toán CGE, điều tra khảo sát, mô hình kinh tế lượng và mô hình cân bằng bộ phận; trong đó CGE được sử dụng phổ biến nhất nhằm đánh giá tác động tổng thể của EVFTA đến các nền kinh tế thành viên
Một trong những nghiên cứu khá toàn diện đầu tiên về EVFTA là nghiên cứu được thực hiện bởi Philip và các cộng sự (2011) Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình CGE để đánh giá tác động dự kiến của việc cắt giảm thuế quan theo 03 kịch bản khác nhau đến nền kinh tế Việt Nam trên các khía cạnh bao gồm ngân sách, cán cân thương mại, GDP, tiêu dùng, đầu tư, tiết kiệm và giá cả,… Kết quả cho thấy EVFTA có tác động rất tích cực đến việc thúc đẩy thương mại giữa hai bên, cụ thể giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng trưởng 4%/năm, nhập khẩu từ EU sang Việt Nam tăng 3,1%/năm; đầu tư trực tiếp từ EU sang Việt Nam có thể tăng nhờ các
Trang 34cam kết tự do hóa ở mức độ cao hơn và chất lượng đầu tư cũng sẽ được cải thiện đáng kể Các tác giả cũng phân tích tác động của EVFTA đối với 04 ngành bao gồm
ô tô, điện tử, cơ khí và ngân hàng; tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở phân tích định tính chứ chưa đưa ra được các phân tích định lượng
Baker và các cộng sự (2014) cũng cho rằng lợi ích mà EVFTA đem lại cho Việt Nam là rất lớn Sử dụng cả mô hình CGE và mô hình cân bằng từng phần, nghiên cứu đã ước tính tác động của FTA giữa Việt Nam với EU dựa trên Khuôn khổ đánh giá dài hạn với khung thời gian kéo dài tới 2025 Nghiên cứu dự báo Việt Nam sẽ tăng trưởng đáng kể nhờ tác động của dòng vốn vào và nhờ cải thiện năng suất lao động Theo ước tính, FTA sẽ giúp GDP tăng cao hơn so với mức xu hướng khoảng 7%-8% cho tới năm 2025 Về tác động ngành, kết quả của mô hình cho thấy ngành công nghiệp của Việt Nam thu được lợi ích thuần lớn nhất từ FTA này, đặc biệt là ngành dệt may và giày dép Ngành nông nghiệp cũng được hưởng lợi mặc dù sản xuất thịt và sữa có thể phải chịu ảnh hưởng tiêu cực từ tự do hoá
Hai nghiên cứu khác mới đây cũng sử dụng mô hình CGE đều chỉ ra EVFTA hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho Việt Nam Nghiên cứu của MUTRAP (2017) cho thấy GDP của Việt Nam ước tính sẽ tăng thêm 3,2 tỷ USD tính đến năm
2020, tăng thêm 6,7 tỷ USD năm 2025 và tăng thêm 7,2 tỷ USD năm 2030 Nghiên cứu này cũng cho rằng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ đạt xấp xỉ 33
tỷ USD vào năm 2020, 42 tỷ USD năm 2025 và 47 tỷ USD năm 2030 Còn theo tính toán của Ủy ban châu Âu (2018), EVFTA sẽ thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam tới 15% GDP trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng lên hơn 1/3 Đối với EU, FTA này là bước đi quan trọng để tiến tới các thỏa thuận thương mại rộng hơn với khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, khu vực sản xuất của Việt Nam có thể chịu tác động tiêu cực từ cạnh tranh với EU
Ngoài mô hình CGE được sử dụng tương đối phổ biến, có một số nghiên cứu
sử dụng phương pháp điều tra khảo sát doanh nghiệp để dự báo tác động của EVFTA đối với quyết định kinh doanh của doanh nghiệp EuroCham (2018) thực hiện phỏng vấn 132 doanh nghiệp EU hoạt động tại Việt Nam Kết quả cho thấy các
Trang 35doanh nghiệp EU có cái nhìn rất tích cực và lạc quan về triển vọng kinh doanh cũng như tác động của EVFTA đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới Cụ thể, hơn 80% doanh nghiệp châu Âu có kế hoạch mở rộng kinh doanh trong ngắn hạn và trung hạn Tỷ lệ doanh nghiệp có kế hoạch thu hẹp kinh doanh ở mức thấp, cho thấy các doanh nghiệp châu Âu vẫn có cam kết mạnh mẽ đối với sự phát triển hơn nữa tại Việt Nam Phần lớn doanh nghiệp tin tưởng EVFTA sẽ có tác động đối với hoạt động kinh doanh hoặc kế hoạch đầu tư trong cả trung hạn (78,9%) và dài hạn (85,6%) Hơn 80% doanh nghiệp châu Âu tham gia phỏng vấn tin rằng EVFTA sẽ giúp cải thiện khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các quốc gia khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ 72% doanh nghiệp nhận định EVFTA sẽ giúp Việt Nam trở thành trung tâm, cánh cửa giao thương cho các công ty châu Âu tiếp cận thị trường ASEAN Nhìn nhận tích cực và lạc quan về tác động của EVFTA khiến các doanh nghiệp châu Âu mong muốn EVFTA có hiệu lực càng sớm càng tốt
Tập trung đánh giá tác động của EVFTA đối với lĩnh vực thương mại song phương, Vũ Thanh Hương (2017) đã phân tích tác động dựa trên khung chẩn đoán tác động tiềm tàng của EVFTA do tác giả xây dựng Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng mô hình trọng lực và mô hình cân bằng bộ phận SMART để đánh giá một cách định lượng tác động của EVFTA đối với thương mại hàng hóa nói chung và trong một số ngành cụ thể (dệt may, dược phẩm) Nghiên cứu chỉ ra rằng EVFTA làm gia tăng mạnh mẽ thương mại Việt Nam – EU; tăng xuất khẩu nhiều nhất ở nhóm hàng dệt may, giày dép, máy móc thiết bị, sản phẩm thực vật và động vật sống; gia tăng nhiều nhất ở nhóm hàng phương tiện, thiết bị vận tải, hóa chất, thực phẩm chế biến, đồ uống, động vật sống EVFTA cũng giúp Việt Nam sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực, khai thác tính kinh tế của quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh
và tính hiệu quả của nền kinh tế, tham gia vào chuỗi giá trị của EU, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế và thay đổi dần cơ cấu thương mại Tuy nhiên, EVFTA cũng sẽ dẫn tới một số tác động tiêu cực như đưa Việt Nam ly tâm khỏi đàm phán đa phương và hội nhập khu vực, gây ra hiện tượng xuất khẩu vòng,
Trang 36chệch hướng thương mại, nảy sinh các chi phí điều chỉnh nền kinh tế và tăng sức ép cạnh tranh với các doanh nghiệp nội địa Đóng góp mới của nghiên cứu này là tác giả đã xây dựng được khung chẩn đoán tác động của EVFTA, tuy nhiên khung chẩn đoán này chủ yếu được dùng để phân tích tác động của EVFTA đến thương mại của Việt Nam chứ chưa đề cập đến tác động đến FDI Trong luận án này, dựa trên khung chẩn đoán tác động chung, tác giả xây dựng khung phân tích tác động của EVFTA đến FDI vào Việt Nam
Có thể thấy, mặc dù các nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau với cách tiếp cận tương đối đa dạng song đều chỉ ra rằng EVFTA mang lại tác động kinh tế tích cực cho Việt Nam Các nghiên cứu này tuy nhiên tập trung đánh giá tác động của EVFTA tới tăng trưởng kinh tế, việc làm, thu nhập, thương mại hoặc đầu tư nói chung, mà chưa có nghiên cứu nào đánh giá cụ thể tác động của Hiệp định đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước thành viên
1.4 Khoảng trống nghiên cứu và đóng góp mới của luận án
Bảng 1.2 tóm tắt các kết quả chính mà các nghiên cứu trước đã làm được, những khoảng trống nghiên cứu và đóng góp của luận án
Bảng 1 2: Tóm tắt kết quả tổng quan tài liệu Kết quả chính Khoảng trống
nghiên cứu
Đóng góp của luận án
đầu tư và yếu tố liên quan đến
nước chủ nhà, nước đầu tư
• Các cam kết tự do hóa
thương mại hàng hóa có thể
làm giảm FDI theo chiều
ngang từ các nước nội khối;
các yếu tố khác đều được kỳ
• Các nghiên cứu tập trung phân tích tác động của FTA truyền thống thông qua cam kết xóa bỏ thuế quan đối với FDI chứ chưa phân tích một cách toàn diện tác động của FTA thế hệ mới
• Xây dựng khung phân tích, làm rõ các kênh tác động và các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của FTA thế
hệ mới tới FDI vào nước thành viên
• Sử dụng khung phân tích tác động
Trang 37Kết quả chính Khoảng trống
nghiên cứu
Đóng góp của luận án
vọng có tác động tích cực đối
với FDI cả nội khối và ngoại
khối
• FTA có thể dẫn tới việc tái
phân phối FDI giữa các thành
viên FTA, do đó FDI gia tăng
vào cả khu vực không đảm bảo
tất cả các nước tham gia FTA
đều thu được lợi ích như nhau
với các cam kết mở rộng ngoài cam kết xóa bỏ thuế quan (như tự do hóa dịch
vụ, đầu tư và các cam kết khác) đối với FDI
xác định các tác động tích cực và tiêu cực của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam; nhận diện các ngành mà FDI vào các ngành đó chịu tác động nhiều nhất; các kênh tác động chính trong ngắn hạn, dài hạn
toán CGE, mô hình kinh tế
lượng, điều tra khảo sát doanh
nghiệp
Các nghiên cứu đánh giá tác
động hậu kỳ thường sử dụng
mô hình kinh tế lượng
Hầu hết nghiên cứu cho
thấy FTA có tác động tích cực
đến FDI, bao gồm cả FDI nội
khối và FDI ngoại khối, dù
mức độ và các yếu tố tác động
của các FTA đối với FDI là
khác nhau
Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm nhất định
Với các nghiên cứu
sử dụng mô hình kinh tế lượng còn một số hạn chế trong việc lựa chọn biến đưa vào mô hình (như chưa xem xét đến yếu tố hội nhập khu vực, chất lượng lao động, trình độ công nghệ, ) hoặc việc lựa chọn biến đại diện chưa phù hợp
Xây dựng mô hình kinh tế lượng
để đánh giá tác động dự kiến của EVFTA đối với FDI từ EU vào Việt Nam Mô hình được xây dựng dựa trên sự kế thừa từ các nghiên cứu trước, đồng thời điều chỉnh một số biến trong mô hình cho phù hợp hơn
Trang 38Kết quả chính Khoảng trống
nghiên cứu
Đóng góp của luận án
• Nghiên cứu điều tra khảo
sát doanh nghiệp EU tại Việt
Nam cho thấy đánh giá rất tích
cực và lạc quan về triển vọng
kinh doanh cũng như tác động
của EVFTA đối với hoạt động
kinh doanh tại Việt Nam
• Các nghiên cứu tập trung đánh giá tác động đến tăng trưởng GDP, thương mại, việc làm, đầu tư nói chung chứ chưa đánh giá tới FDI vào Việt Nam
• Tác động của FTA đối với FDI phụ thuộc nhiều vào các yếu tố của nước chủ nhà Đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của EVFTA tới FDI vào Việt Nam xem xét đến tác động của các yếu tố này
• Chưa có nghiên cứu phân tích và đánh giá cụ thể về thực trạng FDI từ
EU vào Việt Nam
• Xây dựng khung phân tích tác động; sau đó áp dụng để phân tích tác động dự kiến của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam
• Sử dụng mô hình kinh tế lượng xem xét các yếu tố nước chủ nhà tác động đến FDI từ các nước EU sang các nước đang phát triển, trong đó có tính đến yếu tố cùng tham gia FTA
• Phỏng vấn chuyên gia để kiểm chứng lại kết quả
từ các phương pháp nghiên cứu khác
• Phân tích và đánh giá FDI từ
EU vào Việt Nam
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 39Thứ nhất, các nghiên cứu lý thuyết về tác động của FTA đối với FDI cho thấy tác động tổng thể của FTA với FDI là chưa rõ ràng, phụ thuộc vào mục đích, hình thức đầu tư và yếu tố liên quan đến nước chủ nhà, nước đầu tư Các cam kết tự do hóa thương mại hàng hóa có thể giảm FDI theo chiều ngang từ các nước nội khối; trong khi các yếu tố khác đều được kỳ vọng có tác động tích cực đối với FDI cả nội khối và ngoại khối FTA đồng thời có thể dẫn tới việc tái phân phối FDI giữa các thành viên FTA, do đó FDI gia tăng vào cả khu vực không đảm bảo tất cả các nước tham gia FTA đều thu được lợi ích như nhau Các nghiên cứu trước đây tuy nhiên mới chỉ tập trung phân tích tác động của FTA truyền thống thông qua cam kết xóa
bỏ thuế quan đối với FDI chứ chưa phân tích một cách toàn diện tác động của FTA thế hệ mới với các cam kết mở rộng ngoài cam kết xóa bỏ thuế quan (như tự do hóa dịch vụ, đầu tư và các cam kết khác) đối với FDI Để lấp vào khoảng trống nghiên
cứu đó, luận án xây dựng khung phân tích tác động, làm rõ các kênh tác động và
các yếu tố ảnh hướng tới tác động của FTA thế hệ mới đối với FDI vào các nước thành viên Khung phân tích này được sử dụng để xác định xem EVFTA có các tác động tích cực và tiêu cực như thế nào đến dòng vốn FDI vào Việt Nam; nhận diện các ngành mà FDI vào các ngành đó chịu tác động nhiều nhất; cũng như các kênh tác động chính trong ngắn hạn và dài hạn
Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy FTA có tác động tích cực đến FDI, bao gồm cả FDI nội khối và FDI ngoại khối mặc dù mức độ và các yếu tố tác động của các FTA đối với FDI là khác nhau Các nghiên cứu đánh giá tác động hậu kỳ khi FTA đã có hiệu lực thường sử dụng mô hình kinh tế lượng Trong khi đó, các nghiên cứu đánh giá tác động tiền kỳ khi FTA chưa có hiệu lực thường
sử dụng mô hình cân bằng tổng thể khả toán CGE, mô hình kinh tế lượng và điều tra khảo sát doanh nghiệp Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm nhất định, trong đó các nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng còn một số hạn chế trong việc lựa chọn biến đưa vào mô hình (như chưa xem xét đến yếu tố hội nhập khu vực, chất lượng lao động, trình độ công nghệ, ) hoặc việc lựa chọn biến đại diện chưa phù
hợp Trong luận án, tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động
Trang 40dự kiến của EVFTA đối với FDI từ EU vào Việt Nam Mô hình được xây dựng dựa trên sự kế thừa từ các nghiên cứu trước đây, đồng thời điều chỉnh một số biến cho phù hợp hơn
Cuối cùng, các nghiên cứu đánh giá tác động của EVFTA đối với Việt Nam
từ năm 2011 đến nay sử dụng mô hình CGE, mô hình trọng lực, mô hình cân bằng từng phần và khảo sát doanh nghiệp đều chỉ ra tác động rất tích cực của EVFTA đối với các nền kinh tế thành viên Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu đánh giá tác động đến tăng trưởng GDP, thương mại, việc làm, đầu tư nói chung chứ chưa có nghiên cứu chuyên sâu đánh giá tác động tới FDI vào Việt Nam Ngoài ra, tác động của FTA đối với FDI phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố của nước chủ nhà Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của EVFTA tới FDI vào Việt Nam xem xét đến tác động của các yếu tố này Bên cạnh đó, đến nay chưa có nghiên cứu nào phân tích và đánh giá cụ thể về thực trạng FDI từ EU vào Việt Nam
Để lấp vào khoảng trống đó, luận án tập trung đánh giá tác động của EVFTA đến FDI vào Việt Nam Tác giả xây dựng khung phân tích tác động; sau đó áp dụng để phân tích tác động dự kiến của EVFTA đối với FDI vào Việt Nam Luận án cũng xây dựng mô hình kinh tế lượng xem xét các yếu tố tác động đến dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước EU sang các nước đang phát triển, trong đó có tính đến yếu tố cùng tham gia FTA Tác giả đồng thời tiến hành phỏng vấn chuyên gia để kiểm chứng lại kết quả từ các phương pháp nghiên cứu khác Thực trạng dòng vốn
FDI từ EU vào Việt Nam cũng được phân tích và đánh giá cụ thể trong luận án