Chính về thế, rất cần có những nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích không gian để xem xét các nhân tố một cách tổng thể, bao gồm cả những nhân tố hút cấp địa phương và sự phù hợp của nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THANH MAI
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THANH MAI
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn
2 TS Nguyễn Cẩm Nhung
HÀ NỘI - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong
Luận án là trung thực, khách quan, được trích dẫn rõ ràng và đúng quy định Tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của các số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài Luận án, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, khuyến khích, động viên từ các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Nhà trường, lãnh đạo Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Phòng Đào tạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hồng Sơn, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung Ương, đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, đưa ra những lời khuyên và định hướng sâu sắc trong suốt quá trình tôi thực hiện Luận án Tôi cũng xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Cẩm Nhung, Giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN đã hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp - những người đã luôn động viên, khuyến khích tôi hoàn thành Luận án
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tổng quan chung về các nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI 9
1.1.1 Cấp độ nghiên cứu 9
1.1.2 Các trường phái lý thuyết chính được sử dụng 10
1.1.3 Các nhóm nhân tố chính được phân tích và mức độ ảnh hưởng 13
1.1.4 Mô hình nghiên cứu được sử dụng 20
1.2 Các nghiên cứu nước ngoài phân tích ở cấp độ địa phương 22
1.2.1 Các nhân tố được phân tích và mức độ ảnh hưởng 22
1.2.2 Mô hình phân tích được sử dụng 27
1.3 Các nghiên cứu phân tích ở cấp độ tỉnh, thành phố tại Việt Nam 29
1.3.1 Các nghiên cứu sử dụng mô hình biến công cụ phi không gian 29
1.3.2 Các nghiên cứu sử dụng mô hình biến công cụ không gian 31
1.4 Khoảng trống nghiên cứu 32
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP FDI 35
2.1 Cơ sở lý luận về FDI và doanh nghiệp FDI 35
2.1.1 Cơ sở lý luận về FDI 35
2.1.2 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp FDI 39
2.2 Cơ sở lý luận về việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI 44
2.2.1 Định nghĩa về việc lựa chọn địa điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài 44
2.2.2 Các tiếp cận lý thuyết về những nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI 45
2.3 Khung phân tích 56
2.3.1 Bối cảnh quốc tế 57
2.3.2 Các nhân tố chung ở cấp quốc gia 58
Trang 62.3.3 Các nhân tố hút cấp tỉnh 58
2.3.4 Động cơ của doanh nghiệp gắn với sự tương tác không gian 65
2.3.5 Chính sách thu hút FDI cấp địa phương 66
2.4 Kết luận chương 2 68
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 70
3.1 Cách tiếp cận và thiết kế tổng thể nghiên cứu 70
3.1.1 Cách tiếp cận 70
3.1.2 Thiết kế tổng thể nghiên cứu 71
3.2 Quy trình nghiên cứu 73
3.3 Phương pháp thu thập tài liệu - dữ liệu 74
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 75
3.4.1 Phân tích định tính 75
3.4.2 Phân tích định lượng 76
3.5 Kết luận chương 3 92
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG PHÂN BỐ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM 93
4.1 Tổng quan về thực trạng và kết quả hoạt động của khu vực DN FDI tại Việt Nam 93
4.1.1 Thực trạng FDI 93
4.1.2 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 99
4.2 Thực trạng phân bố FDI và kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI theo địa phương 105
4.2.1 Thực trạng phân bố FDI theo vùng, địa phương 105
4.2.2 Kết hoạt động của doanh nghiệp FDI theo địa phương 111
4.3 Kết luận chương 4 117
CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TỚI VIỆC LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM 119
5.1 Mức độ hấp dẫn tổng thể của Việt Nam đối với doanh nghiệp FDI và các nhân tố cấu thành 119
Trang 75.1.1 Mức độ hấp dẫn tổng thể 119
5.1.2 Các nhân tố cấu thành 126
5.2 Ảnh hưởng của các nhân tố hút cấp tỉnh 139
5.2.1 Thống kê mô tả 139
5.2.2 Các thủ tục ước lượng 142
5.2.3 Kết quả ước lượng 144
5.3 Động cơ của doanh nghiệp FDI gắn với sự tương tác không gian 154
5.3.1 Động cơ theo chiều ngang “thuần nhất” 154
5.3.2 Động cơ thương mại vùng 155
5.3.3 Động cơ theo chiều dọc “thuần nhất” 159
5.3.4 Động cơ theo chiều dọc phức 165
5.4 Chính sách thu hút FDI cấp địa phương 168
5.4.1 Chủ trương, chính sách phân cấp quản lý đầu tư tại Việt Nam và ảnh hưởng 168
5.4.2 Chính sách quản lý, ưu đãi đầu tư cấp tỉnh và ảnh hưởng 173
5.5 Kết luận chương 5 181
CHƯƠNG 6 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI 183
6.1 Các kết quả nghiên cứu chính 183
6.1.1 Kết quả từ phân tích thực trạng phân bố FDI ở Việt Nam 183
6.1.2 Kết quả từ phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn tổng thể của Việt Nam 184
6.1.3 Kết quả từ mô hình kinh tế lượng phân tích ảnh hưởng của các nhân tố hút cấp tỉnh 186
6.1.4 Kết quả từ phân tích động cơ của doanh nghiệp FDI 188
6.1.5 Kết quả phân tích các chính sách thu hút FDI cấp địa phương 190
6.2 Xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và khu vực; bối cảnh mới và cơ hội, thách thức đối với Việt Nam như một điểm đến đầu tư 192
6.2.1 Xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và khu vực 192
Trang 86.2.2 Bối cảnh mới và ảnh hưởng tới dòng FDI vào Việt Nam 198
6.3 Một số hàm ý chính sách 208
6.3.1 Các hàm ý chính sách cho Chính phủ nhằm tăng mức độ hấp dẫn tổng thể của Việt Nam 209
6.3.2 Các hàm ý chính sách cho chính quyền địa phương nhằm phát triển nhân tố hút cấp tỉnh phù hợp với động cơ doanh nghiệp FDI 213
6.4 Hạn chế của nghiên cứu và một số hướng nghiên cứu tiếp theo 218
6.5 Kết luận chương 6 220
KẾT LUẬN 221
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 223
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 224
PHỤ LỤC 249
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASEAN Association of Southeast
5 BOT Build - Operate - Transfer Hợp đồng xây dựng - kinh
doanh - chuyển giao
7 BT Build - Transfer Hợp đồng xây dựng - chuyển
giao
8 BTO Build - Transfer - Operated Hợp đồng xây dựng - chuyển
giao - kinh doanh
9 CLMV Cambodia, Laos, Mynamar
and Vietnam
Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam
11 COVID-19 Virus corona 2019 Bệnh vi-rút corona
12 CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
13 CPI Corruption Perceptions
15 CTPPP
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác toàn diện
và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
19 EFI Index of Economic Freedom Chỉ số tự do kinh tế
Trang 10STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
20 EPZs Export Processing Zones Khu chế xuất
21 EGDI E-Government Development
23 EVFTA EU-Vietnam Free Trade
Agreement
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
24 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
25 FIA Foreign Investment Agency Cục đầu tư nước ngoài
26 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
27 GCI 4.0 Global Competitiveness
Index 4.0
Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0
28 GCI Global Cybersecurity Index Chỉ số an toàn thông tin toàn
cầu
29 GII Global Innovation Index Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn
cầu
30 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
31 GRDP Gross Regional Domestic
32 GSO General Statistics Office of
33 GVC Global Value Chain Chuỗi giá trị toàn cầu
34 HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người
35 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
36 IPO Initial Public Offering Phát hành công khai lần đầu
37 IPRI International Property Rights
38 IZs Industrial Zones Khu công nghiệp
41 M&A Mergers and Acquisitions Mua lại và sáp nhập
42 MNCs Multinational Companies Công ty đa quốc gia
43 MNEs Multinational Enterprises Doanh nghiệp đa quốc gia
Trang 11STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
44 MPI Ministry of Planning and
46 LPI Logistics Performance Index Chỉ số hiệu quả logistics
50 OFDI Outward Foreign Direct
Investment Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
51 PCI Provincial Competitiveness
Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
52 PPP Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua
53 PRA Property Rights Alliances Liên minh quyền tài sản quốc
tế
54 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
55 RCEP Regional Comprehensive
Economic Partnership
Hiệp định Ðối tác kinh tế toàn diện khu vực
56 SEZs Special Economics Zones Khu kinh tế đặc biệt
60 UNCTAD United Nations Conference
on Trade and Development
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
61 UNIDO United Nationns Industrial
Development Organization
Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc
62 USD United States Dollars Đô la Mỹ
64 WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thế giới
65 WIPO World Intellectual Property
Organization
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
66 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
2 Bảng 1.2 Các nhân tố cụ thể được phân tích 19
3 Bảng 2.1 Lựa chọn chiến lược thâm nhập thị trường nước
4 Bảng 2.2 Động cơ của công ty đa quốc gia trong việc đầu tư
5 Bảng 2.3
Tóm tắt dấu hiệu dự kiến của các hệ số ảnh hưởng của “FDI vào các tỉnh lân cận” và “Quy mô thị trường các tỉnh lân cận” theo hình thức FDI
56
6 Bảng 2.4
Dấu hiệu dự kiến của các hệ số ảnh hưởng của
“FDI vào các tỉnh lân cận” và “Quy mô thị trường các tỉnh lân cận” theo động cơ và mục tiêu
66
7 Bảng 3.1 Bảng thiết kế nghiên cứu tổng thể của luận án 71
8 Bảng 3.2 Các mô hình kinh tế lượng không gian 78
9 Bảng 3.3 Các biến số sử dụng trong nghiên cứu 93
10 Bảng 4.1 FDI tại Việt Nam theo ngành lũy kế đến hết năm
11 Bảng 4.2
Số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả SXKD tại thời điểm 31/12/2018 theo loại hình doanh nghiệp
99
12 Bảng 4.3 Tỷ suất lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
đang hoạt động có kết quả SXKD (%) 102
13 Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của
104
16 Bảng 4.7 Tỷ lệ số dự án và vốn FDI đăng ký tích luỹ theo
vùng (luỹ kế tới tháng 12/2020) 108
Trang 13STT Bảng Nội dung Trang
17 Bảng 4.8 10 tỉnh, thành phố có chỉ số hiệu quả FDI trung
18 Bảng 4.9
Top 10 tỉnh, thành phố có số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả SXKD lớn nhất tại thời điểm 31/12/2018
112
19 Bảng 4.10
Nguồn vốn của DN FDI đang hoạt động có kết quả SXKD tại thời điểm 31/12/2018 tại các địa phương
113
20 Bảng 4.11 20 tỉnh, thành phố có tốc độ tăng vốn trung bình
21 Bảng 4.12 Doanh thu thuần của doanh nghiệp FDI tại các địa
25 Bảng 5.2 Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam so với các
quốc gia khác tại Đông Nam Á (%) 123
26 Bảng 5.3 Bảng so sánh mức lương tối thiểu tại các nước
32 Bảng 5.9 Thống kê số liệu chéo giữa các biến phụ thuộc và
biến cảng biển, sân bay quốc tế 150
33 Bảng 5.10 Khối lượng hàng hóa vận chuyển thông qua cảng
biển, cảng thủy nội địa và cảng hàng không 150
Trang 14STT Bảng Nội dung Trang
34 Bảng 5.11 Top 10 thành phố có chỉ số hiệu quả FDI cao nhất
35 Bảng 5.12 Tỉ lệ xuất khẩu hàng hóa phân theo ngành kinh tế
36 Bảng 5.13 Các thương vụ M&A lớn của nhà đầu tư nước
37 Bảng 5.14
Hiệu suất sử dụng lao động trong DN đang hoạt động có kết quả SXKD theo loại hình doanh nghiệp
165
38 Bảng 5.15
Cung ứng nguyên liệu thô và trung gian cho các
DN FDI phân theo hình thức đầu tư và vùng kinh
tế trọng điểm năm 2016
166
39 Bảng 5.16 Một số chỉ tiêu của chỉ số thành phần Môi trường
Trang 15DANH SÁCH CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Số lượng các nghiên cứu phân tích sự phân bố FDI ở
2 Hình 2.1 Khung lý thuyết chung của luận án 57
3 Hình 2.2 Khung phân tích các nhân tố hút cấp tỉnh 60
5 Hình 4.1 Tổng vốn đăng ký (triệu USD), vốn thực hiện (triệu
USD) và số dự án vào Việt Nam, giai đoạn 1991-2020 93
6 Hình 4.2 Chỉ số hiệu quả FDI của các nước ASEAN, 2010-2019 95
7 Hình 4.3 FDI vào Việt Nam theo đối tác đầu tư, lũy kế đến tháng
8 Hình 4.4 Cơ cấu ngành của doanh nghiệp FDI theo quy mô vốn 100
9 Hình 4.5 Top 10 ngành có tổng doanh thu lớn nhất năm 2010 và
10 Hình 4.6 Top 10 ngành sử dụng nhiều lao động nhất năm 2010 và
11 Hình 4.7 FDI được cấp giấy phép tại Việt Nam theo vùng kinh tế 106
12 Hình 4.8 Dòng FDI vào các khu vực, giai đoạn 2010-2020 107
13 Hình 4.9 FDI vào các tỉnh, lũy kế đến hết năm 2020 110
14 Hình 4.10 Thu nhập bình quân của người lao động làm việc tại
các doanh nghiệp FDI theo địa phương 117
15 Hình 5.1 Chỉ số nghiêm ngặt trong kiểm soát COVID-19 122
16 Hình 5.2 So sánh xếp hạng chỉ số Môi trường kinh doanh của
17 Hình 5.3 Thứ hạng và điểm số chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu
18 Hình 5.4 So sánh điểm số trong chỉ số Quyền tài sản quốc tế của
Việt Nam và các nước trong ASEAN được xếp hạng 125
19 Hình 5.5 Các trụ cột năng lực cạnh tranh của Việt Nam 127
Trang 16STT Hình Nội dung Trang
20 Hình 5.6 NSLĐ xã hội tại Việt Nam và tốc độ tăng NSLĐ theo
21 Hình 5.7 Tốc độ tăng NSLĐ giai đoạn 2011-2020 (%) 129
22 Hình 5.8 Các trụ cột năng lực cạnh tranh của Việt Nam có thứ
25 Hình 5.11 Xếp hạng và điểm số cấu phần CSHT thuộc chỉ số GII 132
26 Hình 5.12 Các chỉ số thành phần của chỉ số CSHT - Việt Nam 133
27 Hình 5.13 So sánh xếp hạng chỉ số Hiệu quả logistics của Việt
28 Hình 5.14 So sánh cấu phần CSHT thuộc chỉ số GII giữa Việt
29 Hình 5.15 Điểm số thành phần của chỉ số Tự do Kinh tế ở Việt
32 Hình 5.18 Đánh giá của DN FDI về khả năng cung ứng đầu vào
33 Hình 5.19 Mối quan hệ giữa chỉ số PCI và lượng FDI vào một tỉnh 154
34 Hình 5.20 Trị giá xuất khẩu hàng hóa của khu vực DN FDI (Đơn
35 Hình 5.21 FDI đăng ký vào một số ngành dịch vụ (Triệu USD) 157
36 Hình 5.22 FDI đăng ký vào ngành Khai khoáng và Bất động sản
Trang 17STT Hình Nội dung Trang
37 Hình 5.23 Quy mô lao động trung bình của DN FDI theo ngành
38 Hình 5.24 Mức lương tối thiểu tại Việt Nam 2010-2020 162
39 Hình 5.25 Chỉ số Cơ sở hạ tầng của các tỉnh năm 2020 163
40 Hình 5.26
Tỉ lệ mua các nguyên liệu và thành phân thô đầu vào của các công ty chế biến chế tạo Nhật Bản từ các doanh nghiệp trong nước
43 Hình 6.1 Dòng FDI: Thế giới và một số nhóm nước, 2010-2020 192
44 Hình 6.2 Tỉ lệ dòng FDI toàn cầu vào các nhóm nước giai đoạn
45 Hình 6.3 Dòng FDI theo khu vực, 2019 và 2020 (tỷ USD) 194
46 Hình 6.4 Dòng FDI vào khu vực ASEAN và với thế giới 196
47 Hình 6.5 FDI vào ASEAN theo nước nhận đầu tư (tỷ USD) 197
48 Hình 6.6 Bối cảnh mới và tác động đến FDI vào Việt Nam 205
49 Hình 6.7 Địa điểm ưa thích để dịch chuyển hoạt động sản xuất
50 Hình 6.8 Những thách thức chủ yếu đối với các công ty đã và
đang cân nhắc dịch chuyển khỏi Trung Quốc 207
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của luận án
Trong những thập kỷ vừa qua, sự thay đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh tế chính trị toàn cầu đã làm gia tăng nhanh chóng hoạt động của các doanh nghiệp đa quốc gia (Multinational Enterprises - MNEs), trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) được coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất Trong nhiều vấn đề chính liên quan tới FDI, việc lựa chọn địa điểm đầu tư là một vấn đề phức tạp, đa chiều và là một trong những quyết định chiến lược quan trọng vì nó ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của MNEs ở nước ngoài, đồng thời tác động tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia/vùng nhận đầu tư (Galan và cộng sự, 2007,
Li và Park, 2009; Wei, 1997) Nhiều học giả còn cho rằng quyết định lựa chọn địa điểm phân tán FDI là một trong những quyết định quan trọng nhất của MNEs khi tiến hành hoạt động đầu tư (Buckley và Casson, 2016; Nachum và Zaheer, 2005)
Về mặt lý luận, chủ đề này được nghiên cứu bởi nhiều phương pháp và cách tiếp cận khác nhau nhằm trả lời một số câu hỏi chính là tại sao doanh nghiệp lại lựa chọn phân bố FDI của họ ở nơi này không phải nơi khác? Đâu là những nhân tố tác
động tới sự phân bố đó? Mặc dù đã có nhiều công trình về vấn đề này nhưng vẫn còn
nhiều khía cạnh chưa được giải quyết, nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ cũng như còn có những hạn chế về phương pháp và dữ liệu Do bản chất phức tạp, đa chiều và tính
quan trọng của hiện tượng này mà trên thực tế không có một dòng lý thuyết và cách tiếp cận đơn lẻ nào có thể giải thích tất cả các khía cạnh trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI (Seyf, 2001) Như được nhấn mạnh bởi Nielsen và cộng
sự (2017), cơ sở lý thuyết về chủ đề này thường phân mảnh, bao gồm những những mặt nhỏ từ những trường phái khác nhau Chính vì thế, chưa có sự đồng thuận về các nhân tố cũng như ảnh hưởng của những nhân tố này đến sự lựa chọn địa điểm đầu tư
ở nước ngoài của doanh nghiệp Do vậy, việc thực hiện thêm các nghiên cứu về chủ
đề này với các phương pháp mới trong bối cảnh mới sẽ giúp tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Ngoài ra, về cấp độ nghiên cứu, kết quả tổng quan cho thấy phần lớn các học
giả phân tích tại sao doanh nghiệp lựa chọn đầu tư vào quốc gia này mà không phải quốc gia khác, tức là phân tích ở cấp độ vĩ mô Trong đó, các nghiên cứu chủ yếu giải
Trang 19thích nguyên nhân FDI vào những nước lớn như Mỹ và Trung Quốc Chưa có nhiều nghiên cứu ở cấp độ địa phương, đặc biệt là các quốc gia nhỏ và những nền kinh tế đang phát triển Số lượng các nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam còn rất ít, với nhiều hạn chế về khung lý thuyết, phương pháp và kết quả nghiên cứu Chính vì thế, rất cần có các nghiên cứu để bổ sung cho những thiếu sót trong chủ đề ở Việt Nam
Thêm nữa, một trong những vấn đề phức tạp khi phân tích quyết định lựa chọn
địa điểm đầu tư là động cơ của các MNEs gắn với sự tương tác không gian giữa các địa điểm Một số học giả, chẳng hạn như Blonigen và cộng sự (2007), Baltagi và cộng
sự (2007), Gutiérrez‐Portilla và cộng sự (2020) hay Maza và cộng sự (2020), v.v đã chỉ ra rằng khi lựa chọn một địa phương để đầu tư, MNEs không chỉ xem xét các nhân tố hút của địa phương đó, mà còn của các địa phương lân cận - điều này phụ thuộc vào động cơ đầu tư của họ Khuynh hướng phân tích tương tác không gian gắn với động cơ của doanh nghiệp đang ngày càng gia tăng nhưng số lượng còn hạn chế, đặc biệt là ở Việt Nam Chính về thế, rất cần có những nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích không gian để xem xét các nhân tố một cách tổng thể, bao gồm cả những nhân tố hút cấp địa phương và sự phù hợp của những nhân tố đó với động cơ và mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn, Việt Nam là một lựa chọn thú vị để phân tích việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI Trong suốt hơn ba mươi năm qua kể từ khi
thi hành chính sách đổi mới, Việt Nam luôn được coi là điểm đến hấp dẫn và là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp FDI Tuy từng nằm trong tốp 15 nước hấp dẫn đầu
tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2010 đến 2012 (Kearney, 2015), nhưng kể từ năm
2014 đến nay, Việt Nam đã không còn trong tốp 25 (Kearney, 2020) Trên thực tế, các khung chính sách mở cửa đã trở nên quá phổ biến và không còn đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, chính phủ cần chú trọng hơn đến lợi thế của các địa phương để thu hút FDI vào các vùng và khu vực kinh tế trọng điểm
Đối với các địa phương, vì nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội nên các tỉnh/ thành phố đều rất chủ động trong hoạt động
quảng bá và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, nhìn vào thực tế phân bố FDI và
chính sách thu hút FDI ở Việt Nam, thấy có hai vấn đề lớn đặt ra
Thứ nhất, hiện nay doanh nghiệp FDI có xu hướng chỉ lựa chọn đầu tư vào
một số tỉnh và thành phố nhất định, trong khi một số địa phương khác lại không thu
Trang 20hút được dòng vốn từ nước ngoài - xu hướng này không thay đổi nhiều qua thời gian Tính đến hết năm 2020, doanh nghiệp FDI đã có mặt tại tất cả các tỉnh, thành phố của Việt Nam nhưng chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ và đồng Bằng sông Hồng, trong
đó TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội và một số địa phương lân cận như Bà Rịa -Vũng Tàu, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Hà Tĩnh lại thu hút một lượng lớn vốn đầu tư Mặc dù có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng sự chênh lệch trong phân bố FDI là một trong những lý do quan trọng dẫn đến khoảng cách phát triển lớn giữa các vùng miền, địa phương tại Việt Nam (Le, 2007; Nguyễn Mại, 2018; UNCTAD, 2008) Những tỉnh/thành phố thu hút được lượng lớn FDI thì thường có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Ngược lại, những tỉnh nghèo nhất của Việt Nam thường thu hút được một lượng rất nhỏ FDI
Thứ hai, vì tác động tích cực của FDI đối với tăng trưởng kinh tế địa phương
nên các tỉnh/ thành phố đang cạnh tranh ngầm trong thu hút FDI và tạo ra một cuộc cạnh tranh xuống đáy (Nguyên Đức, 2018) Các tỉnh liên tục hạ điều kiện cấp phép
và đưa ra các ưu đãi để thu hút doanh nghiệp FDI nhanh nhất Tuy nhiên, chính sách
ưu đãi không phải là nhân tố duy nhất tạo nên sức hấp dẫn của một địa phương Việc liên tiếp đưa ra các ưu đãi có thể đem lại hệ luỵ là những nhà đầu tư, nhất là những nhà đầu tư lớn, có mục tiêu dài hạn sẽ cảm thấy không tin tưởng Ngoài ra, mối quan
hệ hợp tác và liên kết giữa các địa phương trong thu hút đầu tư còn hạn chế Tình trạng cục bộ địa phương trong thu hút đầu tư còn khá phổ biến, gây nên mâu thuẫn
giữa các địa phương lân cận trong xây dựng và thực thi chính sách Điều này cho thấy
chính quyền các địa phương vẫn chưa hiểu được đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp
Để giải quyết được những hạn chế trên, việc hiểu được nguyên nhân vì sao các doanh nghiệp nước ngoài lại có xu hướng lựa chọn đầu tư tại một số địa phương là rất quan trọng Đây sẽ là cơ sở để các nhà quản lý của Việt Nam lập và thực thi những chính sách phù hợp để thu hút FDI phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động như hiện nay
Vì những lý do về mặt lý luận và thực tiễn như trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” Tác giả sẽ cố gắng khỏa lấp một phần
khoảng trống nghiên cứu, và làm giàu thêm tri thức trong lĩnh vực này, cũng như đưa
Trang 21ra những hàm ý dựa trên bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam
để lập và thực thi những chính sách thu hút FDI phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động như hiện nay
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chính luận án là xác định và phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư (theo tỉnh, thành phố) của doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý cho chính phủ để hoạch định những chính sách phù hợp nhằm thu hút FDI trong bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới và trong nước
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung như trên, luận án sẽ lần lượt giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, xây dựng khung lý thuyết để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng tới
việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI theo tỉnh, thành phố ở Việt Nam
Thứ hai, phân tích thực trạng phân bố FDI ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn địa điểm đầu
tư của doanh nghiệp FDI theo tỉnh, thành phố ở Việt Nam
Thứ tư, đưa ra các hàm ý cho Nhà nước và chính quyền địa phương để hoạch
định chính sách thu hút FDI phù hợp trong bối cảnh mới của thế giới và trong nước
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án này “Nhân tố nào ảnh hưởng đến việc
lựa chọn địa điểm đầu tư (theo tỉnh, thành phố) của doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào?”
Để trả lời được câu hỏi chính này, luận án sẽ trả lời các câu hỏi nhỏ như sau:
- Nhân tố nào ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI trong phạm vi một quốc gia?
- Thực trạng phân bố FDI ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Ảnh hưởng của các nhân tố tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI theo tỉnh, thành phố ở Việt Nam như thế nào?
- Nhà nước cần có những chính sách gì để chủ động thú hút FDI trong bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới và Việt Nam?
Trang 223 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận án này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu chính là các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi thời gian
- Số liệu về thực trạng phân bố đầu tư của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại đây: từ 2010 -2020
- Số liệu ước lượng cho mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của các nhân
tố cấp tỉnh từ 2015-2019 Năm 2015 là mốc quan trọng đối với hoạt động FDI tại Việt Nam - đây là thời điểm sau khi Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thực thi, là luật chung cho mọi thành phần kinh tế, chính thức về mặt pháp lý không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân Đặc biệt, đây cũng là thời điểm mà sự phân cấp trong quản lý hoạt động FDI cho chính quyền cấp tỉnh gia tăng mạnh mẽ gắn
với đầu tư
3.2.2 Phạm vi không gian
- FDI của tất cả các nước vào 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam (được đo bằng
tổng FDI đăng ký vào các tỉnh, thành phố)
3.2.3 Phạm vi nội dung
- Tác giả lựa chọn phân tích “doanh nghiệp FDI” là “toàn bộ” các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, thể hiện bằng tổng giá trị FDI đăng ký tại các tỉnh thành chứ không phải là từng doanh nghiệp FDI “riêng lẻ”
- Khi phân tích “việc lựa chọn địa điểm đầu tư”, tác giả chỉ phân tích kết quả
của việc lựa chọn - khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư tại một khu vực địa
lý thì sẽ đến số lượng/giá trị FDI cao tại khu vực đó Trên thực tế, việc lựa
chọn địa điểm đầu tư là một quá trình (Nielsen và cộng sự, 2017) Tuy nhiên,
do hạn chế về khả năng tiếp cận những người tham gia vào quá trình này nên
tác giả chỉ phân tích kết quả lựa chọn.Wacker (2016) đã chỉ ra rằng số liệu
FDI tích lũy hay dòng FDI có thể dùng để đại diện cho kết quả lựa chọn về địa điểm đầu tư của MNEs Những số liệu này cũng thường được sử dụng trong
các nghiên cứu trước đây về chủ đề này
Trang 23- Giữa các nhân tố hút và đẩy ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của
doanh nghiệp FDI, tác giả chỉ phân tích các nhân tố hút hay các nhân tố tạo
nên sức hấp dẫn của một địa phương đối với nhà đầu tư Tác giả không phân
tích các nhân tố đẩy do hiện nay Việt Nam nhận đầu tư của doanh nghiệp đến
từ 139 quốc gia và vùng lãnh thổ nên việc nghiên cứu các nhân tố đẩy là khó thực hiện và những hàm ý đưa ra cho các quốc gia đó là không cần thiết Tác giả sẽ làm rõ hơn về sự lựa chọn phạm vi nội dung nghiên cứu trong Chương 2 - Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu
tư của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả tổng quan cho thấy mặc dù số lượng các công trình phân tích các nhân
tố tác động quyết định lựa chọn phân bố vốn đầu tư nước ngoài là rất lớn, tuy nhiên vẫn còn khoảng trống tri thức để tiếp tục tìm hiểu Nghiên cứu này sẽ góp phần khoả lấp một phần khoảng trống tri thức đó Cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu được tiến hành ở cấp độ địa phương Kết quả tổng quan
tài liệu chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu phân tích tại sao doanh nghiệp lựa chọn đầu tư vào một quốc gia mà đánh giá quá thấp tính không đồng nhất giữa các địa phương trong cùng một quốc gia
Thứ hai, luận án một trong số ít các nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích
không gian để xem xét các nhân tố một cách tổng thể, bao gồm cả những nhân tố hút cấp địa phương và sự phù hợp của những nhân tố đó với động cơ và mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài
Thứ ba, luận án đã xây dựng được khung phân tích đa chiều để nhận diện các
nhân tố tác động tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, dựa trên sự tích hợp của 4 dòng lý thuyết, gồm có: (1) Lý thuyết chiết trung; (2) Cách tiếp cận thể chế cấp địa phương; (3) Lý thuyết địa lý kinh tế về hiệu quả kinh tế do quần tụ; và (4) Lý thuyết về động cơ của các công ty đa quốc gia gắn với sự tương tác không gian Khung phân tích đã chỉ ra 04 nhóm nhân tố: (i) Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn tổng thể của Việt Nam; (ii) Các nhân tố hút cấp tỉnh; và (iii) Động cơ của doanh nghiệp và (iv) Các chính sách ưu đãi cấp địa phương
Trang 24Thứ tư, luận án đã phân tích được thực trạng thu hút và phân bố đầu tư của
doanh nghiệp FDI ở Việt Nam từ nhiều khía cạnh và chỉ tiêu khác nhau Đồng thời, luận án cũng phân tích được kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Thứ năm, luận án đã phân tích cụ thể ảnh hưởng của các nhân tố ở các cấp độ
khác nhau tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, trong khi các nghiên cứu trước đây thường chỉ phân tích ở một cấp độ Ở cấp độ quốc gia, người viết đã phân tích được mức độ hấp dẫn tổng thể của Việt Nam và những nhân
tố cấu thành Ở cấp tỉnh, nghiên cứu đã lượng hoá ảnh hưởng của các nhóm nhân tố
(Quy mô thị trường, Lao động, Cơ sở hạ tầng, Hiệu quả quần tụ doanh nghiệp và Chất lượng thể chế và chính sách) dựa trên mô hình tự tương quan không gian (SAR) và
mô hình SAR mở rộng Đặc biệt, dựa trên dấu hiệu của biến tương tác không gian trong mô hình SAR và SAR mở rộng, tác giả đã phân tích được hình thức FDI và động cơ/mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp Từ cách tiếp cận thể chế cấp địa phương, luận án đã phân tích và chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong chiến lược, chính sách
ưu đãi, xúc tiến và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp FDI
Thứ sáu, luận án phân tích được bối cảnh mới ảnh hưởng tới dòng FDI vào
Việt Nam; từ đó đưa ra một số hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách để lập và thực thi những chính sách thu hút FDI phù hợp trong bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới và trong nước
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thông tin hữu ích cho các cơ quan quản lý Nhà nước cấp Trung ương và địa phương về những nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các DN FDI ở Việt Nam; từ đó các đối tượng này
có thể đưa ra chính sách phù hợp để tiếp tục thu hút FDI trong bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới và Việt Nam; từ đó góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước như đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII
5 Cấu trúc của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, đồ thị, hình vẽ và các phụ lục, luận án có kết cấu gồm 6 chương như sau:
- Chương 1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- Chương 2 Cơ sở lý luận về những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa
điểm đầu tư của các doanh nghiệp FDI
Trang 25- Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4 Thực trạng phân bố đầu tư của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
- Chương 5 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới việc lựa chọn địa điểm
đầu tư của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
- Chương 6 Các kết quả nghiên cứu chính và hàm ý chính sách cho Việt Nam
trong bối cảnh mới
Trang 26CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trong các chủ đề nghiên cứu về FDI thì sự phân bố về mặt địa lý của FDI và
các nhân tố tác động đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI là một trong những khía cạnh được nhiều học giả lưu tâm nghiên cứu Để trả lời câu hỏi tại
sao FDI lại được doanh nghiệp định vị tại địa điểm này mà không phải địa điểm khác, nhân tố nào tác động đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư cũng như mức độ tác động các nhân tố này, có nhiều trường phái lý thuyết cũng như phương pháp được sử dụng
để phân tích ở các bối cảnh nghiên cứu khác nhau Trong điều kiện đó, để dựng lại bức tranh tổng quát về các khía cạnh mà luận án quan tâm, tác giả tiến hành tổng thuật một cách hệ thống các nghiên cứu đã có, từ đó xác định được những khoảng trống, đề xuất hướng nghiên cứu để giải quyết và có thể khái quát hóa thành tri thức mới, đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn cho lĩnh vực nghiên cứu này
Kết quả tổng quan trong Chương 1 của luận án này được tổng hợp dựa trên việc rà soát các nghiên cứu liên quan trực tiếp tới các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa
chọn địa điểm đầu tư (FDI location choice) của doanh nghiệp, các nhân tố quyết định địa điểm phân bố đầu tư (FDI location determinants), sự định vị vị trí FDI (FDI
positioning) Tác giả cũng tận dụng kết quả tổng quan của một số học giả khác được
đăng trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín, chẳng hạn như Nielsen và cộng sự (2017), Assunção và cộng sự (2011), Blonigen (2005) hay Lim (2011), v.v
1.1 Tổng quan chung về các nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI
1.1.1 Cấp độ nghiên cứu
Mỗi khi thực hiện một hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và trở thành
doanh nghiệp FDI, công ty phải trả lời câu hỏi quan trọng là hoạt động đó nên được
đặt ở đâu và đâu là yếu tố hấp dẫn họ Kết quả tổng quan cho thấy các học giả chủ yếu phân tích tại sao doanh nghiệp lựa chọn đầu tư vào quốc gia này mà không phải quốc gia khác, tức là phân tích ở cấp độ quốc gia Trong đó, các nghiên cứu chủ yếu
giải thích nguyên nhân FDI vào những nước lớn như Mỹ và Trung Quốc Nielsen và cộng sự (2017) tổng hợp rằng trong số 153 nghiên cứu được rà soát có 90 công trình phân tích ở cấp độ quốc gia Nhóm tác giả cũng cho thấy 44% các nghiên cứu này tập trung vào Trung Quốc và 20% tập trung vào Mỹ Nguyên nhân chủ yếu là do tính
Trang 27sẵn có về dữ liệu ở các quốc gia này Hình 1.1 sau đây thể hiện số lượng các nghiên
cứu về sự phân bố và các nhân tố ở cấp độ vĩ mô ảnh hưởng đến việc lựa chọn nước đầu tư của MNEs
Hình 1.1 Số lượng các nghiên cứu phân tích sự phân bố FDI ở cấp độ vĩ mô
Nguồn: Nielsen và cộng sự (2017, tr.69) Hiện nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu ở cấp độ địa phương, hay nói cách khác là chưa có nhiều công trình phân tích sự phân bố của FDI trong phạm vi một quốc gia, đặc biệt là nước nhỏ và những nền kinh tế đang phát triển Cũng có một số
nghiên cứu ở cấp độ địa phương được thực hiện về FDI ở các khu vực hành chính của Trung Quốc như Kang và Jiang (2012); Ramasamy và cộng sự (2012), hoặc các bang của Mỹ như Kandogan (2012), Rogers và Wu (2012) Đây thường là những khu vực rất lớn, là nơi sinh sống của khoảng từ 6 - 31 triệu người (Nielsen và cộng sự, 2017) Lý thuyết về sự lựa chọn địa điểm đầu tư ở nước ngoài của MNEs vẫn còn khoảng trống kiến thức về sự phân bố FDI tại các khu vực địa phương nhỏ hơn trong phạm vi một quốc gia Theo nhóm tác giả, nguyên nhân chính là do sự thiếu hụt về
số liệu phân tích
1.1.2 Các trường phái lý thuyết chính được sử dụng
Có nhiều trường phái lý thuyết khác để giải thích việc lựa chọn địa điểm FDI, trong đó nhiều nhân tố đã được kiểm định trong các nghiên cứu thực nghiệm Các
cách tiếp cận này gồm có: (1) Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết thương mại cổ điển và
mô hình Heckscher-Ohlin của Ohlin (1933), mô hình MacDougall-Kemp dựa trên
nghiên cứu của Hobson (1914), Jasay (1960), MacDougall (1960) và Kemp (1969), trong đó vốn di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác là do sự khác biệt về tỉ lệ
lợi nhuận trên vốn; (2) Cách tiếp cận liên quan tới lợi thế sở hữu của FDI (gồm có
Việt Nam Romania Ailen Hungary
Trang 28lợi thế độc quyền và lợi thế nội vi hóa) dựa trên mô hình cạnh tranh không hoàn hảo (Hymer, 1960; Zaheer, 1995) và quan điểm cho rằng MNEs là doanh nghiệp với sức
mạnh thị trường; (3) Lý thuyết nội vi hóa của Buckley và Casson (1976) cho rằng
quyết định nội vi hóa (tức là thực hiện FDI) ở một địa điểm sẽ phụ thuộc vào các
nhân tố cụ thể của ngành (ví dụ loại sản phẩm, cấu trúc thị trường và lợi thế kinh tế nhờ quy mô), yếu tố vùng (ví dụ như sự khác biệt về văn hóa và khoảng cách), yếu
tố quốc gia (chẳng hạn như sự khác biệt về chính trị và tài chính), và đặc điểm công
ty (chẳng hạn như kỹ năng quản lý) (4) Lý thuyết chi phí giao dịch (Hennart, 1982;
Williamson, 1987) coi FDI là một thực thể tìm kiếm hiệu quả bên trong để giảm chi
phí giao dịch ở nước ngoài, bao gồm đàm phán, quản lý và thực hiện hợp đồng (5)
Lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon (1966) tập trung vào đặc điểm của sản phẩm
để giải thích sự ra đời của thương mại và đầu tư quốc tế, cho rằng quyết định đầu tư
là sự lựa chọn giữa hai con đường, hoặc là xuất khẩu, hoặc là thực hiện FDI trong các
giai đoạn khác nhau của vòng đời sản phẩm với mục đích tìm kiếm thị trường (6) Lý
thuyết chiết trung (OLI) của Dunning (Dunning, 1980, 1988, 2001) là cách tiếp cận
tích hợp lý thuyết thương mại quốc tế truyền thống, lợi thế sở hữu và lợi thế nội vi
hóa; (7) Lý thuyết thương mại mới (Krugman, 1979; Markusen, 1997) phân biệt việc lựa chọn địa điểm FDI theo chiều dọc và ngang (8) Các tiếp cận dựa trên mô hình
vốn trí thức của Markusen (Markunsen, 1997, 2002), trong đó tác giả tìm ra rằng quy
mô thị trường, mức độ sẵn có về nguồn lực và chi phí vận tải là nguyên nhân giải thích FDI theo chiều ngang và sự khác biệt tương đối trong mức độ sẵn có về nguồn
lực giải thích FDI theo chiều dọc (9) Cách tiếp cận thể chế được xây dựng dựa trên
trường phái kinh tế học thể chế (North, 1990) và xã hội học (Scott, 1995), trong FDI được xem như là kết quả của quá trình thương thảo (bargaining process) giữa MNEs
và chính phủ; (10) Lý thuyết địa lý kinh tế (Marshall và Marshall, 1920; Scott, 1992;
Martin và Sunley, 2003; Porter, 1998), trong đó các tác giả thảo luận về hiệu ứng nền
kinh tế tập trung cùng ngành (agglomeration economies) và hiệu ứng nền kinh tế tập trung liên ngành hay thành phố toàn cầu (global cities) với việc lựa chọn địa điểm FDI
Ngoài ra còn có những mô hình riêng lẻ khó có thể xác định thuộc vào cách tiếp cận nào được đề cập ở trên Chẳng hạn như Gopinath và cộng sự (1999) dựa trên nghiên cứu trước đây của Barrell và Pain (1996) đưa ra một mô hình cấu trúc về FDI
Trang 29Phân tích của các tác giả này chủ yếu dựa trên các nhân tố phía cầu, vì thế mà loại bỏ
đi các nhân tố quan trọng khác như quy mô thị trường và các nhân tố của doanh nghiệp Markusen và Venables (2000) phát triển một mô hình cạnh tranh độc quyền, trong đó thể hiện rằng sự tồn tại của chi phí thương mại sẽ làm thay đổi mô thức thương mại và tạo ra động lực cho việc di chuyển nhân tố vốn, từ đó dẫn tới việc tập trung hoạt động ở một quốc gia và tạo ra các công ty đa quốc gia
Nhìn chung các dòng lý thuyết trên không thay thế lẫn nhau vì chúng giải thích
các khía cạnh khác nhau của cùng một hiện tượng Các lý thuyết này coi việc lựa
chọn địa điểm đầu tư nước ngoài của doanh nghiệp là có chủ đích và được thực hiện một cách lý trí nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và sự hấp dẫn về chi phí yếu tố sản xuất Mục tiêu thứ cấp của các quyết định này là tìm kiếm tài sản và duy trì tỉ suất lợi
nhuận Cách tiếp cận này được phát triển từ việc mở rộng lý thuyết thương mại để
tính đến sự khác biệt của FDI và các mô thức quốc tế hóa khác Dự đoán cơ bản là
các công ty sẽ đưa ra những lựa chọn lý trí, trong đó họ sẽ xem xét ảnh hưởng của các yếu tố của địa điểm dự kiến đầu tư có ảnh hưởng chi phí và lợi ích, từ đó đưa ra những lựa chọn khả thi nhất trong điều kiện giới hạn về nguồn lực và cạnh tranh trên thị trường Bằng chứng về tính hợp lệ của hướng lý thuyết này thường được thể hiện
thông qua các nghiên cứu kinh tế lượng dựa trên dữ liệu bảng Các nghiên cứu này cho thấy rằng các doanh nghiệp đưa ra quyết định lý trí dựa trên sự phù hợp giữa lợi thế cụ thể của công ty và cấu trúc cũng như nhu cầu của thị trường mà họ gia nhập
Trong các trường phái lý thuyết được kể tên ở trên, phần lớn các nghiên cứu
hiện nay dựa trên lý thuyết chiết trung (OLI) của Dunning (1979, 1980, 1988, 1997,
2000, 2001) để xác định và phân tích ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm FDI Lý thuyết này rất phổ biến trong giới học giả nghiên cứu về FDI vì đây là nỗ lực để hiểu nguyên nhân một MNE tiến hành đầu tư ở nước ngoài
từ quan điểm tích hợp và chung nhất Khó có thể tìm ra một lĩnh vực nghiên cứu nào
về hoạt động FDI mà không bị ảnh hưởng, dù là trực tiếp hay gián tiếp, bởi cách giải thích của Dunning về bản chất hoạt động của MNEs và các nhân tố tác động đến sự phân tán hoạt động của họ Lý thuyết OLI cho rằng việc doanh nghiệp lựa chọn đầu
tư trực tiếp nước ngoài và cùng với đó là lựa chọn địa điểm đầu tư sẽ dựa vào ba chân kiềng (hay chính là ba lợi thế: lợi thế sở hữu của doanh nghiệp, lợi thế của địa điểm
dự kiến đầu tư và lợi thế nội vi hóa của FDI so với các hình thức quốc tế hóa khác)
Trang 30Ba chân kiềng này tác động lẫn nhau, mỗi chân kiềng hỗ trợ cho hai chân còn lại và việc FDI có thành công hay không là phụ thuộc vào sự cân bằng của cả ba lợi thế
này Ẩn đằng sau cách tiếp cận chiết trung là quan điểm cho rằng doanh nghiệp càng
có nhiều lợi thế sở hữu, doanh nghiệp càng có lý do để nội hóa hoạt động, và từ đó là cạnh tranh ở quốc gia khác (Campa và Guillén, 1999; Caves, 1996; Dunning, 1998; Dunning và Lundan, 2008) Rất nhiều nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng mạnh để ủng
hộ lập luận của Dunning, mặc dù các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các nhân
tố ở cấp độ quốc gia (Adam và Filippaios, 2007; Agarwal và Ramaswami, 1992; Dunning, 1980; Makino và cộng sự, 2002)
1.1.3 Các nhóm nhân tố chính được phân tích và mức độ ảnh hưởng
Dựa vào rất nhiều cách giải thích về mặt lý thuyết khác nhau về FDI, có thể thấy rằng, khả năng một công ty đầu tư vào một địa phương cụ thể sẽ phụ thuộc vào
rất nhiều nhóm nhân tố khác nhau như được tác giả tổng hợp tại Bảng 1.1 sau đây:
Bảng 1.1 Đặc điểm dự đoán địa điểm FDI Cấp
độ
Định
nghĩa
Nguồn gốc lý thuyết
Học giả tiên phong
Các yếu tố dự đoán địa điểm FDI
Smith (1950);
Ricardo, (1817), Ohlin (1933) Hobson (1914), Jasay (1960), MacDougall (1960) và Kemp (1969)
- Lợi nhuận trên vốn
- Chi phí lao động
- Rủi ro tỉ giá hối đoái
- Các lợi thế địa điểm (L) (trong
mô hình OLI)
Dunning (1980,
1988, 2001)
- Thị trường được bảo hộ
- Hệ thống thuế ưu đãi,
- Chi phí vận chuyển
- Chi phí sản xuất thấp
- Đặc điểm của địa điểm dự kiến đầu
tư (Lý thuyết thương mại mới)
Trang 31Học giả tiên phong
Các yếu tố dự đoán địa điểm FDI
- Mức độ sẵn có về nguồn lực
- Thể chế (Cách tiếp cận thể chế)
North (1990); Scott (1995)
- Các ưu đãi thuế khoá và tài chính
- Thuế quan
- Tỉ lệ thuế doanh nghiệp
- Chất lượng môi trường thể chế
- Sự khác biệt giữa nước nhận đầu tư
và nước đi đầu tư (Lý thuyết quốc
tế hoá theo quá trình)
Johanson và Vahlne (1977;
1990)
- Sự khác biệt về kinh tế, chính vị, văn hoá, xã hội, địa
lý giữa nước nhận đầu tư và nước đi đầu tư
Marshall và Marshall (1920), Scott (1992), Martin và Sunley (2003),
Porter (1998)
- Hiệu ứng tập trung nội ngành
- Hiệu ứng tập trung liên ngành
- Hiệu ứng đô thị hoá
- Đặc điểm cụ thể của ngành (Lý thuyết nội vi hoá)
Buckley và Casson (1976)
- Loại sản phẩm
- Cấu trúc thị trường Yếu tố lợi thế kinh
tế nhờ quy mô Doanh
về chi phí giao dịch, Lý thuyết chiết trung)
- Lợi thể nội vị hoá (Lý thuyết chiết trung, Lý thuyết nội vi hoá)
Hymer (1960), Zaheer (1995), Hennart (1982), Williamson (1985) (Buckley và
Casson, 1976), Dunning (1980), Dunning (1988), Dunning (2001b)
Mức độ đầu tư cho R&D và marketing của MNC
Trang 32Học giả tiên phong
Các yếu tố dự đoán địa điểm FDI
- Hình thức FDI (lý thuyết nội vi hoá, lý thuyết thương mại mới)
Buckley và Casson (1976),
FDI để tìm kiếm nguồn lực, thị trường, hiệu quả hay tài sản chiến lược
- Kiến thức của tổ chức về thị trường quốc tế (mô hình Uppsala)
Johanson và Vahlne (1977, 1990)
- Số lượng chi nhánh trước đó tại địa điểm đầu tư Mối quan hệ với các đối tác ở địa điểm dự kiến đầu tư
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Như được trình bày tại Bảng 1.1, có thể phân chia các nghiên cứu hiện có
thành 03 nhóm chính: (1) Các nghiên cứu giải thích việc lựa chọn địa điểm FDI dựa
trên đặc điểm của địa điểm đầu tư; (2) Các nghiên cứu giải thích dựa trên hiệu ứng quần tụ doanh nghiệp; và (3) Các nghiên cứu giải thích dựa trên đặc điểm của công
ty Cụ thể như sau:
(1) Các nghiên cứu giải thích việc lựa chọn địa điểm đầu tư của MNEs dựa trên đặc điểm của địa điểm đó MNEs - thực thể ra quyết định sẽ phân bố FDI của họ
ở đâu, là một tổ chức nằm trong cấu trúc kinh tế - xã hội gắn kết gồm có bối cảnh khu
vực (Arregle và cộng sự, 2009; Arregle và cộng sự, 2013; Banalieva và Dhanaraj,
2013; Gilbert và Heinecke, 2014); quốc gia và địa phương (Nielsen và Nielsen,
2010) Đặc điểm của mỗi cấp độ trên là phụ thuộc lẫn nhau và có ảnh hưởng đồng thời đến quyết định đầu tư của MNCs Tác động của những đặc điểm của địa điểm
dự kiến đầu tư ở các cấp độ khác nhau được giải thích bởi lý thuyết thương mại cổ điển (được thể hiện ở mức độ sẵn có của nguồn lực; quy mô thị trường, lợi thế so sánh); hay lợi thế địa điểm (L) trong lý thuyết OLI; đặc điểm của địa điểm đầu tư trong lý thuyết thương mại mới (thể hiện ở quy mô thị trường; chi phí vận chuyển; rào cản gia nhập ngành và mức độ sẵn có về nguồn lực) Một đặc điểm quan trọng
Trang 33của địa điểm dự kiến đầu tư là thể chế được thể hiện trong cách tiếp cận thể chế Đó
có thể là thể chế ở cấp độ quốc gia và/hoặc sự khác biệt về mặt thể chế giữa các khu vực khác nhau trong phạm vi một quốc gia Các đặc điểm về môi trường thể chế cấp địa phương bao gồm những chính sách ưu đãi về tài khóa như thuế, trợ cấp, ưu đãi
về quy trình, thủ tục (Oman, 2000)
(2) Các nghiên cứu giải thích mức độ tập trung của FDI ở một số địa điểm cụ thể dựa vào đặc điểm ngành hay còn gọi là hiệu ứng nền kinh tế tập trung, chẳng hạn như Blonigen (2005), Esiyok và Ugur (2017), Hoang và Goujon (2014), Kayam và
cộng sự (2013); Nwaogu (2012) Lý thuyết địa lý kinh tế giải thích rằng sự tập trung của các doanh nghiệp (dù là doanh nghiệp cùng ngành, ngành liên quan hoặc khác ngành) trong một khu vực cụ thể sẽ có tác động quan trọng tới quyết định đặt cơ sở sản xuất của doanh nghiệp FDI
(3) Các nghiên cứu giải thích việc lựa chọn địa điểm đầu tư dựa vào đặc điểm
của công ty Các nghiên cứu này thường dựa vào yếu tố lợi thế sở hữu (như được đưa
ra trong lý thuyết chiết trung (Dunning, 1980, 1988, 2001b), lý thuyết lợi thế độc quyền (Hymer, 1960; Zaheer, 1995) và lý thuyết chi phí giao dịch (Hennart, 1982; Williamson, 1987)) và lợi thế nội vi hóa (thể hiện trong lý thuyết chiết trung và lý thuyết nội vi hóa của Buckley và Casson (1976)) Việc lựa chọn địa điểm đầu tư sẽ khác nhau giữa động cơ FDI theo chiều dọc và chiều ngang như lý thuyết nội vi hóa (Buckley và Casson, 1976) và lý thuyết thương mại mới (Krugman, 1979; Markusen, 1997) đưa ra; hay giữa các mục tiêu tìm kiếm thị trường, nguồn lực, hiệu quả, hay tài sản chiến lược như Dunning và Lundan (2008) phân tích Johanson và Vahlne (1977, 1990) cũng đã chỉ ra trong mô hình Uppsala rằng kiến thức của tổ chức về thị trường quốc tế (thể hiện ở số lượng chi nhánh trước đó tại điểm đầu tư hoặc mối quan hệ với các đối tác) sẽ ảnh hưởng đến việc công ty lựa chọn đầu tư ở đâu Goerzen và cộng
sự (2013) đã tìm ra bằng chứng rằng FDI không tập trung vào các thành phố mà phân tán ra các khu công nghiệp, khu kinh doanh (center business district – CBD) hoặc khu vực ngoại vi thành phố - việc này phụ thuộc vào bản chất hoạt động trong chuỗi giá trị được phân tán đến địa điểm đó (hoạt động thượng nguồn hay hạ nguồn) Thêm nữa, các doanh nghiệp có thể phân bố hoạt động của họ tới một quốc gia hoặc một địa phương cụ thể, để tiếp cận nguồn lực, hoặc thị trường, hoặc có thể tìm kiếm cơ hội mở rộng ra cả quốc gia đó và các quốc gia khác
Trang 34Trong tất cả các nhóm nhân tố được tổng hợp ở trên thì số lượng các nghiên cứu tập trung vào đặc điểm của địa điểm dự kiến đầu tư là lớn nhất (Dunning và
Lundan, 2008; Nielsen và cộng sự, 2017)
Dunning và Lundan (2008) trong nghiên cứu lý thuyết về MNEs khái quát
thành ba nhóm nhân tố tạo nên mức độ hấp dẫn của một địa điểm và ảnh hưởng tới
lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp Nhóm nhân tố đầu tiên là sự sẵn có của nguồn lực (Endowment effects) - sự tồn tại của các nguồn lực tự nhiên, nguồn lao
động giá rẻ hay các nguồn lực nhân tạo (chẳng hạn như cơ sở hạ tầng và nguồn lao
động chất lượng cao) Nhóm nhân tố thứ hai là hiệu ứng quần tụ doanh nghiệp
(Agglomeration effects) - hiệu ứng xuất hiện khi các doanh nghiệp phân bố gần nhau Theo Marshall và Marshall (1920), việc các doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc ngành liên quan phân bố gần nhau sẽ tạo ra ngoại ứng tích cực Ngoại ứng này xuất hiện do doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguồn lao động có kỹ năng, nguồn đầu vào đặc biệt, cũng như được hưởng lợi từ tác động tràn về mặt kiến thức và kỹ thuật Ngoài ra, theo Jacobs (1969), sự phân bố gần nhau của các doanh nghiệp khác ngành cũng tạo ra ngoại ứng tích cực bởi lẽ sự phân bố này sẽ giúp doanh nghiệp trở nên sáng tạo hơn và vì thế mà cải thiện sức cạnh tranh trong dài hạn Đây được gọi là hiệu
ứng đô thị hóa (urbanization effects) Nhóm nhân tố thứ ba là chính sách của chính
phủ và chất lượng thể chế (policy-induced effects) Dunning và Lundan (2008) phân
biệt giữa hai nhóm chính sách: thứ nhất là các chính sách chung nhằm cải thiện mức
độ hấp dẫn tổng thể của một đơn vị địa lý (quốc gia/địa phương) và thứ hai là chính sách nhằm giảm bớt sự khác biệt về mặt thể chế giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư Chính sách chung chẳng hạn như đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng, hoặc chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp và hoạt động R&D của doanh nghiệp Những chính sách này giúp cải thiện hoạt động của tất cả doanh nghiệp tại một khu vực cụ thể Các chính sách giảm bớt sự khác biệt về mặt thể chế giữa nước đi đầu tư
và nước/khu vực nhận đầu tư gồm có: chính sách cải thiện chất lượng thể chế nói chung để phù hợp với nhà đầu tư nước ngoài, miễn thuế, hỗ trợ đào tạo, v.v
Nielsen và cộng sự (2017) đã tổng hợp rằng có ba nhóm nhân tố liên quan tới
đặc điểm của địa điểm mà doanh nghiệp dự kiến đầu tư mà các nghiên cứu thực
nghiệm thường nghiên cứu
Trang 35Thứ nhất là các nhân tố kinh tế thuần túy, gồm có quy mô thị trường, tỉ lệ thuế
doanh nghiệp, tiền lương, chất lượng cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn lao động Thông thường doanh nghiệp nước ngoài sẽ lựa chọn đầu tư vào các thị trường có quy mô lớn bởi do tiềm năng tạo doanh thu cao Tiềm năng thị trường thường được đo lường bằng các thước đo về dân số (quy mô, mật độ và tốc độ tăng trưởng) và các chỉ số liên quan tới thu nhập như GDP theo đầu người và/hoặc tỉ lệ tăng GDP Các yếu tố liên quan tới lao động gồm sự sẵn có, mức lương, chất lượng của lực lượng lao động Các biến về lao động thường được đưa vào các nghiên cứu thực nghiệm trước đây dưới nhiều hình thức Chi phí lao động là một yếu tố quan trọng vì nó xác định tổng chi phí sản xuất Thêm nữa, tỉ lệ thất nghiệp và tổng dân số cũng là các chỉ số được
sử dụng để đo lường mức độ sẵn có về lao động Các yếu tố về cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông, điện thoại và mức độ sẵn có về hạ tầng sản xuất cũng rất quan trọng Tiếp cận đối với cơ sở hạ tầng chính là một trong những chỉ số cơ bản quyết định đến việc phân bố địa điểm FDI của nhà đầu tư nước ngoài Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra vai trò quan trọng của cơ sở hạ tầng trong việc thu hút doanh nghiệp FDI (chẳng hạn Coughlin và cộng sự (1991), Taylor (1993))
Nhóm nhân tố thứ hai là thể chế và chính sách của chính phủ Có một sự đồng
thuận rộng rãi rằng thể chế ảnh hưởng lớn tới môi trường kinh doanh thông qua việc thuận lợi hóa hoặc cản trở hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Chính vì thế, bản chất
và chất lượng của môi trường thể chế ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn địa điểm phân bố FDI của nhà đầu tư theo nhiều cách khác nhau (Nguyen và Nguyen, 2007) Khi phân tích ảnh hưởng của thể chế, các nhà kinh
tế học tập trung chủ yếu vào những rủi ro và chi phí tăng thêm khi kinh doanh ở một thị trường với chất lượng thể chế thấp, với các biểu hiện như tham nhũng, hối lộ, quan liêu, sự bất ổn về mặt chính trị hoặc hệ thống pháp luật yếu kém (Daude và Stein, 2007; Wei, 1997; Wheeler và Mody, 1992) Chiến lược mà MNEs áp dụng cũng như hiệu quả hoạt động tại địa điểm đầu tư phụ thuộc rất lớn vào “luật chơi” hay thể chế của các quốc gia/địa phương đó (Peng, 2009) Vấn đề này đã được kiểm nghiệm thực
tế bởi một số học giả như Bond và Samuelson (1986), Black và Hoyt (1989) và Hubert
và Pain (2002), trong đó kết luận chính là ưu đãi thuế khóa và tài chính, thuế quan và thuế doanh nghiệp thấp sẽ có ảnh hưởng tích cực trong việc thu hút FDI Tham nhũng hạn chế khả năng doanh nghiệp chọn đầu tư vào một địa điểm (Bénassy-Quéré và
Trang 36cộng sự, 2007; Cleeve, 2008) Ngoài ra, sự tồn tại của khu kinh tế đặc biệt ở các một
số địa điểm ở châu Á cũng được lập luận có ảnh hưởng tới quyết định phân bố FDI
của doanh nghiệp, chẳng hạn như Head và Ries (1996), Meyer và Nguyen (2005)
Thứ ba là hiệu ứng quần tụ doanh nghiệp Điều này được thể hiện trong lý
thuyết địa lý kinh tế Sự tập trung của các doanh nghiệp cùng ngành hoặc khác ngành trong một khu vực cụ thể sẽ có tác động quan trọng tới quyết định phân bố FDI Theo Nielsen và cộng sự (2017), phần lớn nghiên cứu ủng hộ quan điểm này, chỉ có vài nghiên cứu không tìm ra mối liên hệ và chỉ có nghiên cứu của Li và Park (2006) chỉ
ra mối quan hệ ngược chiều
Các nhóm nhân tố này nhìn chung khá tương đồng với sự phân chia của Dunning và Lundan (2008)
Như vậy, tổng hợp từ các dòng lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay về sự lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp FDI có thể thấy rằng các nhân
tố cụ thể được phân tích gồm có: (i) Tiềm năng thị trường; (i) Sự sẵn có của nguồn lực; (iii) Chất lượng thể chế và chính sách; và (iv) Hiệu ứng quần tụ doanh nghiệp
Mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố được tổng hợp tại Bảng 1.2 sau đây:
Bảng 1.2 Các nhân tố cụ thể được phân tích
Sự tồn tại của Khu kinh tế đặc biệt +
(4) Hiệu ứng quần tụ
doanh nghiệp
Sự tập trung của doanh nghiệp nước ngoài +
Sự tập trung của doanh nghiệp trong nước +
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 371.1.4 Mô hình nghiên cứu được sử dụng
Để phân tích mức độ tác động của các nhân tố tới việc lựa chọn địa điểm phân
bố FDI của doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình biến công cụ
(phi không gian và không gian) hoặc mô hình ra quyết định
(i) Mô hình biến công cụ phi không gian
Đối với mô hình sử dụng biến công cụ, mức độ chi tiết của thông tin và nguồn
dữ liệu sẽ quyết định câu hỏi nghiên cứu nào có thể được trả lời Thông thường, tham vọng của các học giả là đánh giá mức độ mà nhân tố hút của địa điểm đầu tư tác động đến quyết định đầu tư của MNEs, kết quả là dẫn tới lượng FDI cao hay thấp Tuy nhiên, do hạn chế của mô hình kinh tế lượng, nhiều biến quan sát không được đưa vào mô hình Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã và đang cố gắng khám phá thêm các biến công cụ có thể ảnh hưởng tới quyết định của doanh nghiệp trong việc lựa chọn địa điểm FDI (ví dụ Bobonis và Shatz (2007)) Một số nhà nghiên cứu khác lại cố gắng giải quyết vấn đề về phương sai thay đổi được bằng cách sử dụng biến ngoại
sinh (ví dụ Rogers và Wu (2012)) Các mô hình được sử dụng để hạn chế vấn đề về
các yếu tố không quan sát được thường là bình phương nhỏ nhất hai bước, bình phương nhỏ nhất ba bước, phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments) do Blundell và Bond (1988) đề xuất Hiện nay các học giả ngày càng quan tâm về tính nội sinh của mô hình: trước năm 2000, không có nghiên cứu nào sử dụng các phương pháp trên, từ năm 2000-2009, có 5% các nghiên cứu sử dụng và kể từ sau năm 2010, có 16% các nghiên cứu được xuất bản sử dụng các phương pháp được đề cập ở trên (Nielsen và cộng sự, 2017) Tuy nhiên, vẫn có rất ít các nghiên cứu giải quyết hạn chế liên quan tới tính sai lệch do nội sinh (endogeneity biases) khi nghiên cứu về việc lựa chọn địa điểm phân bố FDI của MNEs Chính vì thế, kiến thức mà chúng ta có hiện nay về mối quan hệ nhân quả giữa đặc điểm của địa điểm và việc lựa chọn địa điểm đầu tư vẫn hạn chế và chưa hoàn chỉnh
(ii) Mô hình biến công cụ không gian
Phần lớn các nghiên cứu hiện nay chủ yếu sử dụng mô hình biến công cụ phi không gian để phân tích như đã đề cập ở trên Tuy nhiên, hiện nay mô hình phân tích
không gian đã ngày càng được các giả quan tâm sử dụng để phân tích sự phụ thuộc
về không gian giữa các vùng khác nhau, trong đó đặc tính của các địa điểm xung
quanh có thể ảnh hưởng tới dòng FDI vào một khu vực địa lý cụ thể cụ thể Đây chính
Trang 38là “tác động không gian” (spatial effects) giữa các vùng lẫn nhau Nếu không đưa tác động này vào trong mô hình nghiên cứu thì rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ bị lệch
và không phù hợp (Coughlin và Segev, 2000; Esiyok và Ugur, 2017; Hoang và Goujon, 2014; Kayam và cộng sự, 2013; Nielsen và cộng sự, 2017) Tuy nhiên, chỉ
có 12% các nghiên cứu được Nielsen và cộng sự (2017) rà soát có đề cập đến sự phụ thuộc về không gian giữa các vùng trong cách tiếp cận kinh tế lượng của mình, trong
đó có 8 nghiên cứu chỉ ra kết quả ủng hộ tác động của những khu vực lân cận đến FDI vào một vùng Tuy nhiên, khuynh hướng sử dụng cách tiếp cận này ngày càng gia tăng với 6% nghiên cứu trước năm 2000, 10% nghiên cứu từ năm 2000-2004, 13% nghiên cứu xuất bản trong giai đoạn 2005-2009 sử dụng và 14% nghiên cứu
xuất bản từ năm 2010 đến nay
(iii) Mô hình ra quyết định
Các mô hình ra quyết định (discrete choice models) được sử dụng gồm có mô
hình logit đa thức (multinomial logit), mô hình logit thứ bậc (nested logit model), mô hình logit hỗn hợp (mixed logit model), mô hình cây ra quyết định (decision-tree approach) (Andersson và cộng sự, 2014; Nielsen và Nielsen, 2010) Những mô hình này có tính đến các nhân tố ở các cấp độ khác nhau Chẳng hạn Basile và cộng sự
(2008) phát triển mô hình logit hỗn hợp (mixed logit model) để đánh giá về việc lựa
chọn địa điểm đầu tư trong 50 vùng NUST-1 ở 8 nước châu Âu - một cách tiếp cận
có tính đến sự tương đồng giữa các vùng ở trong phạm vi một quốc gia như mô hình logit thứ bậc, nhưng lại linh hoạt hơn vì nó cho phép nghiên cứu chung hơn về sự lựa chọn thay thế giữa các vùng cũng như ước lượng sự tương tác giữa các cấp độ Cũng giống như Basile và cộng sự (2008), Rasciute và cộng sự (2014) sử dụng mô hình logit hỗn hợp, tích hợp khía cạnh vĩ mô, vi mô và đặc điểm của công ty trong khung
khổ lý thuyết về việc lựa chọn địa điểm FDI Tận dụng cách tiếp cận cây ra quyết
định, câu hỏi về địa điểm cũng được mô hình hóa như là sự tương tác giữa hiệu ứng
quốc gia, ngành và công ty Nielsen và cộng sự (2017) chỉ ra rằng chỉ có ít hơn 10% các nghiên cứu tận dụng mô hình tổ dữ liệu để tính đến việc lựa chọn theo thứ bậc (ví
dụ Basile và cộng sự (2008), Disdier và Mayer (2004), Mataloni (2011)) Một số nghiên cứu gần đây cũng sử dụng mô hình logit hỗn hợp, cho phép lựa chọn tương quan giữa các địa điểm đầu tư khác nhau (ví dụ Basile và cộng sự (2008))
Trang 391.2 Các nghiên cứu nước ngoài phân tích ở cấp độ địa phương
1.2.1 Các nhân tố được phân tích và mức độ ảnh hưởng
Các nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên ở cấp độ địa phương được tiến hành về các quốc gia phát triển chẳng hạn như Mỹ, Anh và Pháp Sau này, xuất hiện thêm nghiên cứu về các nước đang phát triển do các nước ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thu hút nguồn vốn FDI toàn cầu Trong nội dung này, tác giả luận án sẽ rà soát và thảo luận các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu
tư của doanh nghiệp FDI ở các nước phát triển và nước đang phát triển (tập trung vào Trung Quốc) do chủ yếu các học giả nghiên cứu về các quốc gia này như Nielsen và cộng sự (2017) đã chỉ ra Trong mỗi phần, tác giả sẽ thảo luận về các biến phụ thuộc cũng như kết quả nghiên cứu của những biến có ý nghĩa thống kê Dựa trên lý thuyết, các biến độc lập có thể được chia thành các nhân tố liên quan tới quy mô thị trường, vốn lao động và con người, chính sách, cơ sở hạ tầng và sự quần tụ doanh nghiệp
1.2.1.1 Những nghiên cứu phân tích về các địa phương trong phạm vi các quốc gia phát triển
Số lượng các nghiên cứu về FDI vào các địa phương ở các quốc gia phát triển
là khá lớn và đa dạng Vì tỉ lệ FDI của Mỹ trong dòng FDI toàn cầu là rất lớn, số lượng các nghiên cứu về FDI tại đây là rất lớn, chẳng hạn như McConnell (1983), Moore và cộng sự (1987), Cho (1990), Glickman và Woodward (1987), Swamidass (1990), Coughlin và cộng sự (1991), Friedman và cộng sự (1992), Wheeler và Mody (1992), Woodwar (1992), Head và cộng sự (1994), Myles Shaver và Flyer (2000), v.v Khi chủ đề này ngày càng được quan tâm, các nghiên cứu về các quốc gia OECD nhỏ hơn cũng tăng lên, chẳng hạn có nghiên cứu của Hill và Munday (1992), Driffield (2002) về Anh; Braunerhjelm và Svensson (1996) về Thuỵ Điển, Deichmann và cộng
sự (2004) và Crozet và cộng sự (2004) về Thổ Nhĩ Kỳ; Hogenbirk và Narula (2004)
về Hà Lan; De Propris và cộng sự (2005) về Ý Mặc dù có sự khác biệt đáng kể trong phương pháp luận, các công trình này có nhiều điểm chung trong kết quả nghiên cứu
liên quan tới các nhóm nhân tố tác động
Nhóm nhân tố đầu tiên, các biến số liên quan tới tiềm năng thị trường, được
tất cả các nghiên cứu trên đề cập đến, trừ nghiên cứu của Hill và Munday (1992) Biến đại diện được sử dụng gồm có GRDP, GRDP trên đầu người (Crozet và cộng
sự, 2004; Deichmann và cộng sự, 2003) hay thu nhập bình quân đầu người (Coughlin
Trang 40và cộng sự, 1991; Head và cộng sự; 199; Woodward, 1992) Do các doanh nghiệp không chỉ đầu tư để phục vụ thị trường địa phương mà cả các địa phương lân cận nên một số tác giả sử dụng biến quy mô thị trường có trọng số khoảng cách (Crozet và cộng sự, 2004; Woodward, 1992) và xem xét ảnh hưởng của các thị trường lân cận (Head và cộng sự, 1999) Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm biến này có ý nghĩa và
có ảnh hưởng tích cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào địa phương
Nhóm nhân tố thứ hai các biến liên quan tới lao động và vốn con người, và có
thể chia thành chi phí lao động và chất lượng lao động Biến đại diện cho chi phí lao động thường là tiền lương (Coughlin và cộng sự, 1991; Crozet và cộng sự, 2004), tỉ
lệ công đoàn (Coughlin và cộng sự, 1991; Woodward, 1992) hoặc là điều kiện của thị trường lao động chẳng hạn tỉ lệ thất nghiệp (Coughlin và cộng sự, 1991) Kết quả nghiên cứu của Coughlin và cộng sự (1991) và Crozet và cộng sự (2004) đã chỉ ra mức tiền lương có thể làm giảm lượng FDI vào một địa phương Tuy nhiên, Head và cộng sự (1999) lại tìm ra ảnh hưởng ngược chiều của tiền lương và giải thích rằng kết quả này phản ánh sự khác biệt về kỹ năng và nhà đầu tư Nhật Bản thường có yêu cầu cao về kỹ năng của người lao động Tỉ lệ công đoàn hóa được tìm ra có ảnh hưởng ngược chiều tới dòng FDI trong công trình của Woodward (1992) và Head và cộng
sự (1999) nhưng Coughlin và cộng sự (1991) lại tìm ra kết quả ngược lại Chỉ Coughlin và cộng sự (1991) tìm ra ảnh hưởng thuận chiều của tỉ lệ thất nghiệp tới dòng FDI Chất lượng lao động không được kiểm soát trong các nghiên cứu được tác giả rà soát, trừ nghiên cứu của Deichmann và cộng sự (2003) - nhóm tác giả này đã tìm ra rằng nếu tỉ lệ học sinh trên giáo viên càng cao thì lượng FDI vào thì càng thấp
Nhóm nhân tố thứ ba là chính sách của chính phủ và thường được đại diện bởi
các biến như mức thuế, sự hiện diện của văn phòng xúc tiến đầu tư nước ngoài của chính quyền địa phương, hoặc là văn phòng hỗ trợ đầu tư ở cấp địa phương Các nghiên cứu của Coughlin và cộng sự (1991) và Head và cộng sự (1999 đã chỉ ra rằng
tỉ lệ thuế cao có ảnh hưởng tiêu cực tới dòng FDI vào một địa phương Các chính sách xúc tiến đầu tư và sự hiện diện của văn phòng xúc tiến có tác động tích cực đến FDI trong nghiên cứu của Coughlin và cộng sự (1991) và Woodward (1992) nhưng các biến này được tìm thấy không có ý nghĩa trong nghiên cứu của Head và cộng sự (1999) Các chính sách khác như chi tiêu chính phủ (được tính theo phần trăm của