Trong luận án này đãnêu lên được công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp và đưa ra một số giảipháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí như: phân loại chi phí theo cách ứng xử,l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỖ MINH THÀNH
Trang 3HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “ Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm tại Công ty cổ phần Everpia” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày 18 tháng 07 năm 2019
Tác giả luận văn
Hồ Thị Huyền
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các quý thầy cô giáo trường Đại HọcThương Mại đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học tập tạitrường
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới PGS.TS Đỗ Minh Thành đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt
thời gian thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty Cổ phần Everpia đã tạo điều kiện,cung cấp tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 07 năm 2019
Tác giả
Hồ Thị Huyền
Trang 6MỤC LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP NVL TT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP NC TT Chi phí nhân công trực tiếp
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển như hiện nay, đặc biệt trong môitrường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mỗi doanh nghiệp luôn phải tìm cách đểkhông chỉ tồn tại mà còn phải đứng vững và phát triển, việc xác định, tính đúng , đủ
và kịp thời các yếu tố đầu vào, tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định giá bán sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh Vì thế công tác kếtoán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là bước quan trọng trongcông tác quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp
Với nền kinh tế hội nhập, tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm phải được bổ sung hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu quản trị và thông lệ
kế toán quốc tế Về lý luận, tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất , giá thành sảnphẩm đã được thừa nhận ở Việt Nam, tuy nhiên còn khá mới mẻ Công tác về quảntrị trong hệ thống kế toán ở nước ta còn chưa thật phát huy được vai trò của mình,đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp phải luôn có cái nhìn đúng đắn để có thể sửdụng thông tin một cách hữu ích và ra quyết định một cách chính xác nhất
Các doanh nghiệp tại Việt Nam dù đã quan tâm đến hệ thống kế toán quản trịchi phí nhưng chưa xây dựng được cho mình các hệ thống kế toán quản trị chi phíphù hợp dẫn đến hiệu quả do hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện tại mang đến làchưa cao Việc thiết kế hệ thống kế toán quản trị chi phí ngoài dựa vào các lý thuyếtchung về kế toán quản trị chi phí còn phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý cụ thể Có như vậy thì hệ thống kếtoán quản trị chi phí mới cung cấp các thông tin để hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trịtrong việc hoạch định, kiểm soát, ra quyết định cũng như đánh giá thành quả hoạtđộng Vì vậy việc kiểm soát chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là cần thiết.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này với những kiến thức đã tiếp thuđược ở nhà trường và thời gian nghiên cứu tại Công ty cổ phần Everpia cùng với sự
giúp đỡ của PGS.TS Đỗ Minh Thành em đã chọn đề tài “Kế toán quản trị chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Everpia” làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Với một doanh nghiệp sản xuất, kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm là việc cô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Córất nhiều đề tài nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm trong doanh nghiệp
Luận văn thạc sĩ tác giả Lê Thúy Hà (2011)- Trường đại học kinh tế quốc dân
với đề tài " Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty cổ phần Bia Sài Gòn - Hà Nam" tác giá đã đưa ra được thực trạng về kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính vàđưa ra giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại Công ty cổ phần Bia Sài Gòn - Hà Nam Tuy nhiên luận văn thiên về kếtoán tài chính ở cách ghi nhận thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thànhhơn là quản trị chi phí Không gian nghiên cứu ở doanh nghiệp sản xuất bia SàiGòn- Hà Nam, và chưa đưa ra giải pháp hiệu quả nghành sản xuất bia
Luận án tiến sỹ của NCS Đinh Thị Kim Xuyến (2014) “Công tác kế toán
quản trị chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam”- Luận án
Tiến sỹ kinh tế- Chuyên ngành Kế toán, Học viện Tài chính Trong luận án này đãnêu lên được công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp và đưa ra một số giảipháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí như: phân loại chi phí theo cách ứng xử,lập dự toán linh hoạt, xác định lại đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và hoànthiện phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung Dù vậy trong luận văn này mớichỉ tập trung vào một số doanh nghiệp viễn thông tiêu biểu, chưa thực sự đưa ranhững giải pháp hiệu quả thực sự đối với ngành viễn thông nói chung
Luân văn thạc sĩ của tác giả Tạ Thị Tuyết Anh (2015) - Trường đại học
Thương Mại với đề tài : " Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty TNHH KPF Việt Nam" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận kế
toán quản trị chi phí, khảo sát thực trạng và tìm ra giải pháp hoàn thiện chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm doanh nghiệp chuyên sản xuất các linh kiện bulong,đai ốc, đinh gim, đinh tán phục vụ cho ngành công nghiệp
Trang 10Luận văn của tác giả Đào Thị Hồng Nhung 2016 – Trường Đại Học Thương
Mại với đề tài: “Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm tại các doanh
nghiệp thuộc Tổng công ty may Hưng Yên” Luận văn đã hệ thống hóa, phân tích
và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chi phí sản xuất, về kế toán quản trị chi phí vàgiá thành sản phẩm Từ đó luận văn đã xác định việc vận dụng kế toán quản trị chiphí trong các doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc Hệ thống quản trị chi phí vàgiá thành sản phẩm của doanh nghiệp được làm rõ về khái niệm, vai trò và việctriển khai trong các doanh nghiệp Các vấn đề về kế toán quản trị chi phí cũng đượclàm rõ các nội dung về phân loại chi phí, về các hệ thống kế toán chi phí, về vấn đềphân bổ chi phí
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống hóa những lí luận cơbản về kế toán quản trị, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, từ đóphát triển các lí luận, ứng dụng vào thực tiễn trong từng doanh nghiệp cụ thể phù hợp sựphát triển của nền kinh tế Các tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toánquản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm sản xuất củatừng đơn vị mà các tác giả đã nghiên cứu như: phân loại chi phí theo cách ứng xử của chiphí; lập dự toán chi phí; báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm;phân tích thông tin cho việc ra quyết định
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và hệ thống các nội dung về
kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Everpia,doanh nghiệp sản xuất mặt hàng tiêu dùng về đệm, chăn, ga gối Công ty Cổ PhầnEverpia Việt Nam là doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc tại Hưng Yên vớingành nghề chính là là sản xuất các sản phẩm chăn ga, gối, đệm, bông, bông tấm,bông chần, nhập khẩu các nguyên phụ liệu, trang thiết bị và phụ tùng để phục vụcho sản xuất của công ty, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và nước ngoài Quathực tế công tác kế toán quản trị của Công ty cổ phần Everpia chưa được quan tâm
và đầu tư, những tồn tại chủ yếu: như cách phân loại chi phí, công tác kế toán tậphợp chi phí sản xuất phục vụ cho yêu cầu quản trị, xây dựng định mức chi phí, dựtoán chi phí, công tác lập báo cáo quản trị và phân tích thông tin chi phí quyết định
Trang 11giá bán sản phẩm điều này ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của Công ty Vì
vậy có thể nói rằng đề tài: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần Everpia” là một đề tài không trùng lặp với các đề tài khác.
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu chung: Nghiên cứu để xác định giải pháp hoàn thiện
kế toán quản trị chi phí và giá thành tại Công ty cổ phần Everpia
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Hệ thống hóa phân tích làm rõ lý luận chung về kế toán quản trị chi phí sản xuất vàgiá thành trong các doanh nghiệp sản xuất
• Phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành tạiCông ty cổ phần Everpia chỉ rõ kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhânhạn chế
• Từ cơ sở lý luận và thực tiễn kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành tại Công
ty, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành các Công ty cổ phần Everpia
4 Câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về kế toán quản trị chi phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Everpia, tác giả có đặt ra một số câu hỏi:
- Cơ sở lí luận của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmtrong các doanh nghiệp sản xuất là gì?
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Everpiađược thực hiện như thế nào? Có đáp ứng được nhu cầu của nhà quản lý hay không?
có ưu điểm và nhược điểm gì?
- Cần phải có giải pháp và điều kiện gì để hoàn thiện kế toán quản trị chi phísản xuất và giá thành sản phẩm trong Công ty cổ phần Everpia
5 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu lý luận về kế toán
quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và thựctiễn kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành tại Công ty cổ phần Everpia
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 12+ Về không gian: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn kế toán quản trị
chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Everpia
+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu dựa trên số liệu thực tế phát sinh và tình
hình kinh doanh năm 2016,2017
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ sách báo, các tạp chí, các luận văn luận án,
các số liệu được thu thập từ tài liệu các phòng hành chính, phòng kế toán và cácphân xưởng sản xuất
Để thực hiện phương pháp này tác giả tiến hành sưu tầm, tìm kiếm các thôngtin, tài liệu liên quan đến tổ chức công tác kế toán quản trị nói chung và kế toánquản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng từ đó phân tích đối chiếu
so sánh và đưa ra kết luận
Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phỏng vấn, gọi điện thoại, quan sát
thực tế và điều tra tại doanh nghiệp
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp tại phòng kế toán, bộ phận kế toán
quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các công ty cổ phần Everpia Quaviệc quan sát trực tiếp thấy được môi trường làm việc, phân công việc và phối hợplàm việc giữa các bộ phận
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các đối tượng liên quan như phòng kế
toán, bộ phận mua hàng, bộ phận sản xuất, bộ phận support … để có thể nhìn đượctổng quan và hiểu rõ hơn công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm tại Công ty
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả đã nghiên cứu các tài liệu từ nguồn
tài liệu thứ cấp như văn bản pháp luật, giáo trình, website doanh nghiệp về chứcnăng nhiệm vụ, báo cáo tài chính và tình hình hoạt động có liên quan đế kế toánquản trị chi phí và giá thành sản phẩm
- Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu: Từ những kết quả thu thập được tổng
hợp, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chí phí sản xuất và giá thành
Trang 13sản phẩm để từ đó rút ra các kết luận và đưa ra giải pháp hoàn thiện phù hợp vớiquy định chung và điều kiện thực tế.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các bảng biểu phụ lục, danh mục tham khảoluận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmtại Công ty cổ phần Everpia
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmtại Công ty cổ phần Everpia
Trang 14CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm bản chất và vai trò kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.1.1 Khái niệm và bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành trong
doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toángóp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính Việcthu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình thu nhập, chi phí, so sánh thunhập với chi để xác định kết quả là một trong những yêu cầu của kế toán tài chính.Tuy nhiên doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kinh doanh nhiều loạihàng hóa, dịch vụ nhằm tổng hợp lại trong một cơ cấu hệ thống kế toán phục vụ choyêu cầu của quản trị doanh nghiệp thì kế toán tài chính không đáp ứng được yêu cầunày Do đó, các doanh nghiệp tổ chức hệ thống kế toán quản trị để trước hết nhằmxây dựng các dự toán chi phí, dự toán thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩmhàng hóa, dịch vụ Sau đó tiến hành theo dõi, kiểm tra suốt quá trình chi phí sảnxuất, mua bán hàng hóa dịch vụ, tính toán giá thành sản phẩm, giá vốn hàng mua,hàng bán, doanh thu và kết quả cụ thể của doanh nghiệp Xuất phát điểm của kếtoán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu là quá trình tính toán giá phí sảnphẩm để ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quảkinh doanh theo từng hoạt động Dần dần với sự phát triển của khoa học quản lý nóichung, khoa học kế toán cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ năm
1957 trở lại đây, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã đi sâunghiên cứu, áp dụng và sử dụng những thông tin kế toán phục vụ cho yêu cầu quản
lý Sự phát triển mạnh mẽ của kế toán đã đặt ra hướng nghiên cứu các công cụ kiểmsoát và lập kế hoạch, thu nhận và xử lý thông tin phục vụ cho công việc ra quyếtđịnh gọi là kế toán quản trị Theo Ronald W.Hilton, giáo sư đại học Cornell (Mỹ ): “
Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức
Trang 15mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”Theo Ray H.Garrison: “ Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu chocác nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trongviệc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức” Theo các giáo sư đại họcSouth Florida là Jack L.Smith, Robert M Keith và William L.Stephens: “ Kế toánquản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin địnhlượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát” Theo Luật kế toán Việt Nam (năm2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướng ápdụng kế toán quản trị doanh nghiệp: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phântích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh
tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Chung lại, kế toán quản trị là một hệ thống
kế toán cung cấp các thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể,giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hính thực hiện các hoạt độngcủa đơn vị Chi phí sản xuất là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp tồn tại vàhoạt động phải chi nhiều khoản chi phí khác nhau trong suốt quá trình hoạt độngkinh doanh và chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do
đó, vấn đề được đặt ra là làm sao có thể kiểm soát được tất cả các khoản chi phí Kếtoán quản trị chi phí sản xuất là công cụ hữu hiệu đáp ứng nhu cầu thông tin chi phícho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định kinh doanh, cơ sở cho kiểm soát, sửdụng chi phí của đơn vị một cách có hiệu quả Kế toán quản trị chi phí sản xuấtđược hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất cùng một ýtưởng thể hiện ở bản chất của kế toán hướng đến cung cấp thông tin phục vụ chocác hoạt động của nhà quản lý ở doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản lý nhưhoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và ra quyết định quản lý Kế toánquản trị chi phí sản xuất là việc thu thập, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cungcấp thông tin phục vụ chủ yếu cho những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, giúp
họ đưa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tương lai phù hợp với
Trang 16chiến lược kinh doanh Kế toán quản trị chi phí được hình thành và phát triển trên
cơ sở ban đầu là khảo sát chi phí kinh doanh và cung cấp các thông tin hữu ích chocác chức năng nhà quản trị, nhà quản trị có các chức năng hoạch định, tổ chức thựchiện, kiểm tra, đánh giá và chức năng ra quyết định là quan trọng nhất, kế toán quảntrị cung cấp và phục vụ cho chức năng này Như vậy , cùng với sự xuất hiện củanền kinh tế thị trường, Kế toán quản trị chi phí sản xuất đã ra đời và trở thành công
cụ quan trọng trợ giúp cho những người làm công tác quản lý ra quyết định sản xuấtkinh doanh và là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp.Qua các khái niệm trên có thể thấy bản chất của kế toán quản trị được thể hiệnqua các đặc trưng như sau:
- Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về cácnghiệp vụ kinh tế thực sự phát sinh và hoàn thành mà còn xử lý và cung cấp thôngtin phục vụ cho việc ra quyết định quản lý Để có được các thông tin này, kế toánquản trị phải sử dụng các phương pháp khoa học để xử lý và phân tích một cáchlinh hoạt, phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị Hệ thống hóa thông tintheo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể,phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp
- Kế toán quản trị cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chínhtrong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin đóchỉ có ý nghĩa đối vơi những người điều hành, quản trị doanh nghiệp, không có ýnghĩa đối với các đối tượng bên ngoài Vì vậy, kế toán quản trị là kế toán dành chongười làm công tác quản lý
- Kế toán quản trị là một bộ phân của công tác kế toán nói chung, một chứcnăng quan trọng không thể thiếu đối với hệ thống quản lý doanh nghiệp
- Kế toán chi phí và giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính là bộphận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí đã phát sinh trong tổchức theo đúng nguyên tắc, chuẩn mực kế toán để cung cấp thông tin về giá thành,giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động và giá trị hàng tồn kho trên Báo cáo tàichính Còn kế toán chi phí và giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán quản trị, bộ
Trang 17phận kế toán chi phí có chức năng định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, trìnhbày, giải thích và truyền đạt về thông tin chi phí (bao gồm cả những thông tin quákhứ, dự báo và ước tính) của các sản phẩm, các hoạt động, các trung tâm chi phí vàkhả năng sinh lời của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trìnhhoạt động sản xuất, kinh doanh Do đó, có thể hiểu kế toán quản trị chi phí và giáthành chính là một bộ phận chuyên môn của hệ thống kế toán quản trị có nhiệm vụcung cấp thông tin về chi phí cho các nhà quản lý các cấp trong mỗi tổ chức để thựchiện quản lý các nguồn lực nhằm thực hiện các chức năng quản lý doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp.
Kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là một bộ phận của hệthống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp cácnhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị cho doanh nghiệp Kế toán quản trị chiphí sản xuất chủ yếu cung cấp thông tin thích hợp cho các nhà quản lý nhằm xâydựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo định kỳ và báo cáođặc biệt
Các báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhautrong doanh nghiệp, như các sản phẩm, dịch vụ, các thị trường tiêu thụ nhằm đảmbảo doanh nghiệp chỉ tiến hành thực hiện các hoạt động mang lại lợi nhuận Kế toánquản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanhnghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm tiêu thụ Các báo cáo đặc biệt giúpcho các nhà quản lý đưa ra quyết định chiến lược, như phát triển các sản phẩm dịch
vụ mới, đàm phán hợp đồng dài hạn với các nhà cung cấp và các khách hàng
Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất đối với hoạt động quản lý đượcthể hiện như sau:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: thông tin trong dự toán ngânsách sẽ giúp các nhà quản trị lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành hoạt động của Banđiều hành dự án: kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp thông tin kịp thời về các mặthoạt động của Ban điều hành dự án, để nhà quản lý xem xét và ra các quyết địnhđúng đắn trong quá trình tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù
Trang 18hợp với các mục tiêu đã đề ra.
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: kế toán quản trị chi phí sẽ cungcấp các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, các hoạt động bất thường… từ đógiúp các nhà quản trị thấy được những vấn đề cần điều chỉnh, thay đổi nhằm hướnghoạt động của tổ chức theo đúng mục tiêu đã đề ra
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: ra quyết định là chức năng
cơ bản nhất của nhà quản trị Ra quyết định chính là lựa chọn phương án thích hợpnhất Để có được quyết định đúng đắn kịp thời phải có thông tin nhanh chóng, phùhợp, chính xác đó chính là thông tin của kế toán quản trị chi phí Tóm lại, kế toánquản trị chi phí sản xuất có vai trò như là công cụ phục vụ cho việc cung cấp thôngtin cho các chức năng quản trị như: hoạch định, kiểm tra đánh giá tình hình thựchiện các mục tiêu, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có nhữngquyết định hợp lý để điều hành hoạt động ngày càng đạt hiệu quả hơn
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Nhận diện phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai yếu tố có mối liên hệ chặt chẽtrong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, chúng giống nhau ở chỗđều là chi phí (về chất ) Tuy nhiên, có sự khác nhau về lượng do có yếu tố sảnphẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ cũng như về sản phẩm hỏng Song nếu trongtrường hợp doanh nghiệp có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau haykhông có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuấtphát sinh trong kỳ
1.2.1.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất.
Theo quan điểm của kế toán tài chính thì chi phí sản xuất được định nghĩa:
“Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định” Theo quan điểm này, chi phí phải được ghi nhận theo nguyên tắc
phù hợp giữa chi phí với thu nhập, chỉ được xác định trên bình diện chung là toàn
Trang 19doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch toán Còn theo quan điểm của kế toán quản trị thì
chi phí được hiểu: “Chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động
hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định, chi phí có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những lợi ích mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh”.
Chi phí sản xuất được hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tốsản xuất vào sản phẩm sản xuất ra và được biểu hiện trên hai mặt
Về mặt định tính, đó là bản thân các yếu tố về vật chất phát sinh và tiêu haonên quá trình sản xuất và đạt được mục đích là tạo nên sản phẩm
Về mặt định lượng, đó là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất tham giavào quá trình sản xuất và được biểu hiện qua các thước đo khác nhau mà thước đochủ yếu là thước đo tiền tệ
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đầy đủyếu tố cơ bản là: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Quá trình sửdụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quá trình doanh nghiệpphải chi ra những chi phí sản xuất tương ứng: tương ứng với việc sử dụng tài sản cốđịnh là chi phí về khấu hao tài sản cố định; tương ứng với việc sử dụng nguyên vậtliệu, nhiên liệu là chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu; tương ứng với việc sử dụnglao động là tiền lương, tiền công, chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phícông đoàn Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh,mọi chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn là biểu hiện bằng tiềncủa hao phí lao động sống, chi phí về khấu hao tài sản cố định, nguyên vật liệu,nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động vật hoá
Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động có liên quan đến sản xuấtsản phẩm hoặc lao vụ, còn có những hoạt động kinh doanh khác có tính chất sảnxuất, ví dụ như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính
Trang 20chất sự nghiệp Do đó, không phải bất cứ khoản chi phí nào của doanh nghiệp cũngđược gọi là chi phí sản xuất mà chỉ những khoản chi phí cho việc tiến hành sản xuấtmới được gọi là chi phí sản xuất.
Thực chất chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn củadoanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vàoquá trình sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quátrình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp Nhưng để phục vụ cho quản lý và hạchtoán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kỳ:năm, quý, tháng Chi phí sản xuất gồm nhiều loại khác nhau để phục vụ công tác kếtoán quản trị chi phí Doanh nghiệp có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuất theomột số tiêu thức điển hình như sau:
Thứ nhất: Phân loại chi phí theo chức năng.
Theo cách phân loại này, doanh nghiệp căn cứ vào vai trò của chi phí với từngchức năng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Phân loại chi phí sản xuất theochức năng là cơ sở để tập hợp chi phí và xác định giá thành sản phẩm, đồng thờicung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành 3 khoảnmục chi phí cơ bản: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Chi phí nhân công trực tiếp,chi phí sản xuất chung
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm chi phí về nguyên liệu, vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng cho sản xuất trực tiếp sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm chi phí về tiền lương, các khoản phụ cấp có
tính chất lương cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và các khoản trích bảohiểm xã hội và bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của lao động trực tiếp sản xuất
- Chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất
chung ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất ngoài hai khoản mục trên Cụ thể bao gồmcác khoản: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ
Trang 21sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khácbằng tiền.
Các chi phí này cấu thành nên giá trị sản phẩm nên còn được gọi là chi phí sảnphẩm
• Thứ hai: Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động.
Mối quan hệ giữa chi phí và mức hoạt động đóng vai trò quan trọng trongquản lý hoạt động của doanh nghiệp Theo cách phân loại này chi phí được chiathành chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp
- Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự
thay đổi về mức độ hoạt động Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sảnxuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành, Chi phí biến đổi tồn tạidưới nhiều hình thức khác nhau trong hoạt động của doanh nghiệp, nhưng về cơ bảnđược chia làm 2 loại: chi phí biến đổi tuyến tính là chi phí biến đổi có quan hệ tỷ lệthuận với mức độ hoạt động; Chi phí biến đổi cấp bậc là những biến phí thay đổi màchỉ khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng
- Chi phí cố định: là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi mức
độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp Nhưng nếu xét trên một đơn vị mức
độ hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động
- Chi phí hỗn hợp: là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố định phí và biến
phí Ở mức độ hoạt động cơ bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của địnhphí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc điểm của biến phí Trong đó:
Phần định phí phản ánh mức chi phí tối thiểu cần thiết để duy trì một dịch vụ ởtrạng thái sẵn sàng sử dụng
Phần biến phí phản ánh cho phí do sự tiêu thụ thực tế của dịch vụ hoặc phầnvượt quá mức căn bản, do đó phần này sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức sử dụngtrên mức căn bản
Để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát chi phí hỗn hợp, nhà quản trị cầnphân tích chi phí hỗn hợp để xác định biến phí, định phí theo phương pháp phù hợp.Các phương pháp phân tích thường được kế toán quản trị sử dụng là:
Trang 22-Phương pháp cực đại cực tiểu: căn cứ trên chi phí phát sinh và mức hoạt
động qua các thời kỳ, xác định số liệu chênh lệch của chi phí tương ứng với mức độhoạt động cao nhất và thấp nhất trong kỳ hạch toán, từ đó xác định biến phí đơn vị.Căn cứ vào kết quả tính được, các mức hoạt động, chi phí ứng với các mức hoạtđộng đó để xác định chi phí Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến do đơngiản và dễ áp dụng Tuy nhiên, phương pháp này chỉ quản tâm đến mức độ hoạtđộng tối đa, tối thiểu mà bỏ qua giá trị của các mức độ hoạt động khác do đó kếtquả chưa thực sự chính xác
-Phương pháp bình phương bé nhất: Căn cứ trên sự tính toán của phương
trình tuyến tính: Y = ax+ b Từ phương trình tuyến tính căn bản này tiến hành khảosát chi phí hỗn hợp ở các mức độ khác nhau và thiết lập hệ phương trình tuyến
-Phương pháp đồ thị phân tán : Là một công cụ phân tích chi phí rất hữu ích
nhất là đối với những chuyên gia phân tích có kinh nghiệm Đường biểu diễn củachi phí trên đồ thị thể hiện rõ những đặc trưng hoặc những ảnh hưởng của các sựkiện kinh tế, xã hội … đến chi phí
Việc phân biệt định phí và biến phí giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệpxác định đúng phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả của chi phí SXKD,phấn đấu để nâng cao hiệu lực của định phí trong sản xuất kinh doanh
• Thứ ba: Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định.
Chi phí được chia thành: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soátđược
- Chi phí kiểm soát được: Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lí nào đó là
chi phi phí mà lãnh đạo cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởng tới chi phí đó
- Chi phí không kiểm soát được: Chi phí không kiểm soát được ở một cấp
quản lý nào đó là chi phí mà lãnh đạo cấp đó không có thẩm quyền chi phối và raquyết định
• Thứ tư: Phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí và khả năng qui nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí.
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế
Trang 23toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt hàng ),chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập
hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợpchi phí được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh,sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp
Cách phân loại này giúp cho việc thực hiện kỹ thuật hạch toán, khi chi phíphát sinh đòi hỏi phải áp dụng phương pháp phân bổ, lựa chọn tiêu thức phân bổhợp lý để cung cấp thông tin đáng tin cậy về chi phí cho từng đối tượng Ngoài ra,còn cho biết tính chất của chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp phục vụ cho các nhàquản lý đưa ra các quyết định ngắn hạn
• Thứ năm: Nhận diện các chi phí khác phục vụ cho việc ra quyết định.
- Chi phí chênh lệch là những khoản chi phí có ở phương án này nhưng chỉ
một phần hoặc không có ở phương án khác và đó là một trong những căn cứ quantrọng để lựa chọn phương án đầu tư hoặc phương án SXKD
- Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất vì chọn phương án và hành động này thay vì
phương án hành động khác Như vậy, ngoài những chi phí kinh doanh đã được tậphợp, phản ánh trên sổ sách kế toán, trước khi quyết định, nhà quản trị còn phải xemxét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh đó có thể được sử dụngtheo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho họ
- Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh trong quá khứ và không bị ảnh
hưởng bởi các phương án hoạt động trong hiện tại cũng như tương lai của doanhnghiệp Chi phí chìm là khoản chi phí có trên sổ sách kế toán nhưng là những chiphí giống nhau ở mọi phương án nên nó là chi phí không thích hợp đối với việc raquyết định và không phải cân nhắc khi lựa chọn các phương án
1.2.1.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động
sống và lao động vật hóa được tính cho một lượng sản phẩm hoàn thành Các chiphí sản xuất sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính và định lượng Mặt định
Trang 24tính của chi phí sản xuất đó là các yếu tố chi phí hiện vật hay bằng tiền tiêu haotrong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Mặt định lượng của chi phí thể hiện mức
độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí tham gia vào quá trình sản xuất, chế tạo đểcấu thành nên thành phẩm, biểu hiện bằng thước đo tổng quát là thước đo giá trị.Mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏicác doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí sản xuất và thu được sản phẩm, côngviệc lao động đã hoàn thành và đảm bảo trang trải, bù đắp những chi phí đầu vàocủa doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất và phải có lãi, do đó để thu đượclợi nhuận doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định giá bánMặt khác giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượngtoàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanhnghiệp Mức giá thành và tỷ lệ hạ giá thành có thể thể hiện trình độ sử dụng hợp lý,tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng, khả năng tận dụng công nghệ máy móc,mức độ trang thiết bị và áp dụng kỹ thuật máy móc,
Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm, doanh nghiệp
có thể tiến hành phân loại giá thành sản phẩm theo các tiêu thức sau:
• Thứ nhất: Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi tính toán chi phí.
Giá thành sản xuất toàn bộ sản phẩm: là giá thành sản xuất của sản phẩm
bao gồm các định phí và biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Việc tính giá thành sản xuất toàn bộsản phẩm có vai trò quan trọng trong quản trị doanh nghiệp,dựa vào đó doanhnghiệp có thể xác định được kết quả sản xuất của quá trình sản xuất sản phẩm Giúpcác nhà quản lý đưa ra được các quyết định dài hạn, quyết định sản xuất hay ngừngsản xuất một loại sản phẩm nào đó
Giá thành sản xuất theo biến phí là giá thành chỉ toàn bộ biến phí bao gồm
biến phí trực tiếp và biến phí gián tiếp Như vậy theo phương pháp này chi phí sảnxuất chung cố định không được tính vào giá thành sản phẩm mà được tính ngay vàobáo cáo kết quả kinh doanh như các chi phí thời kỳ Do giá thành sản xuất chỉ baogồm biến phí sản xuất nên còn được gọi là giá thành sản xuất bộ phận
Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: Là giá thành sản xuất của sản phẩm tiêu
Trang 25thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Chỉ tiêu này chỉ xác địnhkhi sản phẩm đã được tiêu thụ và được sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ.
• Thứ hai: Phân loại giá thành sản phẩm căn cứ và thời điểm tính giá thành.
Giá thành kế hoạch: là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ sở chi
phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Giá thành sản xuất kế hoạch được tínhtoán trước khi sản xuất sản phẩm, là cơ sở để so sánh , phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch của doanh nghiệp
Giá thành định mức: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ sở
các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Giá thành sản xuấtđịnh mức được tính toán trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm
Giá thành thực tế: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên số liệu chi
phí sản xuất thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoànthành thực tế trong kỳ Chỉ này chỉ xác định được khi kết thúc quá trình sản xuấtsản phẩm, và là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
1.2.2 Xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất và giá thành trong doanh nghiệp.
1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất.
- Khái niệm định mức chí phí.
Định mức là dự toán CP cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc cungcấp một dịch vụ đơn lẻ Định mức CP không chỉ đơn giản là ước tính CP mà còn làmục tiêu cần đạt được Định mức CP bao gồm định mức CPNVLTT, định mứcCPNCTT và định mức CPSXC, trong đó các định mức giá và định mức lượng đượcthiết lập cho từng khoản mục CP Định mức CP được chia thành hai loại: định mức
lý tưởng và định mức thực tế
- Phân loại định mức chi phí:
Định mức được chia thành định mức lý tưởng và định mức thực tế
Định mức lý tưởng (định mức lý thuyết): là những định mức chỉ có thể đạt
được trong điều kiện hoàn hảo nhất Chúng không cho phép bất kỳ một sự hư hỏngnào của máy móc thiết bị hay sự gián đoạn của sản xuất Chúng đòi hỏi một trình độ
Trang 26năng lực rất cao mà chỉ có thể có ở những công nhân lành nghề, làm việc với sự cốgắng tột độ trong suốt thời gian lao động Định mức lý tưởng không được sử dụngtrong hoạt động quản trị vì đây là loại định mức mà thực tế không bao giờ đạt được.
Định mức thực tế: là những định mức được xây dựng chặt chẽ nhưng có khả
năng đạt được, nếu cố gắng Chúng cho phép có thời gian ngừng máy hợp lý, thờigian nghỉ ngơi của nhân viên, người lao động có trình độ lành nghề trung bình, ýthức trách nhiệm đầy đủ
Định mức thực tế được dùng làm cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả thựchiện Thông qua việc đánh giá thực hiện định mức, nhà quản trị phát hiện ra nhữnghiện tượng không bình thường, những chỗ kém hiệu quả cần được xem xét kỹ lưỡng
và tìm biện pháp khắc phục hoặc những tiềm năng cần tìm hiểu để có biện phápphát huy Để thực hiện được phương pháp chi phí định mức, nhà quản trị phải tiếnhành lập dự toán chi phí cho doanh nghiệp
- Xây dựng định mức cho các khoản mục chi phí:
Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Bước đầu tiên là xác định các loại nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất mộtloại sản phẩm Sau đó, định mức chi phí nguyên vật liệu phải xây dựng cho cả địnhmức về lượng vật liệu tiêu hao và định mức về giá của nguyên vật liệu Ngoài ra,các vấn đề liên quan đến nguyên vật liệu tồn kho, mức dự trữ tối thiểu, tỷ lệ sảnphẩm hỏng, chi phí thu mua, vận chuyển của nguyên vật liệu… cũng phải được xemxét đến khi xây dựng định mức
Định mức CF NVL trực tiếp= Định mức NVL trực tiếp cho 1 đv sản phẩm X Định mức giá NVL trực triếp.
Trong đó:
Trang 27Số lượng NVL hao hụt cho phép trong sản xuất một đơn vị sản phẩm
+
Số lượng NVL hư hỏng cho phép trong một đơn vị sản phẩm
Định mức chi phí nhân công trực tiếp:
Việc xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp cũng tương tự như chi phínguyên vật liệu trực tiếp Có nghĩa là định mức chi phí nhân công phải xây dựngcho cả định mức về thời gian lao động và đơn giá tiền lương
Định mức CF nhân công trực tiếp = Thời gian lao động định mức X Đơn giá tiền lương định mức.
Định mức chi phí sản xuất chung: Định mức chi phí chi phí sản xuất chung
tính cho một đơn vị sản phẩm thường được tính toán trên mức chi phí sản xuấtchung ước tính tại mức sản lượng thông thường
Chi phí sản xuất chung về bản chất là chi phí hỗn hợp, nó bao gồm cả biến phí
và định phí Do vậy, khi xây dựng định mức, nhà quản trị phải tìm cách phân táchbiến phí và định phí và sau đó tiến hành xây dựng định mức cho biến phí
Định mức biến phí sản xuât chung = (Mức độ hoạt động dự toán) X (Đơn giá biến phí SXC định mức).
Định mức định phí sản xuât chung = (Mức độ hoạt động dự toán) X (Đơn giá định phí SXC dự toán).
Định mức chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: Về bản chất, hailoại chi phí này cũng là chi phí gián tiếp giống như chi phí sản xuất chung Do vậy,cách xây dựng định mức của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệptương tự như chi phí sản xuất chung
1.2.2.2 Dự toán chi phí sản xuất.
- Khái niệm và vai trò dự toán chi phí:
Dự toán là việc dự tính các số liệu liên quan đến công việc sắp tới, cần đưa ra cáccon số dự báo trước để có kế hoạch chuẩn bị thông qua việc tính toán tổng thể các hạngmục Cơ sở tính toán dựa trên các tiêu chuẩn và số liệu thực tế từ trước, làm căn cứ để
Trang 28đưa ra con số dự tính hợp lý nhất Người làm dự toán thường sẽ lập thành bảng tính cụthể, trong đó thể thiện số lượng, giá trị, thời gian hoàn thành các hạng mục…
- Nội dung phương pháp xây dựng dự toán:
Dự toán chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản trị doanhnghiệp Dự toán là việc tính toán, dự kiến phối hợp giữa các mục tiêu cần đạt đượcvới khả năng huy động các nguồn lực trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhtheo các chỉ tiêu số lượng, giá trị trong khoảng thời gian nhất định trong tương lai
Dự toán chi phí sản xuất là cơ sở để các nhà quản trị kiểm tra, giám sát quá trình sảnxuất kinh doanh và đánh giá kết quả các biện pháp thực hiện Mặt khác, dự toán chiphí sản xuất kinh doanh giúp các nhà quản lý phát hiện, ngăn ngừa và hạn chếnhững rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, trong nền kinh
tế thị trường muốn tồn tại và phát triển, các nhà quản lý cần dự toán được các chiphí sản xuất kinh doanh để từ đó đưa ra được các chiến lược biện pháp tổ chức quản
lí sản xuất kinh doanh hợp lý
Quá trình xây dựng dự toán chi phí là một quá trình bao gồm nhiều nội dungnhư: dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp và
dự toán chi phí sản xuất chung
Kết thúc của quá trình xây dựng dự toán chi phí sản xuất, nhà quản trị sẽ có cơ sở
để so sánh với số liệu thực tế để đưa ra các đánh giá về tình hình thực hiện dự toán.Nếu có chênh lệch giữa số liệu thực tế và số liệu dự toán, nhà quản trị cần đisâu vào tìm hiểu nguyên nhân, đánh giá xem sự sai lệch đó là do nguyên nhânkhách quan hay nguyên nhân chủ quan như: thay đổi về giá cả thị trường, tay nghềcủa người lao động, chất lượng của máy móc, thiết bị sản xuất ảnh hưởng đến năngsuất lao động… từ đó đề ra được phương hương khắc phục hay điều chỉnh dự toáncho phù hợp
Dự toán sản xuất kinh doanh được xây dựng cho từng bộ phận, từng đơn vịtrực thuộc và tổng hợp chung toàn doanh nghiệp, dự toán được thiết lập cho cả kỳkinh doanh (năm) và được cụ thể cho từng giai đoạn (các quý)
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp được lập để chỉ số nguyên vật liệu cần thiết
Trang 29cho quá trình sản xuất, phải có đủ nguyên vật liệu sẵn sàng thỏa mãn cho nhu cầusản xuất và để cung cấp cho nhu cầu tồn kho cuối kỳ Một phần nguyên vật liệu này
có sẵn trong tồn kho nguyên vật liệu đầu kỳ, số còn lại phải mua thêm từ bên ngoài.Căn cứ vào dự toán chi phí nguyên vật liệu, doanh nghiệp sẽ tiến hành lập dự toáncung cấp nguyên vật liệu cho từng loại nguyên vật liệu cần thiết để thực hiện quátrình sản xuất Để dự toán NVLTT, ta sử dụng công thức sau:
Dự toán chi phí NVLTT = Dự toán sản lượng sản
xuất x Định mức chi phí NVLTT Trong đó:
Dự toán sản
lượng sản xuất =
Sản lượng dự kiến tồn cuối kỳ +
Dự toán sản lượng tiêu thụ trong kỳ -
Sản lượng dự kiến tồn cuối kỳ
Định mức chi phí NVLTT
cho 1 đơn vị sản phẩm =
Định mức số lượng NVL cho 1 đơn vị sản phẩm x Định mức giá NVL
+
Số lượng NVL hao hụt cho phép trong
SX 1 đơn vị SP
+
Số lượng NVL hư hỏng cho phép trong SX 1 đơn vị
SP
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp cũng được lập theo dự toán sản xuất, phảibiết trước được nhu cầu lao động trong cả năm để có kế hoạch điều chỉnh lực lượnglao động thích nghi với tình hình, không làm ảnh hưởng đến sản xuất, giúp nhà quản
lý có kế hoạch chủ động trong việc sử dụng lao động, làm cơ sở phân tích ảnh hưởngcủa chi phí nhân công với chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm… Dự toán nàycung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao độngcần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng laođộng vừa đủ đáp ứng yêu cầu của sản xuất tránh tình trạng lãng phí lao động Dựtoán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trongquá trình hoạt động sản xuất Để lập đự toán NCTT có thể sử dụng công thức sau:
Trang 30Dự toán chi
phí NCTT = Dự toán sản lượng sản xuất x
Định mức chi phí NCTT/
1SPSX Trong đó:
Định mức chi phí NCTT
để SX 1 đơn vị SP =
Định mức thời gian cần thiết để SX 1 đơn vị SP x
Định mức giá 1 đơn vị thời gian sản xuất
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được lập cho từng loại sản phẩm , sau đótổng hợp lại được dự toán chi phí nhân công trực tiếp cho toàn doanh nghiệp Dựtoán chi phí nhân công trực tiếp giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc sử dunglao động, đem lại hiệu quả tốt nhất
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạtđộng sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu
tố chi phí biến đổi và chi phí cố định Dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đếncách ứng xử chi phí để xây dựng mức phí dự toán hợp lý trong kỳ Cũng có thể dựtoán chi phí sản xuất chung theo từng nội dung kinh tế cụ thể của chi phí
Chi phí sản xuất chung gồm nhiều khoản chi phí có liên quan đến nhiều đốitượng chịu chi phí khác nhau Các chi phí này được chia thành chi phí khả biến vàchi phí bất biến Khi lập dự toán cần tính toán riêng biến phí và định phí, sau đótổng hợp lại
Dự toán chi phí
sản xuất chung = Dự toán định phí SXC + Dự toán biến phí SXC
Dự toán định phí sản xuất chung được lập trên cơ sở dự toán định phí tùy ý
và dự toán định phí bắt buộc
Dự toán định phí
sản xuất chung = Dự toán định phí tùy ý + Dự toán định phí bắt buộc
Dự toán biến phí sản xuất chung: Dự toán biến phí sản xuất chung phụ thuộcvào mối quan hệ giữa biến phí sản xuất chung với khối lượng sản xuất , trình độquản lí và tổng chi phí sản xuất Nếu chi phí SXC liên quan đến từng loại đối tượng
và xác định được mối quan hệ chi phí sản xuất chung với chi phí trực tiếp thì dựtoán biến phí sản xuất chung được xác định như sau:
Dự toán biến phí = Dự toán biến phí trực tiếp x Tỷ lệ biến phí SXC với
Trang 31sản xuất chung biến phí trực tiếp
Nếu xác định được tiêu chuẩn phân bổ chi phí sản xuất chung và đơn giá phân
bổ biến phí sản xuất chung thì dự toán biến phí sản xuất chung được xác định
Như vậy, những gì đã xảy ra và những kết quả đạt được kỳ trước chỉ làm căn
cứ để dự đoán tương lai phục vụ cho việc xây dựng định mức sát với điều kiện thực
tế hơn Vì vậy, định mức chi phí là chỉ tiêu phản ánh mức hoạt động hiệu quả cho
kỳ dự toán sắp thực hiện Ở nước ta, từ trước đến nay thông thường các doanhnghiệp chủ yếu dựa vào định mức kinh tế kỹ thuật của ngành đã được xây dựng vànhà nước phê duyệt làm định mức chi phí cho doanh nghiệp Trong điều kiện hiệnnay đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng và giá cả sản phẩm.Muốn sản xuất có hiệu quả các nhà quản trị phải nghiên cứu và xây dựng định mứcthực tế cho phù hợp hơn với điều kiện của doanh nghiệp trên cơ sở định mức chungcủa ngành Hơn nữa định mức kinh tế kỹ thuật của ngành được xây dựng có thểchưa bao quát được những điều kiện, đặc điểm, kỹ thuật cụ thể của doanh nghiệp
Do đó, để doanh nghiệp có thể dự toán sản xuất kinh doanh hợp lý, sát với điều kiện
cụ thể thì cần phải xây dựng định mức chi phí riêng cho doanh nghiệp
1.2.3 Thu thập thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ yêu cầu
Trang 32quản trị
1.2.3.1.Phương pháp xác định chi phí trong kế toán quản trị.
Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận là bao gồm các chiphí đã phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thường của doanhnghiệp Các chi phí này được kế toán ghi nhận trên chứng từ phản ánh các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh Ví dụ như khi xuất kho nguyên vật liệu sử dụng vào sản xuấtthì ghi nhận chi phí nguyên vật liệu tăng lên và hàng tồn kho giảm xuống Nghiệp
vụ này thông qua phiếu xuất kho để minh chứng Trong khi đó dưới góc độ của kếtoán quản trị thì mục đích là cung cấp các thông tin thích hợp về chi phí để kịp thờiđưa ra các quyết định về sản xuất kinh doanh Do vậy kế toán quản trị không đơnthuần là nhận diện chi phí như kế toán tài chính mà còn là nhận diện thông tin đểphục vụ cho yêu cầu quản trị Do vậy chi phí được phản ánh có thể là những chi phíhiện tại đã phát sinh hàng ngày hoặc cũng có thể là những chi phí ước tính hoặc dựđoán để thông qua đó có thể lựa chọn được phương án tối ưu nhất và đưa ra quyếtđịnh chính xác nhất
Xác định chi phí thường được thực hiện theo hai hình thức: Phương pháp xácđịnh chi phí theo công việc và phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
a. Xác định chi phí theo công việc
Phương pháp xác định chi phí theo công việc được áp dụng cho những sảnphẩm được thực hiện theo đơn đặt hàng và theo yêu cầu của từng khách hàng riêngbiệt Sản phẩm dễ nhận diện, có giá trị cao và có kích thước lớn Phương pháp nàythường áp dụng trong các doanh nghiệp xây dựng, thiết kế, khảo sát, may mặc…
Để áp dụng được phương pháp này thì sản phẩm phải đảm bảo ít nhất mộttrong các đặc điểm sau:
- Có tính độc đáo theo yêu cầu của từng đơn đặt hàng
- Có giá trị lớn
- Có kích thước lớn
- Được đặt mua trước khi sản xuất
- Mang tính đơn chiếc, duy nhất
Khi có một “công việc” (một đơn đặt hàng, một hạng mục dự án…) một phiếuchi phí công việc sẽ được mở cho công việc đó Như vậy, phiếu chi phí công việc
Trang 33hoặc đơn đặt hàng là một chứng từ chi tiết dùng để tổng hợp các chi phí sản xuấtphát sinh khi đơn đặt hàng được thực hiện
Căn cứ vào đơn đặt hàng của khách hàng, phòng Kế hoạch công bố lệnh sảnxuất, chi phí được tính và ước tính thông qua các loại chứng từ như: Phiếuxuất kho vật liệu, phiếu theo dõi lao động, mức phân bổ CP sản xuất chung… Cáckhoản CP sản xuất khác nhau đều được tập hợp vào phiếu chi phí công việc Phiếunày là căn cứ để xác định: Chi phí sản xuất từng đơn đặt hàng, chi phí đơn vị sảnphẩm, chi phí sản phẩm chưa hoàn thành, giá vốn hàng bán
Sơ đồ 1.1: Quy trình xác định chi phí theo công việc
Theo quy trình trên, các loại chi phí được xác định như sau:
Kế toán chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp:
CP nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên liệu, vật liệu chính,nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản
Trang 34xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ CP nguyên liệu, vật liệu trựctiếp được theo dõi cho từng đối tượng tính giá thành Để thu nhận, cung cấp thông tin
về chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp cho từng đối tượng, kế toán quản trị sử dụngtài khoản 621 “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” Tùy theo yêu cầu cụ thể kếtoán doanh nghiệp có thể mở TK 621 chi tiết cho từng công việc, đơn đặt hàng
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
CP nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếpsản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại dịch vụ, lao vụ gồm: tiền lươngchính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất CP nhân công trựctiếp được theo dõi cho từng đối tượng tính giá thành Để thu nhận, cung cấp thôngtin về chi phí nhân công trực tiếp cho từng đối tượng, kế toán quản trị sử dụng tàikhoản 622 “Chi phí nhân công trực tiếp” Tùy theo yêu cầu cụ thể kế toán doanhnghiệp mở TK 622 chi tiết cho từng công việc, đơn đặt hàng
Kế toán chi phí sản xuất chung:
CP sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quátrình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất CP sản xuấtchung thường liên quan tới nhiều đối tượng tính giá thành, kế toán thường phải sửdụng phương pháp phân bổ gián tiếp, căn cứ vào các chứng từ (bảng tổng hợpchứng từ, bảng phân bổ) về chi phí sản xuất chung để ghi vào sổ chi tiết TK 627 chitiết theo từng địa điểm phát sinh chi phí, chi tiết theo từng yếu tố chi phí, nhận diệntheo chi phí biến đổi và chi phí cố định Việc tính toán xác định chi phí sản xuấtchung tính vào chi phí chế biến sản phẩm phải căn cứ vào mức công suất hoạt độngthực tế của phân xưởng:
CP sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vịsản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất Trường hợpmức sản phẩm thực tế sản xuất cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuấtchung cố định phân bổ theo chi phí thực tế phát sinh Trường hợp mức sản phẩmsản xuất thấp hơn công suất bình thường, thì chỉ được phân bổ theo mức công suất
Trang 35bình thường, phần chi phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi phísản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Chi phí sản xuất chung biến đổi được tính hết vào giá thành sản phẩm, côngviệc trong kỳ theo chi phí thực tế
Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là việc tính toán phân bổ chi phí theocông việc cụ thể Kế toán tiến hàng cộng dồn chi phí nguyên vật liệu, nhân công,chi phí chung mỗi công việc nhà quản trị có thể tính được giá thành , tính ra hiệuquả kinh doanh Có thể tiết kiệm chi phí , quản trị trong định mức cho phép, nếunằm ngoài giới hạn cho phép có thể tìm ra nguyên nhân xử lý kịp thời
b Xác định chi phí theo quá trình sản xuất
Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có quy trình sản xuất sảnphẩm với số lượng lớn, sản phẩm sản xuất hàng loạt, có nhiều giai đoạn công nghệ,nhiều giai đoạn chế biến nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định Mỗi giai đoạnchế biến tạo ra một loại bán thành phẩm, bán thành phẩm giai đoạn này là đối tượngchế biến ở giai đoạn kế tiếp Bởi vậy, phương pháp xác định chi phí theo quá trìnhsản xuất thường có những đặc điểm cơ bản sau:
- Sản phẩm thường có cùng hình thái, kích cỡ như: quần áo, giầy dép, đường,sữa,…
- Giá trị sản phẩm thường không cao như: bút, vở học sinh, đường, sữa,…
- Giá bán của sản phẩm được xác định sau khi sản xuất Sản phẩm được đặtmua sau khi sản xuất do doanh nghiệp sản xuất đại trà sau đó đưa ra thị trường tiêuthụ
Đối tượng tập hợp chi phí theo phương pháp này là từng giai đoạn, từng phânxưởng Để tập hợp chi phí sản xuất, mỗi giai đoạn công nghệ (phân xưởng sản xuất)
mở chi tiết tài khoản 154 (tương ứng với một báo cáo sản xuất) tđể tập hợp chi phísản xuất từng giai đoạn Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất cũng
sử dụng Tài khoản “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, tài khoản “Chi phí nhâncông trực tiếp”, tài khoản “Chi phí sản xuất chung” để phản ánh chi phí sản xuất(chi tiết cho từng phân xưởng sản xuất) Các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
Trang 36Chi phí sản xuất
Phân xưởng 1
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất
Phân xưởng 3 Phân xưởng 5 Thành phẩm
Phân xưởng 2 Phân xưởng 4 Thành phẩm
Nguyên liệu chính
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung phát sinh ở phân xưởng nào thìtập hợp trực tiếp cho phân xưởng đó
Sơ đồ 1.2: Quy trình xác định chi phí theo quá trình sản xuất
Phương pháp kế toán đơn giản nhất đối với chi phí sản xuất chung xác địnhchi phí theo quá trình sản xuất là hạch toán chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh,thay vì chi phí sản xuất chung ước tính như ở phương pháp xác định chi phí theocông việc Phương pháp này được thực hiện khi sản lượng sản phẩm sản xuất ổnđịnh từ kỳ này sang kỳ sang và chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh đều đặnkhông có biến động giữa các kỳ
Nếu sản lượng sản xuất không ổn định và chi phí sản xuất chung biến độnggiữa các kỳ thì ta có thể phân bổ chi phí sản xuất chung như ở phương pháp xácđịnh chi phí theo công việc, nghĩa là mỗi phân xưởng sản xuất phải xác định đơngiá phân bổ chi phí sản xuất chung riêng để phân bổ cho sản phẩm của phân xưởng
Trang 37Chi phí sản xuất ở mỗi giai đoạn còn có thể bao gồm cả giá trị bán thành phẩmcủa các giai đoạn trước.
c. Xác định chi phí sản xuất sản phẩm dựa trên hoạt động (ABC)
Điểm nổi bật của phương pháp xác định chi phí sản xuất trên cơ sở hoạt động
là nhấn mạnh các hoạt động như là những đối tượng hạch toán chi phí chủ yếu Chiphí phát sinh theo hoạt động sẽ được phân bổ cho các đối tượng tính giá thành theo
số lượng hoạt động mà các đối tượng này đã sử dụng
Các bước thực hiện mô hình ABC:
Bước 1: Nhận diện các chi phí trực tiếp: Chi phí trực tiếp trong các đơn vị sảnxuất thường bao gồm chi phí vật liệu, nhân công trực tiếp sản xuất Các khoản chiphí này thường được tập hợp thẳng vào đối tượng chịu chi phí để tính giá thành sảnphẩm
Bước 2: Nhận diện các hoạt động làm phát sinh chi phí
Bước 3: Chọn tiêu thức phân bổ chi phí cho các hoạt động
Bước 4: Tính toán mức phân bổ: Chi phí gián tiếp được hạch toán cho từngđối tượng tính giá thành sản phẩm theo hệ số phân bổ được tính toán Nếu hoạtđộng liên quan đến sản xuất một sản phẩm thì toàn bộ chi phí được kết chuyển chosản phẩm đó Nếu một hoạt động được sử dụng cho sản xuất nhiều loại sản phẩm thìchi phí được phân bổ cho mỗi loại sản phẩm dựa trên mức độ tiêu dùng hoạt độngcủa từng loại sản phẩm
Bước 5: Tổng hợp tất cả các chi phí để tính giá thành sản phẩm
Như vậy, phương pháp ABC đã hoàn thiện hệ thống tính giá thành của doanhnghiệp trên ba góc độ:
Thứ nhất, gia tăng số lượng tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung
Thứ hai, gia tăng phạm vi hạch toán chi phí sản xuất chung
Thứ ba, làm thay đổi bản chất của chi phí sản xuất chung Nếu trước đây chi
phí sản xuất chung được xem là chi phí gián tiếp thì xác định chi phí trên cơ sở hoạtđộng sẽ nhìn chi phí này là chi phí trực tiếp theo từng hoạt động
d Xác định chi phí sản xuất theo mô hình chi phí mục tiêu (Target – Costing)
Phương pháp xác định chi phí sản xuất theo mô hình chi phí mục tiêu là mộtphương pháp kế toán quản trị hiện đại đã và đang được áp dụng thành công tạinhiều nước trên thế giới Phương pháp này là một quá trình xác định và thực hiện
Trang 38chi phí mục tiêu cho sản phẩm ngay từ những giai đoạn đầu tiên nghiên cứu và pháttriển sản phẩm, bảo đảm sản phẩm sẽ thu được mức lợi nhuận mục tiêu mongmuốn
Cách tiếp cận của phương pháp này là tiếp cận ngược từ giá thị trường, sau đótác động đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp Nhìn vào bản chất, phương pháp nàykhông quá nhấn mạnh vào chi phí mà xem xét yêu cầu của người tiêu dùng đối vớisản phẩm Từ yêu cầu này, doanh nghiệp mới xác định chi phí Như vậy, chi phí là kếtquả của một quá trình đánh giá chứ không phải là đối tượng nghiên cứu đầu tiên Phương pháp chi phí mục tiêu được bắt đầu bằng việc ước tính giá bán của sảnphẩm dựa trên công dụng và thuộc tính của sản phẩm, các đối thủ cạnh tranh, lấygiá này trừ đi lợi nhuận mong đợi, từ đó doanh nghiệp sẽ xác định mức chi phí mụctiêu có thể chấp nhận để tiến hành sản xuất sản phẩm Phương pháp chi phí mục tiêugồm năm giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Đánh giá thị trường, nghiên cứu và phát triển sản phẩm với chất
lượng và các chức năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng và thị trường
Giai đoạn 2: Xác định giá bán mục tiêu Giá bán mục tiêu được thiết lập dựa
trên chiến lược phát triển của sản phẩm
Giai đoạn 3: Xác định mức lợi nhuận mục tiêu Mức lợi nhuận mục tiêu được
xác định dựa trên kế hoạch kinh doanh và chiến lược phát triển doanh nghiệp Sảnlượng hàng bán cũng được ước tính ngay trong giai đoạn này để xác định lợi nhuậnước tính trong cả vòng đời của sản phẩm
Giai đoạn 4: Xác định chi phí mục tiêu và thiết kế sản phẩm đạt được chi phí
mục tiêu Chi phí mục tiêu được xác định bằng giá bán mục tiêu trừ đi lợi nhuậnmục tiêu Trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần tiến hành xác định và phân tíchthành phần chi phí sản xuất tạo thành sản phẩm
Giai đoạn 5: Sản xuất sản phẩm và áp dụng các biện pháp tiết kiệm chi phí
sản xuất
Điểm khác biệt giữa phương pháp chi phí mục tiêu và phương pháp chi phítruyền thống là việc xác lập chi phí mục tiêu không chỉ quan tâm đến điều kiện sảnxuất mà còn chú ý đến cả lợi nhuận mục tiêu Chi phí mục tiêu được xem là giớihạn chi phí để đạt được hiệu quả sản xuất mong muốn Sau khi xác định được chi
Trang 39phí mục tiêu, nhà quản trị cần phải tổ chức quản trị chi phí theo từng giai đoạn củaquy trình sản xuất làm sao cho chi phí thực tế không vượt quá chi phí mục tiêu.
1.2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ yêu cầu quản trị.
Từ thông tin thu thập trong quá khứ kế toán phân loại, lựa chọn, tổng hợpcung cấp thông tin có hiệu quả nhất Quá trình tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hoá
và cung cấp thông tin kế toán quản trị chi phí bao gồm tổ chức hệ thống chứng từ,
tổ chức hệ thống tài khoản, tổ chức hệ thống sổ kế toán và tổ chức lập báo cáo kếtoán quản trị Quá trình này còn phụ thuộc vào bộ máy tổ chức kế toán quản trị củadoanh nghiệp Nếu theo mô hình độc lập thì hệ thống kế toán quản trị được tổ chứcthành bộ máy riêng sử dụng hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo kếtoán tách rời với kế toán tài chính Nếu theo mô hình kết hợp thì kết hợp hệ thốngtài khoản tổng hợp và chi tiết trên cùng một hệ thống, ngoài ra mở thêm các tàikhoản, sổ chi tiết không kết hợp được phục vụ riêng cho kế toán quản trị Kế toánquản trị chi phí một mặt dựa trên cơ sở các ghi chép của kế toán tài chính để tậphợp thông tin các chi phí đã phát sinh, mặt khác dự báo từ nhiều nguồn khác nhau,thu thập, tính toán các thông tin liên quan đến tương lai như thông tin dự báo về tìnhhình phát sinh chi phí trong tương lai, thông tin liên quan chi tiết hơn hay các thôngtin mà kế toán tài chính chưa thu thập được, trình bày, diễn giải các số liệu và báocáo thích hợp cho việc ra quyết định của từng cấp quản lý
Cụ thể doanh nghiệp có thể thiết lập hệ thống chứng từ riêng để thu thậpnhững thông tin sử dụng riêng của kế toán quản trị chi tiết hoá các cấp tài khoảnphản ánh chi phí, thiết kế các sổ kế toán mới phù hợp với yêu cầu quản lý chi phícủa bộ phận, công việc Ví dụ như doanh nghiệp có thể bổ sung chỉ tiêu trên chứng
từ ban đầu, chi tiết tài khoản hỗ trợ cho việc tách mã phí, phân biệt biến phí, địnhphí Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí được xây dựng phù hợp với yêu cầucung cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của đơn vị, như báo cáo chi phí sản xuấttheo các khoản mục chi phí cung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sảnxuất thực tế của từng sản phẩm; báo cáo bộ phận cung cấp thông tin về hiệu quả,
Trang 40tiềm năng và các mặt tồn tại của một bộ phận, đơn hàng hay phân xưởng đồng thờiphản ánh được khả năng kiểm soát của nhà quản trị Những thông tin này sẽ là cơ
sở cho các quyết định như duy trì sự tồn tại và phát triển của bộ phận, tổ đội thicông, đánh giá trách nhiệm quản lí của từng tổ đội; các báo cáo phân tích như báocáo phân tích biến động chi phí, báo cáo phân tích số liệu chi phí để so sánh cácphương án đang xem xét; các báo cáo tiến độ thi công, báo cáo dự báo vật tư theo
kế hoạch thi công, báo cáo năng suất lao động…giúp theo dõi tiến độ thực hiện của
dự án, kiểm soát vật tư, lao động theo kế hoạch, từ đó kịp thời điều chỉnh nếu có sựchậm trễ trong quá trình thực hiện Kế toán quản trị dựa vào các phương pháp sau
để thu thập thông tin:
- Theo phương pháp chứng từ:
Chứng từ kế toán là phương pháp thông tin và kiểm tra sự phát sinh và hoànthành của các nghiệp vụ kinh tế; qua đó sẽ thông tin và kiểm tra về hình thái và sựbiến động của từng đối tượng kế toán cụ thể
Việc thu thập số liệu liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của mộtđơn vị là dựa vào các chứng từ do đơn vị tự phát hành hoặc tiếp nhận từ các đơn vịbên ngoài thông qua các quan hệ kinh tế phát sinh với đơn vị
Chẳng hạn, khi đơn vị mua vật tư, hàng hóa, tài sản hoặc các dịch vụ từ cácnhà cung cấp, đơn vị sẽ nhận được hóa đơn của nhà cung cấp để làm bằng chứngcho giao dịch về họ đã bán cho đơn vị vật tư, hàng hóa, tài sản, dịch vụ; ngược lại,khi đơn vị chi tiền để trả tiền mua vật tư, hàng hóa, tài sản hoặc dịch vụ, đơn vị sẽviết phiếu chi để làm bằng chứng cho giao dịch đã được thanh toán Như vậy, có thểnói, chứng từ là phương tiện chứng minh cho tính hợp pháp, hợp lệ của nghiệp vụkinh tế, là phương tiện thông tin về kết quả của nghiệp vụ kinh tế đó; nó là cơ sở đểghi sổ kế toán có liên quan
- Phương pháp tài khoản:
Phương pháp tài khoản kế toán được sử dụng nhằm phản ánh tình hình và sựbiến động của từng đối tượng kế toán Hay nói cách khác tài khoản kế toán phảnánh đối tượng kế toán ở cả trạng thái tĩnh và trạng thái động Kế toán phân loại,