Giáo trình môn học Quản trị rủi ro, Đại học Kinh tế Quốc dân. Cuốn sách Bài giảng quản trị rủi ro tập trung trình bày nguyên lý quản trị rủi ro theo thông lệ tốt nhất, với nguyên tắc Basel, ứng dụng các mô hình toánkinh tế lượng để đo lường rủi ro và ước lượng tổn thất trong hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC ĐỊNH CHẾ
TÀI CHÍNH 5
1.1 Hệ thống chế tài chính 5
1.2 Các loại định chế tài chính 7
1.2.1 Tổ chức tín dụng 9
1.2.2 Tổ chức tài chính khác 14
1.2.2.1.Công ty bảo hiểm 14
1.2.2.2.Công ty chứng khoán 15
1.2.2.3.Quỹ đầu tư 15
1.3 Rủi ro trong định chế tài chính 16
1.3.1 Khái niệm về rủi ro 16
1.3.2 Phân loại rủi ro 17
1.4 Quản trị rủi ro trong định chế tài chính 19
1.4.1 Khái niệm về quản trị rủi ro 19
1.4.2 Quy trình quản trị rủi ro 19
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO 30
2.1 Giới thiệu về đo lường rủi ro 30
2.2 Mô hình đo lường tổn thất 32
2.2.1 Độ dao động 33
2.2.2 Mô hình VaR 33
2.2.3 Mô hình ES 43
2.3 Mô hình ước lượng xác suất 45
2.3.1 Mô hình Logit 45
2.3.2 Mô hình Probit 48
2.3.3 Mô hình Merton-KMV 49
2.4 Mô hình phân tích khác biệt 56
2.4.1 Phương pháp hình học 57
2.4.2 Phương pháp xác suất 59
2.5 Mô hình chuỗi thời gian 59
2.5.1 Mô hình san mũ 60
2.5.2 Mô hình ARIMA 61
2.5.3 Mô hình ECM 62
Trang 22.5.4 Mô hình dự báo độ dao động 63
CHƯƠNG 3: QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 71
3.1 Tổng quan về rủi ro lãi suất 71
3.1.1 Lãi suất 71
3.1.2 Rủi ro lãi suất 73
3.2 Quản trị rủi ro lãi suất 74
3.2.1 Nhận diện rủi ro lãi suất 74
3.2.2 Đo lường rủi ro lãi suất 76
3.2.3 Giám sát/phòng ngừa rủi ro lãi suất 101
CHƯƠNG 4: QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ 121
4.1 Một số vấn đề chung về rủi ro tỷ giá 121
4.2 Quản trị rủi ro tỷ giá 125
4.2.1 Nhận diện rủi ro tỷ giá 125
4.2.2 Đo lường rủi ro tỷ giá 127
4.2.3 Giám sát rủi ro tỷ giá 148
CHƯƠNG 5: QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 171
5.1 Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng 171
5.1.1 Khái niệm 171
5.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 172
5.1.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 173
5.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng 175
5.2 Quản trị rủi ro tín dụng 178
5.2.1 Khái niệm 178
5.2.2 Nhận biết rủi ro tín dụng 179
5.2.3 Đo lường rủi ro tín dụng 181
5.2.4 Giám sát 222
5.2.5 Xử lý 226
CHƯƠNG 6: QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 238
6.1 Rủi ro thanh khoản 238
6.1.1 Khái niệm 238
6.1.2 Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản 242
6.1.3 Hậu quả của rủi ro thanh khoản 245
6.2 Quản trị rủi ro thanh khoản 248
Trang 36.2.1 Mục tiêu 248
6.2.2 Chiến lược quản trị thanh khoản 249
6.3 Quy trình quản trị thanh khoản 256
6.3.1 Bước 1: Lựa chọn chiến lược quản trị thanh khoản 258
6.3.2 Bước 2: Lập kế hoạch và phê duyệt kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn để xác định cung thanh khoản và cầu thanh khoản (nhận diện thanh khoản) 258
6.3.3 Bước 3: Lập kế hoạch dòng tiền để xác định khe hở thanh khoản (đo lường thanh khoản) 258
6.3.4 Bước 4: Xử lý thanh khoản (Thực hiện kế hoạch dòng tiền) 259
6.4 Thử nghiệm các tình huống trong điều kiện khó khăn (stress-testing) 260
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 275
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Các định chế tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, quĩđầu tư đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thông qua huy động, phân bổ cóhiệu quả các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực Bên cạnh mục tiêu tăngtrưởng, các định chế tài chính cũng luôn phải quan tâm đến mục tiêu quản trị rủi ro Cóthể khẳng định, quản trị rủi ro như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản góp phần đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của tổ chức đi đúng hướng, bảo vệ uy tín,thương hiệu và lợi nhuận, quyết định sự phát triển bền vững của các định chế tài chính,cũng như của cả nền kinh tế
Cuốn Bài giảng Quản trị rủi ro trong các định chế tài chính được biên soạn bởi hai
bộ môn – Bộ môn Ngân hàng thương mại và Bộ môn Toán tài chính, Trường Đại họcKinh tế quốc dân – cung cấp khối kiến thức cơ bản và nâng cao về quản trị rủi ro, kết hợp
lý thuyết chung với thực tiễn của các định chế tài chính Việt Nam Cuốn bài giảng tậptrung trình bày nguyên lý quản trị rủi ro theo thông lệ tốt nhất, với nguyên tắc của Basel,ứng dụng các mô hình toán/kinh tế lượng để đo lường rủi ro và ước lượng tổn thất tronghoạt động kinh doanh của các định chế tài chính Việt Nam Cuốn bài giảng là sự hợp tácđầu tiên của các thầy, cô giáo hai bộ môn Ngân hàng thương mại và Toán tài chính Sựhợp tác này tạo nên nhiều điểm lý thú trong nội dung bài giảng, cũng như quá trình giảngdạy môn học
Kết cấu cuốn bài giảng gồm 06 chương:
Chương 1: Tổng quan về các định chế tài chính
Chương 2: Các mô hình đo lường rủi ro
Chương 3: Quản trị rủi ro tín dụng
Chương 4: Quản trị rủi ro tỷ giá
Trang 5Chương 5: Quản trị rủi ro lãi suất
Chương 6: Quản trị rủi ro thanh khoản
Là lần đầu biên soạn, cuốn bài giảng không tránh khỏi còn có những thiếu sót vềnội dung cũng như cách thức tiếp cận Tập thể tác giả rất mong nhận được ý kiến đónggóp của các nhà nghiên cứu, bạn đọc để có được sản phẩm tốt hơn trong các lần xuất bảntiếp theo
Xin trân trọng cảm ơn và giới thiệu cùng quý bạn đọc!
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2016
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CD Chứng chỉ tiền gửi (certificate of credit)
ISAs Interest-sensitive Assets – Tài sản nhạy cảm lãi suất
ISLs Interest-sensitive Liabilities – Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất
Trang 7NII Net Interest Income – Thu nhập lãi ròng
NIM Net Interest Margin – tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
PV Present Value – Giá trị hiện tại ròng
SIBOR Singapore Interbank Offered Rate – Lãi suất cho vay trên thị
trường liên ngân hàng Singapore
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC
ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
Trong quá trình thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt nam giai đoạn2011-2015, hoạt động của các định chế tài chính nói chung và các Ngân hàng thương mạinói riêng nổi lên hàng loạt các vấn đề nóng như: nợ xấu, tín dụng đen, khủng hoảng thanhkhoản, hiện tượng sở hữu chéo cũng như chiếm dụng vốn giữa các định chế tàichính…bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với sự an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chínhquốc gia Ngoài lý do khách quan đến từ hệ lụy cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu2007-2010, tất cả những vấn đề trên còn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan là thực tếhoạt động quản trị rủi ro trong các định chế tài chính ở Việt Nam hiện vẫn còn bị coi nhẹkhiến cho các tổ chức này hoạt động kém hiệu quả và dễ bị tổn thương trước các biếnđộng vĩ mô hay các cuộc khủng hoảng tài chính vốn xuất hiện với tần suất và quy môngày càng lớn
Trong bối cảnh đó, quản trị rủi ro tài chính đang trở thành một yêu cầu cấp thiếtđối với nhiều tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và đặcbiệt quan trọng đối với các định chế tài chính Quản trị rủi ro tài chính hiệu quả giúp cácđịnh chế tài chính hoạt động ổn định và bền vững, đồng thời giúp các tổ chức này chủđộng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất tiềm năng trong quá trình hoạt động kinhdoanh
1.1 Hệ thống chế tài chính
Hệ thống tài chính bao gồm các chủ thể định chế và thị trường tương tác lẫn nhautheo một cách thức phức hợp, nhằm mục đích huy động vốn cho đầu tư, và cung cấp cácphương tiện, bao gồm hệ thống thanh toán, nhằm tài trợ cho các hoạt động kinh doanh
(IMF, 2004, Compilation Guide on Financial Soundness Indicators)
Hệ thống tài chính giúp cho luồng vốn điều chuyển hiệu quả thông qua việc giảmthiểu các tác động tiêu cực từ vấn đề thông tin bất đối xứng (information asymmetryproblem), vốn là rào cản giữa người thiếu vốn và những người tạm thời thặng dư vốn Hệthống tài chính là một tổng thể được cấu thành từ các thành phần: (1) Thị trường tài chính
Trang 9nơi diễn ra các giao dịch tài chính; (2) Các định chế tài chính trung gian đóng vai trò điềuchuyển dòng vốn, thực hiện các giao dịch; (3) Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiệnnhiệm vụ quản lý, giám sát các đối tượng, chủ thể tài chính tuân thủ các quy định phápluật, duy trì tính ổn định, minh bạch trong hoạt động của thị trường tài chính
Thị trường tài chính: là nơi diễn ra quá trình luân chuyển vốn từ những người dư
thừa đến những người thiếu hụt, thông qua các công cụ tài chính và một cơ chế nhất định
(Nguyễn Văn Tiến và cộng sự) Thị trường tài chính thực hiện 3 chức năng kinh tế cơ bản
là (1) tạo cơ sở xác định giá tài sản; (2) cung cấp thanh khoản và (3) giảm chi phí giaodịch
Tùy thuộc vào tiêu chí cụ thể, có thể phân loại thị trường thành các nhóm khácnhau: thị trường tiền tệ và thị trường vốn; thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp; thịtrường tập trung và thị trường phi tập trung; thị trường nợ và thị trường vốn,
Các định chế tài chính trung gian (gọi tắt là trung gian tài chính): Là những tổ
chức chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ Hoạt động chủ yếu
và thường xuyên của các tổ chức này là cung cấp các dịch vụ tài chính – tiền tệ nhằm thuhút, tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng cho những nơi thiếu
hụt vốn (Nguyễn Văn Tiến và cộng sự).
Các trung gian tài chính bao gồm các tổ chức nhận tiền gửi, các tổ chức khôngnhận tiền gửi, các công ty tài chính, ngân hàng đầu tư và các công ty bảo hiểm
Các cơ quan quản lý: Nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống tài chính,
tất cả các quốc gia trên thế giới đều thiết lập một hệ thống các cơ quan quản lý, giám sátnhằm đảm bảo mọi hoạt động, giao dịch trên thị trường tài chính diễn ra minh bạch, antoàn và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư
Một số các cơ quan quản lý chủ yếu bao gồm Ngân hàng Trung ương (Ngân hàngNhà nước), Bộ tài chính, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, Bảo hiểm tiền gửi , Ủy banchứng khoán, các Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán,
Trang 101.2 Các loại định chế tài chính
Các định chế tài chính bao gồm các doanh nghiệp có các hoạt động và nghiệp vụđặc thù liên quan đến điều chuyển vốn trên thị trường tài chính Dựa trên tính chất, đặcđiểm giao dịch có thể phân loại các định chế này theo các loại hình sau:
Các tổ chức nhận tiền gửi: Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm ngân hàng thương
mại và các tổ chức tiết kiệm (hiệp hội tiết kiệm và cho vay; quỹ tín dụng) Giống như têngọi, các tổ chức này thực hiện nghiệp vụ huy động tiền gửi từ các nguồn khác nhau đểcho các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp vay Trong các tổ chức này, ngân hàng hàngthương mại có quy mô lớn nhất và chiếm thị phần vượt trội so với các tổ chức còn lại.Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại cũng hết sức đa dạng đáp ứng đầy đủnhu cầu của mọi đối tượng khách hàng từ các nhân, doanh nghiệp đến các tổ chức tàichính khác
Các tổ chức không nhận tiền gửi: Là các tổ chức không được phép nhận tiền gửi
từ dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nhưng vẫn được phép cung cấp các dịch vụcho vay Một vài ví dụ của loại hình tổ chức này là các công ty tài chính, công ty ủy tháchay công ty tư vấn tài chính
Các công ty bảo hiểm: Các công ty này đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế thông qua việc gánh chịu và bảo lãnh các rủi ro cho các đối tượng khách hàng trướcnhững biến cố không mong đợi Ngoài chức năng trên, các công ty bảo hiểm còn thamgia vào thị trường tài chính với tư cách là một tổ chức đầu tư
Các công ty và quỹ ủy thác đầu tư: Bao gồm các công ty đầu tư, quỹ tín thác, quỹ
tương hỗ, quỹ hưu trí, còn được biết đến dưới tên gọi các công ty quản lý tài sản chuyêncung cấp các dịch vụ quản lý vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp Đổi lại, các công ty nàynhận được khoản phí quản lý, được xác định dựa trên giá trị khoản đầu tư hoặc trong một
số trường hợp phụ thuộc vào hiệu quả đầu tư
Các ngân hàng đầu tư: Tương tự như các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu
tư có cơ cấu đòn bẩy tài chính cao, đóng vai trò quan trọng trên cả thị trường sơ cấp vàthứ cấp Theo quan điểm truyền thống, ngân hàng đầu tư được hiểu là chủ thể “trung
Trang 11gian” với chức năng chính là tư vấn và thực hiện huy động nguồn vốn trên thị trường vốncho các khách hàng (bao gồm cả các doanh nghiệp cũng như các chính phủ) thông quaviệc cung cấp các dịch vụ cơ bản như tư vấn phương án cổ phần hóa, phát hành chứngkhoán; nghiệp vụ giao dịch, môi giới chứng khoán; dịch vụ tư vấn mua bán, sáp nhập, táicấu trúc doanh nghiệp; và dịch vụ ngân hàng bán buôn
Do đặc thù tổ chức và hoạt động của hệ thống tài chính, các định chế tài chính tạiViệt nam hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, theo đó đượcphân loại như sau:
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức tài chính
(Nguồn bài giảng Fullbright – TS Đỗ Thiên Anh Tuấn)
Trang 121.2.1 Tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt độngngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chứctài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
1.2.1.1 Ngân hàng
Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, bao
gồm tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều dịch vụ tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Dựa trên tính chất và mụctiêu hoạt động, có thể phân loại Ngân hàng theo 3 loại hình sau:
Ngân hàng thương mại: được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động
kinh doanh khác theo Luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận
Ngân hàng chính sách: do Chính phủ thành lập, hoạt động không vì lợi nhuận
nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
Ngân hàng hợp tác xã: là Ngân hàng của tất cả Quỹ Tín dụng Nhân dân do các
Qũy Tín dụng Nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo Luật Tổ chức tíndụng chủ yếu nhằm liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống Quỹtín dụng Nhân dân
Căn cứ theo tính chất sở hữu, Ngân hàng thương mại gồm:
- Ngân hàng sở hữu cá nhân: là ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn của cá
nhân hoặc gia đình Loại ngân hàng thường nhỏ, phạm vi hoạt động trong từng địaphương, gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương
- Ngân hàng cổ phần: Ngân hàng này được thành lập thông qua phát hành các cổ
phiếu Việc nắm giữ cổ phiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định cáchoạt động của ngân hàng, hưởng cổ tức từ thu nhập của ngân hàng Ngân hàng cổ phần
có khả năng tăng vốn nhanh chóng, vì vậy thường là các ngân hàng lớn Ngân hàng cổ
Trang 13phần thường có phạm vi hoạt động rộng, hoạt động đa năng, có nhiều chi nhánh hoặccông ty con
- Ngân hàng sở hữu Nhà nước: Đây là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do
Nhà nước cấp, có thể là nhà nước trung ương hoặc tỉnh, thành phố Ngân hàng này đượcthành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định thường là do chính sách của chínhquyền trung ương hoặc địa phương qui định
- Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng liên doanh được hình thành dựa trên góp vốn
của hai hoặc nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài,hoặc ngân hàng với công ty tài chính để tận dụng các ưu thế của nhau
Ngoài ra, các Ngân hàng còn có thể được phân loại theo các tiêu chí kém phổ biếnkhác như theo hình thức tổ chức (bao gồm NH thuộc sở hữu công ty và Công ty sở hữuNH) hay theo tính đa dạng về hoạt động (có NH chuyên doanh và NH đa năng)
Ngoài đặc điểm về quy mô, cơ cấu tổ chức và cấu trúc nguồn vốn, Ngân hàng
được phân biệt với các tổ chức tín dụng còn lại qua tiêu chí hoạt động ngân hàng.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, hoạt động ngân hàng được định nghĩa
là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ (1) Nhận tiền gửi;(2) Cấp tín dụng; và (3) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Nhận tiền gửi
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đều gửitiền tại ngân hàng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời Ngân hàng mở dịch vụnhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn Trong cuộccạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửinhư là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt
và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh
Trang 14Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách thuận lợi thông qua hệ thống mạnglưới dày đặc, giúp khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng mọi lúc, mọi nơi với chi phíthấp nhất Nhiều tiện ích được kết nối với tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng có thể
sử dụng tiền thuận tiện
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách an toàn do ngân hàng có két tốt,được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo khả năng chi trả, và tham gia bảo hiểm tiền gửi
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền có trả lãi Chi phí trả lãi tiền gửi là khoản chiphí rất lớn của ngân hàng và là thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình
Cấp tín dụng
Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, cấp tín dụng là việc Ngân hàng thỏathuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng mộtkhoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tàichính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Trên thực tế, hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng tương đối đa dạng tùy theotiêu chí phân loại Xét về kỳ hạn, Ngân hàng thực hiện cho vay thương mại là các khoảncho vay ngắn hạn, tài trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp (thường dưới 12 tháng).Bên cạnh cho vay ngắn hạn, các ngân hàng cũng ngày càng trở nên năng động trong việctài trợ trung dài hạn theo các dự án của doanh nghiệp (thường trên 12 tháng): cho vay đểmua sắm tài sản cố định, tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghệ cao Một
số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất,giao thông
Tùy theo mục đích vay vốn của khách hàng, Ngân hàng có thể chọn lựa cho vaytiêu dùng (chủ yếu là trung và dài hạn) để mua nhà và các tài sản lâu bền, trang trải chiphí học tập, du lịch hay cho vay kinh doanh, đầu tư Trong giai đoạn đầu hầu hết cácngân hàng không tích cực cho vay tiêu dùng vì tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi
ro vỡ nợ tương đối cao Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong
Trang 15cho vay với các hãng bán lẻ đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là mộtkhách hàng tiềm năng
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi giao dich cho mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu.Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiệncác lệnh của khách hàng trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu như chi hộ, thu hộ, chuyểntiền, quản lý hộ
Ngân hàng cung cấp các tiện ích trong thanh toán thông qua mở rộng mạng lưới,kết nối hệ thống thanh toán trong và ngoài nước, áp dụng công nghệ hiện đại, Các tiệních của thanh toán qua ngân hàng (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đãgóp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng
Ngoài việc là tổ chức duy nhất được đồng thời thực hiện cả 3 hoạt động cơ bản,Ngân hàng còn cung cấp một số dịch vụ tài chính (GATS) bao gồm: Dịch vụ bảo hiểmnhân thọ, tai nạn y tế, dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ; Tái bảo hiểm và nhượng tái bảohiểm; Dịch vụ bổ trợ bảo hiểm (môi giới và đại lý); Nhận tiền gửi và các loại quỹ có thểhoàn lại trong công chúng; Các hình thức cho vay bao gồm tín dụng hàng hóa, tín dụngcầm cố, quản lý và tài trợ các giao dịch thương mại; Cho thuê tài chính; Thanh toán vàchuyển tiền; Bảo lãnh và ủy thác; Tự doanh hoặc nhận ủy thác đầu tư trên thị trường hốiđoái và các dịch vụ khác
1.2.1.2 Tổ chức tín dụng hợp tác
Quỹ tín dụng nhân dân: là TCTD do pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện
thành lập dưới hình thức HTX để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo Luật TCTD
và Luật HTX chủ yếu nhằm tương trợ phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống, là tổchức hoạt động theo mô hình hợp tác xã trong lĩnh vực cho vay vốn ở địa bàn các xã(phường) Đây là kênh huy động vốn hiệu quả của Nhà nước, đặc biệt là tại các vùngnông thôn người dân chưa có thói quen giao dịch với Ngân hàng
Trang 16Hoạt động của QTDND bao gồm nhận tiền gửi bằng VND; Cho vay bằng VND;Cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thu hộ, chi hộ cho các thành viên và một số các hoạt độngkhác như: Tiếp nhận vốn ủy thác cho vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân; Vay vốn củaTCTD, tổ chức tài chính khác; Góp vốn thành lập ngân hàng hợp tác xã; Mở tài khoảntiền gửi tại NHNN; Mở tài khoản thanh toán tại NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;Nhận ủy thác và làm đại lý một số lĩnh vực liên quan đến hoạt động NH, quản lý tài sảntheo quy định của NHNN; Làm đại lý kinh doanh bảo hiểm; Cung ứng dịch vụ tư vấn vềngân hàng tài chính cho thành viên.
Tổ chức tài chính vi mô: chủ yếu thực hiện một số hoạt động NH nhằm đáp ứng
nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ
Hoạt động của tổ chức Tài chính vi mô bao gồm nhận tiền gửi bằng VND; Vayvốn của các TCTD, tổ chức tài chính, cá nhân, tổ chức khác trong nước và nước ngoài;Cấp tín dụng bằng VND dưới hình thức cho vay; Mở tài khoản tiền gửi tại NHNN,NHTM và một số hoạt động khác như ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn; Cung ứng dịch
vụ tư vấn tài chính liên quan đến tài chính vi mô; Cung ứng dịch vụ thu hộ, chi hộ vàchuyển tiền cho khách hàng tài chính vi mô; Đại lý cung ứng dịch vụ bảo hiểm
1.2.1.3 Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện mộthoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng 2010 (số47/2010/QH12), trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụthanh toán qua tài khoản của khách hàng
Tổ chức Tín dụng phi Ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính
và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Trong đó, Công ty cho thuê tài chính là mộtloại hình Công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo Luật Tổ chức tíndụng
Trang 171.2.2 Tổ chức tài chính khác
1.2.2.1 Công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính có nhiệm vụ cung cấp các hợp đồng bảohiểm cho các hộ gia đình và doanh nghiệp nhằm giảm bớt rủi ro ảnh hưởng tới hoạt độngsản xuất và cuộc sống của họ Có hai loại chính là Bảo hiểm nhân thọ và Bảo hiểm phinhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:
Bảo hiểm có kỳ hạn (BH tử kỳ): trả tiền bồi thường bảo hiểm cho người thụ hưởngkhi người mua BH gặp rủi ro như bệnh tật, thương tật, hay tử vong trong thời gian hiệulực của hợp đồng (5 năm, 10 năm, 20 năm,…) Khi hợp đồng hết hạn, hoặc người muabảo hiểm không trả tiền bảo phí đều đặn DNBH sẽ không bồi thường
Bảo hiểm trọn đời: Có hiệu lực từ ngày bắt đầu mua bảo hiểm cho đến khi ngườimua BH qua đời Trong thời hạn hợp đồng, DNBH trả tiền bảo hiểm nếu người mua bảohiểm gặp chuyện rủi ro Loại bảo hiểm này còn là hình thức tiết kiệm khi người mua bảohiểm vẫn khoẻ mạnh khi đáo hạn (90-95 tuổi)
Bảo hiểm sinh kỳ: DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người muabảo hiểm sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm hỗn hợp: kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ, trả tiền một lầnvào khi đáo hạn (sau 10, 15, 20 năm hoặc đến một giới hạn tuổi nhất định) hoặc ngườimua bảo hiểm tử vong
Bảo hiểm niên kim: Khi người mua bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, sauthời hạn đó DNBH trả tiền BH định kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợpđồng bảo hiểm
Đối với Bảo hiểm phi nhân thọ thì người thụ hưởng bảo hiểm chỉ nhận tiền bồithường khi có rủi ro xảy ra trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực vì vậy thường
có bảo phí thấp và thời gian đóng phí và được bảo hiểm ngắn (1 hoặc 2 năm)
Trang 18Đảm bảo rủi ro về con người (sức khoẻ, tai nạn, du lịch…): bảo hiểm y tế tựnguyện, bảo hiểm con người,…
Đảm bảo rủi ro cho tài sản (nhà cửa, ôtô…) và trách nhiệm: bảo hiểm hàng hóa,bảo hiểm tàu thủy, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm cháy, bảo hiểmtrách nhiệm chung và bảo hiểm xe cơ giới…
1.2.2.2 Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường chứng
khoán, thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán Kinh doanh chứng khoán baogồm môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tưvấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lýdanh mục đầu tư chứng khoán
Các hoạt động chủ yếu của CTCK bao gồm: Môi giới chứng khoán; tự doanhchứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; Tư vấn đầu tư chứng khoán; Dịch vụ tưvấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác
1.2.2.3 Quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi
nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất độngsản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết địnhđầu tư của quỹ Quỹ đầu tư bao gồm các loại hình sau:
Quỹ tương hỗ: Là quỹ đầu tư được thành lập nhằm phát hành chứng khoán quỹ đểhuy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng quyền chọn, hànghoá hay chứng khoán trên thị trường tiền tệ
Quỹ hưu trí: Là quỹ đầu tư hình thành từ đóng góp của người tham gia bảo hiểmhưu trí (người lao động và người sử dụng lao động) và thực hiện đầu tư để chi trả quyềnlợi hưu trí cho người lao động khi đến tuổi về hưu
Trang 19Quỹ đầu cơ: Là quỹ đầu tư có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặtchẽ
Quỹ đầu tư vốn tư nhân: Là quỹ đầu tư vốn cổ phần vào các công ty chưa niêm yết,
từ nguồn tiền dài hạn của nhà đầu tư có tổ chức (quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm nhânthọ, )
- Quỹ đầu tư mạo hiểm: cung cấp vốn cho doanh nghiệp ở giai đoạn khởiđộng tăng trưởng ban đầu, trong những lĩnh vực tiềm năng như áp dụng công nghệ mớihoặc kinh doanh trong ngành công nghiệp công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệthông tin, phần mềm,…)
1.3 Rủi ro trong định chế tài chính
1.3.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kỳ vọng theo kếhoạch
Theo Bernard Manso: “Rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong tương lailên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy rabiến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ranhư thế nào”
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiệnngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho cá nhân hoặc tổ chức Các tác độngnày có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khókhăn về tài chính Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gâyhậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng Rủi ro tronghoạt động kinh doanh của ngân hàng còn được hiểu là khả năng phát sinh những sự kiệngây tác động tiêu cực đến mục tiêu chiến lược và hoạt động của ngân hàng, mang đến tổnthất cho ngân hàng
Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng cho ngânhàng càng lớn Các ngân hàng luôn phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mốiquan hệ rủi ro-lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi
Trang 20ro chấp nhận Do đó, chấp nhận rủi ro là yêu cầu tất yếu đối với ngân hàng Tuy nhiên,rủi ro cần được chấp nhận ở mức hợp lý, có thể kiểm soát được để đạt mức lợi nhuậnmong muốn.
1.3.2 Phân loại rủi ro
Nếu chia nhỏ các loại rủi ro mà định chế tài chính có thể gặp phải theo cách phânchia truyền thống của Việt Nam, có thể bao gồm các loại rủi ro chính sau: Rủi ro lãi suất,Rủi ro thị trường (rủi ro giá cả), Rủi ro tín dụng, Rủi ro ngoại bảng, Rủi ro ngoại hối, Rủi
ro công nghệ, Rủi ro hoạt động, Rủi ro thanh khoản
Còn theo Ủy ban giám sát Ngân hàng Basel, rủi ro mà các định chế có thể gặpphải được chia thành 3 nhóm chính như sau (Cách phân chia này thực chất vẫn dựa trêncác rủi ro nêu trên, nhưng do đặc điểm tương đồng một số loại rủi ro được gộp lại, ví dụnhư rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro giá cả được gộp chung thành rủi ro thị trường)
Hình 1.2: Phân loại rủi ro tài chính
Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy
ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của tổ chức tín dụng do những biến động bất lợi của các
Phân loại rủi ro
Trang 21yếu tố trên thị trường như biến động lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, giá hàng hóa Rủi
ro thị trường bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá (rủi ro hối đoái) và rủi ro giá cả
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng khôngthực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ củamình theo cam kết (Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN)
Cấp tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, sử dụng nhiều vốn nhất tại nhiều ngânhàng Do đó, nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng là rất lớn và mức độ nghiêm trọng của tổnthất tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà không tuân theo một quy luật chung Rủi rotín dụng trước hết làm giảm tài sản, thu nhập (nguy cơ mất vốn, tăng chí phí trích lập dựphòng…), sau đó có thể là uy tín, thậm chí làm phá sản ngân hàng Chấp nhận rủi ro tíndụng trong kinh doanh, các ngân hàng tuy không thể loại trừ hoàn toàn loại rủi ro này,tuy nhiên cũng cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ và tích cực chủ động để hạn chếtối đa khả năng xảy ra rủi ro cũng như gây ra tổn thất đối với ngân hàng
Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động trong họat động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất do các quytrình nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi, do con người, do các hệ thống hoặc do các sự kiệnbên ngoài Rủi ro hoạt động còn bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiếnlược và rủi ro uy tín
Trong hoạt động của ngân hàng, nhân viên ngân hàng có thể cố tình gian lận hay
vô tình mắc lỗi, ngân hàng thiếu hoặc mất những vị trí chủ chốt Rủi ro hoạt động có thể
bị gây ra bởi công nghệ thông tin nếu chất lượng phần mềm kém, dữ liệu thông tin khôngđầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn sẽ dễ gây ra các sai sót hoặc lỗhổng an ninh hệ thống Một nguyên nhân khác là từ qui trình, hệ thống không đầy đủ,thiếu hướng dẫn cụ thể gây khó khăn cho nhân viên hoặc có nhiều điểm bất cập, chưahoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng Rủi ro này có thểxảy ra do các yếu tố bên ngoài như pháp luật, thiên tai, tội phạm, khủng bố… Trên thực
Trang 22tế, rủi ro hoạt động luôn hiện hữu trong tất cả các giao dịch của ngân hàng Có thể xemxét mức độ xảy ra và mức độ thiệt hại của rủi ro hoạt động theo 2 khía cạnh: những hoạtđộng có tần suất lớn nhưng mức độ thiệt hại lại nhỏ: như các nhầm lẫn, sai sót của nhânviên… và những hoạt động có tần suất nhỏ nhưng mức độ thiệt hại lại lớn, thậm chí cóthể dẫn đến phá sản ngân hàng.
1.4 Quản trị rủi ro trong định chế tài chính
1.4.1 Khái niệm về quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là quá trình nhận diện, đo lường, kiểm soát và xử lý rủi ro nhằm
hạn chế tổn thất về thu nhập hoặc vốn của Định chế tài chính khi rủi ro xảy ra
Hoạt động quản trị rủi ro dựa trên quan điểm hiện đại chính là quá trình tiếp cậnrủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòngngừa và giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro
1.4.2 Quy trình quản trị rủi ro
Hiện nay, các định chế tài chính trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều tuân thủtheo một quy trình gồm 4 bước như sau:
Hình 1.3: Quy trình quản trị rủi ro
Trang 231.4.2.1 Nhận diện rủi ro
Nhận diện rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro của tổ
chức Các hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu
tố mạo hiểm, hiểm họa và nguy cơ rủi ro
Các phương pháp nhận diện rủi ro bao gồm:
- Phương pháp dựa vào mục tiêu: Bất kỳ những gì cản trở việc thực hiện mục tiêuđược coi là “rủi ro”
- Phương pháp đưa ra tình huống: Đặt giả thiết nếu một việc xảy ra thì sẽ như thếnào?
- Phương pháp dựa vào kinh nghiệm/tiền lệ
- Phương pháp hỗn hợp: kết hợp các phương pháp nêu trên
1.4.2.2 Đo lường rủi ro
Đo lường rủi ro là quá trình lượng hóa những tổn thất do các rủi ro do các biến cố
đã được nhận diện từ bước 1 gây ra đối với định chế tài chính
Các phương pháp đo lường rủi ro thường được các định chế tài chính sử dụng để
đo lường rủi ro bao gồm:
- Phân tích định tính (lịch sử, sở hữu, mô hình tổ chức, đội ngũ Quản trị - Điềuhành, đánh giá tín nhiệm bên ngoài (Moody’s, S&P…), đánh giá tín nhiệm nội
bộ, chế độ kế toán - kiểm toán
- Phân tích định lượng (xây dựng các mô hình đo lường và dự báo rủi ro
- Phân tích ngành, đối thủ cạnh tranh (thị phần, so với đối thủ cạnh tranh)
- Phân tích xu hướng (tốt nhất là 3 năm trở lên)
- Phương pháp khác (đo mức độ tập trung, tính đa dạng…)
1.4.2.3 Kiểm soát rủi ro
- Tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro cẩn trọng (các nguyên tắc quản lý rủi rocủa Basel và các thông lệ tốt nhất)
- Đánh giá rủi ro và xác lập hạn mức (hạn mức tín dụng, hạn mức ngoại hối, hạnmức ngành nghề…)
Trang 24- Xác lập trạng thái giao dịch.
- Xác lập sản phẩm/dịch vụ không được phép cung ứng
- Xác lập lượng vốn tương ứng mức rủi ro (Hệ số an toàn vốn – CAR)
- Xây dựng “văn hóa rủi ro” trong tổ chức
- Thiết lập chiến lược, chính sách và nguồn lực (con người, công nghệ, quy trìnhquản lý rủi ro)
- Với SSI: “Chúng tôi tuân thủ khắt khe các chuẩn mực đạo đức kinh doanh trênmọi phương diện”
• Xây dựng và thực hiện chiến lược, cơ
chế, chính sách, quy trình
Chi nhánh/đơn vị thành viên
• Tối đa hóa rủi ro-thu nhập
• Phân tán rủi ro
• Thông tin đầu vào
Báo cáo cơ quan chức năng và
cổ đông (nếu có)
Triển khai thực hiện; đánhgiá, tổng kết; kiểm tra,giám sát
Thực hiện, báo cáo, tuân thủ,kiến nghị
Trang 25Basel II có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ ngành tài chính cũng như tới các tổ chức xếphạng độc lập và cơ quan quản lý Nội dung Basel II xoay quanh 3 Trụ cột chính TheoTrụ cột I, các ngân hàng phải duy trì một lượng vốn pháp định được tính toán cho bathành phần rủi ro mà ngân hàng đối mặt: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạtđộng Trụ cột I đưa ra các phương pháp khác nhau có thể được sử dụng khi tính toán tổngtài sản có rủi ro.
Dựa trên các yêu cầu về quy trình thanh tra giám sát tại Trụ cột II, các cơ quanquản lý của mỗi quốc gia cần đảm bảo rằng các ngân hàng đã tuân thủ các tiêu chuẩn tốithiểu nêu trong Trụ cột I Điều này có thể đạt được bằng cách kiểm tra: hệ thống đánh giárủi ro nội bộ, phương pháp luận, giám sát rủi ro, kiểm soát nội bộ, theo dõi và báo cáo sửdụng bởi ngân hàng nhằm đáp ứng các yêu cầu của Basel II
Cuối cùng, việc công bố quy trình quản lý rủi ro trong Trụ cột III cho phép cácthành viên thị trường (như các bên cho vay, cổ đông…) có thể tự đưa ra các đánh giá liệucác ngân hàng đã đo lường và quản lý rủi ro một cách hợp lý hay chưa
Thay đổi đáng kể so với
Basel I
Ba phương pháp khác
Các ngân hàng phải cóquy trình tự đánh giámức độ an toàn vốn tổng
Nguyên tắc thị trườngcủng cố các nỗ lựcnhằm nâng cao mức độ
Trang 26nhau trong tính toán các
yêu cầu về vốn tối thiểu
Cơ quan thanh tra, giámsát yêu cầu các ngânhàng duy trì mức vốncao hơn mức mức tốithiểu và có khả năng yêucầu các ngân hàng duytrì mức vốn tỷ lệ nàytrên mức tối thiểu
Các cơ quan thanh tra,giám sát cần can thiêpsớm nhằm ngăn chặnvốn hạ xuống dưới mứctối thiểu
an toàn và lành mạnhtrong các ngân hàng
Các thông tin công bố
cơ bản và bổ sung sẽgiúp cho thị trường trởnên hiệu quả hơn
Trụ cột thứ nhất – Yêu cầu vốn tối thiểu
Trang 27Trụ cột I của Basel II đưa ra các yêu cầu tối thiểu vốn đối với rủi ro tín dụng, rủi
ro thị trường và rủi ro hoạt động Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được tính đưa trên địnhnghĩa vốn tự có và tài sản có rủi ro Tổng vốn tự có không được thấp hơn 8% nghĩa làmột ngân hàng có thể mất ít nhất 8% tài sản của mình (chủ yếu là các khoản cho vay) màkhông bị phá sản Tỷ lệ này được sử dụng để đảm bảo an toàn cho người gửi tiền, thúcđẩy sự ổn định và hiệu quả của hệ thống tài chính trên thế giới
Trụ cột 1 đưa ra các phương pháp tính toán để xác định mức vốn tối thiểu một cầnngân hàng phải nắm giữ khi đối mặt với ba loại rủi ro chính – rủi ro tín dụng, rủi ro thịtrường và rủi ro hoạt động
Các phương pháp này là:
Rủi ro tín dụng (Phương pháp tiêu chuẩn, Phương pháp dựa trên đánh giá nội bộ
cơ bản và Phương pháp dựa trên đánh giá nội bộ cao cấp – hai phương pháp sauyêu cầu phải có khả năng áp dụng mô hình rủi ro tín dụng phức tạp và chặt chẽ)
Rủi ro hoạt động (Phương pháp chỉ số cơ bản, Phương pháp tiêu chuẩn và Phươngpháp đo lường cao cấp)
Rủi ro thị trường (Phương pháp tiêu chuẩn và Phương pháp mô hình nội bộ)
Trụ cột thứ hai – Quy trình thanh tra, giám sát
Trụ cột II dựa trên một loạt bốn nguyên tắc chính của hoạt động thanh tra, giámsát Những nguyên tắc này giải quyết hai vấn đề trọng tâm sau:
Các ngân hàng cần đánh giá an toàn vốn trong mối tương quan với các rủi ro tổngthể, và
Cơ quan thanh tra, giám sát soát xét các đánh giá của các ngân hàng và từ đó xácđịnh xem ngân hàng có cần nắm giữ vốn ngoài số vốn đã yêu cầu tại Trụ cột I haykhông
Mục đích của Trụ cột II là để tăng cường mối liên kết giữa hồ sơ rủi ro, hệ thốngquản lý rủi ro của một ngân hàng và vốn của ngân hàng đó Các ngân hàng được kỳ vọng
sẽ xây dựng các quy trình quản lý rủi ro hiệu quả để có thể xác định, đo lường, tổng hợp
Trang 28và giám sát các rủi ro một cách chính xác Do đó, các ngân hàng cần có một quy trìnhđánh giá phù hợp Quy trình này cần bao gồm tất cả các yếu tố chính của việc lập kếhoạch và quản lý vốn, đồng thời xác định được mức vốn cần thiết cần nắm giữ để phòngngừa các rủi ro Trụ cột II dựa trên cơ sở bốn nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1, các ngân hàng cần có: i) một quy trình đánh giá tổng thể quy trình
đánh giá an toàn vốn tương quan với mức độ rủi ro, và ii) một chiến lược để duy trì cácmức độ vốn Về cơ bản, nguyên tắc này yêu cầu ngân hàng phải có trong quy trình đánhgiá vốn các tiêu chí sau:
Giám sát từ Hội đồng quản trị và Ban Điều hành
Đánh giá an toàn vốn tương quan với rủi ro - ở hiện tại và trong tương lai
Đánh giá toàn diện các rủi ro trọng yếu
Giám sát và báo cáo
Soát xét kiểm soát nội bộ
Nguyên tắc 2, cơ quan thanh tra, giám sát cần: i) đánh giá kết quả đánh giá an toàn
vốn, ii) đánh giá các chiến lược và mức độ tuân thủ của các ngân hàng đối với các tỷ lệ
an toàn vốn theo quy định, và iii) có biện pháp thích hợp nếu các ngân hàng chưa đápứng được yêu cầu Nguyên tắc 2 tập trung vào quy trình thanh tra, giám sát Cơ quanthanh tra, giám sát cần có thể sử dụng các phương pháp sau:
Thanh tra tại chỗ
Giám sát từ xa
Thảo luận với lãnh đạo ngân hàng
Soát xét công công việc của kiểm toán độc lập liên quan đến các vấn đề an toànvốn
Báo cáo định kỳ
Nguyên tắc 3, cơ quan thanh tra, giám sát kỳ vọng các ngân hàng duy trì mức vốn
cao hơn mức tối thiểu theo quy định và có quyền yêu cầu các ngân hàng nắm giữ vốn caohơn mức tối thiểu Điều này được hiểu là: mặc dù các yêu cầu về vốn theo Trụ cột I đã
Trang 29bao gồm một tầng đệm vốn cho những bất ổn, Trụ cột II đưa ra các yêu cầu đối với cácbất ổn cụ thể từng ngân hàng
Nguyên tắc 4, các cơ quan thanh tra, giám sát cần can thiệp sớm để ngăn chặn tình
trạng vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu và cần yêu cầu có biện pháp khắc phục nhanhchóng nếu vốn không được duy trì hoặc phục hồi Khi thực hiện các biện pháp khắc phục,
cơ quan thanh tra, giám sát cần yêu cầu các ngân hàng chuẩn bị một kế hoạch phục hồivốn thỏa đáng, lập tức tăng vốn và chịu sự giám sát chặt chẽ
Trụ cột thứ ba – Nguyên tắc thị trường
Trụ cột thứ ba đặt ra các yêu cầu đối với các ngân hàng trong việc công bố thôngtin Các yêu cầu này bao gồm cả các thông tin định lượng và định tính, đặc biệt là vềquản lý rủi ro và vốn của ngân hàng
Mục đích của Trụ cột III là bổ sung cho hoạt động của các yêu cầu về vốn tối thiểu(Trụ cột I) và quy trình hoạt động thanh tra, giám sát (Trụ cột II) Ủy ban Basel khuyếnkhích nguyên tắc thị trường bằng cách xây dựng một tập hợp các khuyến nghị (và cácyêu cầu) công bố cho phép các thành viên tham gia thị trường có thể đánh giá nhữngphần thông tin quan trọng trong phạm vi áp dụng, vốn, rủi ro, các quy trình đánh giá vàquản lý rủi ro, và theo đó là mức độ an toàn vốn của tổ chức Ủy ban Basel cho rằng công
bố thông tin như vậy đặc biệt phù hợp với Basel II, khi mà các phương pháp nội bộ chophép các ngân hàng có nhiều quyền hơn khi đánh giá các yêu cầu về vốn Và do đó, khicác phương pháp sử dụng hệ thống nội bộ được áp dụng, Ủy ban yêu cầu các ngân hàngcông bố thông tin theo yêu cầu riêng Ủy ban cũng tin rằng các chi phí phát sinh thêm từviệc công bố thông tin sẽ không cao, do các ngân hàng sẽ thu thập dữ liệu này phục vụcho các mục đích nội bộ và được hưởng lợi từ các yêu cầu về vốn nhạy cảm rủi ro hơn,tạo nên bởi ngân hàng sử dụng các yếu tố đầu vào cụ thể
Trang 30Tóm tắt chương
Nội dung chương cung cấp:
- Những thông tin cơ bản về hệ thống tài chính (các bộ phận cấu thành, vị trí vàvai trò của các định chế tài chính)
- Rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính
- Quy trình quản trị rủi ro chung trong các định chế tài chính
Những nội dung này là cơ sở để chúng ta đi sâu nghiên cứu cụ thể từng loại rủi rotrong các chương tiếp theo
Trang 31TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Christian Schmieder, Heiko Hesse, Benjamin Neudorfer, Claus Puhr, Stefan W
Schmitz (2011), Next Generation System - Wide Liquydity Stress Testing, IMF
Working paper
2 IMF (2004), Compilation Guide on Financial Soundness Indicators.
3 Joel Bessis (2013), Risk Management in Banking, A John Wiley and Sons, Ltd,
Publication
4 Ngân hàng nhà nước (2013), Thông tư 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ban hành ngày 21/01/2013.
5 Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Đức Hưởng (2015), Tiền tệ, Ngân hàng và Thị trường Tài chính, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội.
6 Peter S Rose (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính,
Hà Nội, Bản dịch của Phạm Long, Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Đức Hiển
7 Phan Thị Thu Hà (2013), Giáo trình Ngân hàng thương mại, nhà xuất bản Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
8 Quốc hội (2010), Luật số 47, Luật các tổ chức tín dụng, ban hành ngày 29/06/2010.
9 Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, Hiệp ước Basel II về vốn mới
Trang 32CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Trình bày những hiểu biết chung về hệ thống tài chính? Tổchức nào chịu trách nhiệm về pháp lý trên thị trường tài chính?
2 Định chế tài chính gồm những tổ chức nào trong thị trườngtài chính? Trình bày đặc điểm của từng thành phần trong các định chế tài chính
mà bạn biết
3 Hãy cho biết Ngân hàng thương mại có thể gặp phải nhữngloại rủi ro nào? Rủi ro nào là lớn nhất trong hoạt động của một ngân hàng thươngmại?
4 Những rủi ro mà một công ty Bảo hiểm có thể gặp phải? Rủi
ro nào trong những rủi ro đó là quan trọng nhất?
5 Theo bạn, trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công tyChứng khoán thường phải đối mặt với những loại rủi ro nào? Và rủi ro nào là đáng
kể nhất?
Trang 33CHƯƠNG 2: MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO
Đo lường rủi ro là một bước của quá trình quản lý rủi ro, việc có được các kiếnthức về các phương pháp lượng hoá rủi ro và tổn thất tài chính là rất cần thiết Chươngnày tập trung giới thiệu một số mô hình: mô hình ước lượng nguy cơ tổn thất, mô hìnhước lượng xác suất vỡ nợ và mô hình dự báo chuỗi thời gian Các mô hình giới thiệutrong chương được ứng dụng để đo lường cho một số loại rủi ro cụ thể: rủi ro tín dụng,rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất,… ở các chương tiếp theo
2.1 Giới thiệu về đo lường rủi ro
Quản lý rủi ro là quá trình nhận diện, đo lường, kiểm soát và xử lý rủi ro nhằm hạnchế tổn thất về thu nhập hoặc vốn của định chế tài chính khi rủi ro xảy ra Việc xây dựngcác mô hình để lượng hoá rủi ro là một bước cần thiết của quá trình quản lý rủi ro Vấn
đề đặt ra là: Liệu chúng ta có thể tìm ra một độ đo rủi ro chung, khái quát hay một chỉtiêu định lượng vừa thể hiện mức độ rủi ro của danh mục vừa thuận tiện cho yêu cầugiám sát, quản trị? Hơn nữa, độ đo rủi ro cần phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản nào đểphù hợp logic và thực tiễn?
Tuy nhiên, mô hình đo lường rủi ro nêu ra như trên rất tổng quát Vì mỗi loại rủi
ro có nguồn gốc và đặc điểm riêng nên thực tế người ta thường phải xây dựng những môhình cụ thể để đo lường cho những loại rủi ro khác nhau và cho tới nay đã có nhiềuphương pháp đánh giá rủi ro trong tài chính Năm 1938, Macaulay là người đầu tiên đềxuất phương pháp đánh giá rủi ro của lãi suất trái phiếu Phương pháp này giúp tính toán
kỳ hạn hoàn vốn trung bình của trái phiếu Trên cơ sở đó, phương pháp phân tích khe hở
kỳ hạn đã được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất đến giá trị thị trường củatài sản Năm 1952, Markowitz đã đề xuất cho phương pháp phân tích quan hệ rủi ro – lãisuất qua mô hình phân tích trung bình và phương sai (Mean – Variance Analysis) Chotới nay, phương pháp này vẫn được ứng dụng rộng rãi trong quản lý các danh mục đầu tư
Tiếp theo vào năm 1964, William Sharpe mở ra bước ngoặt cho sự phát triển củathị trường tài chính với mô hình nghiên cứu về định giá tài sản vốn (Capital Asset PricingModel – CAPM) Mô hình xây dựng trên cơ sở áp dụng phương pháp trung bình -
Trang 34phương sai của Markowitz và kết hợp với điều kiện cân bằng thị trường tài chính Cácnghiên cứu của J Mossin (1966), J Lintner (1965, 1969) và F Black (1972) tạo choCAPM hoàn thiện hơn về lý thuyết và được xem là mô hình quan trọng trong định giá tàisản Sau khi mô hình CAPM ra đời nhiều tác giả đã sử dụng mô hình này đề định giá tàisản trên thị trường Một số kết quả phân tích thực nghiệm mô hình cho thấy rằng nếu chỉdùng duy nhất yếu tố thị trường thì chưa đủ giải thích phần bù rủi ro của tài sản Như vậytrên thực tế có những trường hợp phù hợp nhưng cũng có những trường hợp không phùhợp.
Vào năm 1976 Stephen Ross trong bài báo “The Arbitrage Theory of CapitalAsset Pricing” đã nêu ra kết luận rằng trong CAPM ngoài yếu tố thị trường thì còn cónhiều yếu tố khác: quy mô doanh nghiệp, điều kiện kinh tế - xã hội,…, có thể tác độngđến lợi suất Từ đó Ross đưa ra mô hình khái quát hơn về quan hệ giữa lợi suất và nhiềunhân tố, gọi là “Mô hình đa nhân tố” (Multi Factor Model) Mô hình đa nhân tố đề cậpđến nhiều nhân tố và các nhân tố không nhất thiết phải xác định trước, với số giả thiết íthơn của CAPM nhưng mô hình đa nhân tố lại tổng quát hơn; đặc biệt là mô hình Fama-French được Eugene Fama và Kenneth French đưa ra vào năm 1993 Trong sự phát triểncủa các phương pháp đánh giá rủi ro, lớp các mô hình trong xếp hạng tín dụng cũng pháttriển khá mạnh mẽ Trước tiên phải nhắc tới mô hình chỉ số Z – score, mô hình này đượcđưa ra năm 1968 bởi giáo sư Edward I Altman, trên cơ sở nghiên cứu số liệu của cácdoanh nghiệp bị phá sản ở Mỹ, ông đã đưa ra hàm phân biệt Z Mô hình này dùng để đoxác suất vỡ nợ của khách hàng thông qua các đặc điểm cơ bản của khách hàng Sau đó,tác giả Steele (1984), Morris (1997) và một số nhà nghiên cứu khác phát triển thêm đểxây dựng mô hình phù hợp hơn với điều kiện hoạt động ngân hàng từng nơi Vào năm
1977, Martin đã ứng dụng mô hình Logit và phân tích phân biệt trong dự báo phá sản củacác Ngân hàng trong giai đoạn 1975-1976 Mô hình Logit cũng đã được ứng dụng rộngrãi để dự báo xác suất vỡ nợ ở các định chế tài chính Ngoài ra, đặc biệt chúng ta phải kểđến mô hình định giá quyền chọn được Myron Scholes, Fisher Black và Robert Mertonđưa ra vào năm 1973, mô hình này đã giúp các hoạt động phái sinh phát triển mạnh mẽ.Ngày nay công thức tính giá quyền chọn được nhiều công trình khác tiếp tục nghiên cứu
và phát triển để áp dụng cho các lĩnh vực tài chính nhằm mục tiêu quản lý rủi ro Nhờ vào
Trang 35nó được sử dụng khá phổ biến trong quản trị rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng của danhmục Mặc dù vậy, VaR vẫn có những hạn chế nhất định trên cả phương diện lý thuyết lẫnthực tiễn, và mô hình ES đưa ra xem như để bổ sung cho VaR Ngoài ra còn phải kể đếnphương pháp đo lường rủi ro tín dụng theo cách tiếp cận trong Hiệp ước Basel II và một
số phương pháp tích hợp rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động
Nội dung tiếp theo sẽ nghiên cứu một số mô hình cụ thể: Mô hình đo lường tổnthất, Mô hình ước lượng xác suất, Mô hình phân lớp và Mô hình chuỗi thời gian
2.2 Mô hình đo lường tổn thất
Giả sử V V t, t k là giá trị của một tài sản tại các thời điểm t , t+k tương ứng Lợisuất (Net Return, Rate of Return) trong chu kỳ k ([ ;t t k ]) của tài sản này, ký hiệu là[ ]
Theo công thức (2.2), nếu ta biết giá trị của tài sản ở thời điểm t và lợi suất tài sản
ở thời điểm t+k thì có thể tính được giá trị tài sản ở thời điểm t+k (thường là thời điểmtrong tương lai)
Trong thực tế khi chu kỳ tính lợi suất khá ngắn (phiên, ngày giao dịch, tuần) thì lợisuất khá nhỏ nên có thể tính lợi suất xấp xỉ:
Trang 36N
i i i
Trang 37a Khái niệm
Giá trị rủi ro của danh mục tài sản thể hiện mức độ tổn thất có thể xảy ra đối vớidanh mục tài sản trong một chu kỳ k (đơn vị thời gian) với độ tin cậy (1- α)100% , kýhiệu là VaR k( ,1), và được xác định như sau:
trong đó X là lợi suất hay giá trị chu kỳ k của danh mục, 0 1
Như vậy, nếu nhà đầu tư nắm giữ danh mục sau một chu kỳ k, với độ tin cậy(1 )100%, mức tổn thất lớn nhất là |VaR k( ,1) |trong điều kiện thị trường hoạt độngbình thường
Hình 2.1 Hình minh họa giá trị VaR của lợi suất tài sản
a Phương pháp ước lượng
Thông thường có hai phương pháp chính ước lượng VaR: phương pháp tham số vàphương pháp phi tham số
Phương pháp tham số
Phương pháp này dựa trên giả định về phân phối xác suất của X: chẳng hạn phânphối chuẩn, phân phối Student, phân phối Pareto tổng quát,…Trong trường hợp các tham
số đặc trưng của phân phối chưa biết, ta sử dụng số liệu quá khứ của X để ước lượng các
tham số đặc trưng của phân phối và suy ra ước lượng của VaR.
VaR(95%)
Trang 38Giả sử X có hàm phân phối xác suất là F(x) thì ta có công thức tính VaR như sau :
1
Phân phối chuẩn
Trong trường hợp nếu X có phân phối chuẩn với trung bình là và phương sai là
Trang 39Hình 2.2 Đồ thị lợi suất của cổ phiếu VCB
Trước tiên ta kiểm định phân phối chuẩn của chuỗi lợi suất R: Giá trị quan sát của
JB (Jarque-Bera) tính được là 8,93363 và giá trị P-value = 0,011484 ; nếu lấy mức ýnghĩa 1%, theo kiểm định JB thì chuỗi r có phân phối chuẩn
Dựa trên các giá trị lợi suất tính được trung bình mẫu của r là -0,000284 và độ lệchchuẩn mẫu của r là 0,019751 Với độ tin cậy 99%, giá trị rủi ro chu kỳ 1 ngày cho r bằng:
1( 1;0,99) (0,01) 0,000284 0,019751*( 2,326348) 0,04623
Như vậy, trong điều kiện thị trường bình thường, với độ tin cậy 99%, nếu nhà đầu
tư nắm giữa cổ phiếu VCB có giá trị 10 triệu đồng thì sau 1 ngày mức thua lỗ tối đa là
462300 đồng
Quy tắc căn bậc 2
Khi ta ước lượng được VaR cho chu kỳ k=1 ta có thể tính VaR cho chu kỳ k, chẳng
hạn với trường hợp phân phối chuẩn: VaR k( 1,1) 1( ) thì VaR cho chu kỳ
k :
1
Phương pháp phi tham số
Phương pháp này không đưa ra giả định về phân phối của X mà chỉ dùng các
phương pháp ước lượng thực nghiệm, mô phỏng và bootstraps cùng các kỹ thuật tính
toán xấp xỉ (phương pháp ngoại suy, mạng nơron,…) để ước lượng VaR
Trang 40 Phương pháp mô phỏng lịch sử
Phương pháp mô phỏng lịch sử giả định rằng những kịch bản của tài sản hay danhmục trong quá khứ lặp lại trong tương lai ([13]) Đê cho đơn giản, ta trình bày các bướccủa phương pháp mô phỏng lịch sử cho tài sản:
Bước 1: Tính toán lợi suất của tài sản giữa các khoảng thời gian.
Tùy thuộc vào chu kỳ tính VaR, chẳng hạn chu kỳ 1 ngày hay 10 ngày,… ta sẽ tính
toán lợi suất của tài sản giữa hai chu kỳ liên tiếp Phương pháp mô phỏng lịch sử cần có
chuỗi số liệu lịch sử đủ dài để đánh giá được đầy đủ ý nghĩa của VaR Giả sử chọn chu kỳ k=1 ngày và số liệu lịch sử gồm có n giá trị Gọi V là giá trị hiện tại của tài sản và gọi P i
là giá của tài sản ở ngày thứ i, i=1,…,n Như vậy ta có n kịch bản, mỗi kịch bản là sự thay đổi giá giữa hai ngày liên tiếp, trong đó lợi suất ở ngày thứ t được tính bởi:
1 1,
t t
P P r
t
P r
P
Bước 2: Sử dụng những lợi suất tài sản đã tính toán được để tính P&L của tài sản Bước 3: Sắp xếp giá trị P&L mô phỏng của tài sản từ giá trị bé nhất đến lớn nhất.
Bước 4: Xác định giá trị VaR
Giá trị rủi ro với độ tin cậy 1 là phân vị mức của dãy giá trị mô phỏng P&Lcủa tài sản
Thí dụ 2.2 Minh họa cho phương pháp mô phỏng lịch sử để tính VaR: Dữ liệu
giá đóng cửa (P t) của cổ phiếu VCB từ ngày 2/10/2015 đến ngày 29/2/2016 được cho ởcột B