VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN VĂN TƯ QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC TRONG “NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG” VÀ Ý NGHĨA CỦA QUAN NIỆM ĐÓ TRONG VIỆC XÂ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TƯ
QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC TRONG “NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG” VÀ Ý NGHĨA CỦA QUAN NIỆM ĐÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Đặng Hữu Toàn
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tƣ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG, BỐI CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ KẾT CẤU CỦA “NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG” 6
1.1 Tiền đề tư tưởng 6
1.2 Bối cảnh ra đời “Nhà nước và cách mạng” 24
1.3 Nội dung cơ bản và bố cục của “Nhà nước và cách mạng” 27
Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC TRONG "NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG” 31
2.1 Về bản chất và nguồn gốc của nhà nước 31
2.2 Về những đặc trưng cơ bản của nhà nước 38
2.3 Về cách mạng bạo lực và nhà nước chuyên chính vô sản 41
2.4 Về chế độ dân chủ và sự tiêu vong của nhà nước 46
Chương 3 GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI VÀ Ý NGHĨA VẬN DỤNG TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN THEO QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC TRONG “NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG” 51
3.1 Giá trị thời đại quan niệm của V.I.Lênin về nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng” 51
3.2 Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 54
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, vấn đề về nhà nước luôn là tâm điểm tranh luận của triết học, luật học, chính trị học trên thế giới, bởi lẽ nhà nước là một hiện tượng xã hội rất phức tạp, đa dạng, luôn vận động và thay đổi theo thời gian Nếu chúng ta không có được nhận thức toàn diện, đúng đắn về vị trí, vai trò
và chức năng của nhà nước thì khó có thể quản lý xã hội, vì mục tiêu phát triển bền vững và vì con người Mặt khác, nhắc đến đời sống chính trị là chủ yếu nhắc đến vấn đề nhà nước, bởi vậy, vấn đề nhà nước từ xưa đến nay, luôn chiếm giữ vị trí then chốt trong toàn bộ đời sống chính trị nhân loại Vì vậy, ngay từ khi nhà nước mới ra đời, các nhà tư tưởng trên thế giới luôn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu bản chất thực sự của hiện tượng phức tạp này Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, quan điểm của các nhà tư tưởng trước Mác hầu như chưa xác định đúng nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước, Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác, với lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chính là những người đầu tiên đề xướng học thuyết khoa học về nhà nước Học thuyết này sau đó đã được V.I.Lênin phát triển ngày càng hoàn bị hơn Học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác – Lênin
đã thể hiện rõ và bảo vệ cho lợi ích của giai cấp vô sản, phục vụ sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đồng thời, đây còn là cơ
sở lý luận khoa học để giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới xây dựng nhà nước kiểu mới của mình – đó là nhà nước do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhà nước mà chủ thể quyền lực thuộc về quần chúng nhân dân lao động
Sự nghiệp cách mạng ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Do vậy, để xây dựng và ngày càng hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện và tình hình mới, chúng ta tiếp tục phải quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước
Trang 5Từ thực tiễn xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hơn 70 năm qua cho thấy, sự lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn Trong bối cảnh lịch sử hiện nay đã minh chứng rằng, sự lựa chọn
ấy của Đảng và dân tộc ta vẫn là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt nhất, dù cho tình hình trong nước và thế giới hiện nay đang có nhiều thay đổi
to lớn Tuy vậy, công cuộc đổi mới đất nước hiện nay ở Việt Nam cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận phức tạp cần phải giải quyết triệt để, trong đó có vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nghiên cứu tư tưởng của chủ nghĩa Mác nói chung, của V.I.Lênin nói riêng về nhà nước và vận dụng tư tưởng đó nhằm góp phần xây dựng nhà nước ta trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay không những có
ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận, mà còn cung cấp cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý giá để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng
đội ngũ cán bộ công chức thực sự là “công bộc của dân”, hoàn thiện hệ thống
pháp luật, loại trừ những thói hư tật xấu trong nhà nước, phát huy quyền làm chủ và bảo vệ lợi ích của nhân dân, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ ý nghĩa đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Quan niệm của V.I.Lênin về nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng” và ý nghĩa của quan niệm đó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước
ta hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên nghành triết học
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng” của V.I.Lênin và vấn
đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, có thể kể đến như sau :
- Nguyễn Thanh Tuấn, Trần Ngọc Linh, Trần Nguyễn Tuyên - đồng chủ
biên (2008), Quan điểm chính trị trong một số tác phẩm kinh điển Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 6- Ngô Đình Xây (2010), Vận dụng tư tưởng nhà nước tiêu vong của Ph.Ăngghen trong điều kiện Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Xuân Phong (2011), Giới thiệu một số tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Trương Quốc Chính (2013), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo quan điểm mácxít, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Tạ Ngọc Tấn, Kikẹo Khảykhămphithun đồng chủ biên (2015), Xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội…
Trong các công trình nghiên cứu và đã được công bố như trên, các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề nhà nước trong một số tác phẩm kinh điển Vấn đề nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan
đến đề tài; nhưng vấn đề “ Quan niệm của V.I.Lênin về nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng” và ý nghĩa của quan niệm đó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay” vẫn là một vấn đề cần được quan tâm làm rõ
thêm Có thể thấy rằng, việc đi sâu vào nghiên cứu vấn đề mà luận văn lựa chọn tuy không còn là vấn đề mới, song vẫn chưa phải vấn đề đã được giải quyết triệt để
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài có mục đích sau :
- Làm rõ tư tưởng của V.I.Lênin về nhà nước, nhất là về bản chất cách mạng và khoa học của nhà nước chuyên chính vô sản trong “Nhà nước và
cách mạng”, qua đó khẳng định ý nghĩa của tư tưởng này trong xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ như sau:
Trang 7Một là, làm rõ tiền đề tư tưởng, hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản
của tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”
Hai là, phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng của V.I.Lênin
về nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng”
Ba là, rút ra ý nghĩa trong tư tưởng của V.I.Lênin về nhà nước đối với
thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
- Những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về nhà nước trong “Nhà nước
chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm của Lênin về nhà nước chủ
yếu trong V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva; đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề trên
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Quá trình nghiên cứu, luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp lịch sử : Luận văn sử dụng phương pháp này để phân tích tiền đề của tư tưởng về nhà nước trong lịch sử triết học
- Phương pháp phân tích, tổng hợp : Sử dụng phương pháp này để phân tích về nhà nước, bản chất nhà nước do V.I.Lênin đưa ra
Trang 8- Phương pháp so sánh được dùng để so sánh các mô hình nhà nước khác nhau, đặc biệt là nhà nước vô sản với tư sản để từ đó tìm thấy ưu điểm của nhà nước vô sản do V.I.Lênin chỉ ra, đặc biệt là đối với vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương, 10 tiết như sau:
Chương 1 Tiền đề tư tưởng, bối cảnh ra đời, nội dung cơ bản và kết cấu của “Nhà nước và cách mạng”
Chương 2 Một số nội dung cơ bản trong quan niệm của V.I.Lênin về nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng”
Chương 3 Giá trị thời đại và ý nghĩa vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền quan niệm của V.I.Lênin về nhà nước trong “Nhà nước và cách mạng”
Trang 9Chương 1 TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG, BỐI CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ
KẾT CẤU CỦA “NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG”
1.1 Tiền đề tư tưởng
1.1.1 Tư tưởng về nhà nước trong lịch sử tư tưởng trước C.Mác
Vấn đề nhà nước luôn là một vấn đề hết sức phức tạp và đây cũng chính là vấn đề trung tâm của tất cả các cuộc đấu tranh trong xã hội có các giai cấp đối kháng Trong lịch sử triết học có nhiều lí giải khác nhau về vấn
đề nhà nước, tuy nhiên, do nhà nước là nơi gắn liền với lợi ích của nhà cầm quyền, cho nên, nó thường không được nhìn nhận một cách khách quan, khoa học Vấn đề nhà nước đã được đề cập trong lịch sử triết học ngay từ thời cổ đại Những tư tưởng về nhà nước tiếp tục được phát triển hơn nữa qua các thời kỳ trung cổ, cận đại và hiện đại Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện lý luận chung về nhà nước của chủ nghĩa Mác – Lênin
Ở phương Tây, mầm mống về tư tưởng nhà nước đã xuất hiện như sau:
Từ thời cổ đại, tư tưởng về nhà nước xuất hiện rất sớm trong triết học
Hy – La cổ đại, ban đầu khi mới xuất hiện những tư tưởng này còn ảnh hưởng
từ thần thoại, chưa tách khỏi thần thoại và chưa trở thành một ngành tri thức khoa học độc lập, nhưng đã xây dựng nên nền tảng tư tưởng quan trọng về nhà nước sau này với những đại diện tiêu biểu đó là:
Đêmôcrit (460 – 370 Trước công nguyên) xây dựng mô hình Nhà nước cộng hòa dân cử (A-ten), là bộ máy nhà nước mà những người làm việc trong
đó đều do dân (trừ nô lệ) bầu ra, tức là, từng nhóm người hàng năm bầu ra những người đại diện cho mình…Từ việc Đêmôcrit đưa ra mô hình nhà nước như thế có thể thấy điểm tích cực nhất trong quan niệm của ông là biểu hiện tính chất dân chủ nhất định, người dân (trừ nô lệ) có quyền bầu ra những người đại diện cho mình, nói lên tiếng nói của quần chúng trong nhà nước
Trang 10Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của quan niệm này là tạo ra sự không ổn định trong nhà nước Ông tiếp tục quan niệm rằng, hoạt động quản lý nhà nước là một nghệ thuật cao nhất, đem lại vinh quang cho con người; nhà nước lập ra
để duy trì trật tự xã hội, chính luật pháp là công cụ hữu hiệu để thực hiện điều
đó Ông là người đầu tiên trong lịch sử triết học đưa ra những luận chứng quan trọng về sự tất yếu của nhà nước với luật pháp như là cách thức liên kết các cá nhân thành cộng đồng xã hội
Nhà triết học Platon (428-347 TCN) đã đưa ra quan niệm của ông về Nhà nước lý tưởng mà theo đó, mọi người luôn được sống êm đềm, hạnh phúc, được thỏa mãn bởi những gì mà họ đã tạo ra Nhà nước lý tưởng ấy phải được xây dựng trên ba đẳng cấp cơ bản: các nhà triết học, các chiến binh, thứ ba, những người lao động chân tay và buôn bán Chính nhà nước như thế
là nhà nước lý tưởng Nó uyên thâm bởi trí tuệ của các nhà triết học, nó hùng mạnh bởi sự gan dạ và dũng cảm của các chiến binh, nó hợp lý bởi sự phục tùng một cách nghiêm túc từ bộ phận công dân đông đảo nhất trong xã hội
Nhà triết học Arixtốt (384 – 322 TCN) cho rằng, con người “là động vật chính trị” Bản tính của con người là sống trong cộng đồng Do vậy, con người không thể sống ngoài cộng đồng, bên ngoài sự giao tiếp Nhà nước là một hình thức giao tiếp cộng đồng cao nhất, trên cả gia đình, dòng họ, làng
xã Con người về bản chất phải thuộc về nhà nước Chỉ có động vật thuần túy hay Thượng đế mới tồn tại bên ngoài nhà nước Sứ mạng của nhà nước là đảm bảo cho mọi người (trừ nô lệ, vì nô lệ không phải là con người mà chỉ là công cụ biết nói) trong cộng đồng một cuộc sống hạnh phúc với mức độ phúc lợi ngày càng cao Để thực hiện sứ mạng này nhà nước phải tiến hành hoạt động trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và phân xử Theo ông, chính quyền không nên thuộc về người giàu mà cũng chẳng nên thuộc về tầng lớp chủ nô trung lưu Chế độ chính trị tốt nhất không phải là chế độ dân chủ hay chế độ quân chủ mà là chế độ cộng hòa quý tộc Nhưng do hạn chế của lịch sử, và
Trang 11bản thân là nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô quý tộc nên về mặt triết học ông
do dự giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, về mặt chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích cho tầng lớp chủ nô trung lưu của chính mình
Như vậy, thông qua những tư tưởng của các nhà triết học thời kỳ Hy –
La cổ đại về nhà nước nói trên, chúng ta thấy rằng, dù những tư tưởng đó về nhà nước được diễn đạt với những ý khác nhau, dưới nhiều cách nhìn khác nhau, tưởng như độc lập với nhau, nhưng giữa chúng đều có điểm chung là, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị, đi ngược lại với nhân dân lao động, khích lệ việc đề cao pháp luật
Đến thời kỳ Trung cổ (kéo dài từ thế kỷ IV – XVI), sự thống trị của
thần quyền, tôn giáo về tất cả các mặt về kinh tế, đời sống chính trị xã hội Đây là giai đoạn diễn ra các cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các vua chúa thế tục và giáo hội Những tri thức khoa học luôn bị kìm hãm bởi những tín điều, tôn giáo Những thành tựu văn hóa mà nhân loại đã đạt được trong thời Hy Lạp cổ đại có xu thế thoái trào
Đến thời kỳ Phục hưng và Cận đại, tư tưởng về nhà nước thực sự có
bước phát triển mới và quan trọng Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ lớp vỏ đen tối, tính chất khép kín, bảo thủ của nền kinh tế manh mún dưới thời trung cổ Mặt khác, nó đã tạo ra luồng gió mới trong nhận thức của con người về thế giới hiện thực Nếu như thời kỳ trung cổ, những tri thức khoa học luôn bị kìm hãm bởi những tín điều tôn giáo, thì nay là sự kết hợp giữa triết học với khoa học, tạo nên một bước tiến quan trọng trong nhận thức của con người về thế giới, mà ở đó, con người cần phải có khoa học, khoa học là để phục vụ cho con người Để có được nền khoa học như thế, đòi hỏi con người, trước hết là các nhà tư tưởng phải có cách nhìn mới về khoa học
Nhà triết học J.Lốccơ (1632-1704) trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai
về chính quyền – Chính quyền dân sự” [16, tr.9] đã đưa ra luận giải về nguồn
Trang 12gốc, bản chất của quyền lực nhà nước, ông cho rằng, sự kết hợp giữa con người với tự nhiên có trước sự kết hợp giữa con người với con người Trong
đó, những quyền được sống, quyền tự do, quyền sở hữu…là những quyền tự nhiên của con người, bất khả xâm phạm Tuy nhiên trong trạng thái tự nhiên, các quyền này có nguy cơ bị xâm phạm Do vậy, nhà nước đã được thiết lập
để bảo vệ các quyền tự nhiên của con người Nhà nước thực chất là một “khế ước xã hội”, trong đó, các công dân nhượng một phần quyền của mình để hình thành quyền lực chung – quyền lực nhà nước Vì vậy, khi chính quyền làm sai, các công dân có quyền hủy bỏ “khế ước” đã ký Để chống độc tài, J.Lốccơ cho rằng, quyền lực phải được phân chia theo ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp
S.L.Môngtétxkiơ (1689-1755) – nhà triết học khai sáng Pháp thì lại cho rằng, cùng với sự phát triển của loài người thì chiến tranh ngày càng khốc liệt, mâu thuẫn trong xã hội ngày càng lớn hơn, do đó, cần phải có nhà nước, cần
có pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các quốc gia với nhau Nhà nước là một cộng đồng người bị quy định bởi luật pháp Ông còn cho rằng, sự phân chia quyền lực trong chính thể dân chủ
là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền Đồng thời, ông có điểm tiến bộ, đi trước thời đại bởi quan niệm quyền lực chỉ có thể bị kiềm chế bởi quyền lực
J.J.Rútxô (1712-1778) – nhà triết học nổi tiếng người Pháp với học thuyết “Khế ước xã hội” Theo J.J.Rútxô, lịch sử của xã hội loài người không
gì khác, mà chính là kết quả hoạt động của con người Lịch sử xã hội loài người trải qua ba trạng thái từ trình độ thấp đến cao, đó là: trạng thái tự nhiên nghĩa là, khi con người mới tách ra khỏi động vật thì chưa có tư hữu và sống bình đẳng với nhau; trạng thái công dân nghĩa là, xã hội loài người phát triển đến một lúc nào đó thì làm xuất hiện chế độ tư hữu và nảy sinh trong đó áp bức, bất công; trạng thái tự nhiên (nhưng ở trình độ cao hơn) Ông coi sự xuất
Trang 13hiện chế độ tư hữu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến dạng các mối quan hệ mang tính tự nhiên của con người Theo ông, con người sinh ra ai cũng được tự do, có quyền được sống, có quyền được sở hữu và một số quyền khác Nhưng các quyền cơ bản ấy của con người luôn có nguy cơ bị xâm phạm, do đó, họ buộc phải đấu tranh với nhau Đó chính là nguyên nhân ra đời của nhà nước, thông qua sự thỏa thuận, “khế ước xã hội” giữa các thành viên trong xã hội, họ sẽ giao một phần quyền của mình cho các cơ quan quyền lực xã hội nhằm bảo vệ các quyền tự nhiên của mình, đó chính là nhà nước Tuy nhiên, ở quan niệm đó của J.J.Rútxô chứa đựng những hạn chế nhất định,
đó là việc ông cho rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của nhà nước chỉ là sản phẩm mang tính chủ quan của con người; nhà nước là một hiện tượng tồn tại vĩnh viễn Điều đó phần nào làm sai lệch bản chất của nhà nước
Do vậy, quan niệm của J.J.Rútxô về nguồn gốc ra đời, bản chất của nhà nước chưa triệt để, vẫn ẩn chứa dấu ấn duy tâm chủ quan, chưa đưa ra được một biện pháp cụ thể để hiện thực hóa bản chất ấy của nhà nước
Đến đầu thế kỷ XIX, các nhà tư tưởng X.Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen đã tìm kiếm những con đường cải tạo các quan hệ xã hội đương thời Các ông kịch liệt phê phán sự bất bình đẳng, sự bất công của xã hội tư sản, một xã hội chỉ đem lại hạnh phúc cho người giàu và tai họa cho người nghèo Tuy nhiên, các ông chỉ thấy giai cấp công nhân là giai cấp nghèo khổ mà không thấy được sứ mệnh lịch sử của họ trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong tương lai cũng như quy luật vận động của xã hội tư sản Do đó, các mô hình
xã hội mà các ông đưa ra theo sự suy nghĩ chủ quan của mình đã trở thành không tưởng Các ông cho rằng, có thể cải tạo xã hội trên cơ sở “lý trí”, “tình cảm”, thậm chí trên cơ sở một tôn giáo mới V.I.Lênin đánh giá: “Họ (X.Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen) cự tuyệt mọi hành động chính trị và nhất là mọi hành động cách mạng; họ tìm cách đạt mục đích của họ bằng phương pháp hòa bình, và thử mở một con đường đi tới một kinh phúc âm xã hội mới
Trang 14bằng hiệu lực của sự nêu gương, bằng những thí nghiệm nhỏ, cố nhiên những thí nghiệm khoa học này luôn luôn thất bại” [23, tr.641]
Tóm lại, lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây là lịch sử đấu tranh
quyết liệt giữa tư tưởng của giai cấp thống trị và tư tưởng của giai cấp bị trị xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Trong thời chiếm hữu nô lệ, bên cạnh những tư tưởng phản động, những tư tưởng tích cực thời Hy Lạp cổ đại có vai trò vạch đường, đặt nền móng cho sự phát triển của tư tưởng nhà nước Đến thời Trung cổ, giáo hội Thiên chúa giáo cấu kết với vua chúa phong kiến xây dựng và củng cố chế độ quân chủ hà khắc Trong thời kỳ tăm tối này, các giá trị tiến bộ bị kìm hãm nặng nề nhưng vẫn
có sự phát triển nhất định Thời Cận đại là thời kỳ phát triển rực rỡ của các trào lưu tư tưởng chính trị ở Tây Âu: Tư tưởng Phục hưng, tư tưởng Khai sáng, tư tưởng dân chủ tư sản, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng…Những tư tưởng trên có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại tư tưởng thần quyền, chuyên chế phong kiến hà khắc, góp phần đem lại sự thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản sau này Đây cũng là những tiền đề
lý luận quan trọng để thúc đẩy sự hình thành chủ nghĩa Mác – Lênin
Ở phương Đông, mặc dù không bàn trực tiếp đến nguồn gốc, bản chất,
đặc trưng, kết cấu của nhà nước, nhưng tư tưởng về nhà nước được ẩn dấu đằng sau các học thuyết về chính trị - đạo đức Ngay từ thời Xuân thu - chiến quốc, xã hội Trung Quốc đã có sự chuyển mình sâu sắc từ chế độ chiếm hữu
nô lệ sang chế độ phong kiến Với sự ra đời của công cụ lao động bằng đưa đến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội Trong xã hội xuất hiện mâu thuẫn diễn ra gay gắt giữa giai cấp thống trị với nhân dân lao động, giữa quý tộc cũ với quý tộc mới Thực tiễn lịch sử nhân loại đã chỉ ra, ở đâu có xung đột giai cấp, tất yếu sẽ đưa đến đấu tranh giai cấp Trung Hoa cổ đại cũng không ngoài quy luật ấy Các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra triền miên Trước bối cảnh đó, tầng lớp trí thức ở Trung Quốc cố gắng
Trang 15tìm ra cách lý giải nguyên nhân và đưa ra giải pháp để lập lại trật tự xã hội, theo đó có nhiều học thuyết về nhà nước ra đời, đáng chú ý nhất là tư tưởng của hai trường phái Nho gia và Pháp gia
Tiêu biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử Tư tưởng chính trị của Khổng
Tử trước hết là vì sự bình ổn của xã hội “thái bình thịnh trị” Ông cho rằng, xã hội loạn lạc là do mỗi người không ở đúng vị trí của mình, Lễ bị xem nhẹ Do
đó, để xã hội ổn định thì theo ông, phải coi trọng Lễ, củng cố điều Nhân, mỗi người phải hành động trong khuôn khổ của mình Để thực hiện lý tưởng ấy của mình, ông đề ra học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh” Khổng Tử chủ trương cai trị đất nước bằng đức trị, nghĩa là người quân tử phải dùng đức để trị người “Nhà vua trước hết phải là tấm gương hiền về đạo đức, phải chăm sóc dân, dưỡng dân, giáo hóa dân, an dân” Thực chất, quan niệm của Khổng
Tử về nhà nước chỉ là phép ứng xử về đạo đức giữa con người với con người, học thuyết này không được xây dựng trên một cơ sở kinh tế, xã hội hiện thực nên không được nhà cầm quyền cùng thời áp dụng
Phái Pháp gia gồm nhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau Hàn Phi Tử (khoảng 230 – 233 TCN) là người tổng kết và phát triển tư tưởng
đó thành học thuyết hoàn chỉnh Ông cho rằng, bản tính con người là ham lợi Điều lợi chi phối đến các mối quan hệ trong xã hội Vì lợi ích mà con người sẵn sàng tranh giành, giết hại lẫn nhau Do đó, con ngươi cần phải có những biện pháp cứng rắn Từ nhận thức đó, ông đưa ra học thuyết chính trị của mình được xây dựng trên sự thống nhất giữa pháp – thuật – thế Theo đó,
“pháp” là những quy ước, chuẩn mực do vua ban ra và được phổ biến rộng rãi trong dân chúng thực hiện Pháp luật phải công bằng, để kẻ mạnh không lấn
áp kẻ yếu, phải rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với trình độ dân chúng "Pháp luật không hùa theo người sang Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tránh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không
Trang 16bỏ sót kẻ thất phu" [2, tr.73] “Thuật” là thủ đoạn cai trị của nhà vua “Thuật” phải kín đáo, vua không được để lộ sự yêu ghét của mình và không cần phải làm gì (vô vi) mà bắt quần thần phải làm việc cai trị dân “Thế” là uy thế, quyền lực của người cầm quyền Nhà cầm quyền phải nắm chắc thưởng và phạt phân minh, phải căn cứ trên cơ sở luật pháp Vua cũng phải phục tùng pháp luật Khi có thế, quyền uy của vua cũng sẽ tăng lên Nhìn chung, tư tưởng của phái Pháp gia nhằm bảo vệ chế độ chuyên chế tàn bạo, hà khắc của giai cấp thống trị, đồng thời đối lập với ý chí của nhân dân
Như vậy, những tư tưởng triết học về nhà nước kể trên ở phương Đông
có thể nhận thấy, tuy còn nhiều hạn chế nhưng góp phần đặt nền tảng đầu tiên cho sự phát triển tư tưởng về nhà nước ở những thời kỳ tiếp sau nó Cuộc đấu tranh giữa chủ trương Đức trị (Nho gia) và Pháp trị (Pháp gia) phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp quý tộc cũ bảo thủ, lạc hậu và giai cấp địa chủ mới
có tư tưởng cấp tiến Điểm chung của các học thuyết này là muốn cho xã hội
ổn định…
Tóm lại, mặc dù các nhà triết học trước Mác (ở cả phương Đông và
phương Tây) do nhiều nguyên nhân khác nhau, lập trường duy tâm, lập trường giai cấp, điều kiện lịch sử khi luận giải vấn đề nhà nước không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định Tuy vậy, những tư tưởng đó dù sơ khai, mộc mạc, duy tâm về thế giới quan, siêu hình về phương pháp luận, nhưng đem lại những cơ sở quan trọng để C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa hệ thống lý luận của mình về nhà nước
1.1.2 Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước
C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên tư tưởng về nhà nước thông qua nhiều tác phẩm kinh điển, trong đó có thể kể đến một số tác phẩm như:
“Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, “Bản thảo kinh tế
1857 – 1859, góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Phê phán cương
Trang 17lĩnh Gôta”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
Tác giả xin điểm qua nội dung của những tác phẩm trên
* Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”
Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (viết từ tháng 01/1845 đến tháng 4/1846)
được xem là một trong những tác phẩm mà lần đầu tiên C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách có hệ thống những quan điểm duy vật về lịch
sử, trong đó có vấn đề nhà nước
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, các ông đưa ra những khái niệm
cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đó là sản xuất vật chất, phương thức sản xuất vật chất, hình thức giao tiếp (sau này gọi là quan hệ sản xuất), sức sản xuất (sau này gọi là lực lượng sản xuất), cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng,
ý thức xã hội…
Trong tác phẩm này, các ông đưa ra quan niệm về quan hệ sản xuất được hình thành trong hoạt động sản xuất vật chất, con người có nhu cầu trao đổi với nhau và bị lực lượng sản xuất quy định Từ đó, nó tạo thành cơ sở nhất định của chế độ nhà nước “Hình thức giao tiếp – cái mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từ trước đến nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất
và đến lượt nó lại quyết định lực lượng sản xuất” [22, tr.51]
Tiếp đó, C.Mác làm sáng tỏ cách hiểu về xã hội công dân, như tổng thể các quan hệ sản xuất, “xã hội công dân là cơ sở hạ tầng, bản chất và nền kinh
tế là tư sản, chính là bản thân chế độ kinh tế đó sinh ra và quyết định nhà nước” [22; tr.52] Ông tiếp tục làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ
Trang 18vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện ra dưới hình thức tư tưởng” [22, tr.66-67] Đây thực chất là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra tính quyết định của sản xuất vật chất đối với thượng tầng tư tưởng; hay nói cách khác là chỉ ra sự quyết định của xã hội công dân (cơ sở hạ tầng) với nhà nước (kiến trúc thượng tầng) Từ đó, các ông chỉ ra kinh tế quyết định chính trị là một luận điểm quan trọng trong quan niệm về nhà nước
Khái niệm về nhà nước như là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị, đó là “hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ” [22, tr.90] Bàn về bản chất của nhà nước, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định “thực chất – là đại biểu, công cụ bảo vệ cho một lực lượng xã hội là giai cấp thống trị trong xã hội” [22, tr.90]
Tóm lại, “Hệ tư tưởng Đức” là một tác phẩm mẫu mực, đánh dấu sự
chín muồi thực sự của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước cả về mặt tư duy lý luận và nhận thức Đó là các tư tưởng về sản xuất vật chất, phương thức sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tồn tại xã hội và ý thức
xã hội… Cũng trong tác phẩm này, các ông đã đưa ra những tư tưởng cơ bản nhất, quan trọng nhất về lý luận nhà nước, làm tiền đề lý luận quan trọng là cơ
sở để cho ra đời nhiều tác phẩm khác về sau
* Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” được xuất bản lần đầu vào tháng
2-1848 và giữ một vị trí đặc biệt trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Sự ra đời của tác phẩm này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác bao gồm: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Tác phẩm này không chỉ là một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen, là “khúc ca tuyệt tác của chủ nghĩa Mác”, mà còn là cương lĩnh
Trang 19“có đầy đủ chi tiết về mặt lý luận, vừa về mặt thực tiễn” của giai cấp vô sản toàn thế giới và chính đảng của nó [32, tr.11]
Trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến vấn đề nhà
nước thông qua tư tưởng về chính trị và giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế
và chính trị Các ông đã phác họa nên một bức tranh sinh động về quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, bóc trần những mâu thuẫn nội tại vốn có của nó Với quan điểm duy vật về lịch sử, các ông chỉ ra mối quan
hệ giữa chính trị và kinh tế Trong đó, trong xã hội có giai cấp, kẻ nào nắm sức mạnh về kinh tế thì sẽ nắm được quyền lực chính trị
C.Mác và Ph.Ăngghen đứng trên lập trường thế giới quan duy vật để làm sáng tỏ vấn đề nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước Các ông cho rằng, nhà nước xuất hiện là một tất yếu khách quan từ nhu cầu chấn áp giai cấp Đồng thời nhà nước cũng nảy sinh chính từ những xung đột giai cấp
ấy Nhà nước nhân danh xã hội nhưng thực chất là nhà nước của giai cấp thống trị về mặt kinh tế, thông qua nhà nước thì giai cấp thống trị tiếp tục thống trị xã hội về mặt chính trị và tư tưởng
Các ông phân tích: “Nhà nước tư sản làm chức năng là công cụ thống trị xã hội là cơ quan trấn áp riêng của giai cấp tư sản” Ngoài ra, khi bàn đến chức năng của nhà nước, cũng cần nhắc đến chức năng xã hội của nhà nước Điều đó có nghĩa là, giai cấp thống trị muốn bảo vệ địa vị thống trị của mình thì phải thỏa mãn phần nào lợi ích của toàn xã hội Luận điểm này được trình bày ở cuối chương I tác phẩm Do đó, việc tiếp cận vấn đề nhà nước từ cơ sở kinh tế cho thấy tính hiện thực của tác phẩm Tính hiện thực của nó được đảm bảo trên cơ sở kinh tế nhất định
Trên cơ sở phân tích nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến vấn đề nhà nước vô sản Các ông cho rằng sự xuất hiện của nhà nước là một tất yếu khách quan trong lịch sử, như
sự thay thế của các nhà nước trước kia trong lịch sử Nhà nước vô sản là nhà
Trang 20nước của giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp thống trị và đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân lao động
Như vậy, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” cho thấy rằng, nhà nước là
hiện tượng xã hội có bản chất giai cấp và do điều kiện sinh hoạt vật chất quy định, đều là công cụ thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Do vậy, giai cấp vô sản chỉ có thể giành được chính quyền thì giai cấp vô sản mới
tổ chức quyền lực chính trị của mình
* Tác phẩm “Bản thảo kinh tế 1857 – 1859, góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”
Đây cũng là một trong những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa Mác
về lý luận nhà nước C.Mác đã chỉ ra vai trò của xã hội công dân, trong đó, xã hội công dân là các hoạt động sản xuất vật chất, kinh tế và một số hoạt động
cơ bản khác của con người Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng, ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội, đã xuất hiện những nhu cầu phải được tập hợp theo một quy tắc chung Những quy tắc chung đó, lúc đầu chỉ là những thói quen, nhưng sau đó đã trở thành pháp luật “có pháp luật thì những cơ quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất yếu phải xuất hiện: quyền lực công cộng, tức là nhà nước” [24, tr.378] Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, thì xã hội luôn luôn là cái quyết định “ nói chung không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định và quyết định nhà nước, rằng do đó phải lấy những quan hệ kinh
tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị, chứ không phải ngược lại” [26, tr.321]
Tóm lại, với những tác phẩm kinh điển như trên, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã trình bày có hệ thống những tư tưởng cơ bản về nhà nước như: nguồn gốc, bản chất, đặc trưng của nhà nước Những tư tưởng ấy được phát triển hơn,
trình bày rõ hơn nữa trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
Trang 21* Tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”
Tác phẩm này được C.Mác viết vào tháng 5/1875 Tác phẩm với nhiều nội dung sâu sắc với mục đích chính là phê phán những quan điểm sai lầm của Đảng xã hội dân chủ Đức tại Đại hội tổ chức ở Gôta – gọi tắt là Cương lĩnh Gôta về phương pháp cách mạng (dựa vào nhà nước tư sản), trong đó có nội dung về nhà nước; từ đó chỉ ra cho giai cấp công nhân phương pháp cách mạng là phải dựa trên chính sức mạnh của bản thân mình
Theo C.Mác, Cương lĩnh Gôta “đòi làm cho nhà nước tự do”, “coi nhà nước là một thực tại độc lập” [25, tr.490] Trên cơ sở đó, C.Mác đã phân tích
và làm rõ sự khác biệt của các nhà nước tư sản, nhưng đó chỉ là sự khác biệt
về hình thức, còn chúng đều có chung bản chất giai cấp C.Mác nhấn mạnh:
“Mặc dầu có vô vàn hình thức khác nhau, nhưng những nhà nước khác nhau trong những nước văn minh khác nhau đều có một điểm chung là được xây dựng trên miếng đất của xã hội tư sản hiện đại, chỉ có điều là phát triển ít hay nhiều theo phương thức tư bản chủ nghĩa, vì vậy những nhà nước ấy đều có chung một số tính chất căn bản” [25, tr.491] Qua đó, C.Mác đã vạch rõ bản chất thực sự của nhà nước tư sản, của giai cấp tư sản
Từ đó, C.Mác đưa ra dự báo khoa học về một hình thức nhà nước cộng sản chủ nghĩa tương lai Nhà nước này chắc chắn khác với nhà nước tư bản chủ nghĩa Cũng từ tác phẩm này, thuật ngữ “nhà nước chuyên chính vô sản” được sử dụng
Tóm lại, qua tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, C.Mác đã chỉ ra
những sai lầm về nhà nước tự do của những người soạn thảo cương lĩnh và đưa ra những tư tưởng khoa học về nhà nước: về bản chất, tính lịch sử của nhà nước, nhà nước chuyên chính vô sản Đồng thời ông đưa ra được dự báo
về một nhà nước trong tương lai, nhà nước chuyên chính vô sản của giai cấp
vô sản
Trang 22* Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” được Ph.Ăngghen viết từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 5 năm 1884 Đây
là một trong những tác phẩm mà Ph.Ăngghen đã sử dụng bản tóm tắt của C.Mác về các công trình nghiên cứu thực tế của L.Moóc gan cũng như của các nhà khoa học đương thời để phân tích một cách khoa học lịch sử loài người ở những giai đoạn phát triển sớm nhất của nó, làm sáng tỏ cơ sở kinh tế của quá trình tan rã chế độ công sản nguyên thủy và hình thành xã hội có giai cấp Ph.Ăngghen giải thích đặc điểm của sự phát triển những quan hệ gia đình
ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, vạch rõ nguồn gốc và bản chất của nhà nước, ông chỉ ra quy luật tất yếu của sự phát triển của sản xuất, của sự phát triển kinh tế là sẽ tiến tới một xã hội văn minh trong đó chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước sẽ không còn tồn tại
Trong tác phẩm này, xuất phát từ lập trường duy vật về lịch sử, bằng những dữ liệu khoa học, Ph.Ăngghen đã phân tích nguồn gốc, bản chất và chứng minh tính tất yếu của sự tiêu vong của nhà nước khi xã hội không còn giai cấp
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, khi nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của nhà nước, trước hết Ph.Ăngghen đã tìm hiểu và mô tả chi tiết về tập tục tổ chức của các xã hội nguyên thủy, phân tích một cách khách quan quá trình phát sinh, phát triển của các tổ chức xã hội thị tộc Iroqua và tổ chức xã hội thị tộc Hy Lạp Trong
xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, khi nền kinh tế còn chưa phát triển thì tổ chức đầu tiên để tổ chức quản lý xã hội đó là các thị tộc và bộ lạc Người đứng đầu các thị tộc, bộ lạc ấy là tù trưởng do thành viên trong thị tộc, bộ lạc đó bầu ra trên cơ sở đạo đức và uy tín cá nhân
Đó là xã hội chưa biết tới nhà nước và quyền uy của nhà nước đối với đời sống con người, mọi người đều bình đẳng với nhau Do vậy, Ph Ăngghen
Trang 23viết: “Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một
tổ chức tốt đẹp biết bao Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quí tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và tòa án, không có những vụ xử án,
- thế mà mọi việc đều trôi chảy… Tất cả đều bình đẳng và tự do kể cả phụ nữ” [26, tr.147-148]
Thông qua việc nghiên cứu sự tan rã của chế độ thị tộc của người Hy Lạp, La Mã, Giécmanh và những bộ tộc khác ở châu Á và châu Mỹ, Ph.Ăngghen đã bước đầu rút ra một số kết luận về tính tất yếu ra đời nhà nước Ông khẳng định, nhà nước không phải là thứ quyền lực xa lạ, thần thánh, siêu nhiên mà sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định; nó phản ánh tình trạng mâu thuẫn không thể giải quyết được, do
đó, cần có một lực lượng đứng trên xã hội, với nhiệm vụ làm dịu đi những xung đột ấy đi và giữ cho sự xung đột ấy nằm trong vòng “trật tự” Lực lượng
đó nảy sinh từ xã hội, dường như đứng trên xã hội, đó là nhà nước
Như vậy, qua tư tưởng của Ph.Ăngghen về nhà nước như trên, cho thấy, sự xuất hiện nhà nước do ba nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao
động đã dẫn tới sự phân công lao động xã hội, chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt, thủ công tách ra khỏi nông nghiệp và như thế, của cải sản phẩm trong xã hội tăng nhanh dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập của cải giữa các thành viên trong xã hội và sau đó dần hình thành giai cấp quý tộc trong nội bộ thị tộc và manh nha hình thành giai cấp trong xã hội, đó chính là nguyên nhân làm tan
rã chế độ xã hội thị tộc Qua đó có thể thấy, chế độ tư hữu là nguyên nhân trực tiếp cho sự ra đời của nhà nước Bởi lẽ đó, việc xuất hiện chế độ tư hữu đưa đến sự tan rã chế độ công hữu thị tộc, bộ lạc, cùng với nó là trong xã hội xuất hiện những xung đột về lợi ích kinh tế, đó là nguồn gốc đầu tiên của những xung đột giai cấp
Trang 24Thứ hai, chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc nhằm mở rộng bờ cõi,
đất đai, chiếm đoạt của cải và tù binh Tù binh lúc đầu bị giết nhưng về sau quy mô chiến tranh lớn hơn, tù binh nhiều hơn và các thủ lĩnh quân sự đã ý thức được đến vấn đề giữ lại tù binh để phục dịch cho mình Đây chính là nguyên nhân hình thành giai cấp mới trong xã hội – đó là giai cấp chủ nô và
nô lệ
Thứ ba, về mặt tổ chức, trong bộ lạc có một cơ quan thường trực với
những hoạt động tập thể và việc hình thành các quyết nghị có hiệu lực như những luật lệ chung tức dần hình thành pháp luật
Tất cả những nguyên nhân trên đã tác động vào tổ chức xã hội thị tộc,
bộ lạc, dần làm thay đổi kết cấu tổ chức xã hội thị tộc vốn có để hình thành một tổ chức xã hội mới phát triển cao hơn, buộc xã hội thị tộc phải tan rã nhường chỗ cho một tổ chức xã hội mới Để giữ cho xã hội trong vòng “trật tự” nhất định thì cần đến một tổ chức xã hội đặc biệt và chặt chẽ hơn, với quân đội, nhà tù, cảnh sát,… Thiết chế ấy đó chính là nhà nước Ph.Ăngghen viết: “Nhà nước là sản phẩm của xã hội đã phân chia giai cấp, là kết quả của những mâu thuẫn giai cấp không thể dung hòa, là sản phẩm của sự phát triển bên trong của xã hội, là công cụ của một giai cấp nhất định – giai cấp thống trị xã hội” [26, tr.255]
Có thể nói, nhà nước sinh ra không phải là cơ quan điều hòa mâu thuẫn giai cấp; ngược lại, sự xuất hiện của nhà nước chứng minh rằng những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được nữa và đã trở lên chín muồi “Sự thú nhận rằng xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không loại bỏ được Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế đó không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh
vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng rõ ràng là đứng
Trang 25trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” Và lực lượng đó, nảy sinh từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội, chính là nhà nước” [26, tr.253]
Như vậy, sự ra đời của nhà nước có nguyên nhân sâu xa từ sự phát triển
của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất đưa đến sự xuất hiện của chế độ tư hữu và giai cấp Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan Nó phản ánh mâu thuẫn giai cấp đã đến lúc chín muồi, giai cấp thống trị không thể duy trì sự bóc lột và thống trị xã hội nếu như không dựa vào một bộ máy bạo lực đặc biệt nhằm trấn áp giai cấp khác Những luận điểm trên đây hoàn toàn đúng đắn và khoa học về nguồn gốc ra đời của nhà nước, mà sau này tiếp tục được V.I.Lênin kế thừa và hoàn thiện trong lý luận chung về nhà nước
Về bản chất của nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng, nhà nước xuất hiện
nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, do vậy, nhà nước là nhà nước trước hết của giai cấp thống trị, nó mang bản chất của giai cấp thống trị và bản chất này bị qui định bởi các yếu tố kinh tế “Nhà nước có chức năng cơ bản là kiềm chế những mâu thuẫn đối kháng giai cấp, giữ cho những xung đột giai cấp ở trong vòng “trật tự” của sự thống trị Song chủ yếu nhà nước là công cụ bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, đàn áp và nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp, nhưng vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị
và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp
bị áp bức”[26, tr.255]
Về đặc trưng của nhà nước, theo Ph.Ăngghen, so với tổ chức thị tộc
trước kia thì đặc trưng thứ nhất của nhà nước là ở chỗ phân chia thần dân của
nó theo địa vực cư trú Đây là dấu hiệu hết sức quan trọng để phân biệt nhà nước với các hình thức tổ chức của thị tộc và bộ lạc Nếu như thị tộc và bộ lạc
Trang 26được hình thành trên cơ sở của những quan hệ huyết thống thì nhà nước được hình thành trên cơ sở địa bàn dân cư, lãnh thổ, tại đó, các thành viên thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà không kể họ thuộc thị tộc hay bộ lạc nào Ông kết luận: “Cách tổ chức những công dân của nhà nước theo địa vực cư trú như
thế, là một đặc điểm chung của tất cả các nhà nước” [26, tr.253]
Thứ hai, theo Ph.Ăngghen, đó là nhà nước “thiết lập một quyền lực công cộng, không còn trực tiếp là dân cư tự tổ chức thành lực lượng vũ trang nữa”[26, tr.253] Quyền lực công cộng ở đây chính là quyền lực đặc biệt, nó tách rời xã hội, nó thuộc về giai cấp thống trị Pháp luật là một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để thực hiện chức năng quản lý và duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị thông qua nhà nước Do vậy, pháp luật là những quy tắc ứng xử xã hội do giai cấp thống trị lập nên và được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế như quân đội, nhà tù, cảnh sát, tòa án…Thứ quyền lực chính trị này dùng để đàn áp giai cấp khác và được nuôi sống bởi sự đóng góp vật chất bắt buộc của các thành viên trong xã hội đó là thuế má – điều mà không có trong xã hội thị tộc, bộ lạc…
Về sự tiêu vong của nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng, nhà nước ra đời
và tiêu vong là một tất yếu của lịch sử Phần này được ông trình bày ở phần cuổi của tác phẩm, ông chỉ ra điều kiện của nhà nước tiêu vong, đó là khi cơ
sở kinh tế của nó không còn tồn tại nữa “Nhà nước tồn tại không phải mãi mãi từ ngàn xưa Đã từng có những xã hội không cần đến nhà nước, không có một khái niệm nào về nhà nước và chính quyền nhà nước cả; Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, giai đoạn tất nhiên phải giắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thì sự phân chia đó làm cho nhà nước trở thành một tất yếu Bây giờ… sự tồn tại của những giai cấp nói trên không những không còn là một sự tất yếu nữa, mà còn trở thành một trở ngại trực tiếp cho sản xuất Những giai cấp đó không tránh khỏi biến mất… Giai cấp tiêu vong thì nhà nước tiêu vong theo Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên
Trang 27cơ sở liên hợp tự do và bình đẳng giữa những người sản xuất, sẽ đem toàn thể
bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: vào viện bảo tang đổ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng” [26, tr.257-258]
Như vậy, tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
nhà nước” đã trình bày khá cụ thể những vấn đề cơ bản của nhà nước như nguồn gốc, bản chất, đặc trưng của nhà nước Tác phẩm là bước tiến chung trong việc nhận thức về nhà nước, từ đó tạo ra cơ sở quan trọng để V.I.Lênin tiếp tục kế thừa, phát triển và hoàn thiện lý luận chung về nhà nước của chủ nghĩa Mác
1.2 Bối cảnh ra đời “Nhà nước và cách mạng”
Tình hình trên thế giới
Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất làm mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở lên gay gắt, đẩy nhanh quá trình chín muồi của khủng hoảng cách mạng ở nhiều nước đế quốc Với sự phát triển nhanh chóng của lực lực sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao, mâu thuẫn gay gắt với phương thức chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa Chính mâu thuẫn đó biểu hiện ra về mặt xã hội thành mâu thuẫn sâu sắc và ngày càng không thể điều hòa được giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội, là giai cấp vô sản và giai cấp tư sản
Mặt khác, những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp tư sản, giữa các nước
tư bản cũng diễn ra gay gắt hơn do cạnh tranh và tranh chấp thị trường Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản thế giới ngày càng được bộc
lộ rõ hơn Quy mô thị trường ngày càng không thỏa mãn nhu cầu của phát triển sản xuất, nhất là các nước tư bản phát triển sau, do đó phải xâm chiếm nước khác Từ đó, lãnh thổ thuộc địa mở rộng rất nhanh chóng, đưa tới mâu thuẫn giữa các nước đế quốc chủ nghĩa với các nước thuộc địa trên phạm vi toàn cầu
Trang 28Có thể nói, đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp diễn ra quyết liệt, mà trung tâm là cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp cơ bản nhất trong xã hội, đó là giai cấp
vô sản và giai cấp tư sản, giữa các nước thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc
Vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa cũng đã trở thành vấn đề bức xúc và nổi bật Quá trình đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình chín muồi của khủng hoảng cách mạng trong nhiều nước đế quốc Vì vậy, Lênin gọi giai
đoạn này là đêm trước của cuộc cách mạng vô sản
Phong trào công nhân thế giới
Kể từ sau thất bại của Công xã Pari, một loạt phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới nổ ra Trong đó, đáng chú ý là phong trào của công nhân các nước Đức, Pháp, Rumani, Mỹ…Ở phương Đông, nổ ra cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, năm 1911 Phong trào chống đế quốc Anh bùng nổ ở Ấn Độ…
Sau khi Ph.Ăngghen mất, những người cơ hội dần chiếm ưu thế trong Quốc tế II (đáng chú ý là Bécstanh và Causky) Sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra những thời cơ cho chủ nghĩa cơ hội tồn tại và phát triển Nội bộ Quốc tế II trở lên lục đục, hình thành các phe cánh đối lập Họ đã không nắm bắt tình thế cách mạng, không phát động quần chúng đứng lên làm cách mạng lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, mà còn tìm mọi cách ngăn cản quần chúng theo con đường cách mạng
Cùng thời điểm đó, những người theo chủ nghĩa vô chính phủ công khai bênh vực quan điểm vô chính phủ, phản mácxít về vấn đề nhà nước Họ phủ nhận mọi nhà nước, kể cả nhà nước chuyên chính vô sản, phủ nhận vai trò của giai cấp vô sản Theo họ, lãnh đạo những cuộc nổi dậy của nhân dân phải là những người xuất chúng, việc cách mạng phải được tiến hành theo kiểu nổi dậy tức thời, khủng bố
Những khuynh hướng tư tưởng này khi thâm nhập vào phong trào công nhân sẽ gây ra những hậu quả tai hại, có nguy cơ làm mất phương hướng
Trang 29chính trị của phong trào Do đó, cách mạng cần phải được dẫn dắt bới những quan điểm đúng đắn, giúp cho giai cấp công nhân tránh khỏi những đầu độc
về tư tưởng Đây chính là thực tiễn bức xúc đòi hỏi V.I.Lênin nghiên cứu lý luận về nhà nước trên lập trường chủ nghĩa Mác, đồng thời, qua đó, nhằm phát triển hơn nữa lý luận về nhà nước cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới, giúp giai cấp công nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình trước tình thế cách mạng đã xuất hiện ở Nga cũng như nhiều nơi trên thế giới
Tình hình ở nước Nga
Đặc điểm cách mạng Nga ở thời điểm này cũng rất phức tạp Lúc này, cuộc cách mạng tháng 2 năm 1917 đã giành được thắng lợi, chính quyền Nga hoàng đã bị lật đổ nhưng chính quyền ở trung ương thì thuộc về tay giai cấp
tư sản
Nước Nga đang ở trong mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc, là nơi hội tụ những mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại Khả năng tiến hành cuộc cách mạng vô sản đã chín muồi Tuy nhiên, lúc này trong nội bộ phong trào công nhân Nga diễn ra hai khuynh hướng: khuynh hướng nhấn mạnh bạo lực chính trị và khuynh hướng tìm kiếm phương pháp ôn hòa, thỏa hiệp Cả hai khuynh hướng này đều giải thích sai lệch chủ nghĩa Mác, truyền bá các phương pháp giải quyết tình hình chính trị khác nhau, hoặc theo hướng điều hòa mâu thuẫn giai cấp, hoặc chủ quan duy ý chí, lý giải một cách duy tâm diễn tiến của lịch sử
Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1917 là thời kỳ rất căng thẳng Cả những người Menxêvích là những người Bônxêvích còn đang chờ đợi, thăm dò lẫn nhau Nhưng đến tháng 6 năm 1917, tại Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ nhất, phái Menxêvích đã ra lời tuyên bố giành chính quyền
Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã nhận định “việc xuyên tạc chủ nghĩa Mác trở thành một điều phổ biến chưa từng thấy” [17, tr.08] V.I.Lênin cho rằng, nếu không đấu tranh kiên quyết chống những kẻ cơ hội, xuyên tạc
Trang 30những vấn đề cơ bản trong học thuyết Mác về nhà nước thì không thể đấu tranh giải phóng được quần chúng nhân lao động khỏi nỗi khổ bị áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản Những lý do đó đã thúc dục ông viết tác phẩm “Nhà
nước và cách mạng”
1.3 Nội dung cơ bản và bố cục của “Nhà nước và cách mạng”
Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, tên đầy đủ là “Học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước và những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cách mạng” gồm lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất và thứ hai do V.I.Lênin
viết, in thành sách năm 1918 Phần nội dung chính của tác phẩm này gồm 6 chương (lẽ ra tác phẩm này có 7 chương, nhưng do cuộc khủng hoảng chính trị đêm trước của cách mạng tháng Mười nên V.I.Lênin chưa kịp hoàn thành chương cuối này) Tác phẩm này được Người viết vào tháng 8, tháng 9 năm
1917 với nội dung rất phong phú, được trình bày một cách hệ thống, toàn diện
và sâu sắc Cụ thể như sau :
Chương 1: Xã hội có giai cấp và nhà nước [17, tr.06]
Trên cơ sở những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin phân tích quá trình vận động của xã hội có giai cấp, giải thích sự ra đời của nhà nước là kết quả và biểu hiện của mâu thuẫn giai cấp Phân tích bản chất, đặc trưng của nhà nước, sự thể hiện quyền lực của nhà nước thông qua bộ máy bạo lực và vì sao nhà nước trở thành một lực lượng đứng trên xã hội và ngày càng trở lên xa lạ đối với xã hội V.I.Lênin cũng chỉ rõ nhà nước ở những thời kỳ lịch sử khác nhau thì mang những hình thức khác nhau và đóng những vai trò khác nhau V.I.Lênin cũng phê phán những người cơ hội xuyên tạc quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước tiêu vong và trình bày quan điểm mácxít về vấn đề này
Chương 2: Nhà nước và cách mạng Kinh nghiệm những năm 1848 –
1851 [17, tr.28]
Trang 31V.I.Lênin phân tích quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước qua các tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, “Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapáctơ” Từ các tác phẩm này, căn cứ vào các tư liệu lịch sử sống động, Lênin đã minh chứng cho quan điểm của chủ nghĩa Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc đâú tranh giải phóng và cải tạo xã hội Bài học của cách mạng 1848 -1851 là để thiết lập cái mới, cần thủ tiêu cái cũ một cách triệt để và không khoan nhượng
Chương 3: Nhà nước và cách mạng Kinh nghiệm Công xã Pari 1871
Sự phân tích của Mác [17, tr.44]
Tổng kết kinh nghiệm của công xã Pari và cách mạng Nga năm
1905-1907, V.I.Lênin nhấn mạng rằng sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội không thể không tạo ra tính muôn hình muôn vẻ của hình thức chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân V.I.Lênin vạch ra thực chất và nhiệm
vụ của chuyên chính vô sản, nhấn mạng tính dân chủ của nhà nước vô sản, sự khác biệt của dân chủ vô sản với dân chủ tư sản V.I.Lênin còn chỉ rõ sự khác biệt cơ bản của chuyên chính vô sản với nhà nước tư sản thể hiện ở hình thức
tổ chức nhà nước và ở vai trò lịch sử mà nó gánh vác
Chương 4: Tiếp theo Những lời giải thích bổ sung của Ăngghen [17, tr.70]
V.I.Lênin phân tích một số tác phẩm của Ph.Ăngghen như “Nguồn gốc
của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, “Chống Đuy-rinh” và
khẳng định chuyên chính vô sản là việc tổ chức đội tiên phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức Trong cuộc luận chiến chống những người cơ hội và vô chính phủ, V.I.Lênin khẳng định nhiệm vụ của chuyên chính vô sản là mọi chế độ người bóc lột người, xây dựng chủ nghĩa xã hội Để thực hiện nhiệm vụ đó cần phải có một chế độ quản lý mới, thật sự có tính nhân dân, được xây dựng trên nguyên tắc tập trung dân chủ
Trang 32Phân tích quá trình phát triển từ nền dân chủ tư sản lên nền dân chủ vô sản, V.I.Lênin khẳng định chỉ có trong điều kiện chuyên chính vô sản, lần đầu tiên tuyệt đại đa số nhân dân mới có khả năng sử dụng chính quyền nhà nước phục vụ cho lợi ích của mình Nhà nước vô sản phải dựa vào quần chúng nhân dân, liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân và chịu sự kiểm soát của họ
Chương 5: Những cơ sở kinh tế để nhà nước tiêu vong [17, tr.102]
V.I.Lênin xem xét những vấn đề lý luận hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, phát triển và cụ thể hóa học thuyết mácxít về hai giai đoạn của
xã hội cộng sản chủ nghĩa, nghiên cứu sâu sắc về cơ sở kinh tế để nhà nước tiêu vong
Chương 6: Bọn cơ hội chủ nghĩa tầm thường hóa chủ nghĩa Mác [17, tr.126]
V.I.Lênin phê phán các quan điểm sai lầm về phương pháp luận của chủ nghĩa cơ hội, sự lẫn lộn phép biện chứng với thuyết chiết trung và ngụy biện Phân tích có phê phán quan điểm chính trị của Plêkhanốp, Cauxky…khẳng định chủ trương cải lương nửa vời của Cauxky và những người cơ hội về thực chất là từ bỏ cách mạng
Lẽ ra tác phẩm còn có chương 7 Kinh nghiệm các cuộc cách mạng Nga năm 1905-1907 Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng chính trị đêm trước
của cách mạng tháng Mười nên V.I.Lênin đã chưa kịp hoàn thành chương cuối này được
Kết luận chương 1
Trong chương này, luận văn tập trung phân tích tiền đề tư tưởng về nhà nước trong lịch sử tư tưởng trước C.Mác (bao gồm cả phương Đông và phương Tây) do nhiều nguyên nhân khác nhau, lập trường duy tâm, lập trường giai cấp, điều kiện lịch sử…không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định; tuy nhiên, những quan điểm này lại là cơ sở quan trọng để chủ nghĩa Mác – Lênin tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện lý luận của mình về nhà nước chuyên chính vô sản Đồng thời, luận văn phân tích một vài tác phẩm của
Trang 33C.Mác và Ph.Ăngghen (Hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Bản thảo kinh tế 1857-1859, Phê phán cương lĩnh Gôta và Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước), đây cũng là một trong những cơ sở
lý luận quan trọng của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác khi bàn đến vấn đề nhà nước Luận văn tiếp tục phân tích để làm rõ hoàn cảnh ra đời, bố cục của tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” mà V.I.Lênin đã trình bày
Trang 34Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN
VỀ NHÀ NƯỚC TRONG "NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG”
Vấn đề nhà nước luôn là đối tượng của cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt nhất Trong lịch sử tư tưởng triết học từ thời cổ đại đến hiện đại có rất nhiều quan điểm khác nhau Các nhà tư tưởng trong thời điểm hiện tại đưa ra rất nhiều thứ lý luận về nhà nước, trong đó họ biện hộ cho sự thống trị của giai cấp bóc lột, xóa nhòa tính chất bóc lột của nhà nước tư sản, nhằm làm cho nhân dân lao động sao nhãng những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội Các nhà tư tưởng tư sản tán dương nhà nước đế quốc hiện tại, miêu tả nó như một nhà nước “phồn vinh chung”, “phúc lợi chung”…
Trên cơ sở phân tích sâu sắc các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nhấn mạnh chỉ có chủ nghĩa Mác mới đưa ra được câu trả lời đúng đắn và khoa học cho vấn đề này Có thể nhận thấy, thông qua “Nhà
nước và cách mạng”, ông không chỉ kế thừa và hoàn thiện những khía cạnh
của nhà nước đã được chỉ ra ở nhiều tác phẩm bàn về nhà nước trước đó về nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, sự tiêu vong của nhà nước…, mà còn đề cập
và đi sâu vào những vấn đề mới mẻ khác, như chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, dân chủ,…
2.1 Về bản chất và nguồn gốc của nhà nước
2.1.1 Về bản chất của nhà nước
Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen
về nhà nước, V.I.Lênin cho rằng, nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh cửu, bất biến, mà là hiện tượng mang tính lịch sử, có nguồn gốc từ chế độ tư hữu Nhà nước, ngay từ khi xuất hiện, về thực chất, là chuyên chính chính trị của một giai cấp Làm rõ tính chất giai cấp của nhà nước phải giải đáp được câu hỏi: Nhà nước do giai cấp nào tổ chức ra và lãnh đạo? Nhà nước tồn tại
và hoạt động trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp nào trong xã hội?
Trang 35Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định rằng, “Nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, là một cơ quan
áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác” [17, tr.10]
Từ luận điểm này, V.I.Lênin chỉ ra sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác của các nhà tư tưởng tư sản về bản chất của nhà nước Họ cho rằng, thiết lập nhà nước tức là kiến lập một trật tự hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức giai cấp bằng
cách làm dịu xung đột giai cấp Người chỉ ra sự xuyên tạc ấy bằng luận điểm
của C.Mác rằng “nếu có thể điều hòa được giai cấp thì nhà nước không thể
xuất hiện và cũng không thể đứng vững được” [17, tr.10]
Thực ra, đây là cuộc luận chiến quyết liệt trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước về bản chất của nhà nước Bởi vì, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, chỉ có giai cấp có vai trò thống trị về kinh tế mới lập ra bộ máy nhà nước, nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị về kinh tế, giai cấp này nhờ có nhà nước lại trở thành giai cấp thống trị về chính trị đối với toàn
xã hội “… theo quy luật chung, nó là nhà nước của giai cấp mạnh nhất, giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế, và nhờ có nhà nước, giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để trấn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức” [17, tr.16]
Điều đó cũng cũng có nghĩa là, trong xã hội có giai cấp, sự thống trị giai cấp xét về nội dung thể hiện ở 3 mặt: kinh tế, chính trị và tư tưởng Để thực hiện sự thống trị của mình, giai cấp thống trị phải tổ chức và sử dụng nhà nước, củng cố và duy trì quyền lực về chính trị, kinh tế và tư tưởng đối với toàn xã hội Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí nhà nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, các giai cấp, các tầng lớp dân cư phải hành động trong một giới hạn
và trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, là công cụ sắc bén nhất duy trì sự thống trị giai cấp, đàn
Trang 36áp lại sự phản kháng của các giai cấp bị thống trị, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị Do nắm được quyền lực nhà nước, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị biến thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội
Trong các xã hội bóc lột, nhà nước có thuộc tính chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu số đối với đa
số là nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột Nhà nước chiếm hữu nô lệ là nhà nước của giai cấp chủ nô, là công cụ để trấn áp
sự phản kháng của nô lệ Cũng như vậy, nhà nước phong kiến là nhà nước bảo
vệ lợi ích giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến lập lên nó Nhà nước tư sản cũng do giai cấp tư sản lập nên và bảo vệ lợi ích của chính nó
Thế nhưng, đến giai đoạn của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một bộ máy thống trị của đa số với thiểu số
“Nhà nước, ngay từ khi xuất hiện, về thực chất, là chuyên chính chính trị của một giai cấp Tuy nhiên, cần phải nhận thức và phân biệt rõ rằng,
chuyên chính chính trị của giai cấp vô sản khác về chất so với chuyên chính
chính trị của các giai cấp bóc lột Các giai cấp bóc lột thực hiện chuyên chính
là vì lợi ích riêng của mình, còn giai cấp công nhân thực hiện sự chuyên chính không phải cho riêng mình mà vì lợi ích chung của toàn thể nhân dân lao động” [34]
Như vậy, nhà nước nào cũng là công cụ để trấn áp giai cấp Tất cả các nhà nước đã có trong lịch sử đều là bộ máy, lực lượng đặc biệt trấn áp của giai cấp này đối với giai cấp khác, như V.I.Lênin đã nhận xét: “Chẳng những nhà nước thời cổ và nhà nước phong kiến là những cơ quan bóc lột nô lệ và nông nô và cả nhà nước đại nghị hiện đại cũng là công cụ để tư bản bóc lột lao động làm thuê” [17, tr.16]
Trang 37Cũng qua đây, V.I.Lênin cũng đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, quan điểm của chủ nghĩa Mác về bản chất nhà nước khác về chất so với quan điểm
tư sản và cơ hội, đồng thời là cuộc luận chiến quyết liệt giữa ông với những
kẻ cơ hội và bọn vô chính phủ trong việc bảo vệ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Những người cơ hội buộc phải thừa nhận nhà nước xuất hiện do mâu thuẫn giai cấp, là cơ quan thống trị giai cấp, nhưng họ cố lập luận rằng nhà nước là cơ quan điều hòa giai cấp Vận dụng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự “làm dịu xung đột giai cấp” của nhà nước, họ cho rằng sự làm dịu đó chính là điều hòa mâu thuẫn giai cấp V.I.Lênin khẳng định lại dứt khoát quan điểm của C.Mác “nếu có thể điều hòa được giai cấp thì nhà nước không thể xuất hiện và cũng không thể đứng vững được” [17, tr.10] Nhà nước là cơ quan thống trị giai cấp
V.I.Lênin cũng phê phán những người cơ hội chủ nghĩa tìm cách phủ nhận hoặc che dấu bản chất giai cấp của nhà nước tư sản bằng việc đưa ra khái niệm “nhà nước nhân dân tự do” Theo ông, đó là một khẩu hiệu cơ hội chủ nghĩa, bản chất của nhà nước tư sản là nền chuyên chính của giai cấp tư sản “những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản” [17, tr.44] V.I.Lênin chứng minh điều đó qua thực tế các nhà nước tư sản tiên tiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ở Pháp, Mỹ, Anh, Đức…[17, tr.40]
Bên cạnh đó, V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng, nhà nước ngoài tính cách là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công cộng, là phương thức tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội Nhà nước không chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị
mà còn đứng ra giải quyết những vấn đề nảy sinh từ trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự chung, sự ổn định, bảo đảm các giá trị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển Như vậy ,nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích của giai