1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài 2 Chuyên đề tôn giáo 2020

27 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 182 KB
File đính kèm Bài 2 - Chuyên đề Tôn giáo 2020.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU Trang bị cho người học những nội dung chủ yếu về đặc điểm, tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta, bao gồm các vấn đề: Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng; Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang tính dung hợp, đan xen, hòa đồng; Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thể hiện tính trội của yếu tố nữ; Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng, nước; Về đội ngũ chức sắc, nhà tu hành những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp ở Việt Nam; Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng; Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi; Đặc điểm chung của một số tôn giáo cụ thể. Từ đó, cán bộ, đảng viên có nhận thức và hành động ứng xử đúng đắn đối với tôn giáo và tín ngưỡng. Thực hiện đúng chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng. B. KẾT CẤU NỘI DUNG, PHÂN CHIA THỜI GIAN, TRỌNG TÂM BÀI Về kết cấu nội dung bao gồm 2 phần lớn: I KHÁI QUÁT CHUNG ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 1. Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng 2. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang tính dung hợp, đan xen, hòa đồng 3. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thể hiện tính trội của yếu tố nữ 4. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng, nước 5. Về đội ngũ chức sắc, nhà tu hành những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp ở Việt Nam 6. Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi 7. Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng II ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO CỤ THỂ 1. Phật giáo 2. Công giáo 3. Đạo Tin lành 4. Hồi giáo (Islam) 5. Đạo Cao Đài 6. Phật giáo Hòa Hảo

Trang 1

Chuyên đề 2 TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Người soạn: Lê Xuân Chính Đối tượng giảng: Bồi dưỡng Chuyên đề

"Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo"

Số tiết lên lớp: 4 tiết

Thời gian soạn: Tháng 4 năm 2020

A MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

Trang bị cho người học những nội dung chủ yếu về đặc điểm, tình hìnhtôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta, bao gồm các vấn đề: Việt Nam là nước có nhiềutôn giáo, tín ngưỡng; Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang tính dung hợp,đan xen, hòa đồng; Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thể hiện tính trội của yếu

tố nữ; Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng, nước; Về độingũ chức sắc, nhà tu hành - những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp ởViệt Nam; Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động trong và ngoàinước lợi dụng; Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi; Đặcđiểm chung của một số tôn giáo cụ thể

Từ đó, cán bộ, đảng viên có nhận thức và hành động ứng xử đúng đắn đốivới tôn giáo và tín ngưỡng Thực hiện đúng chính sách của Đảng và pháp luậtcủa nhà nước về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

B KẾT CẤU NỘI DUNG, PHÂN CHIA THỜI GIAN, TRỌNG TÂM BÀI

Về kết cấu nội dung bao gồm 2 phần lớn:

I- KHÁI QUÁT CHUNG ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG,TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

1 Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng

2 Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang tính dung hợp, đan xen, hòađồng

3 Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thể hiện tính trội của yếu tố nữ

4 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng, nước

Trang 2

5 Về đội ngũ chức sắc, nhà tu hành - những người hoạt động tôn giáochuyên nghiệp ở Việt Nam

6 Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi

7 Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động trong và ngoàinước lợi dụng

II- ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO CỤ THỂ

1 Phật giáo

2 Công giáo

3 Đạo Tin lành

4 Hồi giáo (Islam)

5 Đạo Cao Đài

6 Phật giáo Hòa Hảo

* Trọng tâm của bài:

I- KHÁI QUÁT CHUNG ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG,TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

C PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

- Phương pháp giảng dạy: Bài giảng sử dụng phương pháp thuyết trình là chủyếu kết hợp với phương pháp đặt vấn đề, phương pháp trực quan, phương pháp hỏiđáp

- Học viên lắng nghe, trao đổi, ghi chép bài

- Đồ dùng dạy học: Giáo án, giáo trình, tài liệu tham khảo, máy chiếu,màn hình, bảng, phấn, thước kẻ, micro

D TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN, GIẢNG DẠY

1 Ban tuyên giáo trung ương: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo

(Chương trình bồi dưỡng chuyên đề dành cho cán bộ, đảng viên), Nxb Chínhtrị quốc gia sự thật, 2018;

2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016;

3 Quyết định số 219/QĐ-TTg, ngày 21/02/2019 của Thủ tướng chínhphủ về "Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo";

4 Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trịquốc gia, 2012;

Trang 3

5 Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam: Tạp chí nghiên cứu tôn giáo,năm 2019;

6 Hướng dẫn số 43 - HD/BTDTW, ngày 01/9/2017 của Ban Tuyên giáoTrung ương về Thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên đề "Vấn đề tôn giáo

và chính sách tôn giáo"

Đ NỘI DUNG CÁC BƯỚC LÊN LỚP VÀ PHÂN CHIA THỜI GIAN Bước 1: Ổn định lớp

Giới thiệu bản thân, kiểm diện học viên, ổn định tổ chức lớp

Bước 2: Hệ thống sơ bộ lại các bài học trong chương trình học của lớp.

Bước 3: Giảng bài mới

Đặt vấn đề:

Các tôn giáo ở Việt Nam có sự dung hợp và đan xen nhau Hầu hết cáctôn giáo được du nhập vào nước ta đều mang dấu ấn Việt Nam Do sự khoandung, lòng độ lượng, tính nhân ái của dân tộc và do yêu cầu đoàn kết toàn dânbảo vệ nền độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ nên người Việt Nam chấp nhận sự hòanhập, đan quyện các yếu tố tôn giáo khác nhau, miễn là nó không vi phạm đếnlợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc Để hiểu rõ tìnhhình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, chúng ta cùng tìm hiểu nội dung củachuyên đề 2

Chuyên đề 2 TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

I- KHÁI QUÁT CHUNG ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG,TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

1 Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

Nước ta là nơi giao lưu của các nền văn hóa Đông - Tây nên có sự dunhập của nhiều tôn giáo, cùng với tôn giáo nguyên thủy, nội sinh Nhìn chung,

đa số nhân dân có tín ngưỡng và chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Đã

có thời kỳ, Phật giáo được coi như là quốc đạo (thế kỷ XI - XV) Cho đến nay,

số người theo các tôn giáo ở Việt Nam khoảng 24,5 triệu người, chiếm gần 27%

Trang 4

dân số, chưa kể nhiều người vẫn giữ những tín ngưỡng dân gian, truyền thốnghoặc những hình thức tín ngưỡng nguyên thủy Các tôn giáo được hình thành vàphát triển rất phong phú, đa dạng và có những nét đặc thù riêng Hiện tại, Nhànước đã công nhận tư cách pháp nhân của 40 tổ chức tôn giáo, thuộc 14 tôngiáo khác nhau

Đặc điểm phân bố tôn giáo ở nước ta là có những nơi tín đồ từng tôn giáosống thành cộng đồng tương đối tập trung với quy mô nhỏ và đa số các vùng tín

đồ các tôn giáo sống xen kẽ với nhau, xen kẽ với quần chúng không theo tôngiáo

Các tôn giáo ở Việt Nam cũng có nguồn gốc xuất hiện khác nhau Cônggiáo, Tin Lành, Phật giáo, Hồi giáo được du nhập từ bên ngoài vào nước ta quacác thời kỳ lịch sử với những phương thức khác nhau Trong khi đó, Cao Đài,Hòa Hảo mang tính bản địa, nội sinh

Với mức độ khác nhau, các tôn giáo ngoại nhập đều có mối quan hệ quốc

tế nhất định và ít nhiều chịu tác động qua lại thông qua những mối quan hệ đó

2 Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang tính dung hợp, đan xen, hòa đồng

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

Các tôn giáo ở Việt Nam có sự dung hợp và đan xen nhau Hầu hết cáctôn giáo được du nhập vào nước ta đều mang dấu ấn Việt Nam Do sự khoandung, lòng độ lượng, tính nhân ái của dân tộc và do yêu cầu đoàn kết toàn dânbảo vệ nền độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ nên người Việt Nam chấp nhận sự hòanhập, đan quyện các yếu tố tôn giáo khác nhau, miễn là nó không vi phạm đếnlợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc

Các tôn giáo chung sống bên nhau trong cộng đồng dân tộc, trên cùng đấtnước Trong lịch sử Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo như ở một số nướckhác Sự kích động dẫn đến một số xung đột nhỏ không hẳn vì lý do tôn giáo,

mà vì lý do chính trị hoặc vi phạm đến cái thiêng liêng tối thượng là Tổ quốc.Trong quan niệm của nhân dân Việt Nam, tiêu chuẩn gắn bó với văn hóa dân tộc

và độc lập, tự do của Tổ quốc là tiêu chí số một để xác định thái độ của bản thânvới tôn giáo

- Tính hòa đồng, đan xen của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam được thểhiện khá rõ qua một số đặc điểm sau đây:

Trang 5

+ Trên điện thờ của một số tôn giáo dễ chấp nhận sự hiện diện của các vịthần, thánh, của các tôn giáo khác Tín đồ của một tôn giáo này sẵn sàng thamgia vào các hoạt động của tôn giáo khác

+ Đối với nhiều người Việt Nam, rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo cụthể của họ Không ít người chấp nhận cả thần, thánh, tiên, phật, ma quỷ, thổcông, hà bá Họ thờ phụng ở đình, chùa, am miếu, khấn vái tứ phương, cả cácgốc cây, mô đất, bờ sông Họ tham gia các nghi lễ tôn giáo lớn, nhưng vẫnthực hiện thờ cúng tổ tiên, tổ chức hội làng Bên cạnh việc theo các tôn giáo,nhiều người còn tin vào những hình thức ma thuật, tướng số, bói toán, lênđồng Những hiện tượng tôn giáo này tất yếu dẫn đến giảm sút sự linh thiêngthanh khiết của các tôn giáo

- Hành vi, tâm linh tôn giáo ít nhiều mang tính thực dụng

Trên thực tế, người dân Việt Nam từ xa xưa thường hướng niềm tin vàocác thần tự nhiên và đặc biệt là các nhân thần Sự cầu mong các vị thần che chởvới một tâm lý thực dụng, với một nội dung khá cụ thể Khi thực tế cuộc sốngdiễn ra đúng như lòng mong ước, cầu nguyện thì mang ơn với lòng kính sợ Khikhông đúng như ý nguyện thì oán trách thánh thần Họ vái tứ phương, với tâm

lý “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, dàn trải niềm tin vào nhiều vị thánh,thần Theo quan niệm của họ, tất cả các thánh, thần đều như nhau, đều có thểlàm toại nguyện lời cầu xin, thỏa mãn được tâm linh tôn giáo của họ Bởi vậy,

có lúc họ tin "ma" hơn "bụt”, có khi lại tin "phật" hơn "thánh”, vv

- Những biểu hiện tôn giáo vẫn theo cách nghĩ cổ điển, truyền thống.Niềm tin tôn giáo được củng cố qua các nghi thức hành lễ ở những nơi thờ tự bềthế, nhưng giáo lý thì có khi không hiểu hoặc hiểu bàng bạc, hay không cầnhiểu Sức mạnh tôn giáo là ở hành động chứ không phải ở giáo lý, được vậnhành theo tập quán hay tuân thủ cứng nhắc theo quy định của từng tôn giáo

- Tính dung hợp, đan xen, hòa đồng của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam cóhiệu quả xã hội tích cực, làm cho ở nước ta, về cơ bản không có xung đột đứctin và chiến tranh tôn giáo

3 Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thể hiện tính trội của yếu tố nữ

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

Ở Việt Nam, từ Bắc đến Nam ở đâu cũng có nơi thờ tự nữ thần: Phật bà,Đức bà, Thánh mẫu Ví dụ trong quan niệm của nhiều tín đồ Phật giáo thì Phật

bà Quan âm gần gũi, thân thiết hơn cả Phật Thích ca Mâu ni

Trang 6

Một số tôn giáo vốn coi thường phụ nữ, nhưng khi du nhập vào Việt Nam

đã phải thay đổi ít nhiều cho phù hợp với vai trò của người phụ nữ và với sựnhìn nhận, đánh giá của xã hội đối với tôn giáo Nhiều nơi như đình, chùa, miếuđiện, thánh thất, nhà thờ là nơi thờ phụng những bậc thánh thần, tiên phật thuộcgiới nữ Thần thánh mang dạng nữ khá phổ biến và cũng rất đa dạng, phongphú, phản ánh nhu cầu nhiều vẻ của người phụ nữ ở thế giới hiện hữu

Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng trên là do trong quan niệm củangười Việt Nam, các yếu tố âm - đất - mẹ từ lâu đã được coi là tượng trưng cho

ý thức cộng đồng Nền văn minh lúa nước đã rất coi trọng tính nữ Người mẹ làbiểu tượng của ước vọng phong đăng, phồn thực, đâm chồi, nảy lộc, đơm hoakết trái, sự trường tồn của giống nòi, tấm lòng bao dung của lòng đất Mặt khác,khi các tôn giáo đầu tiên du nhập vào Việt Nam, xã hội Việt Nam còn chịu ảnhhưởng nhiều của xã hội mẫu hệ Bản thân các tôn giáo đã phải điều chỉnh chophù hợp với tình trạng xã hội đó

4 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng, nước

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

Tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta có từ rất sớm, trước khi có sự du nhập củacác tôn giáo ngoại sinh Hệ thống tín ngưỡng ở nước ta rất đa dạng, phong phúvới nhiều hình thức, loại hình khác nhau, quyện chặt, đan xen với các lễ thứcthực hiện suốt chu kỳ đời sống con người, từ sinh nở, cưới xin, ma chay đến cácngày mùng một, ngày rằm hằng tháng, Tết Nguyên đán, trong các lễ thức nôngnghiệp, các hội làng diễn ra hằng năm Thờ cúng tổ tiên và những người cócông với làng, nước là một nét đặc sắc của tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống ởnước ta Mỗi người đều thờ cúng ông bà, mỗi họ đều thờ cúng tổ tiên, mỗi làng,

xã đều thờ Thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ ngành, nghề,danh nhân văn hoá; trong phạm vi quốc gia thì thờ quốc tổ Vua Hùng

Đối với người Việt Nam, thờ cúng tổ tiên không đơn thuần chỉ biểu hiệntình cảm, nhớ ơn những người có công sinh thành, nuôi dưỡng con cháu trưởngthành mà còn quan niệm ông bà, tổ tiên như những vị thần hộ mệnh cho concháu mạnh khỏe, hưởng phúc, tránh tai họa ở ngay thế giới hiện hữu

Tập tục thờ cúng thần địa phương, thành hoàng, thân bản địa ngoài ýnghĩa nhớ ơn còn do quan niệm những vị thành hoàng còn là thần bản mệnh củacộng đồng làng, xã Nhiều thành hoàng còn được vua phong tước hiệu Thànhhoàng thường là những người có công với dân, với nước, được nhân dân tônvinh Cũng có người là tướng lĩnh có công trong trận mạc Cũng có vị đỗ đạt

Trang 7

cao, hay có công khai phá đất đai, lập nghề mới, Thành hoàng hầu hết là nam,nhưng cũng có thể là nữ Nhìn chung, trong "tập thể” các thành hoàng nước ta,hầu hết đều là các nhân thân có công với nước, với dân, được nhân dân ngưỡngmộ lâu dài Điều đó chứng tỏ những người có công dựng nước và giữ nước rấtđược coi trọng, phản ánh rõ rệt trong tín ngưỡng truyền thống của dân tộc

5 Về đội ngũ chức sắc, nhà tu hành - những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp ở Việt Nam

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

Chức sắc, nhà tu hành của từng tôn giáo với các phẩm trật như sau: Phậtgiáo là các tăng, ni, tính từ phẩm sadi (sư bác) trở lên đến thượng tọa, hòathượng (đối với tăng), phẩm ni sư, ni trưởng (đối với ni); Công giáo bao gồmcác phẩm: linh mục, giám mục, hồng y và các tu sĩ nam và tu sĩ nữ ở các dòngtu; đạo Cao Đài từ phẩm lễ sanh trở lên đến giáo tông và các chức phẩm kháctương đương; Phật giáo Hòa Hảo là thành viên Ban Trị sự cấp toàn đạc và BanTrị sự cấp xã (phường); đạo Tin Lành là mục sư, mục sự nhiệm chức, truyềnđạo, Số lượng chức sắc các tôn giáo khoảng 53.000 người

Bên cạnh đội ngũ chức sắc, nhà tu hành, ở nước ta còn có đội ngũ cácchức việc rất đông đảo, khoảng trên dưới 150.000 người Họ là những người dotín đồ bầu ra các cơ sở như: Ban Hộ tự ở các chùa của Phật giáo, Ban Hành giáo

xứ của Công giáo, Ban Cai quản Họ đạo của đạo Cao Đài, Ban Chấp sự của đạoTin Lành, Nếu như chức sắc, nhà tu hành là những người hoạt động tôn giáochuyên nghiệp thì các chức việc là người hoạt động tôn giáo bán chuyên nghiệp

Họ giúp cho các hoạt động của chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở trong việc quản lý

và hướng dẫn tín đồ Chức sắc, nhà tu hành, chức việc là lực lượng quan trọngtrong mối quan hệ giữa giáo hội với nhà nước và là đầu mối trong quản lý nhànước về hoạt động tôn giáo; đồng thời cũng thông qua lực lượng này để vậnđộng, hướng dẫn sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng tín đồ tuân thủpháp luật Do vị trí ảnh hưởng của các chức sắc, nhà tu hành đối với tín đồ và

xã hội nên trong công tác tôn giáo nói chung, công tác quản lý nhà nước nóiriêng, việc tranh thủ các chức sắc, nhà tu hành rất quan trọng và cần thiết

Đại đa số chức sắc, nhà tu hành tôn giáo ở nước ta có tinh thần dân tộc,hoạt động tôn giáo theo xu hướng tiến bộ, đồng hành cùng dân tộc, mong muốnđược hoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ luật pháp

Tuy nhiên, có một bộ phận nhỏ chức sắc tôn giáo chưa thực sự nêu cao ýthức trách nhiệm công dân, lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống đối chế độ,

Trang 8

kích động tín đồ tham gia vào các hoạt động ngoài mục đích tôn giáo (nhưkhiếu kiện đòi đất đai, can thiệp vào một số chủ trương, chính sách của Đảng,Nhà nước ).

6 Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi và ít nhiều cónhững tác động qua lại thông qua những mối quan hệ đó, trong xu thế toàn cầuhoá, hội nhập và phát triển Mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam vớiGiáo triều Vatican; giữa các hệ phái Tin Lành Việt Nam với các hệ phái TinLành gốc, trong khi hầu hết các tổ chức, hệ phái Tin Lành ở Việt Nam hiện nayđều có nguồn gốc từ các tổ chức, hệ phái Tin Lành ở Mỹ; Hồi giáo ở Việt Nam

có mối quan hệ rất khăng khít với Hồi giáo Malaixia, là cội nguồn du nhập và

hỗ trợ Hồi giáo ở Việt Nam Các tôn giáo ở Việt Nam còn chịu tác động củacác cá nhân, tổ chức tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài qua con đườngViệt kiều hồi hương, thăm người thân

Vấn đề quan hệ quốc tế của các tôn giáo đang là vấn đề quan trọng trongchính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, cũng như trong quản lý nhà nước

về tôn giáo Vấn đề quan hệ quốc tế tôn giáo cần được xem xét giải quyết thỏađáng trong điều kiện chín, sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước ta vàtrong xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội

7 Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng

Trong lịch sử cận - hiện đại ở nước ta, các thế lực chính trị phản độngtrong và ngoài nước thường lợi dụng các tôn giáo và vấn đề tôn giáo để thựchiện mục tiêu chính trị của chúng Hình thức, mức độ có thay đổi,

Tùy theo ý đồ chính trị và hoàn cảnh cụ thể khác nhau, có lúc là chiếntranh vũ trang, có lúc là hoạt động từ thiện , nhưng nói chung, ý đồ và hànhđộng lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động là không thay đổi, đã để lạinhững hậu quả nhất định trong quan hệ giữa các dân tộc, tôn giáo trên đất nướcta

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng lợi dụngvấn đề tôn giáo, chúng dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo tín đồ tôn giáo, gây chia

rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ tín đồ từng tôn giáo và giữa các tôn giáo; gắn vấn

Trang 9

đề tôn giáo với vấn đề dân tộc, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”chống phá cách mạng Việt Nam

Đối với các thế lực chính trị thù địch, hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo, thông qua các thủ đoạn như: Khai thác những sai sót trong việc thực hiệnchính sách tôn giáo ở một số cơ sở để xuyên tạc tình hình tôn giáo, vu khốngNhà nước ta vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo Lợi dụng các phương tiệntruyền thông, các diễn đàn quốc tế và một số tổ chức quốc tế để thông tin sailệch về tình hình tôn giáo, bôi nhọ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước,nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế Lôi kéo, mua chuộc, nuôi dưỡng và

sử dụng các phần tử cực đoan, ly khai trong các tôn giáo ở trong và ngoài nước

để chống phá, gây mất ổn định đất nước Tạo sức ép pháp lý để tác động vàotình hình tôn giáo ở Việt Nam Tìm cách chính trị hoá vấn đề tôn giáo, nhất làtôn giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc,nhân quyền

II- ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO CỤ THỂ

1 Phật giáo

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

a) Một số đặc điểm chung về Phật giáo

- Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên,trong một xã hội bị phân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt Phật giáo ra đời là kếtquả của cuộc đấu tranh phản đối thuyết bốn đẳng cấp và thế giới quan (quanniệm về thế giới) của đạo Bàlamôn, xác định thế giới quan của những ngườinghèo khổ Mặt khác, Phật giáo ra đời cũng bắt nguồn từ những suy tư, khátvọng, cảm hứng của người Ấn Độ cổ, được tập hợp lại trong kinh Vêđa

- Đặc điểm riêng độc đáo của Phật giáo là không đề cập đến thần sáng tạo

ra thế giới và con người Hệ thống triết học rất phát triển của Phật giáo, gồm cảthế giới quan và nhân sinh quan, đề cao vai trò của con người, thiên về một triết

lý sống, một phương pháp rèn luyện nhân cách hướng thiện

- Phật giáo không có tổ chức chặt chẽ, không có giáo quyền, không thốngnhất về cách tu hành, thường chia thành các sơn môn, tông phái

- Giáo lý Phật giáo là hệ thống đồ sộ, tập trung trong tam tạng kinh điểnkinh tạng (ghi lời Phật dạy), luật tạng (các giới luật), luận tạng (các bài kinh, tácphẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng và học giả sau này) vớinhiều nội dung đa dạng, sâu sắc, trong đó có một số nội dung cơ bản như: tứ

Trang 10

diệu đế; lý duyên khởi và thập nhị nhân duyên thuyết vô thường, vô ngã, luânhồi, nghiệp báo, niết bàn

- Những quy định về phép tắc, giới luật của Phật giáo được ghi đầy đủtrong luật tạng Về cơ bản, Phật giáo có hai giới luật quan trọng là ngũ giới vàthập thiện, quy định những điều mà những người theo Phật giáo phải tuân theo.Ngoài những quy định trên, những người tu hành còn phải thực hiện một sốđiều cấm khác Đối với các vị sư, từ bậc Đại đức trở lên, phải theo giới luậtnghiêm hơn: Tỳ kheo tăng 250 giới cấm, Tỳ kheo ni 348 giới cấm

- Người theo Phật giáo được chia thành hai loại:

Người tu hành: thoát khỏi gia đình và sinh hoạt xã hội, đi tu ở chùa theo

quy định Nam gọi là tăng, nữ gọi là ni

Người tu tại gia: thờ Phật, lễ Phật tại nhà, theo ngũ giới và thập thiện, gọi

là cư sĩ, phật tử

Chức sắc, nhà tu hành, về tăng có Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức; Sadiđược thọ giới từ tiểu lên; Tiểu (điệu) người xuất gia tu hành Về ni có Ni trưởng,

Ni sư, Ni cô, Sadini, Tiểu (điệu) cũng phải thế giới và tấn phong như bên tăng

Đạo Phật có hai hệ phái: Tiểu thừa và Đại thừa hay còn gọi là Nam tông

và Bắc tông Từ hai phái đó, mỗi phái chia làm nhiều tông nên người ta hay gọi

là "tông phái" Phật giáo còn tồn tại rất ít ở Ấn Độ, quê hương sinh ra đạo,nhưng lại tồn tại và phát triển nhiều ở các nước khác

b) Phật giáo ở Việt Nam

- Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ rất sớm Một số sử sách ghirằng, Phật giáo vào Việt Nam đầu tiên ở trung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh), cùngthời với các trung tâm Bành Thành, Lạc Dương của Trung Quốc vào cuối thế kỷ

II sau Công nguyên Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường: đường thủythông qua buôn bán với thương gia Ấn Độ, đường bộ thông qua giao lưu vănhóa với Trung Quốc

Do Phật giáo đến với Việt Nam bằng con đường hòa bình, giáo lý củaPhật giáo đề cao bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn rất gần gũi với tínngưỡng, văn hóa truyền thống của cư dân Việt Nam nên dễ dàng được chấpnhận Trải qua quá trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, Phật giáo cũng có nhữngbýớc thãng trầm Ðã có thời kỳ Phật giáo được coi là quốc đạo, như thời Lý,Trần Khi đó các nhà sư vừa là nhà tu hành, vừa là nhà chính trị, nhà thơ, nhàvăn Các vua triều Lý, Trần đã rất sùng kính đạo Phật, thường đi tu khi trao

Trang 11

quyền cho con Vua Trần Nhân Tông đã trao quyền cho con, lên tu ở Yên Tử

và lập ra Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam Qua 20 thế kỷ, Phật giáo đã đóng vaitrò tích cực trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam;

tư tưởng, văn hóa, đạo đức Phật giáo đã bén rễ sâu, trở thành một bộ phận quantrọng trong tư tưởng, văn hóa, đạo đức, hành vi ứng xử của người Việt Nam

- Phật giáo Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay:

+ Thời kỳ 1920 - 1980

Từ sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Phật giáo Việt Nam có nhiềusuy giảm Vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, do yêu cầu nội tại của Phậtgiáo Việt Nam và do tác động của các cuộc chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc,Nhật Bản, Phật giáo Việt Nam có phong trào chấn hưng và có sự khởi sắc Mộtbộ phận Phật giáo duy trì hoạt động có tổ chức, một số cơ sở đào tạo tăng tài lầnlượt ra đời Chấn hưng Phật giáo đã tạo ra một bước quan trọng của quan niệmdấn thân, gắn hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị, xã hội, gắn ý thức dântộc với ý thức tôn giáo Phật giáo đã tạo ra những phong trào lớn cho lịch sửPhật giáo và lịch sử dân tộc thời ấy

Trong khi đó, các chính quyền thực dân thường dựa vào Công giáo đểxây dựng bộ máy thống trị, phân biệt đối xử với Phật giáo Thực dân Pháp dựavào Công giáo để xây dựng bộ máy chính quyền cai trị, chèn ép Phật giáo Đặcbiệt, chính quyền Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đã dựa vào Mỹ và Cônggiáo để xây dựng bộ máy thống trị, kìm kẹp nhân dân miền Nam, đàn áp Phậtgiáo Chính vì vậy, nhiều phong trào Phật giáo đã nổ ra ở miền Nam, chốngchính sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật giáo, phát động phong trào yêu nước,chống đế quốc xâm lược Từ những phong trào này đã nảy sinh ra nhiều tổ chức

và tạo nên những khác biệt nhất định của Phật giáo ở hai miền Nam - Bắc

Có thể thấy rõ, Phật giáo ở miền Bắc là khá thuần nhất Càng vào phíaNam, Phật giáo càng đa dạng, không chỉ về hệ phái kiến trúc, về cách bố cụctrong chùa, về giáo lý mà cả trong sự hòa quyện vào các tôn giáo khác, thậm chí

là yếu tố để tạo thành tôn giáo mới Xu hướng hiện đại hóa Phật giáo với việcxây dựng và củng cố các hệ phái về tổ chức, đào tạo và cơ sở vật chất cũng rõnét hơn Đã xuất hiện nhiều hệ phái Phật giáo theo nhiều xu hướng chính trịkhác nhau Trước năm 1980, ở các tỉnh phía Nam có tới 20 tổ chức tông pháilớn nhỏ Trong các tông phái này có một bộ phận đã bị đế quốc lợi dụng, tách rahoạt động riêng rẽ, đi ngược lại mục đích chân chính của Phật giáo

+ Phật giáo Việt Nam từ năm 1980 đến nay

Trang 12

Phật giáo Việt Nam có truyền thống đoàn kết trong cộng đồng dân tộc.Tuy nhiên, qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, cho đến năm 1980, Phậtgiáo Việt Nam đã có sự biến đổi lớn, phân hóa về xu hướng chính trị, xã hội,cách giải thích, sự tiếp thu giáo lý và con đường tu hành làm suy giảm sự thốngnhất của Phật giáo Do đó, nguyện vọng của đại đa số chức sắc, tín đồ Phật giáo

là đi đến thống nhất trong một Giáo hội Phật giáo toàn quốc

Đất nước độc lập và thống nhất đã tạo thuận lợi cho Phật giáo thống nhấtcác hệ phái Năm 1981, các từ chức hệ phái Phật giáo trong cả nước đã tổ chứcĐại hội, thống nhất làm một và lấy tên là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" Đạihội đã thông qua hiến chương, chương trình hành động và bầu ra các cơ quanlãnh đạo

Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm hai Hội đồng ở Trung ương: Hội đồngchứng minh và Hội đồng trị sự Ở các tỉnh, thành phố có các Ban trị sự VỚI tớinơi các ban đại diện Phật giáo quận, huyện, thị

Đại đa số chức sắc, tín đồ Phật giáo tiếp tục phốt huy truyền thống yêunước, gắn bó với lần tộc, hăng hái thực hiện các chủ trương, chính sách và thamgia các phong trào quần chúng ở địa phương, ủng hộ chủ trương đoàn kết thốngnhất Giáo hội Phật giáo toàn quốc, gắn bó với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể, theo phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".Gần đây, Phật giáo chú ý nâng cao hiểu biết cho tăng ni và tín đồ bằng các lớphọc, các buổi thuyết giảng, in các sách; tham gia vào việc từ thiện, xã hội, giáodục, các công việc của Nhà nước, chính quyền địa phương với tư cách là nhữngđại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cáccấp

Số đông các ban trị sự Phật giáo tỉnh, thành phố hoạt động tốt, tôn trọng

sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và quản lý của chính quyền địa phương Khimặt trái của cơ chế thị trường tạo sự phân hóa giàu - nghèo, làm gia tăng tệ nạn

xã hội thì các hoạt động của Phật giáo có ý nghĩa góp phần gìn giữ truyền thốngvăn hóa, đạo đức của dân tộc và sự lành mạnh của xã hội

Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam cũng còn có những mặt hạn chế về trìnhđộ văn hóa nói chung và việc tu học giáo lý của tăng ni Đội ngũ tăng ni thônghiểu kinh pháp chưa nhiều Số lượng, trình độ so với nhu cầu thì còn thiếu vàyếu Một vài nơi, trong chức sắc và các ban trị sự Phật giáo tỉnh, thành phốthiếu sự gắn bó giáo lý giữa các sơn môn, pháp phái, thiếu đoàn kết và thốngnhất trong hoạt động của giáo hội Ở một vài chùa đã diễn ra không ít các tệ mê

Trang 13

tín Tính kinh doanh cũng diễn ra ở nơi này, nơi khác Nhiều chùa tăng phần traiđàn, cầu siêu, cúng sao giải hạn, cầu an, cúng cô hồn, thậm chí cả sóc quẻ bóitoán để kinh doanh, để quá nhiều hòm công đức

Trong thời gian gần đây, một số ít tổ chức, nhóm phái Phật giáo cũ vànhững phần tử cực đoan đã tăng cường hoạt động chống đối cách mạng nước ta.Đáng chú ý là các phần tử cực đoan trong "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thốngnhất" cũ; nhóm "Tăng đoàn bảo vệ chánh pháp" ở miền Trung, các nhóm "Giađình Phật tử" ly khai, lợi dụng hoạt động tôn giáo để chống đối chính quyền,gây mất trật tự xã hội Được sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở bênngoài, chúng đã tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện âm mưu hình thành

"Ủy ban liên tôn đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo”, phục hồi, công khai hoácái gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất"

2 Công giáo

- Gv: Hỏi - đáp, đàm thoại, thuyết trình.

a) Một số đặc điểm chung về Công giáo

Các tôn giáo cùng thờ đức Chúa Giêsu Kitô có tên gọi chung là Kitô giáo(âm Hán Việt là Cơ Đốc giáo), gồm Công giáo Chính Thống giáo, Tin Lành vàAnh giáo

Kitô giáo xuất hiện vào thế kỷ Iở La Mã cổ đại Khi mới xuất hiện, tín đồKitô giáo gồm những người nô lệ và dân nghèo tự do, hoạt động có tính chấtphản kháng chế độ thống trị của giai cấp chủ nô Dần dần những người thuộcgiai cấp bóc lột và tầng lớp trên cũng theo Kitô giáo, làm thay đổi thành phần xãhội và tư tưởng thỏa hiệp, an phận, cam chịu, quy phục , tính chất chống La

Mã cũng dần dần bị mất đi Đầu thế kỷ IV, Hoàng đế La Mã Côngxtăng tintuyên bố Kitô giáo là quốc giáo của đế chế La Mã, biến Kitô giáo thành công cụtrong tay giai cấp chủ nô Sau khi đế quốc La Mã tan rã, ở Tây Âu hình thànhcác quốc gia phong kiến Tại các quốc gia này, Kitô giáo đã xác lập vị trí thầnquyền tuyệt đối, kết hợp với vương quyền phong kiến, chi phối mọi mặt trongđời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng của xã hội thời trung cổ

Đến thế kỷ XI, sự phân rã của đế quốc Bidangtin dẫn đến sự ly khai trongKitô giáo: Công giáo, thế lực lớn nhất, thuộc phân Tây đế chế La Mã và ChínhThống giáo ở phương Đông

Đến thế kỷ XVI, giai cấp tư sản ở châu Âu xuất hiện đã đặt ra yêu cầu cảicách Công giáo Với những cải cách tôn giáo của Martin Luthơ (1483 - 1546)

Ngày đăng: 03/10/2020, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w