Ph ạm Tiến ThànhHệ thống hóa một số vấn đề cơ bản của cổ phần hóa Ngân hàng Thương mại nhà nước, chỉ ra những thuận lợi, thách thức và sự cần thiết của việc cổ phần hóa, phân tích và đán
Trang 1Ph ạm Tiến Thành
Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản của cổ phần hóa Ngân hàng Thương mại nhà nước, chỉ ra những thuận lợi, thách thức và sự cần thiết của việc cổ phần hóa, phân tích và đánh giá tiến trình cổ phần hóa Ngân hàng Thương mại nhà nước, nêu ra những định hướng, kiến nghị và các giải pháp cơ bản để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian tới
Luận văn ThS: Quản trị kinh doanh 60 34 05
Nghd: Trịnh Thị Mai Hoa
ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hà Nội – 2007
Trang 2PH ẦN MỞ ĐẦU
Ch ương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỔ PHẦN HOÁ NGÂN
HÀNG TH ƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC 6
1.1 NH ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ 6
1.1.1 L ịch sử ra đời cổ phần hoá 6
1.1.2 C ổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước 10
1.2 C Ổ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC 16
1.2.1 S ự hình thành sở hữu Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng 16
1.2.2 Tính đặc thù của cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại Nhà n ước ở Việt Nam 20
1.3 CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚCỞ M ỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 21
1.3.1 N ội dung cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại của Ba Lan và Trung Qu ốc 21
1.3.2 Nh ận xét chung 36
Ch ương 2: NỘI DUNG CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI TH ƯƠNG VIỆT NAM 40
2.1 T ỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 40 2.1.1 C ơ cấu tổ chức 40
2.1.2 N ăng lực tài chính 42
2.1.3 N ăng lực quản lý và điều hành 47
2.2 L ỢI ÍCH TỪ CỔ PHẦN HOÁ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NGOẠI TH ƯƠNG 49
2.2.1 Đáp ứng nhu cầu tăng vốn 50
2.2.2 Thúc đẩy quá trình hiện đại hoá công nghệ, quản lý điều hành và phát tri ển sản phẩm 51
2.2.3 Góp ph ần minh bạch hoá hoạt động kinh doanh của ngân hàng 52 2.3 M ỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI TH ƯƠNG 53
2.3.1 M ục tiêu cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương 53
Trang 32.4 TI ẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG 55
2.4.1 Nh ững kết quả đạt được trong giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá 55
2.4.2 Nh ững vấn đề đặt ra trong tiến trình cổ phần hoá Vietcombank 57 Ch ương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH C Ổ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 68
3.1.CÁC QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG NGO ẠI THƯỢNG VIỆT NAM 68
3.1.1 C ổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương cần được tiến hành từng b ước thận trọng 69
3.1.2 C ổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương phải được tiến hành công khai, minh b ạch 70
3.1.3 C ổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nước nắm cổ phần chi phối 70
3.1.4 C ổ phần hoá Vietcombank theo hướng tăng cường tính độc lập và t ự chủ trong hoạt động kinh doanh 70
3.1.5.C ổ phần hoá cần có sự phối hợp hiệu quả từ các bên có liên quan 70 3.2 GI ẢI PHÁP TIẾN HÀNH THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGO ẠI THƯƠNG VIỆT NAM 71
3.2.1 Thành l ập ban chuyên trách về cổ phần hoá 71
3.2.2 Nhóm gi ải pháp liên quan đến IPO 74
3.2.3 Nhóm gi ải pháp sau cổ phần hoá 81
3.3 KI ẾN NGHỊ 83
3.3.1 Đối với Chính phủ 83
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan 85
K ẾT LUẬN
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4PH ẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong nhiều năm qua, các Ngân hàng Thương mại Nhà nước đã góp vai trò lớn trong công cuộc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tài chính tiền tệ, trong đó phải kể đến một trong bốn Ngân hàng Thương mại Nhà nước lớn nhất đó là Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các Ngân hàng Thương mại Nhà nước cũng giống như các Doanh nghiệp Nhà nước đang
bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế yếu kém và lạc hậu Trong đó Ngân hàng Ngoại thương cũng không phải là ngoại lệ
Bên cạnh đó xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là thực
tế khách quan diễn ra với tốc độ nhanh chóng, vừa tạo ra cơ hội, vừa đưa tới
những thách thức cho mọi doanh nghiệp Để tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một yêu cầu của thực tế đặt
ra là phải tiến hành cải cách triệt để các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và các Ngân hàng thương mại Nhà nước nói riêng, trong đó cổ phần hoá là một
nội dung quan trọng
Vấn đề cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước đã được Đảng và Nhà
nước hết sức quan tâm, điều này thể hiện bằng chủ trương đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước theo Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9, khoá IX, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam chủ trương tiến hành mạnh mẽ việc cổ phần hoá các Ngân hàng
Thương mại Nhà nước
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các dịch vụ ngân hàng
Trang 5bán lẻ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, cho vay đồng tài
trợ Để hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới cơ chế và nâng cao năng lực quản lý, quản trị điều hành và huy động các nguồn lực, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tất yếu cũng phải được cổ phần hoá Mặc dù cổ phần hoá Ngân hàng thương mại Nhà nước là quá trình phức tạp bao gồm nhiều nội dung, với nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách trên, nhất là khi chúng ta đang đứng trước việc đẩy mạnh cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Tác giả luận văn chọn vấn đề: “Cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - vấn
đề và giải pháp” để làm đề tài Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chuyên ngành Quản
trị Kinh doanh của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN C ỨU:
Vấn đề cổ phần hoá NHTM Nhà nước là mảng đề tài được sự quan tâm
của nhiều tác giả
Đối với thể loại sách và tạp chí, có nhiều bài đề cập đến vấn đề cổ phần hoá như sách: Bàn về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước của Vụ chiến lược phát triển Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tác giả
đã đề cập được một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn quá trình cổ phần hoá các ngân hàng thương mại; Bài “Cổ phần hoá ngân hàng quốc doanh: Sự
c ần thiết, khó khăn và giải pháp” của tác giả Hoàng Lan, tạp chí Ngân hàng
Ngoại thương số 141, trang 33 - 35, Bài viết đã đề cập một cách khái quát vấn
đề cổ phần hoá các ngân hàng quốc doanh
Đối với thể loại công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án có nhiều bài đề cập đến vấn đề cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại như Hội thảo “Bàn về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước” của Vụ chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước xuất bản năm 2005, Hội thảo
đã đưa ra các lý luận, đánh giá thực tiễn cổ phần hoá các Ngân hàng Thương
Trang 6mại; Luận văn Thạc sỹ “Cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt
Nam trong xu thế hội nhập” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương - Trường Đại
học Ngoại thương năm 2006; Luận văn đề cập đến mối quan hệ giữa cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam
Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo, sách đề cập đến vấn
đề cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước cũng như cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại, nhưng đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, cập nhật và có hệ thống vấn đề cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Chính vì vậy tôi xin chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu của mình
Luận văn “Cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - vấn đề và giải pháp” có sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình kể trên Mặc dù vậy, đây là Luận văn có nội dung độc lập không trùng lặp với các công trình đã được công bố
3 M ỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.2.Nhi ệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản của cổ phần hoá Ngân hàng
Thương mại Nhà nước Chỉ ra lợi ích, thách thức và sự cần thiết của việc cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước
+ Phân tích và đánh giá tiến trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trang 7+ Nêu ra những định hướng, kiến nghị và một số giải pháp cơ bản để thúc đẩy quá trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương diễn trong giai đoạn tiếp theo
4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là tiến trình cổ phần hoá của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
- Ph ạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là kinh nghiệm cổ phần hoá Ngân hàng
Thương mại ở một số quốc gia, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam và tiến trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:
- Đánh giá, tổng kết những kết quả đạt được về những vấn đề còn tồn tại
của việc triển khai cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
- Đưa ra kiến nghị và một số giải pháp cơ bản để thúc đẩy quá trình cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới
6 PH ƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- C ơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
- Ngu ồn tài liệu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu sau: + Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, về vấn đề cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại
Trang 8+ Các Kỷ yếu Hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đên đề tài luận văn
+ Các báo cáo thường niên năm 2003, 2004, 2005, 2006 và các tài liệu sách báo do Ngân hàng Ngoại thương phát hành
- Ph ương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp kết hợp lịch sử - lôgích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp lượng hoá, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp sắp xếp có hệ thống các sự kiện, v.v
7 K ẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn gồm 3 chương:
Ch ương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cổ phần hoá Ngân hàng
Th ương mại Nhà nước
Ch ương 2: Nội dung cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam
Ch ương 3: Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ
ph ần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trang 9những nền kinh tế đang chuyển đổi như Ba Lan, Hungary Quá trình này bao
gồm mọi lĩnh vực từ ngành công nghiệp truyền thông cho đến các lĩnh vực năng lượng (kể cả năng lượng nguyên tử) ngân hàng và bảo hiểm Mặc dù có
sự khác biệt đáng kể vì trong các từ ngữ trên, về cơ bản quá trình này được
hiểu là sự chuyển đổi sở hữu từ Nhà nước sang khu vực tư nhân nhằm nâng cao
hiệu quả vận hành các quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, giảm bớt sức ép đè nặng lên ngân sách Nhà nước Tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp thu hút được các nguồn vốn dài hạn cũng như tạo động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Cổ phần hoá đã ra đời hàng trăm năm nay Khởi thuỷ sản xuất tiểu thủ công nghiệp sang thời gian phát triển đã hình thành các Công ty tư nhân; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quá trình phát triển tiếp đòi hỏi phải có nhiều vốn hơn và chủ các Công ty này phải kêu gọi thêm vốn Khi có nhiều người khác tham gia góp vốn thì phá vỡ tính độc quyền của một chủ duy nhất, đòi hỏi hình thành cấp quản trị - đại diện của các chủ sở hữu và việc điều hành hoạt động cũng không thể từng chủ duy nhất nữa Như vậy, việc cổ phần hoá mục đích tăng vốn chủ sở hữu nhưng đã kéo theo cơ cấu tổ
chức của Công ty phải thay đổi và cơ chế giám sát hoạt động của Công ty
Trang 10cũng thay đổi Ngoài sự giám sát của các tổ chức tư nhân và trách nhiệm hữu
hạn thì phải chịu thêm sự giám sát của Hội đồng quản trị, của Đại hội cổ đông
và thị trường chứng khoán khi phát hành cổ phiếu trên thị trường
Như vậy, có thể thấy cổ phần hoá là vấn đề được quan tâm trên toàn thế
giới, kể cả các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cho đến các nước có
nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu Đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam với hàng vạn doanh nghiệp Nhà nước cần thực hiện việc chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình Công
ty cổ phần Nhà nước khuyến khích tư nhân tham gia góp vốn và quản lý doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu Trong trường hợp Nhà nước còn nắm giữ
vốn trong các doanh nghiệp sau cổ phần hoá thì Nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là một nhà đầu tư Vai trò chi phối của Nhà nước trong doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ nắm giữ vốn Nói một cách khác, vai trò của Nhà nước với tư cách là nhà bảo hộ trở thành nhà đầu tư
Cổ phần hoá doanh nghiệp là con đẻ của nền kinh tế thị trường và đã được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, đem lại nhiều thành công lớn trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) là hướng đi hợp lý nhất đối với khu vực kinh tế Nhà nước, nhất là điều kiện như ở Việt Nam: Thiếu vốn, nợ quá hạn,
quản lý yếu kém, công nghệ lạc hậu,
Ngân hàng Thương mại Nhà nước(NHTMNN) trước hết là một doanh nghiệp Nhà nước được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Để hiểu rõ về cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước, cần tìm hiểu cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước mà trước hết là tìm hiểu một số nét về Công ty cổ phần và doanh nghiệp Nhà nước, hai đối tượng nghiên cứu cơ bản của cổ phần hoá
Trang 11Công ty c ổ phần
Sự ra đời của loại hình Công ty cổ phần gắn liền với trình độ phát triển
xã hội hoá nền kinh tế sản xuất và sự phát triển của nền kinh tế thị trường
Loại hình Công ty cổ phần ra đời từ thế kỷ XVI ở các nước phát triển Châu
Âu, đến nay đã có lịch sử phát triển mấy trăm năm Công ty cổ phần ra đời không nằm trong ý muốn chủ quan của bất cứ lực lượng lao động nào mà là một quá trình kinh tế khách quan, do các nguyên nhân như: Quá trình xã hội hoá tư bản, tăng cường tích luỹ và tập trung tư bản ngày càng cao Tác động
của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất: Sự phân tán tư bản để tránh rủi ro trong cạnh tranh và tạo thế mạnh về quản lý: Sự ra đời và phát triển rộng rãi của các định chế tài chính
Công ty cổ phần có nhiều ưu điểm: Huy động vốn nhanh, nguồn vốn
lớn phong phú; năng động, sáng tạo, linh hoạt và chuyên môn hoá trong quản
lý điều hành Do chức năng vốn tách rời quyền sở hữu nên cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp đồng thời tạo điều kiện tập hợp được nhiều lực
lượng khác nhau vào hoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng về quyền, trách nhiệm và lợi ích của các cổ đông theo mức góp vốn: Giới hạn và trách nhiệm quản lý, mỗi cổ đông của Công ty chịu trách nhiệm về mặt pháp
lý trên số vốn đã đầu tư vào Công ty
Tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù, chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của Công ty là san sẻ rủi ro cho các chủ
nợ khi Công ty bị phá sản Vốn tự có của Công ty huy động thông qua phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông
Trang 12Công ty cổ phần là hình thức tổ chức mang tính xã hội hoá cao không
những thể hiện ở phương diện sở hữu mà còn thể hiện tập trung ở việc sử dụng vốn
Có hai cách để thành lập Công ty cổ phần:
1 Thành lập Công ty cổ phần mới
2 Chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các Doanh nghiệp Nhà nước (gọi là cổ phần hoá), Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty tư nhân
Doanh nghi ệp Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,
nhằm thực hiện các mục đích kinh tế - xã hội do Nhà nước giao
Doanh nghiệp Nhà nước tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới mặc dù quy mô và vị trí của nó có khác nhau ở từng nước Nhìn từ góc độ lịch
sử, doanh nghiệp Nhà nước phát triển mạnh trên thế giới từ sau chiến tranh
thế giới thứ II Sự thăng trầm của Doanh nghiệp Nhà nước trên thế giới có sự liên hệ khá chặt chẽ với sự ra đời, phát triển và suy yếu tạm thời của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Sự ra đời hàng loạt Doanh nghiệp Nhà nước ở Pháp, Đức, Nhật Bản, Anh trước và sau chiến tranh thế giới lần II chịu ảnh hưởng của những thành công kinh tế
mà doanh nghiệp Nhà nước ở Liên Xô tạo ra Dưới ảnh hưởng này, Doanh nghiệp Nhà nước ở các quốc gia mới giành được độc lập như Ai Cập, Xiri, Ănggola, Ba Lan, CHDC Đức, đều tổ chức hoạt động chủ yếu thông qua các Doanh nghiệp Nhà nước
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả ở nhiều nước, Doanh nghiệp Nhà nước trở thành gánh nặng của ngân sách Nhà nước Tình trạng này đã tạo nên làn sóng tư nhân hoá Doanh nghiệp Nhà nước ở các nước TBCN vào cuối những năm
Trang 131960, đầu năm 1970 Doanh nghiệp Nhà nước cũng chịu sức ép của cải cách
và cổ phần hoá hoặc tư nhân hoá ở các nước đang phát triển Còn ở các nước
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây, làn sóng tư nhân hoá diễn ra sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội đã gần như xoá sổ các doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước hiện nay vẫn tồn tại ở nhiều nước, song chỉ được coi
là thành phần chủ đạo của một vài nước kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội
Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau
mà cổ phần hoá là một trong những giải pháp cải cách doanh nghiệp Nhà nước Cổ phần hoá được coi là giải pháp triệt để bởi nó giải quyết căn nguyên
của những yếu kém trong tổ chức hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước, đó
là vấn đề sở hữu Cổ phần hoá chấp nhận sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh tế vĩ mô
1.1.2 Cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước
1.1.2.1 Khái ni ệm
Có nhiều khái niệm về cổ phần hoá DNNN Dưới đây là một số khái niệm cơ bản:
Cổ phần hoá DNNN là việc chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước từ một
chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước (tức toàn dân) thành Doanh nghiệp đa sở
hữu, theo đó tuỳ vị trí và tính chất cụ thể của doanh nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân mà Nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối hoặc không cần giữ vai trò chi phối nữa [24]
Cổ phần hoá DNNN là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần
Trên thế giới hiện nay đang có hai loại hình cổ phần hoá: Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá và Doanh nghiệp tư nhân cổ phần hoá
Cổ phần hoá là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống Doanh nghiệp Nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đầu thập niên 80 của
Trang 14thế kỷ XX Ở Việt Nam, cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình tìm tòi, thử nghiệm và từng bước tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai
Xét về khía cạnh chính trị, cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước khi
nhằm mục tiêu tư nhân hoá nền kinh tế mặc dù trong cổ phần hoá có chứa đựng yếu tố “tư nhân hoá” Cổ phần hoá là giải pháp nhằm làm cho sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước từ ảo đến thực, chuyển từ sự kiểm soát bằng chế độ quan liêu sang sự kiểm soát thông qua lợi ích của các chủ ở hữu thực
sự Khác với làn sóng tư nhân hoá ở các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu, chuyển các Doanh nghiệp Nhà nước từ sở hữu chung của xã hội sang sở hữu
cá nhân, cổ phần hoá nhằm thu hút sự tham gia làm chủ thực sự của người lao động vào Doanh nghiệp Nhà nước thông qua việc để họ sở hữu một phần vốn trong Doanh nghiệp Nhà nước, làm cho doanh nghiệp có chủ nhân thực sự bên cạnh chủ nhân trừu tượng là Nhà nước
Xét về bản chất pháp lý, cổ phần hoá là việc biến doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang hình thức sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho người khác Những người này trở thành sở hữu chủ của doanh nghiệp theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá Xét dưới góc độ này thì cổ phần hoá có thể áp dụng đối với bất cứ loại hình doanh nghiệp nào thuộc sở hữu chung nhất
Xét về phương diện thương mại, cổ phần hoá gắn liền với việc mua bán
cổ phiếu, có nghĩa là có sự trao đổi giữa người bán và người mua Người bán
là Công ty mong muốn thu hút thêm tiền để tăng vốn chủ sở hữu, nhưng buộc phải chia sẻ quyền làm chủ Công ty và phải chịu thêm sự giám sát Còn người mua bán đâu chỉ mong muốn kiếm được khoản lợi nhuận từ việc sở hữu cổ phiếu (cổ tức và cơ hội tăng giá của cổ phiếu) Nhưng để đảm bảo cho số vốn
Trang 15của mình bỏ ra cũng như nguồn lợi nhuận mong muốn được hưởng, người mua cần can thiệp vào quản trị và giám sát hoạt động của Công ty (Ngoại trừ những người mua mong muốn chi phối hoạt động của Công ty) Thông qua sản phẩm trao đổi, hai bên đạt được mục đích, mong muốn của mình Người bán chỉ bán cổ phiếu của mình khi cần kêu gọi thêm vốn chứ không phải
muốn thay đổi cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý giám sát Còn người mua chỉ
muốn cổ phiếu mang lại cổ tức cao hoặc sự chênh lệch giá, khi giá cổ phiếu tăng hay nói cách khác là cổ phiếu của các Công ty đang làm ăn phát đạt khác
là cổ phiếu của các Công ty đang làm ăn dẫn tới giá cổ phiếu giảm nhưng trong tương lai, Công ty sẽ làm ăn tốt hơn
Tóm lại: Thực chất cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp thành Công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường
1.1.2.2 Mô hình c ổ phần hoá
Cổ phần hoá có thể được thực hiện qua các cách sau:
- Phát hành ra công chúng lần đầu (IPO)
- Phát hành qua kênh tư nhân
- Bán cho nhà đầu tư chiến lược
Đối tượng bán cổ phần có thể là:
- Cán bộ công nhân viên
- Các nhà đầu tư trong nước
- Các nhà đầu tư quốc tế
Tốc độ, phương pháp và quy mô cổ phần hoá phụ thuộc vào môi trường triển khai và chính sách của Chính phủ Doanh nghiệp Nhà nước có thể được
cổ phần hoá qua nhiều cách Mỗi mô hình đều có các đặc điểm (ưu, nhược) khác nhau:
Trang 16Mô hình cổ phần hoá dựa trên sự tham gia của một nhà đầu tư chiến
lược trong thực tế gặp hai biến thể: Một là, nhà đầu tư chiến lược mua một lượng cổ phần chi phối và chi một phần nhỏ cổ phần được bán cho công chúng Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong phần lớn các trường hợp, các ngân hàng nước ngoài thường dẫn đầu trong các cổ đông chiến lược và ngân hàng được bán theo các hình thức đấu thầu Phương pháp này có nhiều
ưu điểm, và điểm lợi lớn nhất là khả năng đảm bảo chuyển giao công nghệ hoàn hảo và hiện đại nhất, các thông lệ tốt nhất cũng như các đảm bảo và các tiêu chuẩn quản lý cao và sự dễ dàng trong tiếp cận vốn Điểm mạnh chính
của phương pháp này là sự cải tiến triệt để phương thức quản trị và là điều
kiện tiên quyết để đảm bảo sự thúc đẩy những thay đổi bên trong của tổ chức, tăng tính cạnh tranh Sự tham gia góp vốn nước ngoài vào cổ phần hoá ngân hàng thường phụ thuộc vào một số giới hạn Do nhiều nhà chính trị cho rằng
hệ thống tài chính đóng góp chính vào hoạt động của nền kinh tế, vì thế nó nên được quản lý bởi vốn trong nước Quan điểm này được ủng hộ ở các nước đang phát triển và một số nước kinh tế thị trường phát triển với các khuôn khổ
hệ thống ổn định Ở các nước đang phát triển, luận điểm này xuất phát từ sự e
ngại về sức ép cạnh tranh từ các ngân hàng lớn dẫn đầu trên thị trường tài chính thế giới Ở các nước phát triển cổ phần hoá được cơ cấu để đảm bảo
một vị trí ưu tiên cho các nhà đầu tư trong nước Tuy nhiên tính hiệu quả của các hoạt động kinh tế lại không liên quan đến xuất xứ của nguồn vốn mà được xác định bởi các kỹ năng quản trị và công nghệ Về dài hạn các nhà đầu tư
nước ngoài sẽ tìm được cách khác để đạt mục tiêu các lợi ích lành mạnh và vững chắc
Cổ phần hoá qua chào bán ra công chúng: định hướng chủ yếu vào các nhà đầu tư nhỏ
Trang 17Phương thức này kích thích sự phát triển của thị trường chứng khoán và
có nhiều lợi ích Trong một số rất ít các trường hợp cổ phần hoá, các doanh nghiệp có nhiều triển vọng tăng trưởng và đóng vai trò then chốt đối với nền kinh tế như các ngân hàng lớn, các tổ chức tài chính lớn, phương pháp cổ
phần hoá này được chọn Sức hấp dẫn của phương pháp này được hỗ trợ từ nhiều hình thức khuyến khích khác nhau như giảm giá mua cổ phiếu hoặc được đảm bảo quyền mua cổ phiếu các đợt phát hành sau Danh tiếng và thương hiệu của những ngân hàng và tổ chức tài chính này là sự đảm bảo cho
sự thành công của đợt chào bán Mục đích của người bán trong phương thức này là đảm bảo sự tham gia của nhiều thành viên trong xã hội và khuyên khích một phương thức tiết kiệm mới qua việc tham gia vào các thương vụ trên thị trường vốn Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số hạn chế Sở hữu phân tán là điển hình trong các ngân hàng được niêm yết ở các nước tư
bản phát triển, nơi thị trường vốn đóng vai trò quan trọng hệ thống tài chính
Vì thế trong thương lượng của các nhà điều hành thường rất lớn trong khi ảnh hưởng trực tiếp mà cổ đông có thể tác động lên các hoạt động của Ban Giám đốc lại rất nhỏ
Cổ phần hoá kiểu Vouncher: Cũng giống như phát hành cổ phiếu ra công chúng Cổ phần được bán cho tất cả mọi người Đặc điểm của mô hình này là sự chuyển giao rất nhanh sở hữu bằng phương pháp bình quân, không ủng hộ cho một bên nào Hơn nữa, nó tránh việc cần thiết phải đặt một mức giá hành chính cho giao dịch mua bán Bất lợi lớn nhất của mô hình này là không mang lại doanh thu hay tăng vốn cho ngân hàng Tương tự IPO, mô hình này cũng để lại một cơ cấu vốn cổ phần phân tán và thường không đạt được mục tiêu chính của một chính phủ độc lập Cổ đông không có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của phương thức quản trị
Trang 18Phương thức hỗn hợp: Bao gồm sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức
ổn định, đưa ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng của thị trường vốn đang được điều tiết bởi nhiều nhà đầu tư cá nhân nhỏ Do có sự tham gia của các nhà đầu tư ổn định này, các cải thiện về quản trị tích cực sẽ được đưa ra và đặt nền móng cho sự hợp tác sau này
- Doanh nghiệp luôn xác định chiến lược kinh doanh
Giai đoạn 2: Cơ cấu lại doanh nghiệp
- Hình thành doanh nghiệp liên kết vững mạnh
- Tách các chức năng không thuận lợi cho kinh doanh hướng tới lợi nhuận
- Giới thiệu kế toán chuẩn mực toàn cầu
- Làm sạch bảng tổng kết và tài sản
- Hình thành cơ cấu quản lý kinh doanh
- Tạo cơ chế quản trị doanh nghiệp vững mạnh
Giai đoạn 3: Thực hiện
- Quyết định mức giá hợp lý
- Phát triển các luận điểm tiếp thị
- Tiến hành việc kinh doanh cổ phiếu và phát hành cổ phiếu theo các thông lệ tốt nhất của thị trường
Cổ phần hoá có vai trò to lớn trong việc cải cách các Doanh nghiệp Nhà nước, nhất là ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
Trang 19hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Vai trò của cổ phần hoá thể hiện ở
những khía cạnh sau:
- Giảm nợ Chính phủ, tăng thu hút ngân sách, thu hút đầu tư vào các ngành chủ chốt, tăng cường hiệu quả và chất lượng dịch vụ
- Cổ phần hoá làm cho sở hữu đối với doanh nghiệp trở nên đa dạng
hơn Chính vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để, sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước - loại hình doanh nghiệp đối với những vướng mắc về sự hiệu quả
và kém năng động trong sản xuất kinh doanh
- Cổ phần hoá có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu một chủ Như vậy các thực thể kinh tế vĩ mô
cũng trở nên đa sở hữu như bản thân nền kinh tế vĩ mô và vi mô
- Cổ phần hoá tạo cho người lao động có cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp nếu họ mong muốn Bằng việc sở hữu cổ phần (hay góp vốn) của doanh nghiệp, người lao động có thể tham gia vào quyết định các vấn đề quan
trọng của doanh nghiệp thông qua nền dân chủ cổ phần Họ góp phần hình thành nên các cơ quan quản lý doanh nghiệp, quyết định các vấn đề trọng đại của doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động tích cực của người lao động không chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
- Cổ phần hoá góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Sự phát triển của thị trường chứng khoán phụ thuộc rất nhiều vào các thành viên tham gia thị trường với tư cách là Công ty niêm yết hoặc các thành viên tạo lập thị trường Việc cổ phần hoá sẽ góp phần tăng lượng hàng hoá trên thị trường thông qua việc niêm yết các doanh nghiệp cổ phần hoá trên thị trường chứng khoán
1.2 CỔ PHẦN HOÁ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC 1.2.1 S ự hình thành sở hữu Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng
Trang 20Trong một thời gian dài ở các quốc gia có nền kinh tế vận hành kinh tế theo cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hầu như mọi nguồn lực kinh tế đều nằm trong tay Nhà nước, sở hữu Nhà nước quá lớn phủ lên toàn bộ nền kinh tế đất nước Sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào nền kinh tế như vậy
dẫn đến các nước này rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng
Mô hình hoạt động của hệ thống ngân hàng đã bị kìm hãm phát triển, các hoạt động của ngân hàng thì bị can thiệp quá sâu bằng cả những công cụ hành chính Đặc điểm chính của mô hình thời kỳ này là:
- Thống trị bởi hệ thống ngân hàng một cấp
- Không có phân biệt rõ ràng giữa hệ thống ngân hàng và ngân sách Nhà nước
- Các quyết định cho vay không theo tiêu chí kinh tế
Tại Việt Nam những điều này thể hiện khá rõ Hệ thống Ngân hàng Việt Nam thời kỳ này là hệ thống ngân hàng một cấp, trong đó Ngân hàng Nhà
nước là tổ chức ngân hàng duy nhất vừa làm chức năng quản lý như một Ngân hàng Trung ương, vừa được trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng như một Ngân hàng Thương mại Với mô hình như vậy nó chỉ phát huy được một
số ít ưu điểm như trong lĩnh vực thanh toán tiền mặt và không dùng tiền mặt Tuy nhiên ở các lĩnh vực khác, nơi mà ngân hàng cần phát huy sức mạnh của mình thì chức năng này bị bóp méo Ngân hàng không thực hiện được đúng vai trò của mình trong nền kinh tế điều này dẫn tới là hệ thống ngân hàng phải gánh chịu tỷ lệ nợ xấu quá cao, và toàn bộ nền kinh tế đứng trước nguy cơ bị
sụp đổ Trước tình hình đó để lấy lại cần bằng vĩ mô, trên cơ sở định hướng đổi mới hoạt động tài chính tiền tệ và thúc đẩy hình thành thị trường tiền tệ được xem là vấn đề cốt lõi của quá trình phát triển của đất nước Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, đổi mới ngân hàng được coi
là khâu đột phá vì ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế Tháng 3/1998,
Trang 21Chính phủ ban hành Nghị định 53 với định hướng cơ bản “chuyển hẳn hệ
thống Ngân hàng sang hoạt động kinh doanh” Với việc ra đời Nghị định này với hệ thống Ngân hàng hai cấp ở dạng sơ khai đã được hình thành, theo đó Ngân hàng Nhà nước là cơ quan phát hành giấy bạc, chủ yếu thực hiện chức
năng điều hành lưu thông tiền tệ và thực sự trở thành cơ quan quản lý Nhà
nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và thanh toán Các Ngân hàng chuyên doanh làm nhiệm vụ kinh doanh trực tiếp đối với nền kinh tế và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng Đây thực sự là thay đổi lớn trong cơ chế hoạt động tiền tệ tín dụng, góp phần khắc phục tình trạng lạm phát trầm trọng kéo dài, giải quyết được tình trạng các xí nghiệp quốc doanh ỷ lại vào vốn bao cấp của Nhà nước Tuy nhiên, trong bối cảnh ảnh hưởng của cơ chế cũ còn nặng nề, các ngân hàng chuyên doanh chưa thực sự mang tính độc lập mà mới chỉ hoạt động như các Vụ, Cục chức năng của Ngân hàng Nhà nước
Một mốc quan trọng của công cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng Việt Nam chính là sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng vào tháng 5/1990 Đây là bước đi quan trọng nhất nhằm tạo ra một khung thể chế của thị trường tài chính và quản lý tiền tệ của đất nước với việc hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý hoạt động kinh doanh
tiền tệ và duy trì những cân bằng vĩ mô của nền kinh tế, và hệ thống những Ngân hàng Thương mại trực tiếp kinh doanh tiền tệ và các loại giấy tờ có giá trị tài chính Với việc hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp riêng biệt: Hệ thống Ngân hàng Nhà nước từ Trung ương đến địa phương và hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã có tiền đề quan trọng để phát triển Bên cạnh 7 Ngân hàng Thương mại thuộc sở hữu Nhà nước còn có sự ra đời của hàng chục các Ngân hàng Cổ phần, Ngân hàng Liên doanh, các các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng, Công ty tài chính, v.v
Trang 22Công cuộc đổi mới thành công của Việt Nam trong 20 năm qua có sự đóng góp không nhỏ của các Ngân hàng Thương mại trong đó có các Ngân hàng Thương mại Nhà nước đóng góp vai trò chủ đạo Tuy nhiên trong thời gian vừa qua các Ngân hàng Thương mại Nhà nước đã bộc lộ những yếu kém trong hoạt động kinh doanh của mình, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên
của (WTO) tổ chức thương mại thế giới, điều này có nghĩa là Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn trong tiến trình hội nhập và quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới Chính vì vậy, cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp là rất lớn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có khối Ngân hàng Thương mại Nhà nước Đứng trước cơ hội và thách thức như vậy đòi hỏi Nhà nước, mỗi doanh nghiệp cần nỗ lực hết mình tìm ra những giải pháp chính sách để tận dụng tối đa những cơ hội và vượt qua mọi thách thức Một trong những chính sách đó là thực hiện cổ phần hoá các Ngân hàng Thương
mại Nhà nước Bởi vì thông qua cổ phần hoá sẽ giúp các Ngân hàng Thương
mại Nhà nước giải quyết được vấn đề chính sau:
- Nâng cao vốn tự có cho các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Vốn
tự có của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước là rất nhỏ bé (trung bình 300 triệu USD) so với các Ngân hàng Thương mại của các nước trong khu vực (hàng tỷ USD) Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản là rất thấp so với thông lệ
quốc tế, trong khi nguồn lực vốn từ việc tái cấp vốn của Chính phủ là rất hạn chế, vì thế thông qua cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại Nhà nước có thể huy động được các nguồn vốn trong và ngoài nước để tăng vốn tự có góp
phần nâng cao năng lực tài chính cho các Ngân hàng Thương mại Nhà nước
- Góp phần hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Nhìn chung trình độ công nghệ của các ngân hàng trong nước còn lạc hậu, so với trình độ các nước trong khu vực Cổ phần hoá tạo cơ hội cho các ngân hàng lớn trên thế giới trở thành cổ đông và đối tác chiến lược, bằng việc bán cổ phần cho họ chúng ta
Trang 23có thể nhận được sự hỗ trợ về công nghệ ngân hàng hiện đại, kinh nghiệm
quản trị điều hành và phát triển sản phẩm mới
- Nâng cao năng lực quản trị và con người: Cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại Nhà nước góp phần thay đổi một cách căn bản trong hoạt động kinh doanh từ cơ chế quản lý Doanh nghiệp Nhà nước nhiều thủ tục sang cơ
chế quản lý Công ty cổ phần với nhiều những thế mạnh vốn có từ loại hình Công ty này như: Tăng áp lực cho Ban quản trị điều hành làm việc ngày càng hiệu quả hơn; giải quyết được tình trạng cân bằng thu nhập hiện nay sẽ góp phần phát huy được năng lực của mỗi cá nhân cũng như việc nâng cao hiệu
quả của tập thể trong công việc; giải quyết được tình trạng chảy máu chất xám
và thu hút được người tài và nâng cao tính tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
Tóm lại, cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại là một mũi tên hướng
tới nhiều đích như: tăng quy mô vốn tự có cho ngân hàng thông qua việc huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước, tiếp thu được kinh nghiệm quản lý điều hành, công nghệ hiện đại từ bên ngoài và cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước
1.2.2 Tính đặc thù của cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại Nhà
n ước ở Việt Nam
Ngân hàng Thương mại Nhà nước là một Doanh nghiệp Nhà nước đặc
biệt hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ Là một trung gian tài chính
có thể coi hệ thống ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế quốc dân Nhất là trong điều kiện Việt Nam khi mà hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước chiếm thị phần hoạt động lớn nhất (trên 70%) Trong 7 Ngân hàng Thương
mại Nhà nước có 4 ngân hàng có quy mô lớn nhất trong hệ thống Ngân hàng
Trang 24Thương mại Việt Nam đó là Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Công thương (INCOMBANK) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (AGRIBANK) Các ngân hàng đều có một mạng lưới hoạt động rất rộng, với nhiều chi nhánh cùng các Công ty trực thuộc trong và ngoài nước Quy mô
lớn như vậy đặt ra việc thực hiện cổ phần hoá các ngân hàng là một việc không đơn giản xét trên nhiều khía cạnh
Thứ nhất : Việc cổ phần hoá phải làm sao không ảnh hưởng tới quá trình hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Các Ngân hàng Thương mại Nhà nước có một vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải vốn nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước
Thứ hai : Với một lực lượng lao động lên tới hàng vạn người, thì việc quán triệt tư tưởng, tâm lý đối với người lao động là một công việc hết sức quan trọng Con người là một tài sản rất quý nó có thể quyết định tới vận mệnh của doanh nghiệp đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
Và cuối cùng là định giá tài sản của Ngân hàng Thương mại Các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều có mạng lưới rất rộng gồm nhiều chi nhánh, các Công ty trực thuộc, do vậy công việc định giá tài sản là một công việc hết
- Các khoản tiền mặt trong quá trình thu
- Tiền gửi ở các ngân hàng khác
- Các khoản tiền gửi có thể phát séc
- Các khoản tiền gửi phi giao dịch
- Các khoản tiền đi vay
Trang 25có và tài sản nợ Đặc biệt là khoản mục đầu tư chứng khoán và các khoản tiền cho vay của ngân hàng Đây là công việc đòi hỏi phải có chuyên môn, cũng như tính chuyên nghiệp cao trong quá trình đánh giá giá trị các khoản mục này
1.3 C Ổ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở
Thương mại Nhà nước cũng nằm trong quá trình cổ phần hoá đó Kế hoạch rõ ràng của quá trình cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước Ba Lan là: Đến hết năm 1996, sẽ cổ phần hoá 7 trong số 9 Ngân hàng Thương mại Nhà
nước
Sau chiến tranh thế giới II, hệ thống ngân hàng Ba Lan gồm Ngân hàng Nhà nước Ba Lan và 3 ngân hàng chuyên biệt hoạt động trên phạm vi quốc
Trang 26gia Năm 1989, 2 bộ luật ra đời đưa hệ thống ngân hàng 1 cấp thành ngân hàng 2 cấp: Luật Ngân hàng Nhà nước Ba Lan và Luật Ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Ba Lan được tách thành 9 Ngân hàng Thương mại Nhà nước [29]
Cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước trước năm 1995: Ngày 14/5/1989, Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng đã phác thảo
chương trình Công ty hoá cổ phần hoá 9 Ngân hàng Thương mại của Ngân hàng Nhà nước Ba Lan Tinh thần của văn bản này là: các ngân hàng sẽ được chuyển hoàn toàn thành các Công ty cổ phần của Kho bạc Nhà nước và sau
đó là cổ phần hoá trước năm 1996
Tháng 10, 11 năm 1991, 9 Ngân hàng Thương mại này đã được chuyển thành các Công ty cổ phần Để cải thiện vị trí cạnh tranh của các ngân hàng, các ngân hàng đã được giao cho các Công ty kiểm toán lớn, và đặc biệt là
những thoả thuận “song sinh” với các ngân hàng Tây Âu (hợp tác trong việc
hiện đại hoá tổ chức, lên kế hoạch chiến lược, các công nghệ ngân hàng hiện đại, quản trị rủi ro, nguồn lực, ) Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu quá mức nguy hiểm
là một trong những vấn đề chủ yếu mà các Ngân hàng Thương mại Nhà nước
Ba Lan phải đương đầu Để khôi phục lại mức an toàn cho các tỷ lệ khả năng thanh toán trong thời gian ngắn, Bộ Tài chính đã phải cấp thêm vốn cổ phần cho các ngân hàng này, xuất phát từ quan điểm: tái cơ cấu ngân hàng sẽ thúc đẩy cổ phần hoá Tuy nhiên, sự cần thiết cải cách tài chính này đã làm giảm đáng kể tiến độ của tiến trình cổ phần hoá trong khu vực tài chính
Chiến lược cổ phần hoá dự kiến: nhà đầu tư chiến lược mua một cổ phần thiểu số là 20 - 30% trong giai đoạn đầu và sẵn sàng cam kết tham gia tích cực vào quản lý; kho bạc Nhà nước giữ một phần đáng kể (30%) và giữ quyền bán cổ phần này trong tương lai; các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài
Trang 27được chiếm giữ đến 30% cổ phần; và một phần còn lại (khoảng 10%) bán cho cán bộ công nhân viên ngân hàng theo giá ưu đãi
Hai ngân hàng được chọn cổ phần hoá đầu tiên là WBK và BSK Đây
là hai ngân hàng có tình hình tài chính và trình độ quản lý tốt WBK được
chọn cổ phần hoá trước vì là ngân hàng nhỏ hơn Chính phủ muốn thử khả
năng hấp thụ của thị trường chứng khoán và nếu có rủi ro thì chi phí cho WBK sẽ thấp hơn cho BSK
Tháng 3 năm 1993, phát hành cổ phiếu mới để tăng thêm 28,5% vốn Ý định ban đầu là bán cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nhưng không thành công Do vậy, WBK đã ký kết toàn bộ cho EBRD với giá 6,89$/ cổ phiếu Phát hành cổ phiếu lần đàu ra công chúng (IPO) cũng với giá khởi điểm là 6,89$/ cổ phiếu Tuy nhiên, đến ngày mở cửa giao dịch tháng 6/1993, giá cổ phiếu đã tăng gấp 3 lần (19,6$/ cổ phiếu) WBK đã không thành công
trong việc thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài WBK đặt giá ở mức
75% giá trị sổ sách, cầu ở mức giá này quá cao Đến cuối năm 1993, giá cổ phiếu WBK tăng gấp 6 lần so với giá khởi điểm Ngân hàng này được tiến hành cổ phần hoá với sự trợ giúp cả về kỹ thuật và đảm bảo tài chính từ phía
WB để thu hút các đối tác đầu tư chiến lược từ nước ngoài nhằm chuyển giao công nghệ ngân hàng vào Ba Lan Vì vậy, đến năm 1997 thì Ngân hàng Allied Irish đã nắm quyền kiểm soát ngân hàng với 60% cổ phiếu
Ngân hàng Thương mại Nhà nước thứ 2 của Ba Lan được cổ phần hóa
là ngân hàng Slaski (BSK) Ngân hàng này được tiến hành cổ phần hoá vào tháng 12/1993 chậm hơn so với WBK 9 tháng BSK đã trải qua một quá trình tái cơ cấu đáng kể: đưa ra các danh mục khoản vay ra khỏi các ngành đang có vấn đề; thông qua một chiến lược để mở rộng tín dụng thương mại và bán lẻ trong và ngoài khu vực; tuyển dụng nhân tài; giới thiệu, phát triển sản phẩm,
Trang 28dịch vụ mới; lắp đặt hệ thống thông tin mới trong sự hợp tác với các nhà đầu
tư chiến lược nước ngoài (ING)
Kinh nghi ệm từ WBK, giá cổ p hiếu rất được chú trọng nhằm tránh thất thu cho ngân sách Nhà n ước Bộ Tài chính quyết định đặt giá tối thiểu trong
đấu thầu lô lớn bằng giá trị sổ sách (11,5$/ cổ phiếu); mức bỏ thầu tối thiểu là 2,1 triệu USD - một lượng khá lớn nhằm mục đích thu hút nhà đầu tư nước ngoài Cơ cấu sở hữu: Kho bạc - 30%, cán bộ nhân viên - 10%, 60% còn lại chia thành 2 lô: lô lớn (45%, tăng lên để hướng tới các nhà đầu tư chiến lược
và tổ chức) và lô nhỏ (15%, qua IPO) Một lần nữa, BSK thất bại trong thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài ở mức giá tối thiểu Bộ Tài chính quyết định huỷ đấu thầu lô lớn, tập trung vào IPO lô nhỏ Giá trị khởi điểm 25$/ cổ phiếu (bằng 2 lần giá trị sổ sách) Kết quả IPO: cầu vượt quá cung Ngân hàng không mở kịp tài khoản cho dân chúng tại Công ty chứng khoán, nhiều người không mua được cổ phiếu Ngày giao dịch đầu tiên, giá cổ phiếu đã tăng gấp 13,5 lần
Ngân hàng Thương mại Nhà nước thứ 3 được tiến hành cổ phần hoá là Ngân hàng Prxemyslowo - Handlowy (BHP) vào tháng 1/1995 Những vấn đề
về cơ sở hạ tầng cho IPO của BSK và việc bán cổ phần cho ING với mức giá
thấp khiến các nhà quản lý ngân hàng e ngại sự xuất hiện của các nhà đầu tư
chi ến lược nước ngoài BPH quyết định trì hoãn cổ phần hoá và ngăn cản sự tìm ki ếm nhà đầu tư nước ngoài, quyết định để thị trường xác định giá cổ
phi ếu Chính phủ quyết định bán 50,2% cổ phần của BPH chỉ qua IPO Nhu
cầu về cổ phiếu thấp do một số tác động bên ngoài (khủng hoảng đồng pesô của Mêhicô) khiến EBRD - người bảo lãnh phát hành chính của IPO đã phải mua 15% cổ phiếu thụ động Đây là ngân hàng có chất lượng tín dụng và quản
lý thấp hơn 2 ngân hàng trước nên mặc dù đã đưa cổ phiếu ra công khai nhưng
Trang 29giá bán (giá trúng thầu) bằng đúng với giá thấp nhất mà chính phủ đưa ra ban đầu và Nhà nước vẫn giữ 43% cổ phần
Trước tình hình đó, năm 1995, ngân hàng thứ 4 được cổ phần hoá - Bank Gdanski, có quy mô tương đương WBK Cổ phần hoá được thực hiện qua IPO 2 cấp: 33% bán cho nhà đầu tư nước ngoài dạng Phiếu gửi tiền toàn
cầu; 33% cho nhà đầu tư trong nước; 4% cho cán bộ công nhân viên; Nhà
nước giữ 30% Gia 9,7$/ cổ phiếu Mục tiêu chính của chính phủ bây giờ là
c ố gắng đảm bảo sự hiện diện của các nhà đầu tư lớn trong nước và hạn chế
s ự thống trị nước ngoài trong khu vực Như vậy, kế hoạch này đã thể hiện ý
chí của chính phủ lúc đó là không muốn một hoặc một nhóm nhỏ những đối tác nước ngoài sẽ nắm được cổ phần chi phối
Cuối năm 1995, với cố gắng của chính phủ nhằm tránh sự chi phối của các nhà đầu tư nước ngoài và sự cạnh tranh của các nhà đầu tư nước ngoài và
sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài, Chính phủ đã công bố kế hoạch
củng cố các ngân hàng còn lại bằng việc sáp nhập tất cả các Ngân hàng Thương mại Nhà nước còn lại cùng với BHP thành 2 ngân hàng lớn Như vậy
để đạt đúng kế hoạch đề ra, mỗi năm còn lại, cần cổ phần hoá mỗi năm 2 ngân hàng Điều này cho thấy tiến độ cổ phần hoá đã bị chậm đi đáng kể
Cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước sau năm 1995:
Nguyên nhân chính làm trì hoãn và lúng túng trong thực hiện cổ phần hoá trong giai đoạn trước được tổng kết như sau:
+ Thiếu sự quan tâm của các nhà đầu tư chiến lược tham gia vào quá trình cổ phần hoá
+ Một tỷ lệ cổ phần hoá của ngân hàng trên thị trường chứng khoán Warsaw (30%) và thị trường vốn còn non trẻ
+ Không có nhu cầu về cổ phiếu ngân hàng Ba Lan trên thị trường vốn
nước ngoài
Trang 30Thời gian sau, chính phủ dần dần trở nên bị ràng buộc bởi chính quan
niệm về cổ phần hoá của mình Thành công cổ phần hoá có thể được đảm bảo khi các nỗ lực cổ phần hoá được hỗ trợ bởi các nhà đầu tư cá nhân quan tâm tới các ngân hàng nổi tiếng hoạt động tốt; sự hỗ trợ của EBRD và sự tham gia góp cổ phần của các ngân hàng nước ngoài
Sự thiếu niềm tin vào sức mạnh của cơ chế thị trường trở nên mạnh mẽ
Một loạt các đợt phát hành ra công chúng cổ phiếu ngân hàng đều được các nhà đầu tư mua hết Luồng vốn của các cá nhân vào thị trường cổ phiếu đã bị
đánh giá quá thấp và người bán tập trung vào thu hút các nhà đầu tư tổ chức
Bộ Tài chính chưa tận dụng được các công cụ cơ cấu tổng hợp để thu hút các nhà đầu tư cá nhân như giảm giá, chiết khấu,
Cổ phần hoá BHP đã rút kinh nghiệm từ các đợt cổ phần hoá trước Những lợi ích mà nhà đầu tư cá nhân đem lại thể hiện rõ khi bán những công
ty hấp dẫn Chúng tạo nên rất nhiều hiệu ứng quảng cáo và không khí thị
trường Những hoạt động này đã làm tăng giá trị phát hành lần đầu của những
cổ phiếu như vậy trêm thị trường chứng khoán
Sau một sự chuẩn bị lâu dài và phê bình của công chúng, 11/1995, chính phủ thông qua chương trình cổ phần hoá với các điều khoản mới thay
đổi các thứ tự ưu tiên hiện tại và mục đích ngược với mục đích của cổ phần hoá Cụ thể: cổ phần hoá ngân hàng Powszechny Bank Gospodanczy S.A và Bank Zachodni S.A, mục tiêu chính là: củng cố khả năng quản lý hành chính của các ngân hàng dưới sự bảo trợ của Bank Handlowy S.A w Warszanie và Pekao S.A Chính phủ tiếp tục cho rằng 3 ngân hàng còn lại cần được sát nhập với 2 ngân hàng hàng đầu 51% cổ phần phải được bán cho cán bộ công nhân viên để đền bù cho họ Người nắm giữ cổ phiếu sẽ phải đóng góp tài sản cho các quỹ hưu trí Chương trình không lên được kế hoạch cụ thể là 49% cổ
phần còn lại khi nào và bán như thế nào cho các nhà đầu tư
Trang 31Dưới áp lực của chính phủ, năm 1996, Pekao S.A Group được thành
lập với Bank Pekao S.A là ngân hàng mẹ và các ngân hàng con Những nỗ lực kết hợp các ngân hàng khác thành tập đoàn Bank Handlowy S.A Group đã thất bại chủ yếu do ý kiến không tích cực của chính phủ về các ngân hàng liên quan Chính phủ cho thấy ý muốn duy trì ảnh hưởng của mình trong ngành ngân hàng Bộ Tài chính đặt áp lực cho các lãnh đạo ngân hàng theo đuổi ý
tưởng về củng cố Tuy nhiên, Bank Handlowy đã khởi xướng con đường cổ
ph ần hoá của chính mình và thành công năm 1997, cho thấy tầm nhìn chiến
l ược phát triển của các lãnh đạo ngân hàng này đã đáp úng được yêu cầu của
th ị trường vốn trong nước và được các nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh
Cổ phần hoá các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Ba Lan thực sự là các giai đoạn thăng trầm Chiến lược chuyển đổi sở hữu phụ thuộc vào việc
mở cửa ngành ngân hàng cho các điều hành mới
Giai đoạn đầu, sau một số đợt bán cổ phiếu thành công ban đầu, những trì hoãn xuất hiện từ thiếu cam kết của chính quyền và thiếu nhất quán và bị làm xấu đi bởi các khó khăn khách quan (nhu cầu tái cơ cấu tài chính, tình trạng lên xuống của thị trường vốn) Kế hoạch chính phủ thiên về cổ phần hóa
với tỷ lệ cổ phần hạn chế với các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, giữ lại
phần lớn cho Nhà nước Các cổ phần thiểu số được bán qua đầu tháng cùng
sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược và phát hành qua IPO để thu hút các nhà đầu tư cá nhân Phương pháp này hy vọng tạo nên những cải tiến trong quản trị và dẫn tới phát triển thị trường vốn [31]
Tuy nhiên, cổ phần hoá được coi là thành công ở giai đoạn sau khi vị trí các nhà đầu tư chiến lược đã được củng cố khi họ mua được cổ phần đa số trong các ngân hàng Các ngân hàng thoát khỏi sự củng cố hành chính đã được cổ phần hoá thành công (Bank Handlowy S.A) Một đợt phát hành cổ phiếu lần đầu nhằm vào các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân đã thành công
Trang 32ngoài sức tưởng tượng Cổ phiếu Bank Handlowy và PBK đã rất nổi tiếng trong giới đầu tư nhỏ và đã trở thành một sự kiện tuyệt với để phổ biến ý tưởng đầu tư qua thị trường vốn và thúc đẩy sự lớn mạnh của thị trường chứng khoán Ba Lan Sự tham gia của một nhóm các nhà đầu tư ổn định xếp
hạng AA đã tạo nên một chất lượng mới cho cổ phần hoá
Một số bài học kinh nghiệm về cổ phần hoá các Ngân hàng Thương
mại Nhà nước Ba Lan
- Có quá nhiều mục tiêu được đặt ra cho việc cổ phần hoá Ngân hàng Thương mại Nhà nước (tăng thu ngân sách, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp,
bảo vệ thị trường chứng khoán còn non trẻ, thúc đẩy sự có mặt của các doanh nghiệp trong nước trong ngành ngân hàng, ) cộng với sự bất ổn về chính trị, đặc biệt là mục tiêu ưu tiên của chính phủ thay đổi làm cho tiến trình cổ phần hoá chậm lại, từ đó ảnh hưởng chung đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng
- Vấn đề định giá cổ phiếu và việc định giá giá trị tài sản doanh nghiệp
là vấn đề quan trọng Nếu làm sai có thể gây thất thoát lớn cho ngân sách Nhà nước
- Không lường trước được nhu cầu của thị trường về cổ phiếu của một ngân hàng có thể gây bất ổn cho cả quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà
nước nói chung
- Cần phát triển thị trường giao dịch chứng khoán song hành với việc
cổ phần hoá doanh nghiệp
- Cần có kế hoạch thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cụ thể, tránh tình trạng chữa cháy khi không kiểm soát được hệ thống ngân hàng
1.3.1.2 Trung Qu ốc
Quá trình cải cách các Doanh nghiệp Nhà nước ở Trung Quốc đã được
bắt đầu từ khá sớm, song song với việc thực hiện công cuộc cải cách kinh tế
Trang 33của Chính phủ Trung Quốc được khởi xướng từ năm 1978 Sau gần 20 năm
thực hiện cải cách Doanh nghiệp Nhà nước, vào cuối những năm 90, Đảng cộng sản và Chính phủ Trung Quốc đã quyết định thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc mà trọng tâm là cải cách Ngân hàng Thương mại Nhà
nước
Nghị quyết Trung ương năm 2000 và Đại hội Đảng lần thứ 16 của Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 11/2002) đã khẳng định những kết quả quan trọng và rất đáng khích lệ của quá trình cải cách các Doanh nghiệp doanh nghiệp, đồng thời đề ra chủ trương tiếp tục đẩy mạnh quá trình cải cách các Doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng Tháng 11/2003, Chính phủ Trung Quốc đã quyết định tiến hành cổ phần hoá thí điểm hai ngân hàng: Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (China Construction Bank - CCB) và Ngân hàng Ngoại thương Trung Quốc (Bank of China - BOC)
Hệ thống các Ngân hàng Trung Quốc gồm: 4 Ngân hàng Thương mại Nhà nước, 11 Ngân hàng cổ phần, trên 100 Ngân hàng Thương mại đô thị và khoảng 30.000 quỹ tín dụng nông thôn và một số ít chi nhánh ngân hàng nước ngoài Hệ thống Ngân hàng Thương mại Trung Quốc được đánh giá là yếu kém do chất lượng tài sản thấp Tuy nhiên, từ năm 2003 trở lại đây, chất
lượng tài sản của hệ thống Ngân hàng Trung Quốc có phần được cải thiện
Việc cổ phần hoá của các Ngân hàng Thương mại Trung Quốc là một cải cách lớn trong hệ thống tài chính, tạo cho hoạt động kinh doanh tiền tệ lành mạnh, hướng mục tiêu kinh doanh là lợi nhuận và tăng khả năng cung
cấp dịch vụ, với lộ trình cổ phần hoá cụ thể là:
- Năm 2004, hoàn thành cổ phần hoá hai Ngân hàng lớn nhất Trung Quốc: Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China) và Ngân hàng Kiến thiết
- Năm 2005, sẽ đưa cổ phiếu 2 Ngân hàng trên vào thị trường chứng khoán
- Năm 2006, phát hành cổ phiếu Ngân hàng Công thương
Trang 34- Năm 2007, phát hành cổ phiếu Ngân hàng Nông nghiệp
Lộ trình này đã được Ngân hàng Nhân dân (NHND) Trung Quốc quyết tâm thực hiện và đến nay đã hoàn thành đúng tiến độ
Để đạt được sự cải cách triệt để, Chính phủ Trung Quốc đã có những
biện pháp cụ thể:
- Thành lập Uỷ ban Quản lý (UBQL) Ngân hàng độc lập với NHND Trung Quốc ngày 28/4/2003, thành lập UBNQL Bảo hiểm, UBQL chứng khoán Các cơ quan này do Quốc vụ viện phụ trách và báo cáo trực tiếp lên Quốc vụ viện
- Thực hiện nâng cao năng lực tài chính, quản trị Ngân hàng tại các Ngân hàng Thương mại (NHTM) Làm sạch các khoản nợ xấu, xử lý các khoản nợ khó đòi, áp dụng chuẩn mực giám sát Ngân hàng quốc tế Basel 2, cấp thêm vốn, chuyển nợ xấu cho Công ty mua bán giám sát nợ quản lý, chính sách khoanh nợ xấu, đề nghị Bộ Tài chính miễn thuế cho trích nợ dự phòng các khoản nợ khó đòi, cho phép chuyển dự phòng vào vốn, cho ân hạn 5 năm đối với các khoản nợ khó đòi
- Thành lập thị trường tiền tệ tại Bắc Kinh năm 1996 để tạo tiền đề cho quá trình tự do hoá lãi suất, đưa lại khả năng sinh lời thực sự và tăng cao cho các ngân hàng
- Tách biệt các nghiệp vụ thuộc lĩnh vực chính sách và hoạt động kinh doanh ngân hàng tạo ra sự tự chủ trong kinh doanh, nâng cao chất lượng lịch
sử dụng vốn
- Mở rộng chính sách cho Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc Động thái tích cực này cộng với chính sách tỷ giá thấp đã tạo sức cạnh tranh toàn cầu cho Ngân hàng Trung Quốc
- Cải tổ triệt để nội bộ Ngân hàng, chia làm hai phần Cải tổ cán bộ nhân viên (lấy chất lượng làm hàng đầu, bổ sung kiến thức mới, thuyên
Trang 35chuyển, nghỉ việc, ) và cải tổ về nghiệp vụ kinh doanh (hướng về dịch vụ,
mục tiêu lợi nhuận, )
N ội dung cơ bản trong tiến trình cổ phần hoá
Chính phủ Trung Quốc và bản thân hai Ngân hàng thương mại Nhà
nước (NHTMNN) được chọn thí điểm để tiến hành cổ phần hoá đã có những
bước chuẩn bị kỹ lưỡng, xây dựng một lộ trình cụ thể từ việc thành lập các cơ quan quản lý, giám sát và đầu tư của Nhà nước đến việc thay đổi mô hình tổ chức, tư cách pháp lý và xử lý các tồn đọng, yếu kém về tài sản chính của hai ngân hàng thí điểm, trước khi tiến hành phát hành cổ phiếu phổ thông
V ề mặt quản lý Nhà nước: Thành lập QBQL Ngân hàng độc lập với
NHND Trung Quốc và ban hành văn bản hướng dẫn hai ngân hàng thực hiện chương trình cải cách tiến tới cổ phần hoá Đối với việc cổ phần hoá hai ngân hàng thí điểm là Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB) và Ngân hàng Ngoại thương Trung Quốc (BOC), CBRC đã ban hành Hướng dẫn về cải cách
quản trị điều hành và kiểm soát của CCB và BOC Theo hướng dẫn này, các mục tiêu được đặt ra hết sức cụ thể:
Mục tiêu chung: Trong vòng 3 năm (2004 - 2006), CCB và BOC trở thành các tập đoàn tài chính có sức cạnh tranh trên trường tài chính quốc tế,
đủ vốn tự có theo tiêu chuẩn quốc tế, có hệ thống kiểm tra nội bộ chặt chẽ,
hoạt động kinh doanh an toàn, lạnh mạnh, hiệu quả, nằm trong danh sách 100 tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới trên cả hai phương diện: năng lực quản trị điều hành và năng lực tài chính xét theo tiêu chuẩn quốc tế
Các mục tiêu cụ thể và năng lực quản trị điều hành (cơ cấu tổ chức là Ngân hàng cổ phần, hoạt động theo Luật Công ty, có Đại hội đồng cổ đông, ) và về năng lực tài chính (thông qua các chỉ tiêu ROA, ROE, vốn tự
có, dự nợ tối đa với một khách hàng )
Trang 36Như vậy, cơ quan quản lý ngân hàng của Trung Quốc đã nêu ra các
mục tiêu rất rõ ràng cũng như lộ trình cụ thể mà ngân hàng thí điểm phải đạt
được các mục tiêu đó
Tri ển khai thực hiện:
- UBQL Ngân hàng: Cơ quan này kiểm tra thực hiện cải cách về năng
lực tài quản trị điều hành cũng như các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng UBQL Ngân hàng có trách nhiệm báo cáo theo định kỳ quý và năm lên Ban chỉ đạo thí điểm cổ phần hoá NHTMNN (trực thuộc Hội đồng Nhà nước)
- CCB và BOC: Chủ tịch Hội đồng quản trị của hai ngân hàng chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện tiến trình cổ phần hoá
Thành lập Central Huijin Investments (Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước): Cuối năm 2003, Chính phủ Trung Quốc đã cấp 372,8 tỷ RMB (45 tỷ USD) cho CCB và BOC để tăng vốn Khối lượng vốn này được cấp thông qua Công ty Đầu tư Tài chính Huijin Công ty này sẽ đại diện cho phần vốn Nhà nước tại hai ngân hàng Tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước đối với CCB và BOC sẽ được thực hiện thông qua việc đầu tư thêm vốn hoặc bán bớt cổ phần của Huijin tại hai ngân hàng này Đến nay, Huijin là cổ đông duy nhất của BOC
CCB chuyển thành ngân hàng cổ phần (hạn chế) với cơ cấu vốn chủ sở
hữu ban đầu như sau:
B ảng 1.1: Cơ cấu vốn chủ sở hữu CCB
Trang 37C ổ đông T ỷ lệ sở hữu (%)
Baosteel Iron and Steel Co 1,545
CCB Investment Co (100% thu ộc sở hữu của Huijin) 10,652
(Ngu ồn ; Báo cáo khảo sát NHTMNN Trung Quốc, Ngân hàng VCB)
Điều đáng lưu ý là từ Huijin chiếm tổng cộng 95,88% vốn chủ sở hữu
của CCB, 4,12% còn lại do các doanh nghiệp lớn trong ngành thép và điện
lực nắm giữ Đây có thể coi là bước đầu của việc lựa chọn các cổ đông chiến
lược của CCB
Có thể nói đây là bước đi rất khôn khéo của các NHTMNN Trung Quốc trong tiến trình cổ phần hoá Việc chuyển đổi đã giúp cho 2 ngân hàng
này hình thành m ột bộ máy mới với Hội đồng quản trị mới và bước đầu có cơ
ch ế hoạt động mới mang tính độc lập hơn và bớt bị ảnh hưởng bởi các rào
c ản của cơ chế quản lý của các bộ, ngành
Trên cơ sở bước chuyển đổi này, Hội đồng quản trị của BOC đã được
cơ cấu lại theo chuẩn mực quốc tế hiện đại với thành phần như sau: 3 thành viên là thành viên chuyên trách của Ban điều hành (Tổng giám đốc và hai Phó Tổng giám đốc), 7 thành viên chuyên trách và không tham gia điều hành, 1 thành viên độc lập (không chuyên trách) là Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán
Hồng Kông BOC dự kiến sẽ thuê 2 Phó Tổng giám đốc người nước ngoài: 1
phụ trách tài chính, 1 phụ trách công nghệ
Cơ cấu lại tài sản và nâng cao năng lực tài chính
Trang 38CCB và BOC thực hiện đồng thời cả hai giải pháp: (i) tăng vốn tự có
bằng nguồn Nhà nước cấp và phát hành trái phiếu, và (ii) chuyển nợ xấu sang cho Công ty Quản lý Tài sản
Tăng vốn: Trung Quốc đã thể hiện rõ quan điển cần thiết phải có giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho các NHTMNN trước khi phát hành cổ phiếu Dưới đây là 2 giải pháp cơ bản để tăng vốn cho 2 NHTMNN được
hoạch phát hành trái phiếu dưới hình thức nợ thứ cấp để tăng vốn tự có
Xử lý nợ xấu: Ngoài việc hỗ trợ vốn để các NHTMNN có điều kiện trích lập dự phòng rủi ro, Chính phủ Trung Quốc đã thành lập các Công ty
Quản lý tài sản (AMC) để mua lại nợ xấu của các NHTMNN Đến 6/2004 , CCB và BOC đã chuyển sang cho Công ty Quản lý Tài sản Cinda khoảng 2778,7 tỷ RMB (33,58 tỷ USD), tức là khoảng 75% số nợ xấu của hai ngân hàng này
M ột số chủ trương và quan điểm cơ bản về cổ phần hoá:
Tỷ lệ vốn của Nhà nước tại các ngân hàng: Trước mắt, Chính phủ vẫn nắm giữ trên 50% vốn của các ngân hàng này Tuy nhiên, về lâu dài, tỷ lệ này
có thể giảm xuống dưới 50%
Trang 39Lựa chọn cổ đông chiến lược và đối tượng mua cổ phiếu: Cải hai ngân hàng này đều thể hiện rõ quan điểm về cổ đông chiến lược là gồm 2 đối tượng:
Thứ 1: là các bạn hàng chiến lược Cụ thể là CCB khi chuyển sang cơ
chế cổ phần hạn chế đã cho phép hai bạn hàng trong ngành thép và điện lực tham gia cổ phần
Thứ 2: Các tập đoàn tài chính có uy tín trên thế giới CCB đã chính thức công bố mới các tập đoàn tài chính lớn quốc tế tham gia vốn Theo các chuyên gia, các tập đoàn tài chính quốc tế như Citygroup, JP Morgan, UBS,
một số ngân hàng Nhật Bản và cả Temasek là Công ty Đầu tư Tài chính của Chính phủ Singapore đã được coi là những nhà đầu tư có tiềm năng BOC cũng đang xem xét để mời các tập đoàn tài chính có uy tín trên thế giới Theo luật hiện hành của Trung Quốc, cổ đông nước ngoài được phép nắm giữ không quá 20% tổng số vốn của một ngân hàng CCB sẽ bán khoảng từ 5 đến 20% giá trị của ngân hàng này cho một hoặc một nhóm các cổ đông chiến lược
Niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: Hai ngân hàng CCB và BOC đều có kế hoạch sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc khoảng 1 năm sau khi phát hành và cũng có chủ trương sẽ niêm yết trên thị
trường chứng khoán quốc tế
CCB đã dự tính kế hoạch cụ thể: bán cổ phiếu cho các ngân hàng đầu
tư chiến lược nước ngoài trước khi niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc
tế vào cuối năm 2005 Danh sách các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài sẽ được CCB lựa chọn vào năm 2005
BOC đã có kinh nghiệm tốt về việc này đối với việc cổ phần hoá ngân hàng trực thuộc tại Hồng Kông: BOC Hong Kong Trên cơ sở hợp nhất hoạt động của 10 chi nhánh của BOC tại Hồng Kông vào tháng 10/2001, BOC
Trang 40Hong Kong đã tiến hành cổ phần hoá và phát hành cổ phiếu ra công chúng vào tháng 7/2002 Đây là đợt phát hành lớn nhất (trị giá 2,5 tỷ USD) tại thị trường chứng khoán Hồng Kông với số lượng đăng ký mua nhiều hơn số lượng chào bán tới 26 lần Hiện tại, BOC nắm giữ 65,94% vốn cổ phần của BOC HongKong
Thuê nước ngoài tư vấn phát hành cổ phiếu: CCB đã lựa chọn các công
ty China International Capital Corp Citigroup Inc và Morgan Stanley là các ngân hàng tư vấn và bảo lãnh phát hành, trị giá phát hành dự kiến khoảng 5 tỷ USD Chi phí cho đợt phát hành vào khoảng 175 triệu USD, tức là khoảng 3,5% trị giá phát hành Cổ phiếu sau khi đã dành bán cho các cổ đông chiến
lược và bán nội bộ sẽ được bán rộng rãi cho côn chúng đầu tư dưới hình thức đấu giá công khai
M ột số kinh nghiệm rút ra từ cổ phần hoá NHTMNN Trung Quốc:
1 Các ngân hàng Trung Quốc xác định cổ phần hoá là một quá trình nhiều bước và được triển khai trong thời gian khoảng từ 24 đến 36 tháng Trước khi cổ phần hoá, các ngân hàng đều thực hiện các bước cải cách nhằm cải thiện một bước năng lực tài chính và năng lực quản trị điều hành
2 Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã thể hiện chủ trương rất rõ ràng, thống nhất và kiên quyết Trên cơ sở đó, Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã tạo ra một khuôn khổ thể chế tương đối rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển các NHTMNN sang NHTM cổ phần Cụ thể là thành lập Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước (Central Huijin Investment Ltd), thành lập CBRC và ban hành quy chế hướng dẫn các NHTMNN tiến hành cải cách và cổ phần hoá, thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hoá NHTMNN trực thuộc Hội đồng Nhà nước
3 Chương trình cổ phần hoá các NHTMNN Trung Quốc thể hiện rõ tính hội nhập cao qua việc xác định mục tiêu rất lớn và rất rõ ràng; lựa chọn