Cụ thể: Khi một giao dịch trao đổi mua bán các ngoại tệ phát sinh trên TTNH dẫn đến thay đổi trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng giao dịch, ảnh hưởng đến quan hệ tiền gửi - tiền vay ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TP H ồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Luận văn trình bày hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt nam đồng thời đã nêu lên được hiện trạng, thuận lợi và khó khăn từ đó phát huy các thế mạnh, hạn chế và khắc phục những khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng Ngoại thương
Với nguyện vọng luận văn sẽ đóng góp được một phần nào trong việc củng cố, xây dựng và phát triển thế mạnh hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các hoạt động có liên quan tại Ngân hàng Ngoại thương Và cũng mong rằng những kiến nghị và giải pháp trình bày trong luận văn có thể áp dụng rộng rãi trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Trong khi trình bày, do thiếu kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong Quí thầy cô và độc giả lượng thứ
Xin chân thành cảm ơn Quí thầy cô Khoa sau đại học, Khoa tài chính doanh nghiệp và kinh doanh tiền tệ, Khoa tài chính nhà nước, Trường Đại học Kinh tế TP HCM đã tận tình dạy bảo Đặc biệt là TS VŨ THỊ MINH HẰNG, người hướng dẫn và đóp góp rất nhiều công sức cho cá nhân tôi hoàn thành luận văn
Trân trọng,
Trang 3CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI,
GIAO DỊCH NGOẠI HỐI
1.1 THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI:
Thương mại và dịch vụ toàn cầu, sự chu chuyển các luồng vốn, hoạt động đầu tư quốc tế, đòi hỏi phải sử dụng các loại ngoại tệ mạnh tự do chuyển đổi trong thanh toán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, giữa doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và doanh nghiệp hưởng dịch vụ, sự chuyển vốn trong nội bộ một quốc gia và trên toàn cầu, nhu cầu hoạt động đầu tư quốc tế Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để đáp ứng nhu cầu thanh toán, đầu tư , chuyển đổi từ ngoại tệ này sang ngoại tệ khác của các chủ thể nêu trên Một thị trường mới được hình thành nhằm đáp ứng các yêu cầu trên và người ta gọi đó là thị trường ngoại hối hay còn gọi là thị trường hối đoái
1.1.1 Khái niệm về thị trường ngoại hối (TTNH):
Thị trường ngoại hối – Foreign Exchange Market hay gọi tắt là Forex hoặc giản đơn là FX: là nơi thực hiện việc trao đổi mua bán các ngoại tệ và phương tiện chi trả có giá trị như ngoại tệ, mà giá cả ngoại tệ được xác định trên cơ sở cung cầu Các đặc điểm lớn của TTNH là địa điểm của thị trường không ổn định, nhưng có mạng lưới khắp thế giới bao gồm các nhà kinh doanh trong các ngân hàng, các định chế tài chính, các doanh nghiệp, các NHTW và các nhà môi giới trao đổi, mua bán đồng tiền thông qua điện thoại, telex, fax, hoặc các phương tiện thông tin hiện đại TTNH cũng giống với các thị trường khác, như thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán, ở chổ các nhà kinh doanh đều tập trung vào hành vi mua bán, có phạm vi hoạt động rộng khắp và
Trang 4các giao dịch được nối mạng toàn thế giới thông suốt 24 giờ trong ngày (trừ những ngày nghỉ cuối tuần) thông qua hệ thống các nhà kinh doanh (Dealers)
Song điểm đặc trưng của TTNH là luôn mang tính quốc tế, chẳng hạn như một khách hàng ở Luân đôn có thể giao dịch mua bán đồng Mác Đức với một đối tác ở Tokyo
Các thị trường giao dịch hối đoái lớn trên thế giới gồm có: Luân đôn, New York, Tokyo, Singapore, Hongkong, Frankfurt, với doanh số xấp xỉ 1.300 tỷ đô la Mỹ mỗi ngày (Nguồn Reuteurs 04/1995)
1.1.2 Những thành viên tham gia TTNH:
Thành phần chính tham gia TTNH là Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, Ngân hàng Trung ương và nhà môi giới hối đoái ( FX Broker) Ngoài
ra, còn có các định chế tài chính khác như: các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm và cả cá nhân có vốn Khu vực chính yếu trong thị trường hối đoái là thị trường liên ngân hàng ( The Interbank Market ) Ở đó các ngân hàng có thể giao dịch trực tiếp với nhau hoặc thông qua các nhà môi giới Sự vận động của các luồng vốn là nhân tố quan trọng nhất cho sự biến động tỷ giá
1/ Các Ngân hàng thương mại: có ảnh hưởng lớn đến sự vận động của
TTNH Họ kinh doanh trên danh nghĩa thay mặt cho khách hàng (các cá nhân, các doanh nghiệp ) hay cho chính bản thân ngân hàng Ngân hàng thương mại cung ứng các dịch vụ bảo hiểm vốn cho các doanh nghiệp trước sự biến động về tỷ giá Ngoài ra, đây còn là một nghiệp vụ nhằm tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách tận dụng thời cơ mua thấp - bán cao Các ngân hàng thương mại áp dụng hai loại tỷ giá, loại tỷ giá “bán buôn” áp dụng trên thị trường liên hàng và tỷ giá “bán lẻ” áp dụng đối với các giao dịch có doanh số nhỏ của khách hàng
Trang 52/ Các ngân hàng trung ương : với tư cách là người canh giữ hệ thống
tiền tệ – ngân hàng và người chủ của dự trữ ngoại hối quốc gia, các ngân hàng trung ương đôi khi là thành phần cơ bản trên TTNH thông qua hành vi can thiệp thị trường Sự can thiệp của các ngân hàng trung ương nhằm để giúp nâng giá hoặc giảm giá đồng tiền bản tệ khi nó ở mức có thể làm tổn hại đến chính sách tiền tệ quốc gia, hoặc triệt tiêu hiện tượng đầu cơ trên thị trường
3/ Các nhà môi giới ngoại hối: các nhà môi giới là trung tâm giữa ngân
hàng, khách hàng và qua đó họ phân tích các hoạt động của thị trường bằng cách làm cho cung và cầu tiếp cận nhau Họ mang lại cho khách hàng của họ những thông tin tức thời về thị trường (kể cả trong và ngoài nước), khả năng tìm thấy bạn hàng (bán hoặc mua) khi cần gọi, giảm được thời gian thay vì phải hỏi trực tiếp hết ngân hàng này đến ngân hàng khác Ngoài ra họ còn đảm bảo sự vận hành tốt của cơ chế thị trường qua liên lạc màn hình giữa người mua và người bán cho tới khi thỏa thuận được giao dịch Như vậy, các nhà môi giới ngoại hối đóng vai trò trung gian tương tự như môi giới chứng khoán Nhưng có đặc điểm khác là môi giới chứng khoán là người đứng giữa thực hiện một giao dịch cho người mua và người bán rồi được hưởng hoa hồng Còn môi giới hối đoái thì khác, họ làm cầu nối cho giao dịch, và khi giao dịch được thực hiện xong họ mới tiết lộ tên các đối tác tham gia giao dịch Dĩ nhiên, họ cũng hưởng được phần trăm phí môi giới trên doanh số giao dịch
4/ Các định chế tài chính và các doanh nghiệp
Các định chế tài chính: bao gồm các tập đoàn tài chính lớn (Financial
Conglomerates) như các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm ngày nay phát triển rất mạnh mẽ Qua các hoạt động đầu tư hải ngoại, các tập đoàn tài chính quan tâm đến sự biến động tỷ giá liên quan đến tài sản có, tài sản nợ
Trang 6của mình Thông thường các định chế tài chính hoạt động không thường xuyên và chủ động trên TTNH Tuy nhiên, khi họ tham gia, số lượng và quy mô giao dịch thường rất lớn, ảnh hưởng mạnh đến biến động tỷ giá của thị trường
Các doanh nghiệp: họ sử dụng TTNH để bảo đảm ngăn ngừa rủi ro khi
biến động về lãi suất và tỷ giá Có nhiều doanh nghiệp thuê một vài dealer để tổ chức hoạt động hối đoái, thành lập một ngân hàng tại nhà (In – house bank) Các công ty siêu quốc gia tham gia TTNH với các lệnh (Orders) mua bán ngoại tệ rất lớn có ảnh hưởng rất mạnh đến tỷ giá hối đoái trên thị trường
1.1.3 Các chức năng của TTNH:
Chức năng cơ bản của TTNH là nhằm giúp các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại và dịch vụ quốc tế: nhà nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài sẽ có nhu cầu mua ngoại hối nếu hóa đơn hàng hóa và dịch vụ được ghi bằng đồng ngoại tệ; ngược lại, nhà xuất khẩu có nhu cầu chuyển đổi ngoại hối thành đồng bản tệ, nếu hóa đơn xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ được ghi bằng đồng ngoại tệ Các giao dịch ngoại hối đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trên của những nhà xuất nhập khẩu;
Giúp chu chuyển vốn tư bản giữa các quốc gia được hiệu quả: tạo điều kiện để các nhà đầu tư trong nước và quốc tế thực hiện công việc đầu tư của họ thông qua việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế
Thông qua TTNH, giá trị đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu của thị trường;
Ngoài ra, thông qua TTNH, chúng ta có thể bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu, các khoản thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu tư bằng ngoại tệ và
Trang 7các khoản đi vay bằng ngoại tệ thông qua các giao dịch kỳ hạn, quyền chọn, hợp đồng hoán đổi
1.1.4 Các loại TTNH:
Căn cứ vào hình thức và tính chất của các giao dịch ngoại hối người ta tiến hành phân loại TTNH như sau:
1/ TTNH giao ngay (The Spot Foreign Exchange Market):
2/ TTNH kỳ hạn (The Forward Foreign Exchange Market):
3/ Thị trường hoán đổi tiền tệ (The Currency Swaps Market):
4/ Thị trường quyền chọn tiền tệ (The Currency Options Market):
Tóm lại, TTNH có thể phân thành thị trường giao dịch giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi tiền tệ và thị trường quyền chọn tiền tệ Trong đó, kinh doanh
trên thị trường liên ngân hàng chiếm khoảng 95% lượng giao dịch ( Nguồn Citibank tháng 01/1999)
1.1.5 Mối quan hệ giữa TTNH với các loại thị trường khác trên thị trường
tài chính:
TTNH là một thị trường bộ phận của thị trường tiền tệ trong tổng thể thị trường tài chính Các giao dịch phát sinh trên TTNH đều có tác động đến các thị trường khác trong thị trường tài chính hoặc ngược lại Cụ thể:
Khi một giao dịch trao đổi mua bán các ngoại tệ phát sinh trên TTNH dẫn đến thay đổi trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng giao dịch, ảnh hưởng đến quan hệ tiền gửi - tiền vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hay sự vận động, dịch chuyển vốn thị trường này sang thị trường khác Các giao dịch ngoại hối còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán, đáp ứng nhu cầu thanh toán
Trang 8của các thành viên tham gia thị trường chứng khoán và các thị trường liên quan khác
1.2 CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH TRÊN TTNH:
1.2.1 Tỷ giá hối đoái:
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình Thương mại, đầu tư và các quan hệ vay mượn quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia Hai đồng tiền được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác
Ví dụ: 1 AUD = 0,6352 USD ; 1 USD = 6,4696 FRF ;
Sự tất yếu của việc lựa chọn đồng tiền tiêu chuẩn:
Các giao dịch ngoại hối liên quan đến sự trao đổi giữa một đồng tiền với đồng tiền khác Trên thế giới hiện nay tồn tại trên 150 đồng tiền khác nhau và thật là khó khăn cho hoạt động của các TTNH toàn cầu khi mà mỗi đồng tiền đều được yết giá (hoặc định giá) và giao dịch trực tiếp với tất cả các đồng tiền còn lại Hệ thống định giá và giao dịch trực tiếp giữa một đồng tiền với tất cả các đồng tiền còn lại cũng có thể tồn tại nếu như các tỷ giá không biến động lớn Điều này đòi hỏi tất cả các nước phải có mức tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cũng như các chính sách về kinh tế và chính trị là tương tự nhau Nhưng thực tế thì luôn tồn tại những chênh lệch đáng kể giữa các nước như : tỷ lệ lạm phát, mức tăng trưởng kinh tế, nợ chính phủ, thuế, cán cân vãng lai và các chỉ tiêu quan trọng khác
Trang 9Do có khác biệt nêu trên, TTNH đã phát triển theo hướng các đồng tiền được định giá thông qua một đồng tiền tiêu chuẩn, đó là đô la Mỹ Lý giải cho
sự lựa chọn này như sau:
USD (đô la Mỹ), đồng tiền tiêu chuẩn:
Nền kinh tế Mỹ được xem là đầu tàu của kinh tế thế giới, với các chỉ tiêu quan trọng đạt được trong năm 1998 như sau : tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chiếm 30,1 % GDP toàn cầu (khoảng 8.516 tỷ USD); xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 1.007 tỷ USD, chiếm 12,5 % xuất khẩu hàng hóa dịch vụ toàn cầu; trong khi đó dân số Mỹ là 270,3 triệu người, chỉ chiếm tỷ trọng 4,6% dân số toàn cầu Ngoài ra, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), cơ quan điều hành các chính sách về lãi suất – tiền tệ hoàn toàn độc lập so với với chính phủ, vận hành lãi suất theo cơ chế lãi suất cơ bản, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, điều tiết theo mối quan hệ cung cầu thị trường và một loạt các biện pháp hữu hiệu khác đã không ngừng củng cố niềm tin đối với dân chúng vào sự vững mạnh của đồng đô la Mỹ
Do nền kinh tế Mỹ đóng vai trò là đầu tàu của nền kinh tế thế giới, sự vững mạnh của đồng đô la Mỹ, tác động đến tỷ trọng sử dụng USD trong thanh toán xuất nhập khẩu toàn cầu đạt xấp xỉ 48 % tổng giá trị thanh toán Các NHTW trên thế giới, bên cạnh dự trữ vàng, luôn duy trì dự trữ ngoại hối với cơ cấu là một rổ ngoại tệ, nhưng USD luôn chiếm một tỷ lệ quyết định Ví dụ như vào cuối năm 1992, đồng đô la Mỹ đã chiếm tới tỷ lệ bình quân là 70% trong tổng số dự trữ ngoại hối của tất cả các nước trên thế giới Tỷ lệ USD trong dự trữ ngoại hối của các quốc gia công nghiệp hoá là 73% và các nước đang phát triển là 61%
Trang 10Ngoài ra, đồng đô la Mỹ còn được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới như: yết giá (hay định giá) các loại hàng hóa, các khoản nợ của các chính phủ, đầu tư nước ngoài, viện trợ và quan trọng nhất là đóng vai trò đồng tiền định giá (hay yết giá) trên tất cả các TTNH
DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG NĂM 1999
Đơn vị: qui tỷ USD
1.2.2 Các phương pháp yết giá tiền tệ:
Để trình bày nội dung các phương pháp yết giá tiền tệ chúng ta cần làm rõ các khái niệm sau:
Đồng tiền yết giá(Commodity Term): là đồng tiền mà giá trị của nó
được biểu hiện thông qua một đồng tiền khác đối ứng với nó, thông thường là cố định và bằng 1 đơn vị ( trong một số trường hợp có thể là một số đơn vị cố định, ví dụ như 100 JPY, 1.000 ITL, )
Đồng tiền định giá (Currency Term): là đồng tiền được dùng để biểu
hiện giá trị của đồng tiền yết giá Số đơn vị tiền tệ của đồng tiền định giá thay đổi và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên TTNH
Trang 11Hiện nay, trên TTNH các nước có 2 phương pháp biểu thị tỷ giá chủ yếu:
Thứ 1 - Yết giá trực tiếp:
Phương pháp yết giá trực tiếp được xuất phát từ giác độ quốc gia, trong đó ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, còn đồng bản tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá
Thứ 2 - Yết giá gián tiếp: ngược lại với phương pháp yết giá trực tiếp
Trong thực tế việc yết tỷ giá giữa các loại ngoại tệ trên các TTNH thường sử dụng đồng USD làm đồng tiền yết giá, các ngoại tệ khác là đồng tiền định giá, ngoại trừ trong một số trường hợp đồng USD đóng vai trò là đồng tiền định giá đối với các loại ngoại tệ như GBP (đồng bảng Anh), AUD (đô la Úc), IEP (đồng bảng Ireland), NZD (đô la New Zealand), EUR (đồng euro)
Việc niêm yết tỷ giá áp dụng ở nước ta trong thời gian qua là sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp, trong đó: các ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, đồng Việt nam (VNĐ) đóng vai trò là đồng tiền định giá
Ngoài ra, trên TTNH còn sử dụng tỷ giá chéo để trao đổi, mua bán các loại ngoại tệ khác USD với nhau
Tỷ giá chéo – Cross Rates : tỷ giá chéo là tỷ giá giữa hai đồng tiền được xác
định thông qua đồng tiền thứ ba
Trang 12Trong thực tế, tương quan giá trị giữa hai đồng tiền thông thường được xác
định bằng cách so sánh giá trị của từng đồng tiền đối với USD Do vậy tỷ giá chéo
được xác định như sau:
DEM
FRF
USDFRF
11.9372
6.4972
1
hay 1 DEM = 3.3539 FRF
Ký hiệu tiền tệ theo tiêu chuẩn ISO:
Để việc thanh toán được thống nhất và chuẩn xác, tránh sự nhầm lẫn khi
biểu thị một số tiền trong giao dịch, việc ký hiệu tiền tệ, số các chữ số phần
thập phân cho từng loại tiền của các nước trên thế giới được tiêu chuẩn hóa của
Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) 4217 :
Trích dẫn:
Trang 131.2.3 Các loại hình thức giao dịch trên TTNH:
Các giao dịch ngoại hối phải đảm bảo 4 yếu tố cần thiết sau: số tiền trao
đổi là số lượng đồng tiền này trao đổi với đồng tiền kia (mua và bán); tỷ giá
thỏa thuận (giá); ngày thanh toán thỏa thuận; chỉ thị thanh toán (nhận tiền về
tài khoản nào, ở đâu )
1.2.3.1 Mua bán giao ngay – Spot Transaction :
a Khái niệm:
Mua bán giao ngay là giao dịch trao đổi giữa hai đồng tiền với hiệu lực
thanh toán không trể hơn hai ngày làm việc sau ngày giao dịch
b Cách yết giá – Fx Rate Quotation :
Maker : Quoting Bank – Ngân hàng yết giá
Taker : Calling Bank – Ngân hàng hỏi giá
c Hiệu lực thanh toán:
0 1 2
Ngày giao dịch Hiệu lực thanh toán (Value date)
Thí dụ : Ngày giao dịch :21/12 /1999
Mua 1.000.000 USD trả 102.480.000 JPY
Ngày thanh toán : 23/12/1999
Trang 141.2.3.2 Mua bán có kỳ hạn – Forward Transaction :
Nhu cầu sử dụng Forward:
- Để bảo hiểm rủi ro do biến động tỷ giá
- Định giá trước cho hàng hóa
- Để đầu cơ
b Cách yết giá – Công thức :
Ngân hàng nước ngoài yết giá:
Spot USD / DEM = 1.9296 / 1.9301
Nguồn : REUTEUR ngày 21 /12/1999
b.1 Trường hợp ta muốn mua USD kỳ hạn 1 tháng :
FWD : USD / DEM = ? i) Nếu mua 1 USD hôm nay thì có thể đem gửi kỳ hạn 1 tháng và được hưởng lãi :
+ 1 USD x x 6.46
100
30 360
Trang 15ii) Nhưng đồng thời lúc đó phải đi vay 1.9301 DEM kỳ hạn 1 tháng và phải
trả lãi:
- 1.9301 DEM x x 3.71
100
30360Bù trừ thu chi:
Swap Points (Điểm hoán đổi) :
= 1.9301 DEM x - x = + 0.0044
Lúc đó : Tỷ giá Forward ngày 21/01/2000
Mua 1 USD sẽ là: Spot : - 1.9301
+ Premium : + 0.0044
Công thức tổng quát:
Forward ASK = Spot ASK 1 +
Hoặc cũng có thể dùng công thức tổng quát hơn:
Forward ASK = Spot ASK 1 +
6.46
100
3.71100
30360
( iA BID– i B ASK) x n
36.000
( iA BID– i B ASK) x n36.000 +( iA BIDx n)
b.2 Trường hợp ta muốn bán USD kỳ hạn 1 tháng :
Tương tự :
Swap Points (Điểm hoán đổi) :
Trang 16= 1.9296 DEM x - x = - 0.0047
Lúc đó : Tỷ giá Forward ngày 21/01/2000
Bán 1 USD sẽ là: Spot : + 1.9296
Công thức :
Forward BID = Spot BID 1 + ASK
Hoặc cũng có thể dùng công thức tổng quát hơn:
Forward BID = Spot BID 1 +
1.2.3.3 Giao dịch hoán đổi – Swap Transaction :
a Khái niệm:
Là giao dịch trong đó mua và bán đồng thời một ngoại tệ này lấy một ngoại tệ khác, nhưng hạn thanh toán đối với giao dịch mua và giao dịch bán thì khác nhau
b Công thức tính điển hoán đổi:
Swap points (BID) =
( iB BID– i A ASK) x n
36.000
( iB BID– i B ASK ) x n36.000 +( iA ASKx n)
Spot BIDx ( iB BID– i A ASK) x n36.000 +( iA ASKx n)
Trang 17Swap points (ASK) = = Spot ASKx ( iA BID– i B ASK) x n
36.000 +( iB ASKx n)
c Các loại hoán đổi tiền tệ chủ yếu:
Giao dịch giao ngay (Spot) Giao dịch kỳ hạn (Forward)
được thực hiện được thực hiện
Điểm hoán đổi = = + 0.0044
(Swap points ASK )
Tỷ giá hoán đổi = -1.9301 + 0.0044 = -1.9257
Sell / Buy 30 = + 1.9301 / - 1.9257
Ngược lại: ngày 21/12 mua USD bán DEM đồng thực hiện giao dịch kỳ hạn (Forward) 1 tháng bán USD mua DEM
Điểm hoán đổi = = - 0.0047
(Swap points BID )
Bán USD Mua DEM
Mua USDBán DEM
1.9301 x (6.46 – 3.71) x 30
36 000 + 3 71x30
1.9296 x ( 3.57 – 6.48) x 3036,000 + 6.48 x30 Tỷ giá hoán đổi = 1.9296 - 0.0047 = 1.9249
Sell 30 / Buy = + 1.9249 / - 1.9296
Trang 18Thông thường, người ta yết giá như sau :
Spot USD / DEM : 1.9296 / 1.9301
Mua USDBán DEM
Giao dịch kỳ hạn thứ 1 Giao dịch kỳ hạn thứ 2
được thực hiện (15 ngày) được thực hiện (30 ngày)
Forward BID = 1.9296 x 1 + = 1.9273
Forward ASK = -1.9301 x 1 + = -1.9257
(3.57 – 6.48) x 1536,000 + 6.48 x 15(6.46 – 3.71) x 3036,000 + 3.71 x 30Sell 15 / Buy 30 = 1.9273 / -1.9257
Trên đây là các giao dịch chủ yếu (giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi), chiếm tỷ trọng lớn (97%) trong tổng giá trị giao dịch trên các TTNH Ngoài ra, còn có các nghiệp vụ khác phát sinh trên TTNH như sau:
1.2.3.4 Giao dịch Arbitrage :
Là một nghiệp vụ hối đoái nhằm sử dụng mức chênh lệch tỷ giá giữa các TTNH để thu lợi nhuận, tức là mua ở nơi rẻ nhất và bán ở nơi mắc nhất
Trang 191.2.3.5 Giao dịch quyền chọn tiền tệ:
Định nghĩa: Quyền chọn tiền tệ là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ, mua hoặc bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định
Nghiệp vụ Call Option – Quyền chọn mua :
- Người mua quyền chọn mua – Buyer Call Option (Long Call)
- Người bán quyền chọn mua – Seller Call Option (Short Call)
Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là:
- Hợp đồng quyền chọn mua đồng tiền yết giá (chứ không phải là đồng tiền định giá)
- Tương đương với hợp đồng quyền chọn bán đồng tiền định giá
- Khi nói đến quyền chọn mua tiền tệ, bao hàm ý là quyền chọn mua đồng tiền yết giá và đồng thời là quyền chọn bán đồng tiền định giá
Nghiệp vụ Put Option – Quyền chọn bán :
- Người mua quyền chọn bán – Buyer Put Option (Long Put)
- Người bán quyền chọn bán – Seller Put Option ( Short Put)
Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ: tương tự hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ
Giá Option phụ thuộc vào nhiều nhân tố như : tỷ giá giao ngay, tỷ giá thỏa thuận, thời hạn thỏa thuận, lãi suất, tỷ giá dự đoán
1.3 VAI TRÒ CỦA KINH DOANH NGOẠI TỆ TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA NHNT VN:
Trong hoạt động của ngân hàng thương mại nói chung đặc biệt là Ngân hàng Ngoại thương, kinh doanh ngoại tệ chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ các loại hình kinh doanh dịch vụ ngân hàng Qua quá trình tìm hiểu mô hình tổ chức hoạt động của một số ngân hàng lớn, uy tín trong và
Trang 20ngoài nước, thông thường kinh doanh doanh ngoại tệ được tổ chức thành một phòng nghiệp vụ chuyên biệt, với những tính năng về kỹ thuật và nghiệp vụ chuyên môn cao, có một quan hệ rộng khắp với các phòng nghiệp vụ khác Để
đi tìm rõ mối quan hệ trình bày trên, chúng ta sẽ xem xét vấn đề một cách cụ thể với ví dụ sau:
Một nhà nhập khẩu có nhu cầu vay VNĐ ngân hàng để thanh toán hàng nhập, giả sử nhà xuất khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng bằng hình thức thanh toán tín dụng thư trả ngay, đồng tiền thanh toán là USD và được ngân hàng chấp thuận cho vay Lúc này, chỉ xét ở khía cạnh ngân hàng, hàng loạt các nghiệp vụ có liên quan theo trình tự công việc phát sinh dưới đây:
- Phòng Tín dụng và bảo lãnh sẽ lập hồ sơ tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay nội tệ của nhà nhập khẩu (gọi tắt là khách hàng), nếu nhu cầu vay vốn của khách hàng được chấp thuận, thông báo và gởi các giấy tờ có liên quan đến các phòng ban có liên quan,
- Phòng thanh toán quốc tế sau khi nhận được yêu cầu của khách hàng về việc phát hàng tín dụng thư và lập hồ sơ theo dõi tiền ký quỹ đảm bảo thanh toán Khi đến hạn thanh toán liên hệ với phòng Tín dụng và bảo lãnh tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng,
- Phòng kế toán tài chính hạch toán cho vay và theo dõi thu lãi, thu vốn vay khách hàng,
- Phòng kinh doanh ngoại tệ tiến hành việc bán ngoại tệ theo nhu cầu thanh toán nước ngoài của khách hàng,
- Bộ phận mã khóa, swift, telex, tiến hành chuyển tiền bằng điện thanh toán nước ngoài,
Trang 21Tóm lại, trong xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa, và hội nhập ngày nay, sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ việc đảm bảo cân đối thu - chi ngoại tệ, hoạt động kinh doanh ngoại tệ là nguồn xúc tác cho các hoạt động liên quan khác bởi vì có ngoại tệ mới đáp ứng được nhu cầu thanh toán khách hàng, có nhu cầu thanh toán mới phát sinh nhu cầu tín dụng và quan trọng nhất là nguồn thu nhập do hoạt động kinh doanh và các hoạt động có liên quan mang lại, đóng góp một phần không nhỏ trong hoạt động ngân hàng thương mại, nhất là đối với ngân hàng có thế mạnh trong hoạt động đối ngoại như Ngân hàng Ngoại thương
Qua trình bày trên cho chúng ta thấy, nếu không có ngoại tệ hay hoạt động kinh doanh ngoại tệ yếu kém thì hoạt động của ngân hàng sẽ rất đơn điệu, tính
đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng kém, tác động đến qui mô hoạt động của ngân hàng, kết quả kinh doanh, làm cho ngân hàng không phát huy hết vai trò của mình đối với nền kinh tế trong nước, và ảnh hưởng đến sự hội nhập của ngân hàng
Tóm lại, hoạt động kinh doanh ngoại tệ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng, là tác nhân để hoàn thiện một loạt các tiêu chí liên quan đến vận mệnh của đất nước Ngoài ra, nó cũng góp phần ổn định tình hình kinh tế – chính trị – xã hội trong nước, đảm bảo an ninh quốc gia, thúc đẩy quan hệ thương mại quốc tế, thúc đẩy hội nhập của ngân hàng trong nước, và tạo điều kiện để đồng tiền quốc gia hội nhập, có tính chuyển đổi trong khu vực hay
trên toàn thế giới
Trang 22Sơ đồ tóm tắt hoạt động kinh doanh ngoại tệ có liên quan đến đến các hoạt động khác tại Ngân hàng Ngoại thương:
Diễn đạt mối quan hệ giữa Phòng Kinh
Doanh ngoại tệ với các phòng liên quan:
Các phòng nghiệp vụ có liên quan:
- Mua ngoại tệ của đơn vị xuất khẩu (bao gồm cả chiết
khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu),
- Bán ngoại tệ cho đơn vị thanh toán hàng nhập khẩu,
- Chuyển đổi ngoại tệ theo yêu cầu khách hàng,
- Đảm bảo ngoại tệ thanh toán nước ngoài,
Phòng Thanh toán quốc tế
- Đảm bảo cân đối ngoại tệ đáp ứng nhu cầu cho vay
của khách hàng,
- Bán ngoại tệ cho đơn vị để trả nợ vay,
Phòng Tín dụng & bảo lãnh
- Mua ngoại tệ từ khách hàng nhận tiền kiều hối, viện
trợ, tài khoản ngoại tệ cá nhân, mua ngoại tệ mặt,
- Bán ngoại tệ cho các tổ chức, cá nhân chuyển tiền phi
mậu dịch, đi công tác nước ngoài, xuất cảnh, cá nhân
mở TKNT
Phòng Phi mậu dịch
- Thu VNĐ khách hàng mua ngoại tệ,
- Chi tiền mặt VNĐ khách hàng bán ngoại tệ,
Phòng Ngân quỹ
- Mua ngoại tệ của các TCTD, TCKT,
- Bán ngoại tệ cho các TCKT mở TKNT,
- Đánh giá kết quả kinh doanh ngoại tệ cuối kỳ (tháng,
năm),
Phòng Kế toán tài chính
Trang 23CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI, CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ Ở NƯỚC TA VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NHNT VN
2.1 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI, ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ
NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN VỪA QUA VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI :
Trong giai đoạn từ năm 1955 – 1989, mặc dù nhiều nước trên thế giới đang áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi và thả nổi có quản lý, nhưng các nước trong hệ thống XHCN, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước luôn can thiệp mạnh vào mọi mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi không thể tồn tại và phát huy tác dụng, thay vào đó là chế độ tỷ giá cố định Việt nam cũng không nằm ngoài khuôn khổ ấy Bên cạnh tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu dịch), nhà nước còn đưa ra hai loại tỷ giá khác là: tỷ giá phi mậu dịch và tỷ giá kết toán nội bộ Như vậy chế độ tỷ giá ở Việt nam trong giai đoạn này là chế độ đa tỷ giá Hệ thống tỷ giá này đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý điều hành của nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, kinh tế đối ngoại, đồng thời để lại hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Chính vì vậy, nhu cầu đổi mới cơ chế tỷ giá nói riêng, đổi mới lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung trở thành vấn đề cấp bách
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhà nước bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, từng bước xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển dần sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Đây là thời kỳ có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy quản lý và điều hành kinh tế của nhà
Trang 24nước, nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Tỷ giá hối đoái, khâu đột phá có vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình cải cách được đặc biệt quan tâm
Tháng 3.1989 nhà nước chính thức công bố xóa bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, xóa bỏ mọi chế độ trợ giá cho các hoạt động ngoại thương Tỷ giá chính thức được ngân hàng nhà nước công bố căn cứ vào chỉ số lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến tỷ giá trên thị trường tự do và giá vàng trên thị trường quốc tế và trong nước Trên cơ sở tỷ giá này, các ngân hàng thương mại xây dựng một tỷ giá riêng cho mình trong giao dịch hàng ngày với biên độ giao động cho phép
Nhìn chung những giải pháp trên đã góp phần cải tạo phần nào tình hình trên TTNH, xóa bỏ tình trạng bất hợp lý trong mua bán, thanh toán, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá USD/VND từ giữa năm 1990 mà đỉnh cao là cuối năm 1991, lúc này 1 USD gần bằng 13.000 VND Nguyên nhân chính làm cho USD tăng giá là do ảnh hưởng của tình hình cán cân thanh toán quốc tế sự thâm hụt tài chính của chính phủ và mức độ lạm phát nặng nề ở Việt nam Cuối năm 1992, nguồn ngoại tệ kiều hối đổ về khá lớn làm tăng cung về ngoại tệ, mặt khác Ngân hàng nhà nước kiên trì quan điểm ổn định tỷ giá bằng cách can thiệp vào thị trường ngoại tệ, nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp về cơ bản được đáp ứng, nạn lạm phát gần như được chặn lại, tạo lòng tin cho dân chúng vào sự ổn định của đồng Việt nam, giải tỏa được tâm lý đầu cơ Đó chính là những nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho xu hướng lên giá của đồng đô la bị chặn lại, tỷ giá USD/VND không những không tăng mà còn giảm xuống
Trang 25Tháng 9.1994, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập, Ngân hàng nhà nước thực hiện vai trò người mua bán cuối cùng trong ngày Tỷ giá chính thức vẫn được ngân hàng nhà nước công bố, chỉ có biên độ giao động là có sự thay đổi Năm 1996 mức thâm hụt cán cân thương mại ở nước ta lên đến
4 tỷ USD, tỷ lệ nhập siêu so với GDP lên đến 16%, cao gấp rưỡi so với các nước có mức độ nhập siêu cao nhất thế giới nhu cầu về USD tăng tạo sức ép giảm giá lên VND Do vậy Ngân hàng nhà nước đã mở rộng biên độ giao động của tỷ giá từ 0,5% trước đây lên l% và tháng 2.1997 biên độ này là 5%, bên cạnh đó tỷ giá chính thức cũng được nâng dần lên Nhìn chung từ đầu năm
1997 tỷ giá USD/VND liên tục tăng lên, không còn ổn định như thời gian từ
1993 - 1996 Ngày 2.7.1997, ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á bắt đầu phát ra từ Thái Lan, là một nước trong khu vực, Việt nam cũng bị ảnh hưởng về mặt buôn bán, thanh toán và kể cả về tâm lý Ngày 13.10.1997, Ngân hàng nhà nước công bố quyết định nới rộng biên độ tỷ giá mua bán ngoại tệ lên 10% so với tỷ giá chính thức Cầu ngoại tệ trên thị trường rất cao nên hầu như việc mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại thường xuyên bám sát mức trần cho phép Mặc dù vậy, giá trên thị trường tự do còn cao hơn nhiều, có lúc lên đến trên 14.000 VND/1USD, đây chính là hậu quả của tình trạng găm giữ ngoại tệ do lo ngại về khả năng khủng hoảng của VND Đứng trước tình hình này, những tháng đầu năm 1998 Ngân hàng nhà nước đã đưa ra một loạt các biện pháp nhằm ổn định thị trường như: quy chế về giao dịch ngoại hối, các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mới, quy định về trạng thái ngoại tệ, trạng thái tiền đồng đối với các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ Đặc biệt là hai lần chủ động điều chỉnh tỷ giá: lần thứ nhất, ngày 16.2.1998, ngân hàng nhà nước quyết định nâng tỷ giá từ 11.175 VND/1USD
Trang 26lên 11.800 VND/1USD làm tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại xấp xỉ với giá trên thị trường tự do; lần thứ hai, diễn ra vào ngày 7.8.1998, tỷ giá chính thức được nâng từ l1.888 VND/1USD lên 12.998 VND/1USD, tăng 16,3% Bên cạnh đó, biên độ giao dịch ngoại tệ cũng được thu hẹp lại còn 7% chứ không phải là 10% như trước đây nữa Việc chủ động điều chỉnh tăng tỷ giá của Ngân hàng nhà nước đã làm thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá của các ngân hàng thương mại Vào những tháng cuối năm 1998 tỷ giá của hai thị trường này thường xuyên xấp xỉ nhau
Tóm lại, nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống tỷ giá cho thấy có hai loại chế độ tỷ giá cơ bản như sau:
Chế độ cố định tỷ giá: Những nước áp dụng chế độ tỷ giá này thường
gắn đồng tiền nước mình vào một đồng tiền quốc tế chủ chốt hoặc vào một rổ các loại đồng tiền (có thể là rổ đồng tiền giao dịch chính hoặc hỗn hợp các đồng tiền tiêu chuẩn như đồng tiền châu Âu hay quyền rút vốn đặc biệt SDR)
Chế độ thả nổi tỷ giá: Trong chế độ này, tỷ giá thường có sự điều chỉnh
và linh hoạt Nếu tỷ giá hoàn toàn do thị trường và các lực lượng thị trường quyết định, thì đó là dạng thả nổi tự do Còn nếu tỷ giá thường xuyên được điều chỉnh trên cơ sở đánh giá diễn biến của các biến số như tình hình dự trữ, thanh toán thì đó là dạng thả nổi có quản lý
Trong đó chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đang được vận hành tại Việt nam
Phải thừa nhận rằng thời gian qua NHNN VN đã đưa ra những bước đi thích hợp trong việc điều hành tỷ giá và đã gặt hái được những thành công nhất định, đặc biệt là trong lĩnh vực ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của nền kinh tế Tuy nhiên trong điều kiện nền
Trang 27kinh tế ngày càng phát triển, các nhân tố thị trường ngày càng phát huy tác dụng, quan hệ hợp tác quốc tế ngÏày càng mở rộng thì cơ chế điều hành tỷ giá như vậy vẫn chưa đủ sức thuyết phục Chính vì vậy mà ngày 25.02.1999, Ngân hàng nhà nước Việt nam đã chính thức công bố hai quyết địnhh mới về tỷ giá: Quyết định số 64/1999/QĐ - NHNN7 về việc công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt nam với các ngoại tệ và QÏuyết định số 65/1999/QĐ - NHNN7 về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ Bắt đầu từ ngày 26.02.1999 một cơ chế điều hành tỷ giá mới được hình thành tại Việt nam: thay cho việc công bố tỷ giá chính thức, hàng ngày NHNN sẽ công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của đồng Việt nam với đồng USD Căn cứ vào tỷ giá này, tổng giám đốc, giám đốc các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ theo nguyên tắc: đối với USD, tối đa không được vượt quá 0,l% so với giá NHNN công bố của ngày giao dịch gần nhất trước đó Còn đối với các ngoại tệ khác, tỷ giá sẽ do tổng giám đốc, giám đốc các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ xác đinh Có thể nói rằng: hai quyết định này đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong cơ chế điều hành tỷ giá tại Việt nam Chúng ta có thể nhận thấy rất rõ những ưu điểm nổi bật của chúng qua những phân tích sau :
Thứ nhất: tỷ giá NHNN công bố hàng ngày là tỷ giá giao dịch bình quân
trên thị trường liên ngân hàng, điều này phản ánh tỷ giá được hình thành khách quan hơn, phản ánh đúng hơn cung cầu ngoại tệ trên thị trường, là điểm gặp gỡ giữa cung và cầu về ngoại tệ của các ngân hàng
Thứ hai: trước đây, do giá NHNN công bố cứng nhắc không thực sự phán
ánh quan hệ cung cầu nên nếu thấy giá của các ngân hàng thấp thì các doanh
Trang 28nghiệp mang ngoại tệ ra thị trường tự do bán, ngược lại nếu mua của ngân hàng quá khó khăn thì mua trên thị trường tự do Vì thế chỉ cần có những biến động nhỏ trong nền kinh tế cũng đủ tác động để mở ra một khoảng cách rộng giữa giá thị trường tự do và giá của các NHTM Nhưng với cơ chế điều hành mới, tỷ giá mà NHNN công bố bởi nó xuất phát từ cung cầu ngoại tệ giữa các ngân hàng nên nó sẽ gần gủi hơn với giá thị trường tự do và như vậy những biến động có thể tạo ra khoảng cách giữa giá thị trường tự do và giá của các NHTM sẽ khó có thể xảy ra hơn
Thứ ba: với cơ chế điều hành tỷ giá trước đây,vì NHNN muốn giữ giá ổn
định, không thay đổi, trong khi đó khả năng cung ứng ngoại tệ của NHNN cũng như các NHTM thấp nên nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp cũng thường xuyên không được đáp ứng, điều nàyÏ đã làm cho nhiều doanh nghiệp phải lao đao khi phải đối mặt với các nhu cầu thanh toán đế hạn với nước ngoài Còn với cơ chế điều hành tỷÏ giá như hiện nay thì bản thân tỷ giá tự nó đã được điều chỉnh theo quan hệ cung cầu, hay nói cách khác chính nhu cầu của các doanh nghiệp là cơ sở xác định tỷ giá và tại đó cung và cầu đều được thỏa mãn
Thứ tư: khi tỷ giá không xuất phát từ quan hệ cung cầu thì mỗi lần nhà
nước điều chỉnh tỷ giá đều tạo sức ép tâm lý nặng nề, nhất là khi tỷ giá không được điều chỉnh thường xuyên, đến khi điều chỉnh sẽ tạo ra một bước nhảy đột ngột, người ta bắt đầu nghi ngờ về một chủ trương nào đó, lòng tin vào đồng tiền có thể vì thế mà bị giao động, tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ sẽ có cơ hội phát triển Nhưng với cơ chế mới, tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu, để giữ ổn định hoặc điều chỉnh tỷ giá theo mục tiêu nào dó, NHNN chỉ việc điều chỉnh cung hoặc cầu bằngÏ cách bán ngoại tệ ra hoặc mua ngoại tệ
Trang 29vào và như vậy tất cả đều hết sức tự nhiên, giảm bớt tâm lý hoang mang giao động
Thứ năm : trong cơ chế mới, tỷ giá không phải là được điều chỉnh mà là
được hình thành trên thị trường, rõ ràng là nó mềm dẻo hơn và linh hoạt hơn và
vì thế nó phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tăng cường sự hòa nhập của nền kinh tế nước ta vào cộng đồng kinh tế thế giới
Những điểm nêu trên cho thấy cơ chế điều hành tỷ giá mới của NHNN không chỉ khắc phục được những hạn chế của cơ chế cũ mà còn hết sức phù hợp với một nền kinh tế mở như điều kiện của nước ta hiện nay
Tóm lại: Mỗi giai đoạn khác nhau nhà nước có thể đưa ra một cơ chế tỷ giá khác nhau và các quyÏ định khác nhau về quản lý ngoại hối Tuy nhiên, giai đoạn nào cũng vậy luôn có những yếu tố cơ bản xuyên suốt, cần phải nắm bắt cho được những yếu tố đó để có thể đưa ra một chính sách thực sự bao quát và phù hợp Trên cơ sở đó nhà nước có thể kiểm soát được các luồng di chuyển ngoại tệ, thu hút ngoại tệ làm tăng nguồn dự trữ, ổn định tỷ giá, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
2.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NHNT VN:
2.2.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHNT VN:
Hoạt động KDNT là loại hình kinh doanh diễn ra hằng ngày tại NHNT
VN, bao gồm các nghiệp vụ:
- Kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ (convertion transaction),
- Kinh doanh tiền gửi ngoại tệ (deposit transaction)
Các nghiệp vụ trên được thực hiện chủ yếu thông qua các công cụ sẵn có trên TTNH và thị trường tiền gửi liên ngân hàng
Trang 30Kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ nếu xét phạm vi diễn ra trong nước, trong đó việc mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng đều tiến hành thông qua đồng VN Còn lại, mua bán ngoại tệ trên TTNH quốc tế thực chất là sự chuyển đổi giữa các ngoại tệ với nhau Nhưng suy cho cùng, nếu xét về mục đích kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ là nhằm vào 03 mục đích mà bất cứ ngân hàng thương mại đối ngoại nào cũng phải đeo đuổi, đó là:
1/ Nhằm đáp ứng yêu cầu chi trả của nhà nhập khẩu, các nhu cầu của nhà xuất khẩu, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các tổ chức đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nước
2/ Vì yêu cầu bảo toàn giá trị tiền tệ trong kinh doanh; khi một ngoại tệ đang có sẵn có xu hướng mất giá so với ngoại tệ khác
3/ Và cuối cùng là vì lợi nhuận
2.2.1.1 Giới thiệu hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ bao gồm các nghiệp vụ mua bán, trao đổi ngoại tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước bao gồm các đối tượng chính sau: các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các thành viên tham gia thị trường liên ngân hàng, các thành viên tham gia TTNH quốc tế
Hiện nay, với cơ chế quản lý và điều hành vốn tập trung trong toàn hệ thống VCB, ngoại trừ một số chi nhánh được phép quan hệ gởi vốn trực tiếp với nước ngoài như chi nhánh TP HCM, chi nhánh Vũng Tàu (nhưng bị hạn chế với mức cho phép < 20% nguồn huy động ngoại tệ của chi nhánh), còn lại các chi nhánh khác đều phải tập gởi vốn ngoại tệ tại VCB TW Lãi suất tiền gửi ngoại tệ được VCB TW tính trên cơ sở các thị trường tiền gửi liên ngân hàng ở các trung tâm tài chính lớn như : Singapore, Tokyo, London, New York sau
Trang 31khi trừ đi phí dịch vụ và một số chi phí khác với kỳ hạn trải đều từ O/N, 2 ngày,
1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng,3 tháng, 6 tháng cho đến 1 năm với mục đích tập trung vốn ngoại tệ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, an toàn, và có lợi nhuận
Việc tổ chức thực hiện kinh doanh ngoại tệ của NHNT được tiến hành dựa trên cơ sở phân loại các nghiệp vụ, bao gồm:
a Đối với kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ:
a.1 Xây dựng tỷ giá mua bán ngoại tệ hàng ngày: cũng như các loại hàng hóa mua bán trao đổi khác, việc kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ cũng phải xác lập tỷ giá mua bán giao dịch hàng ngày Với cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay, NHNN sẽ thông báo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của đồng Việt nam so với đô la Mỹ của ngày giao dịch (tỷ giá này được xác định trên cơ sở tỷ giá mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng của ngày hôm trước), các NHTM sẽ xây dựng tỷ giá giao dịch đồng USD trên
cơ sở thông báo tỷ giá liên ngân hàng nhưng không được vượt quá biên độ 0,1% cho phép Còn lại đối với ngoại tệ khác USD, các NHTM xây dựng tỷ giá trên cơ sở:
- Tỷ giá của đồng Việt nam so với USD,
- Tỷ giá ngoại tệ khác so với USD niêm yết trên các TTNH chính trong khu vực, và trên thế giới
- Biên độ giữa các loại tỷ giá giao dịch: tỷ giá mua tiền mặt, tỷ giá mua chuyển khoản, tỷ giá bán Tùy theo từng thời điểm và tình hình biến động
Trang 32của TTNH xây dựng biên độ rộng hay hẹp chúng ta sẽ làm rõ vấn đề này ở mục biện pháp phòng ngừa rủi ro kinh doanh ngoại tệ
Hiện nay, NHNT xây dựng và niêm yết tỷ giá ngoại tệ tự do chuyển đổi thông thường mỗi ngày 02 lần (sáng 7h30, chiều 13h00), trường hợp đặc biệt nếu có biến động lớn về tỷ giá trên TTNH quốc tế thì chủ động thay đổi tỷ giá niêm yiết nhằm hạn chế rủi ro, đảm bảo sự công bằng cho khách hàng
Nhân đây cũng xin nhắc lại, tỷ giá các ngoại tệ trên TTNH quốc tế giao động 24/24 giờ trong một ngày (đặc điểm nổi bật của TTNH đã được trình bày trong Chương I) và mọi sự biến động đều không ít thì nhiều có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Tóm lại, việc xây dựng và niêm yết tỷ giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ và các hoạt động có liên quan Phải có chính sách xây dựng tỷ giá hợp lý theo từng thời điểm để thực hiện chính sách thu hút và mời gọi khách hàng là tiền đề để thực hiện qui trình nghiệp vụ trọn gói phục vụ khách hàng của NHNT VN
a.2 Giao dịch kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ: các giao dịch kinh doanh
chuyển đổi ngoại tệ trong nước đều được thực hiện thông qua tỷ giá ngoại tệ tự
do chuyển đổi niêm yết hàng ngày, hoặc tỷ giá thỏa thuận trên xác nhận mua bán ngoại tệ trong một số trường hợp nhưng không được phi phạm qui định của NHNN về quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá Còn đối với các kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ nước ngoài, tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá trên thị trường ngoại hối quốc tế tại thời điểm giao dịch
Các giao dịch trong nước được thực hiện bằng cách tiếp nhận trực tiếp hồ sơ của khách hàng , hoặc thông qua điện thoại, xác nhận fax, telex, hay swift Còn lại, các giao dịch nước ngoài được thực hiện thông qua trung gian hệ
Trang 33thống mạng dịch vụ toàn cầu Money 2000 (lấy tin), Reuters Dealing của hãng thông tấn Reuters nhưng đều phải có xác nhận lại thông qua Telex hoặc Swift với điều kiện phải có mã khóa giữa các ngân hàng giao dịch
b Đối với kinh doanh tiền gửi ngoại tệ:
Công tác thu thập, phân tích và xử lý thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hành và sử dụng nguồn vốn ngoại tệ Cuối ngày, sau khi tập hợp số liệu một cách chính xác số dư ngoại tệ còn nhàn rỗi, đồng thời căn cứ vào tình hình sử dụng ngoại tệ trong thời gian tới, tình hình kinh tế trong và ngoài nước để bố trí vốn với những kỳ hạn hợp lý Mục đích của kinh doanh tiền gởi ngoại tệ là nhằm: đảo bảo khả năng thanh toán của ngân hàng với tất cả các đồng ngoại tệ theo phương thức hiệu quả nhất và thuận lợi nhất; Đảm bảo chắc chắn các khoản thanh toán được thực hiện đúng hạn; đầu tư vốn với lãi suất cao nhất; vay vốn với lãi suất thấp nhất; Đảm bảo trạng thái ngoại hối của tất cả các ngoại tệ trong giới hạn cho phép và cố gắng biến triển vọng thành lợi nhuận; cung cấp các dịch vụ khách hàng hoàn hảo chuyên nghiệp
Các giao dịch được thực hiện qua telephone, fax, telex, swift nếu trong hệ thống VCB, trường hợp giao dịch trên thị trường tiền gửi liên ngân hàng quốc tế thì giao dịch qua hệ thống mạng toàn cầu Dealing System của hãng thông tấn Reuters
2.2.1.2 Tổ chức, phân công công việc đối với hoạt kinh doanh ngoại tệ:
Mô hình:
Front Office Back Office
Manager
Trang 34• Front Office:
Là bộ phận tiếp cận và giao dịch trực tiếp với khách hàng, nắm bắt thông tin của chi nhánh, của hệ thống VCB, trong nước, ngoài nước Nhận sự truyền đạt của lãnh đạo phòng
Trực tiếp thực hiện giao dịch, tự đánh giá và quyết định kết quả kinh doanh đối với từng món giao dịch, ngày giao dịch, tuần, hay tháng Do đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao nên bắt buộc những người làm ở bộ phận này phải: vững về chuyên môn; có tính tổ chức và phối hợp cao; biết ngoại ngữ để tiếp xúc và thực hiện giao dịch với đối tác trong và ngoài nước; nhạy bén, năng động trong kinh doanh để nắm bắt và khai thác triệt để những cơ hội thuận lợi, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra; thao tác là xử lý công việc nhanh gọn; không ngừng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với đồng sự, cán bộ quản lý; kỹ năng giao tiếp tốt và một yếu tố cũng rất quan trọng là đức tính trung thực, tự chịu trách nhiệm trước mọi người
Đây là bộ phận hậu sự, xử lý các công việc của bộ phận front office chuyển sang Kiểm tra, kiểm soát, quản lý và lưu trữ hồ sơ kinh doanh ngoại tệ Đóng vai trò là người hổ trợ tích cực cho bộ phận front office Cập nhật và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác Phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận, phòng ban trong việc luân chuyển chứng từ Vững về chuyên môn, thông thạo kế toán, biết ngoại ngữ – vi tính, cẩn thận, rà soát kỹ lưỡng Thông tin trung thực, phát hiện kịp thời các sai sót có thể xảy ra Nhận sự truyền đạt của lãnh đạo phòng
Trang 35Yêu cầu phải nắm bắt được tình hình hoạt động của hai bộ phận trên Phải có kỹ năng truyền đạt, quyết đoán, tự chịu trách nhiệm trước quần chúng, phải biết khuyến khích và động viên, thưởng phạt công minh
2.2.1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin – Truy cập và khai thác thông tin
chuyên dùng trong và ngoài nước:
Do yêu cầu của công tác đòi hỏi phải tiến cận nhiều nguồn thông tin trong và ngoài nước để có thể ra quyết định một cách nhanh chóng và tương đối chính xác Đặt ra yêu cầu là phải mua thông tin của các hãng thông tấn uy tín như Reuters, Telerates và phải trả một chi phí nhất định ( Vd: khoảng 5.000 USD/tháng đối với sử dụng Money 2000 và Dealing System) Nguồn tin phải cô đọng, xúc tích, đồng thời phải có tính bao quát tình hình chính trị – xã hội – kinh tế , phải trung thực và chính xác cao, phải có tính thời sự, vượt thời gian và không gian
Công nghệ thông tin ngân hàng: phải online (trực tuyến), cập nhật 24/24 giờ ngày, hổ trợ kinh doanh với tiêu chí vừa chi tiết hóa, vừa tổng quát hóa An toàn và chính xác Với khả năng hiện có, công nghệ thông tin nói chung và công nghệ thông tin ngân hàng nói riêng đủ sức đáp ứng được các yêu cầu đặt
ra của công tác kinh doanh ngoại tệ, vấn đề quan trọng là người truyền đạt những ý tưởng, đặt yêu cầu như thế nào để phục vụ ngày càng tốt hơn
2.2.1.4 Đánh giá kết quả kinh doanh ngoại tệ:
A Kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ:
1/ Đối với USD: dựa vào số liệu phát sinh trong kỳ của TK sử dụng VNĐ mua, bán ngoại tệ; TK mua, bán ngoại tệ USD để xác định giá vốn USD, lãi/lỗ trong kinh doanh ngoại tệ, thuế GTGT kinh doanh ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá kinh doanh ngoại tệ:
Trang 36Tỷ giá mua thực tế bình quân
(I) =
b Tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) kinh doanh ngoại tệ :
Số dư mua ngoại tệ đầu kỳ + Doanh số mua vào trong kỳ
Số ngoại tệ đầu kỳ + Số ngoại tệ mua trong kỳ
GTGT= DS bán ra ng tệ (A)– DS mua vào tương ứng của ng tệ bán ra (B) Thuế GTGT = GTGT x Thuế suất (10%)
(A): Là tổng số tiền VNĐ thu được từ bán ngoại tệ
(B): Số ngoại tệ bán ra x Tỷ giá mua thực tế bình quân
Tính lãi, lỗ kinh doanh ngoại te
Lãi/Lỗ = DS bán VNĐ – [ DS bán ng.tệ x (I) ]
DS bán VNĐ : Tiền Việt nam thu về do bán ngoại tệ trong tháng
DS bán ngoại tệ : Số ngoại tệ bán ra trong tháng
d Tính chênh lệch tỷ giá ngoại tệ:
CL =[ Dư NT x TG CT ] – Dư VNĐ
Dư : Số dư cuối tháng TK mua, bán ngoại tệ USD NT
TG CT : Tỷ giá chính thức của NHNN công bố ngày cuối tháng
Dư VNĐ: Số dư cuối tháng TK sử dụng VNĐ mua , bán ngoại tệ
2/ Đối với ngoại tệ khác USD:
Cuối ngày (hoặc cuối kỳ) tiến hành chuyển đổi các tài khoản mua bán ngoại tệ khác USD về tài khoản mua bán USD với mục đích phản ánh chính xác giá mua, giá bán ngoại tệ khác USD:
Chuyển đổi ngoại tệ khác USD mua vào theo giá: Mua ngoại tệ khác /
Mua USD; Chuyển đổi ngoại tệ khác USD bán ra theo giá: Bán ngoại tệ khác / Bán USD
Trang 37Ví dụ: ngày 24/01/2000, có số liệu mua bán chuyển khoản các ngoại tệ như sau:
TỶ GIÁ GIAO DỊCH Đơn vị: đồng
Nguồn VIETCOMBANK BÌNH TÂY
Giả sử: số dư TK mua, bán AUD đầu ngày bằng 0
- Doanh số mua AUD trong ngày: 1.000.000 AUD
- Doanh số bán AUD trong ngày: 1.000.000 AUD
Chuyển đổi cuối ngày:
(TK chuyển đổi USD)
AUD (TK chuyển đổi AUD)
Tỷ giá chuyển đổi
Cuối kỳ, giả sử chuyển tất cả số dư TK chuyển đổi ngoại tệ bằng 0 (thông qua các nghiệp vụ trên TTNH) Nếu số dư TK chuyển đổi USD:
Dư có : Lãi kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ khác USD,
Trang 38Dư nợ : Lỗ kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ khác USD
B Tối ưu hóa sử dụng nguồn ngoại tệ:
Đối với hoạt động kinh doanh tiền gửi ngoại tệ: theo dõi tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn ở ngân hàng nước ngoài, theo dõi thu gốc, thu lãi tiền gửi ngoại tệ đồng thời Theo dõi TK Nostro - là TK được sử dụng để thanh toán / nhận thanh toán thay cho các khách hàng, TK này không được hưởng lãi hoặc hưởng lãi với lãi suất rất thấp do đó không nên để TK này có số dư lớn một cách không cần thiết Tuy nhiên, TK này phải có đủ tiền để đáp ứng các yêu cầu thanh toán
Ngược lại, TK của ngân hàng nước ngoài mở tại NHNT được sử dụng để thanh toán / nhận thanh toán gọi là TK Nostro
Cuối ngày, sau khi tổng hợp tình hình nguồn – sử dụng nguồn ngoại tệ, nhu cầu thanh toán, các khoản tiền gửi sắp đến hạn, tình hình mua bán ngoại tệ bộ phận kinh doanh tiền gửi ngoại tệ sẽ tiến hành tối ưu hóa nguồn ngoại tệ nhàn rỗi đối với từng món tiền gởi tương ứng với từng kỳ hạn và lãi suất gởi khác nhau
Cuối kỳ, bộ phận kinh doanh tiền gửi ngoại tệ sẽ có những đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh tiền gửi và báo cáo thu nhập (lãi) từ hoạt động
kinh doanh ngoại tệ
2.2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNT VN giai đoạn
1997 - 1999:
A Số liệu: