Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sữa Việt Nam - Vinamilk thông qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 5 năm gần đây.. Qua tìm hiểu
Trang 1
HÀ NỘI - 2019
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1.Lời mở đầu: 1
2 Tóm tắt bài luận 2
2 Giới thiệu sơ lược về công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk 7
2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk 7
2.2 Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk 9
3 Khả năng phát triển của ngành sữa nói chung và công ty cổ phần sữa Việt Nam nói riêng 10
4 Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk trong 5 năm gần đây (2013-2018) 13
4.1 Bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần sữa Việt Nam từ năm 2013 – 2018 13
4.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sữa Việt Nam - Vinamilk thông qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 5 năm gần đây 18
4.3 Phân tích các chỉ số 21
4.3.1 Nhóm chỉ số về khả năng sinh lời 21
4.3.2 Nhóm chỉ số hoạt động 24
4.3.3 Nhóm chỉ số thanh khoản 28
4.3.4 Nhóm chỉ số khả năng thanh toán dài hạn 30
4.4.5 Nhóm chỉ số giá trị thị trường 32
Trang 3để doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp sữa nói riêng có thể đứng vững trên thị trường sữa hiện nay thì cần phải xác định rõ mục tiêu, hướng đi, vạch ra một con đường hợp lý và phân bố nguồn lực một cách tối ưu nhất
Qua tìm hiểu tình hình sản xuất và phân phối sữa của các công ty trên thị trường Việt Nam thì công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk được biết đến như một con chim đầu đàn của ngành công nghiệp sữa trong nước khi chiếm khoảng 75% thị phần của toàn quốc Hoạt động hơn 10 năm trong cơ chế bao cấp, cũng như
Trang 42
nhiều doanh nghiệp khác chỉ sản xuất theo kế hoạch, nhưng khi bước vào kinh tế thị trường, Vinamilk đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội, không ngừng đổi mới công nghệ, đầu tư cơ sở, dây truyền sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm để chuẩn bị cho một hành trình mới Vinamilk đang cho thấy sự năng động và “ sức trẻ” của một công ty lớn với hơn 43 năm xây dựng và phát triển với chiến lược kinh doanh bài bản nhưng linh hoạt và nhạy bén với thị trường Trải qua nhiều cột mốc đáng nhớ trong suốt 43 năm hoạt động và phát triển, Vinamilk luôn được người tiêu dùng tin tưởng, được các nhà đầu tư đánh giá cao Sản phẩm của Vinamilk không chỉ được người tiêu dùng Việt Nam tín nhiệm mà còn uy tín đối với thị trường nước ngoài Hàng năm, cái tên Vinamilk luôn được các tổ chức tài chính trong và ngoài nước đề cử, bình chọn vào các” bảng vàng “thương hiệu uy tín và đạt hiệu suất đầu tư cao
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, em đã chọn “ Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk)” để hoàn thiện bài báo cáo môn tài chính doanh nghiệp của mình
+ Phần 4: Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk trong 5 năm gần đây (2013-2018)
+ Phần 5: Đánh giá chung tình hình tài chính của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk và đưa ra một số dự báo tình hình hoạt động của công ty trong thời gian tới
Trang 5
3
NỘI DUNG
1 Tình hình kinh tế thế giới và trong nước giai đoạn 2013 – 2018
1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới trong giai đoạn 2013 - 2018
Năm 2013, kinh tế thế giới bắt đầu bước ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu kéo dài từ năm 2008 Tại thời điểm đầu năm 2013, hếu hết các tổ chức tài chính lớn như IMF, World Bank đều nhận định không mấy lạc quan về triển vọng của các nền kinh tế trên toàn cầu, với những dự đoán bấp bênh về kinh tế Mỹ, hay kinh tế châu Âu tiếp tục ảm đạm, thậm chí có khả năng tăng trưởng âm trong vài năm tới Tuy nhiên khi kết thúc năm 2013, điều bất ngờ xảy ra trái ngược hẳn với những nhận định trước đó: tăng trưởng của Mỹ đã dần tăng tốc, bất chấp đám mây đen từ bất đồng chi tiêu ngân sách của Chính phủ, kinh tế châu Âu nói chung và khu vực đồng Euro nói riêng đã hồi phục mặc dù với tốc độ rất chậm, Nhật Bản lần đầu tiên thoát khỏi tình trạng giảm phát sau 15 năm và Trung Quốc duy trì được đà tăng trưởng Trên thị trường tiền tệ, giá cả các đồng tiền chính như Đô-la Mỹ, Yên Nhật
và đồng Euro có nhiều biến động không ngừng, nhưng luôn theo một xu hướng nhất định phù hợp với thay đổi chính sách kinh tế, tài chính – tiền tệ tại các khu vực Thị trường chứng khoán có một năm sôi động, trái ngược với thị trường vàng lao dốc
trong suốt năm 2013[1].Bước sang một giai đoạn chuyển đổi mới, bức tranh kinh tế
thế giới năm 2014 có vẻ sáng sủa hơn khi những nỗ lực trong việc điều hành chính sách kinh tế của các quốc gia phần nào đạt được kết quả mong muốn; kinh tế thế giới từ nay đến năm 2015 có triển vọng phục hồi khá, với sự phục hồi của phần lớn các nền kinh tế dẫn dắt đà tăng trưởng của kinh tế thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản,… chủ yếu dưới các lĩnh vực thương mại và đầu tư Môi trường kinh tế năm
2014 với nhiều biến động và có thuận lợi hơn so với năm 2013, tuy nhiên tăng trưởng còn chậm, không ổn định và mất cân đối Đến năm 2015 nền kinh tế thế giới chứng kiến một bức tranh đầy màu sắc dưới tác động của các sự kiện nổi bật như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất, những biến động trên thị trường tài chính - tiền tệ Trung Quốc… Tuy nhiên nền kinh tế toàn cầu trong năm 2015 nhìn
Trang 64
chung còn tăng trưởng chậm.Theo đánh giá mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB - tháng 01/2016), kinh tế thế giới trong năm 2015 có xu hướng tăng trưởng chậm lại với tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ mức 3,4% trong năm 2014 xuống còn 3,1%
trong năm 2015 [2].Ngày 23/6/2016, cuộc trưng cầu dân ý về việc nước Anh rời
khỏi EU (Brexit) sau hơn 40 năm” cùng chung một mái nhà chung” là một trong những sự kiện gây chấn động thế giới Vì vậy đã tạo ra hàng loạt thay đổi lớn trong nền kinh tế không chỉ của EU, Anh Quốc mà còn cả thế giới Trên thị trường tiền
tệ, đồng bảng Anh, đồng Euro và các đồng nhân dân tệ đều giảm giá; ngược lại các ngoại tệ an toàn hơn như USD và yên Nhật lại tăng giá Thị trường chứng khoán toàn cầu cũng sụt giảm mạnh 2,08 nghìn tỷ USD trong phiên giao dịch ngày
24/6/2016 [3] Khác hẳn với những thay đổi lớn trong nền kinh tế toàn cầu năm
2016, năm 2017 là năm khá thuận lợi đối với nền kinh tế EU bất chấp những bất ổn chính trị tại khu vực Theo quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) cho biết, sự phục hồi của Châu
Âu rất mạnh, sự phục hồi này đã lan ra khắp thế giới, làm cho khu vực này trở thành
“ động cơ” của tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu [4] Năm 2017, kinh tế
thế giới hồi phục mạnh mẽ nhờ tiêu dùng cá nhân tăng, sự phát triển bền vững của đầu tư toàn cầu, giá dầu thế giới hồi phục mạnh mẽ,…Một thập niên sau cuộc khủng hoảng tài chính làm rung động cả thế giới, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên toàn cầu đã bắt đầu có đà hồi phục, kinh tế thế giới năm 2017 đã thực sự khởi sắc Bước sang 2018, kinh tế toàn cầu lại có nhiều biến động Bức tranh kinh tế toàn cầu vào năm 2018 kém tươi sáng hơn do bị tác động bởi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, nội bộ châu Âu bị chia rẽ, các cuộc xung đột địa-chính trị vẫn đang tiếp diễn,…đã khiến cục diện kinh tế toàn cầu bị đảo lộn Sóng gió trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung ảnh hưởng tiêu cực đến đà đi lên của kinh tế thế giới Tại khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu , do những tác động căng thẳng thương mại với Mỹ, cùng sự chia rẽ ngày càng sâu sắc khiến Châu
Âu phải đối mặt với nhiều bộn bề và lo âu Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình năm 2018 của Eurozone ước đạt có 2% Còn đối với các nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng không đồng đều, một số nền kinh tế vẫn phải đối mặt với sức ép và rủi
Trang 75
ro nhất định Dưới ảnh hưởng của các nhân tố không xác định như tình hình thương mại toàn cầu có xu hướng bị thu hẹp, rủi ro địa-chính trị,…đã làm nảy sinh ảnh hưởng nhất định đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2018
1.2.Bối cảnh kinh tế trong nước giai đoạn 2013-2018
Năm 2013 là một năm đánh dấu đầy biến động của nền kinh tế Việt Nam Đây là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, có tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Năm 2013 là năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát theo đúng mục tiêu đề ra của Quốc hội và Chính phủ qua đó giúp ổn định kích tế vĩ mô và kích thích tăng trưởng kinh tế Từ mức 18,13% năm 2011, Việt Nam đã đưa chỉ số CPI xuống còn 6,04% năm 2013, thấp nhất so
với 10 năm trước đó [5] Bên canh đó dự trữ ngoại hối, mức độ rủi ro tín dụng quốc
gia dần được cải thiện; xuất khẩu tăng ở mức cao nhờ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài;…Năm 2014, sản xuất kinh doanh trong nước chịu áp lực từ những bất ổn về kinh tế và chính trị thị trường thế giới do sự phục hồi chậm sau suy thoái toàn cầu, cùng khó khăn từ những năm trước chưa được giải quyết triệt để như sức ép nợ xấu còn nhiều; năng lực quản lý và cạnh tranh của doanh nghiệp còn nhiều yếu kém; hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm; Tuy nhiên được sự chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, cùng sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và các địa phương nên kinh tế nước ta năm 2014 có nhiều chuyển biến tích cực như tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 tăng5,98% so với năm 2013, mức tăng trưởng năm
2014 cao hơn mức tăng 5,42% của năm 2013 đã cho thấy dấu hiệu khá tích cực của
nền kinh tế [6] Năm 2015 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam khi đã hoàn tất đàm phán hàng loạt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Mặc dù phải đối mặt với những diễn biến bất lợi của nền minh tế thế giới, song năm 2015 khép lại kinh tế Việt Nam vẫn có những điểm sáng đáng chú ý như tín hiệu tích cực từ tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt 6,68% cao nhất kể từ năm 2008, khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng tiếp tục
là thành tố quan trong đóng góp cho sự cải thiện của tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2015, Bước sang năm 2016, nền kinh tế Việt Nam bị suy giảm trong
Trang 8năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,75 như đã đề ra [7] Nhưng trong bối
cảnh kinh tế thế giới không thuận lợi, giá cả và thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết và môi trường thì đạt được mức tăng trưởng trên đã là một thành công So với năm 2016 tăng trưởng không như kỳ vọng, năm
2017 kinh tế Việt Nam cho thấy một dấu hiệu khởi sắc hơn với mức tăng trưởng đạt 6,81% , vượt chỉ tiêu do Quốc Hội đề ra đây cũng là mức tăng trưởng cao nhất đến năm 2017 Ngoài ra lạm phát còn được kiềm chế ở mức thấp dưới 4% Năm 2017 khép lại đánh dẫu những kỷ lục về tăng trưởng kinh tế trong nước trong 10 năm đổ lại Năm 2018 kinh tế trong nước diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại cùng khó khăn của tình hình kinh tế khu vực và thế giới như: chiến tranh thương mại Mỹ-Trung ngày càng diễn biến phức tạp; công ty Samsung giảm sản lượng; Bên cạnh những vấn đề bất lợi của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam còn phải đối mặt với tình hình thời tiết diễn biến phức tạp tác động đến giá lương thực, thực phẩm; ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát; giải ngân vốn đầu tư công thấp Tuy còn nhiều khó khăn, thách thức song nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển biến ngày một tích cực hơn nhờ những giải pháp đồng bộ hiệu quả của Đảng, Quốc hội, Chính phủ cùng các cấp chính quyền Tăng trưởng GDP trong năm
2018 đạt mức kỷ lục 7,08% cao hơn mục tiêu 6.7% do Quốc hội đề ra và cũng cao
hơn mọi dự báo [8] Chất lượng tăng trưởng và môi trường đầu tư kinh doanh cũng
dần được cải thiện, ngày càng nhiều doanh nghiệp mới được thành lập Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm dần; an sinh xã hội đã được quan tâm thực hiện nhiều hơn
Trang 97
2 Giới thiệu sơ lược về công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk
2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk
Công ty cổ phần sữa Việt Nam, tên gọi khác:Vinamilk có tiền thân là công ty sữa – Cafe miền Nam,được thành lập ngày 20 tháng 8 năm 1976 Công ty hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm từ sữa tại Việt Nam Với vị thế của một thương hiệu lớn trong những năm qua Vinamilk luôn khẳng định
vị trí và vai trò dẫn đầu trong ngành sữa Việt Nam, với điểm tiếp cận người tiêu dùng vượt qua mọi đối thủ ở cả thành thị và nông thôn Nhiều năm liên tiếp Vinamilk luôn nằm trong top 50 thương hiêu có giá trị cao nhất tại Việt Nam, top
200 công ty có doanh thu trên 1 tỷ đô tốt nhất Châu Á Thái Bình Dương do tạp chí
Forbes Châu Á công bố ngày 29 /8/2019 [9] Vinamilk hiện đang chiếm lĩnh 54,5% thị phần sữa nước, 40,6% thị phần sữa bột, 33,9% thị phần sữa chua uống, 84,5% thị phần sữa chua ăn và 79,7% thị phần sữa đặc trên toàn quốc Vinamilk luôn xem việc thiết lập được hệ thống phân phối sâu và rộng như xương sống cho chiến lược kinh doanh dài hạn của mình Ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới hơn 220.000 điểm bán hàng phủ đều 64 tỉnh thành, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang 50 quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông, Đông Nam Á… Sau hơn 40 năm ra mắt người tiêu dùng, đến nay Vinamilk không ngừng đổi mới công nghệ; đầu tư cơ sở hạ tầng, dây chuyền máy móc thiết bị; đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước Từ 3 nhà máy: nhà máy sữa Thống Nhất, nhà máy sữa Trường Thọ, nhà máy sữa bột Dielac đến nay Vinamilk đã xây dựng được
14 nhà máy sản xuất, 2 xí nghiệp kho vận, 3 chi nhánh văn phòng bán hàng, một nhà máy sữa tại Cambodia (Angkormilk) và một văn phòng đại diện tại Thái Lan
nước Tổng đàn bò sữa tại trang trại và các hộ chăn nuôi lên đến hơn 120.000 con,
cung cấp 850 tấn sữa tươi nguyên liệu một ngày, tương đương 3,2 triệu ly sữa [11]
Các trang trại của Vinamilk đều có quy mô lớn với toàn bộ giống bò được nhập từ
Úc, Mỹ và New Zealand Tại các hệ thống trang trại bò sữa Vinamilk trải dài khắp
Trang 108
Việt Nam đàn bò được chăm sóc trong môi trường tự nhiên với quy trình “Ba không” nghiêm ngặt: Không sử dụng hoocmon tăng trưởng, không dùng chất bảo quản và không dư lượng kháng sinh, thuốc trừ sâu Cùng với hệ thống các nhà máy sản xuất đạt chuẩn chất lượng quốc tế trải dài khắp Việt Nam, Vinamilk luôn đảm bảo việc nguồn sữa tươi nguyên liệu từ các trang trại được vận chuyển nhanh chóng đến các nhà máy chế biến, đảm bảo giữ trọn vị thơm ngon béo ngậy và các chất dinh dưỡng từ sữa trong các sản phẩm một cách tối ưu nhất Vì vậy, sau 43 năm phát triển, Vinamilk đã tạo lập được một thương hiệu rất uy tín và được người tiêu dùng trong và ngoài nước tin tưởng Hiện Vinamilk có hơn 250 sản phẩm với các ngành hàng chính: sữa nước; sữa chua; sữa bột Dielac Alpha và bột dinh dưỡng; sữa đặc
có đường; kem, phô mai; sữa đậu nành; nước trái cây và nước giải khát, cafe, Các sản phẩm đều đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế Vậy nên trong bối cảnh có trên
40 doanh nghiệp đang hoạt động, hàng trăm nhãn hiệu sữa các loại, trong đó có nhiều tập đoàn đa quốc gia, cạnh trang quyết liệt nhưng Vinamilk vẫn đứng vững và khẳng định vị trí dẫn đầu trên thị trường sữa Việt Nam Trong chiến lược phát triển của mình, Vinamilk không chỉ nỗ lực hoàn thành các mục tiêu tài chính mà còn kiên trì mục tiêu phát triển bền vững và có trách nghiệm đối với cộng đồng cùng sự phát triển bền vững của xã hội Trong 43 năm phát triển của mình, Vinamilk luôn đặt tâm huyết vào các hoạt động phát triển cộng đồng, đóng góp cho xã hội bên cạnh việc tập trung kinh doanh và sản xuất Dưới sự chủ trì của quỹ bảo hộ trẻ em Việt Nam trực thuộc Bộ LĐ-TB-XH, Vinamilk đã thành lập quỹ “Vươn cao Việt Nam” để giúp đỡ các em nhỏ có hoàn cảnh khó khắn trên cả nước Bên canh đó chương trình của quỹ vươn cao Việt Nam, Vinamilk còn là đơn vị tiên phong và thường xuyên triển khai các chương trình sữa học đường Đặc biệt, Vinamilk còn ủng hộ cho quỹ bảo trợ bệnh nhân nghèo hàng tỷ đồng để thực hiện các ca mổ tim bẩm sinh cho trẻ
em Cùng với đó Vinamilk còn ủng hộ người dân tại các vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, Có thể nói, với những thành quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng với những chương trình đầy ý nghĩa nhân văn với xã hội đang giúp Vinamilk có những bước đi vững chắc hơn và tạo lòng tin yêu đối với tiêu dùng
Trang 119
2.2 Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của công ty cổ phần sữa
Việt Nam – Vinamilk
Đại hội đồng cổ đông
GĐ kiểm soát
nội bộ và quản
lý rủi ro
GĐ điều hành hành chính nhân
sự
GĐ điều hành kinh doanh
GĐ điều hành Marketing
GĐ điều hành
dự án
GĐ điều hành chuỗi cung ứng
GĐ điều hành tài chính
GĐ điều
GĐ phát triển ngành hãng
GĐ đối ngoại
GĐ công nghệ thông tin
Trang 12có sự phát triển năng động đáp ứng với nhu cầu thị trường trong nước, từng bước thay thế các mặt hàng sữa nhập khẩu và tham gia xuất khẩu với sự đa dạng về mẫu
mã lẫn chủng loại Bên cạnh đó, ngành sữa hiện đã và đang đóng góp tích cực vào nền kinh tế của đất nước với mức tăng trưởng nhanh chóng, năm sau luôn cao hơn năm trước Giai đoạn 2010-2018 tốc độ tăngtrưởng bình quân của tổng doanh thu ngành sữa đạt 12.7%/năm, có tốc độ tăng trưởng cao nhất đối với sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc chăn nuôi Các nhà chuyên môn đánh giá rằng tiềm năng phát triển của thị trường sữa tại Việt Nam còn rất lớn Dự kiến đến năm 2020, mỗi người Việt sẽ sử dụng khoảng 28 lít sữa/năm Ngành sữa đang từng bước phát triển bền vững, theo hướng hiện đại, đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến thành phần, có khả năng cạnh tranh để chủ động hội nhập với khu vực và thế giới Hiện nay, Việt Nam
là một trong số ít các quốc gia tại Châu Á có xuất khẩu sữa Trong thời gian qua, ngành sữa Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tốt và năm 2018 ngành sửa đã tăng trưởng 9% so với năm 2017 Số liệu của Tổng cục Hải Quan cũng cho thấy trong giai đoạn gần đây từ 2016-2018, giá trị kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa liên tục tăng , từ 84,47 triệu USD năm 2016 tăng lên 82,65 triệu USD năm 2017 và 129,68 triệu USD năm 2018 Gía trị kim ngạch xuất khẩu trung bình cả giai đoạn 2016-2018 tăng trưởng 27,37%.Trong 3 tháng đầu năm 2019, giá trị kim ngạch xuất
khẩu đạt 48,6 triệu USD [12] Trong đó, các thị trường xuất khẩu chính là Trung
Quốc,Iraq, Philippines, Lào, Nhật Bản,UAE,Singapore, Ngành sữa Việt Nam trong những năm qua đã liên tục phát triển và phát triển theo đúng hướng Đặc biệt, vào ngày 26/4/2019 khi nghị định về xuất khẩu sữa cùng các sản phẩm về sữa của Việt Nam sang Trung Quốc đã được ký kết sẽ tạo cơ hội rộng mở cho thị trường sữa tại Việt Nam xuất khẩu vào thị trường hàng đầu thế giới với 1,420 triệu dân này
Trang 1311
(T8/2019) Tuy nhiên Việt Nam cũng phải đối mặt với thách thức lớn khi hiện nay sữa cùng các sản phẩm từ sữa của Úc và NewZealand đang chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa Trung Quốc Vì vậy, các doanh nghiệp cần tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn, có chứng nhận chất lượng quốc tế Đồng thời, cần đầu tư nghiên cứu sâu
để gắn sản xuất với nhu cầu và từng yêu cầu khắt khe của từng thị trường xuất khẩu Một trong những thương hiệu mà ngành chế biến sữa trong nước không thể không nhắc đến đó là Vinamilk-một trong những doanh nghiệp tiên phong của ngành sữa nội địa Việt Nam Với hệ thống sản xuất tự động khép kín từ đầu vào đến đầu ra;máy móc, trang thiết bị hiện đại; hệ thống kho thông minh, các nhà máy của Vinamilk được xem là nhà máy mega có công nghệ hiện đại bậc nhất thế với trong thời điểm hiện nay Có thể nói, đây không chỉ là niềm tự hào riêng của Vinamilk mà còn là bước đi được đánh giá là “rất ấn tượng” của ngành chế biến sữa Việt Nam nói chung, khi có được những nhà máy tầm cỡ thế giới và đúng đầu khu vực về công nghệ tiên tiến Cũng nhờ các nhà máy hiện đại mang tầm cỡ thế giới mà mỗi năm Vinamilk đã thu về được những thành quả đáng ngưỡng mộ
Hình 3: Doanh thu thuần của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk
trong 5 năm gần đây từ 2013 – 2018
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Trang 1412
Trong báo cáo thường niên của công ty trong 5 năm gần đây doanh thu thuần của Vinamilk luôn có xu hướng tăng năm sau luôn cao hơn năm trước Chỉ tính riêng doanh thu thuần năm 2018 dù vẫn gặp nhiều khó khăn nhưng kết quả kinh doanh của Vinamilk vẫn cho thấy những kết quả khá ấn tượng khi đạt 52,561,950 triệu đồng tăng gần 3% so với năm 2017 và gần 70% so với năm 2013 Để có được thành công này, Vinamilk đã phải trải qua một quá trình không ngừng sáng tạo để cho ra thị trường những dòng sản phẩm phong phú, chất lượng; phù hợp với những đòi hỏi khắt khe của từng thị trường Những nỗ lực không ngừng của Vinamilk không chỉ được thể hiện thông qua sự có mặt tại khắp 64 vùng miền của tổ quốc mà còn có mặt tại 50 quốc gia, ở nhiều châu lục và khu vực như Mỹ, châu Âu, Châu Phi,Nam - Đông Nam Á và Trung Đông Đặc biệt các khu vực như Myanmar, Thái Lan và Đông Nam Á với nhu cầu về sữa ngày càng tăng; luôn được Vinamilk coi là các thị trường quan trọng tiềm năng trong chiến lược mở rộng ra quốc tế nói chung
và khu vực ASEAN nói riêng Với những dòng sản phẩm hữu ích chất lượng, thương hiệu Vinamilk ngày càng được người tiêu dùng trong và ngoài nước lựa chọn và tin dùng Điều này còn được minh chứng thông qua thị phần Vinamilk trong nước chiếm hơn 50% toàn ngành sữa và liên tục tăng trong nhiều năm qua, riêng năm 2018 tăng thêm 0,9% thị phần toàn ngành Năm 2018 cũng là năm chứng kiến nhiều sự hợp tác chiến lược của Vinamilk với những đối tác lớn như hợp tác với hãng hàng không Vietnam Airlines về chiến lược cùng phát triển thương hiệu vươn tầm quốc tế Cụ thể, các sản phẩm của Vinamilk được phục vụ trên các chuyến bay xuất phát từ Việt Nam của Vietnam Airlines, đảm bảo chất lượng để phục vụ cho hãng hàng không đạt chuẩn 4 sao quốc tế duy nhất tại Việt Nam Bên cạnh đó, Vinamilk còn hợp tác với bệnh viện Chợ Rẫy ( thành phố Hồ Chí Minh), công ty Dược Hậu Giang để tiếp tục nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm mới đem
lại lợi ích tối đa cho người tiêu dùng [13] Có thể thấy được Vinamilk đã có chiến
lược kinh doanh cực kỳ đúng đắn và hiệu quả khi chọn những đối tác uy tín giúp nâng vị thế của mình trên thị trường sữa và càng khẳng định hơn vị trí thương hiệu
số 1 của mình Vinamilk dự kiến tăng trưởng tự thân về sản lượng sẽ đạt 5%/ năm
Trang 1513
giai đoạn 2019-2021 Ngoài ra công ty ước tính hoạt động M&A tiềm năng đến năm
20121 sẽ mang thêm 6.000 tỷ đồng doanh thu, qua đón tổng doanh thu năm 2021 sẽ
đạt 70 nghìn tỷ đồng, so với gần 53 nghìn tỷ đồng năm 2018 [14] Tạp chí Forbes
châu Á lần đầu tiên công bố danh sách 200 công ty có doanh thu trên 1 tỷ đô tốt nhất châu Á Thái Bình Dương; trong đó, Vinamilk là công ty duy nhất của Việt Nam trong ngành thực phẩm được bình chọn vào danh sách này và “ sánh vai” cùng những tên tuổi lớn của nền kinh tế khu vực Theo danh sách này, Vinamilk đạt doanh thu hơn 2,2 tỷ USD, đứng thứ 4 xét về doanh số và thứ 2 về giá trị thị trường
với 9.076 tỷ USD trong 7 đại diện đến từ Việt Nam [15] Với gần 43 năm hình
thành và phát triển, với bản lĩnh mạnh dạn đổi mới cơ chế, đón đầu về áp dụng công nghệ mới, bản lĩnh đột phá, phát huy tính năng động và sáng tạo của tập thể cùng mạng lưới phân phối rộng khắp cả nước và sự kết hợp nhiều kênh phân phối hiện đại, quan hệ tốt với các nhà cung cấp, chủ động trong nguồn nguyên liệu đầu vào và lực lượng khách hàng tiềm năng và có nhu cầu lớn đã giúp Vinamilk vươn cao, trở thành điểm sáng cho nền kinh tế Việt Nam
4 Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk trong 5 năm gần đây (2013-2018)
4.1 Bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần sữa Việt Nam từ năm 2013 – 2018 Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần: tài sản và nguồn vốn
+ Phần tài sản phản ánh quy mô và cơ cấu các loại tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng tài sản về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài, gắn với mục đích thu được các khoản lợi nhuận
+ Phần nguồn vốn cho thấy trách nghiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đăng ký kinh doanh với Nhà nước, số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay
Trang 1614
ngân hàng, vay đối tượng khác, cũng như trách nghiệm phải thanh toán với người lao động, các cổ đông, ngân sách,
Bảng 4.1:Bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần sữa Việt Nam từ 2013-2018
a) Tài sản Đơn vị: Triệu đồng
Trang 17Dựa vào bảng 4.1, nhìn chung tổng tài sản của Vinamilk từ năm 2013 đến
2018 đã có sự thay đổi đáng kể và phát triển theo một chiều hướng tích cực
Nguyên nhân là do:
+ Nhìn chung tài sản ngắn hạn của Vinamilk có xu hướng tăng qua các năm khi năm 2018 tăng 1,24% so với năm 2017 và tăng 5,8% so với năm 2013 đã cho thấy được công ty hoạt động ngày càng hiệu quả
+ Công ty đã tăng nhanh các khoản đầu tư ngắn hạn trong 5 năm liền với hơn
4 nghìn tỷ đồng từ năm 2013 đến năm 2018 ; giúp giải quyết tốt các nhiệm vụ cũng như kế hoạch trước mắt
Trang 1816
+ Tổng tài sản ngắn hạn được đầu tư nhiều hơn so với tài sản dài hạn bảo đảm cho khả năng chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của Vinamilk ngày càng tốt hơn + Hàng tồn kho liên tục tăng trong 5 năm gần đây do nhu cầu sử dụng sữa của người dân ngày càng tăng và với một thương hiệu uy tín như Vinamilk rất nhiều khách hàng đã tin dùng và đặt hàng với số lượng lớn Vì vậy mà công ty phải dự trữ một lượng hàng tồn kho để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của thị tường Tuy nhiên khi dự trữ một lượng hàng tồn kho lớn đồng nghĩa với việc công ty phải chịu nhiều chi phí kho; hơn nữa các mặt hàng công ty đều là mặt hàng tiêu dùng dùng ngay vì thế mà khó bảo quản trong thời gian dài sẽ khiến sản phẩm có thể bị
hư hỏng hoặc qua hạn sử dụng Vì vậy công ty cần có những dự báo chính xác để phù hợp hơn với nhu cầu thị trường tránh sản xuất tràn lan bừa bãi gây lãng phí hoặc thiếu hàng khi nhu cầu thị trường tăng đột ngột sẽ khiến công ty bị mất khách hàng và có thể bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần
+ Cũng chính sự tăng vọt của tài sản dài hạn khi năm 2018 tăng 17,03% so với năm 2017 và gần 71% so với năm 2013 đã cho chúng ta thấy được khả năng kinh doanh nhạy bén, thông minh của công ty trong lĩnh vực đầu tư vào các dự án trong thời gian tới
+ Tổng tài sản của Vinamilk cũng tăng theo từng năm ; năm 2018 tăng 7,78%
so với năm 2017 và tăng 63,35% so với năm 2013
Từ các số liệu trên đã chứng tỏ Vinamilk đã mạnh dạn trong việc đầu tư nhiều vào dây truyền sản xuất, trang thiết bị hiện đại, xây dựng nhiều nhà máy đạt chuẩn quốc tế, và ngày càng chú trọng gia tăng sản xuất, kinh doanh và cho ra đời nhiều sản phẩm chất lượng cùng độ dinh dưỡng cao phù hợp với mọi độ tuổi để chủ động thích ứng với sự đòi hỏi khắt khe của thị trường trong và ngoài nước; để phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
b) Nguồn vốn
Đơn vị: Triệu đồng
NGUỒN Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Trang 19v Dựa vào bảng số liệu trên của công ty đã cho ta thấy:
+ Nợ ngắn hạn giai đoạn 2017-2018 tăng lên so với giai đoạn từ 2013-2016; nhưng nợ dài hạn năm 2018 lại giảm xuống Nguyên nhân là trong giai đoạn 2017-
2018 có sự tăng tỷ trọng phải trả cho thuế, người lao động,các khoản phải trả nhà nước, Mặc dù trong tổng nợ đa phần là nợ ngắn hạn sẽ giúp công ty phải chịu ít chi phí sử dụng hơn so với việc sử dụng nợ dài hạn; tuy nhiên nếu sử dụng quá nhiền nguồn vốn ngắn hạn có thể khiến việc huy động vốn vay ngắn hạn tăng áp lực về thanh toán và rủi ro tài chính cao và một phần ảnh hưởng không nỏ tới khả năng sinh lời của công ty
+ Biến động nguồn vốn chủ sở hữu trong giai đoạn 2017-2018 có xu hướng giảm so với các năm trước đó, cụ thể năm 2017 là 68,86%; năm 2018 là 70,3%; năm
2013 là 76,7%; năm 2016 là 76,2% Nguồn vốn chủ sở hữu giảm chủ yếu là do việc giảm thặng dư vốn cổ phần Ngoài ra cũng có một số chỉ tiêu khác như tăng các quỹ
dự trữ tài chính, tăng quỹ đầu tư phát triển,
+ Công ty đã có một sự tăng trưởng nguồn vốn rõ rệt qua các năm trong 5 năm liền từ 2013 - 2018 nguồn vốn của Vinamilk tăng trưởng mạnh mẽ khi tăng gần
Trang 20Qua việc phân tích các dữ liệu trong bảng cân đối kế toán có thấy được mức
độ tự chủ về tài chính của Vinamilk ngày càng ổn định hơn và độ rủi ro công ty cũng thấp do cơ cấu nguồn vốn đa số là vốn chủ sở hữu.Tuy nhiên việc sử dụng quá nhiều vốn chủ sở hữu hoặc quá ít nợ có thể gây lãng phí vốn Do đó Vinamilk cũng cần điều chỉnh cơ cấu vốn sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình
4.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sữa Việt Nam - Vinamilk thông qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 5 năm gần đây
Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một niên độ kế toán, dưới hình thức tiền tệ Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh 4 nội dung cơ bản: doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý, lãi lỗ Số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về phương thức kinh doanh trong một thời kỳ và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh của công ty mang lại lợi nhuận hay lỗ vốn, đồng thời còn phản ánh tình hình
sử dụng tiềm năng về vốn, kỹ thuật, lao động và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng 4.2: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần sữa Việt Nam –Vinamilk Đơn vị : Triệu đồng
Vinamilk Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Doanh thu 31,586,007 35,703,776 40,222,600 46,965,003 51,134,899 52,629,230