Có sự định hình cơ bản lại ngành sữa của EU với dự đoán là vào năm 2015 sẽ loại bỏ hạn ngạch sản xuất, điều mà dự kiến sẽ dẫn đến một số biến động trong cung ứng Những thay đổi khác tron
Trang 2Hệ thống bảng biểu đồ sử dụng trong bài tiểu luận
1 Sơ 1.4 đồ Cấu trúc bộ máy quản trị của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam VINAMILK 8
2 Biểu đồ 2.2.1 Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm giai đoạn 2013-2018 15
3 Biểu đồ 2.2.2.1 Thước đo uy tín ngành Thực phẩm-đồ uống 15
4 Biểu đồ
2.2.2.2 Mức doanh thu ngành sữa Việt Nam giai đoạn 2014- 2017 16
5 Bảng 3.1.1 Khả năng sinh lời trên tài sản giai đoạn 2014-2018 18
6 Bảng 3.1.2 Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu giai đoạn 2014-2018 19
7 Bảng
3.2.1 Vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2014-2018 20
8 Bảng 3.2.2 Các chỉ số tài sản và doanh thu giai đoạn 2014-2018 21
9 Biểu đồ 3.2.2 Vòng quay TSCĐ và Vòng quay TS giai đoạn 2014-2018 22
10 Biểu đồ
3.3 Chỉ số thanh toán dài hạn Vinamilk giai đoạn 2014-2018 23
11 Bảng 3.4.1 Nhóm chỉ số thanh khoản giai đoạn 2014-2018 24
12 Bảng
3.4.2: Giá trị thuộc nhóm thanh khoản giai đoạn 2014-2018 24
13 Biểu đồ 3.4 Tỷ số thanh khoản hiện thời của Vinanmilk 25
Trang 3Mục lục
Hệ thống bảng biểu đồ sử dụng trong bài tiểu luận 2
I Khái quát chung về VINAMILK 4
1.1 Tổng quan 4
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 4
1.3 Chính sách, tầm nhìn, chiến lược 6
1.4 Hệ thống quản trị 7
II Tình hình kinh tế trong nước và quốc tế giai đoạn 2014-2018 8
2.1 Tình hình ngành sữa thế giới 8
2.1.1 Châu Âu 8
2.1.2 Mỹ 8
2.1.3 Trung Quốc 9
2.1.4 New Zealand 10
2.1.5 Australia 11
2.2 Những diễn biến kinh tế Việt Nam thời gian gần đây 11
2.2.1 Kinh tế Việt Nam 11
2.2.2 Tình hình ngành sữa Việt Nam 14
III Phân tích báo cáo tài chính công ty giai đoạn 2014-2018 16
3.1 Khả năng sinh lời 16
3.1.1 Khả năng sinh lời trên tài sản (ROA) 16
3.1.2 Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) 17
3.2 Nhóm chỉ số về hiệu quả hoạt động 18
3.2.1 Vòng quay hàng tồn kho 18
3.2.2 Vòng quay TS cố định và Vòng quay TS 20
3.3 Chỉ số thanh toán dài hạn 22
3.4 Nhóm chỉ số thanh khoản 23
3.5 Nhóm chỉ số tăng trưởng 24
3.6 Nhóm chỉ số giá trị thị trường 25
Kết luận: 27
Hệ thống tài liệu được sử dụng trong bài 29
Trang 4I Khái quát chung về VINAMILK
1.1 Tổng quan
Tên Tiếng anh : Vietnam Dairy Products Joint-Stock
Company
Địa chỉ trụ sở chính : 10 Tân Trào, phường Tân Phú, Quận 7,
Thành phố Hồ Chí Minh Người đại diện : Lê Thị Băng Tâm- Chủ tịch HĐQT
Mai Kiều Liên – Tổng giám đốc Giấy phép thành lập : 155/2003QĐ-BCN
Giấy phép kinh doanh số : 0300588569
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
- Ngày 20/08/1976, Vinamilk được thành lập dựa trên cơ sở tiếp quản 3 nhà máy sữa
do chế độ cũ để lại, gồm :
Trang 5+ Nhà máy sữa Thống Nhất (tiền thân là nhà máy Foremost)
+ Nhà máy sữa Trường Thọ (tiền thân là nhà máy Cosuvina)
+ Nhà máy sữa Bột Dielac (tiền thân là nhà máy sữa bột Nestle') ( Thụy Sỹ)
- Năm 1982, Công ty Sữa - Cà phê Miền Nam được chuyển giao về Bộ Công nghiệp Thực phẩm và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Sữa - Cà phê - Bánh kẹo I
- Tháng 03/1992, Xí nghiệp Liên hiệp Sữa - Cà phê - Bánh kẹo I chính thức đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam, trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ
- Ngày 01/10/2003, chính thức chuyển đổi và hoạt động dưới hình thức CTCP với tên gọi là CTCP Sữa Việt Nam
- Năm 2004: Mua thâu tóm CTCP Sữa Sài Gòn (là Nhà máy sữa Sài Gòn hiện nay)
- Ngày 19/01/2006: Niêm yết trên HOSE Thành lập Phòng khám An Khang tại TP.HCM
- Năm 2010: Vinamilk liên doanh với công ty chuyên sản xuất bột sữa nguyên kem tại New Zealand, đầu tư sang Mỹ và mở thêm nhà máy tại nhiều quốc gia (góp vốn 10 triệu USD vào công ty Miraka Limited, tương đương 19,3% VĐL) Nhận chuyển nhượng 100% vốn từ Công ty TNHH F&N Việt Nam và đổi tên thành Nhà máy sữa bột Việt Nam
- Năm 2014: Góp 100% vốn thành lập công ty con Vinamilk Europe Spostka Z Ograniczona Odpowiedzialnoscia tại Ba Lan
- Năm 2015: Vinamilk tăng cổ phần tại Công ty Sữa Miraka (New Zealand) từ 19,3% lên 22,8%
- Năm 2016: Mua nốt 30% cổ phần của công ty Driftwood của Mỹ, tăng sở hữu lên 100% Khánh thành Nhà máy Sữa Angkormilk tại Campuchia Chính thức ra mắt thương hiệu Vinamilk tại Myanmar, Thái Lan và mở rộng hoạt động ở khu vực ASEAN
- Năm 2017: Đầu tư vào ngành đường với việc nắm 65% cổ phần của CTCP Đường Việt Nam (tiền thân là CTCP Đường Khánh Hoà) và 25% góp vốn vào CTCP Chế Biến Dừa Á Châu
Trang 6- Giá trị cốt lõi: “Trở thành biểu tượng niềm tin hàng đầu Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng và sức khỏe phục vụ cuộc sống con người “:
- Chính trực: Liêm chính, Trung thực trong ứng xử và trong tất cả các giao dịch
- Tôn trọng: Tôn trọng bản thân, Tôn trọng đồng nghiệp, Tôn trọng Công ty, Tôn trọng đối tác, Hợp tác trong sự tôn trọng
- Công bằng: Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan khác
- Đạo đức: Tôn trọng các tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành động một cách đạo đức
- Tuân thủ: Tuân thủ Luật pháp, Bộ Quy Tắc Ứng Xử và các quy chế, chính sách, quy định của Công ty
- Triết lý kinh doanh: Vinamilk mong muốn trở thành sản phẩm được yêu thích ở mọi khu vực, lãnh thổ Vì thế chúng tôi tâm niệm rằng chất lượng và sáng tạo là người bạn đồng hành của Vinamilk Vinamilk xem khách hàng là trung tâm và cam kết đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng
- Chính sách chất lượng: Luôn thỏa mãn và có trách nhiệm với khách hàng bằng cách
đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm với giá cả cạnh tranh, tôn trọng đạo đức kinh doanh và tuân theo luật định
Trang 71.4 Hệ thống quản trị
Đại hội đồng cổ đông
Tiểu ban chiến
lược Tiểu ban nhân sự
Tiểu ban lương thưởng
Tiểu ban kiểm toán
Sơ đồ 1.4: Cấu trúc bộ máy quản trị của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam VINAMILK
ð Tổng kết: Từ năm 1976 đến nay, để có được tập đoàn VINAMILK như hiện nay VINAMILK đã trải qua vô cùng nhiều những biến cố đạt được những thành tựu to lớn được công nhân bằng Huân chương lao động hạng ba năm 1985, Huân chương lao động hạng Nhì năm 1991, Huân chương lao động hạng Nhất năm 1996, Danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000,… và gần đây nhất là Huân chương độc lập hạng Nhì năm 2010 Bằng sự nỗ lực từ Hội đồng cổ đông , ban giám đốc, VINAMILK đã ngày càng vươn xa ra thế giới
Trang 8II Tình hình kinh tế trong nước và quốc tế giai đoạn 2014-2018
2.1 Tình hình ngành sữa thế giới
2.1.1 Châu Âu
Đã có sự thay đổi các quy định trong ngành nông nghiệp (loại bỏ hạn ngạch và cải
cách của Chính sách Nông nghiệp chung – gọi là CAP) sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ hình
dạng tương lai của ngành nông nghiệp ở EU, và sự liên đới trong thương mại thế giới
Có sự định hình cơ bản lại ngành sữa của EU với dự đoán là vào năm 2015 sẽ loại
bỏ hạn ngạch sản xuất, điều mà dự kiến sẽ dẫn đến một số biến động trong cung ứng
Những thay đổi khác trong thời tiết khu vực - kết quả của biến đổi khí hậu được
dự đoán sẽ là một lợi thế cho châu Âu - đặc biệt là ở các khu vực có nhiều đồng cỏ nơi mà nhiệt độ nâng cao hơn sẽ giúp các nhà sản xuất sản xuất thức ăn
Các hợp tác xã lớn mong đợi tăng trưởng mạnh mẽ từ các nhà cung cấp cạnh tranh của họ Trong năm 2012 Rabobank đưa ra dự báo dự kiến có thêm 9 tỷ lít sữa có từ
EU từ năm 2010 đến năm 2016
2.1.2 Mỹ
Mỹ có một ngành sữa rộng lớn, với năng lực sản xuất mạnh mẽ trong bối cảnh thị trường nội địa có tính chu kỳ cao, nơi mà giá cho các sản phẩm sữa tăng lên - giảm xuống, chi phí sữa thô và thức ăn thô đã trở nên mạnh hơn và thường xuyên
Có tiêu hao đáng kể đang diễn ra và điều chỉnh trong ngành chăn nuôi bò sữa Mỹ Trong 20 năm qua, đã giảm đến 60% số trang trại, nhưng kích thước trung bình mỗi đàn đã nâng 140%
Trang 9Nhìn chung trang trại hoạt động sử dụng hệ thống sản xuất quanh năm với đặc điểm chi phí cố định - cao theo tiêu chuẩn Nam Úc, và đã có nghiệm là lợi nhuận biến động mạnh do chu kỳ thị trường
Mỹ đã tăng đáng kể sự tham gia của mình trong thị trường thế giới thông qua những nỗ lực hợp tác, trong đó có cả hỗ trợ giá nội trợ Có tiềm năng xuất khẩu đáng
kể về pho mát và sữa bột trong tương lai Xuất khẩu quan trọng đối với Hoa Kỳ đã trải thập kỷ tiêu thụ nội địa yếu hơn
Một thách thức chính cho ngành sữa của Mỹ là mối áp lực đè lên sự tiếp tục tăng trưởng xuất khẩu với các hạn chế tăng lên đối với tăng trưởng trong tương lai sản xuất sữa ở các vùng trọng điểm Những áp lực sẽ đến từ:
• Hệ thống sản xuất quy mô lớn đối mặt với chi phí thức ăn tăng, khi mà thị trường thức
ăn chăn nuôi thế giới trở nên chặt chẽ hơn và ổn định hơn theo thời gian
• Cạnh tranh sử dụng đất và nước mạnh hơn ở các bang phát triển về phía tây nam
• Các rào cản cho sự phát triển trang trại mới từ cộng đồng địa phương
• Khả năng chi trả theo quy định an toàn mạng cho các nhà sản xuất trong thời gian dễ biến động
2.1.3 Trung Quốc
Thị trường Trung Quốc đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng về nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đa dạng và phân khúc thị trường, và đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều so với việc mở rộng năng lực của ngành sữa địa phương Nó được thúc đẩy bởi sự sung túc tăng lên ở khiu vực đô thị
Các ngành sữa của Trung Quốc còn trẻ, phát triển nhanh chóng, tất cả các hãng chế biến được hình thành gần 20 năm trước Thị trường tiêu dùng phát triển nhanh chóng của bất chấp an toàn thực phẩm, các vụ bê bối nghiêm trọng về chất lượng sữa
đã xẩy ra, gây ảnh hưởng lâu dài đến các phân đoạn thị trường giá trị cao hơn đối với các sản phẩm sữa - đặc biệt là sữa uống và sữa bột
Trong phản ứng với thất bại chuỗi cung cấp, các nhà chế biến địa phương đang làm lại mô hình các chuỗi giá trị của họ, để tăng tỷ lệ cung cấp sữa được "kiểm soát"
Trang 10mà các nhà máy họ tiệm cận Chính phủ đang áp đặt chế độ an toàn thực phẩm nghiêm ngặt để xây dựng lòng tin với thương hiệu địa phương Trong khi lòng tin vào hàng hóa nội địa yếu đi, thì các thương hiệu nước ngoài có danh tiếng an toàn vẫn có nhu cầu, đặc biệt là ở thị trường thành phố
Chi phí sản xuất cao cũng như hạn chế nước và thức ăn sẽ tiếp tục tạo nên đối bất lợi cho ngành sản xuất sữa nội địa và như thế sẽ gây những hạn chế lớn đến khả năng của ngành sữa để đáp ứng nhu cầu trong tương lai
2.1.4 New Zealand
Sản xuất sữa của New Zealand tăng trưởng mạnh mẽ trong thập kỷ qua phần lớn
do được hỗ trợ bởi một nền văn hóa kinh doanh cố thủ, thứ đã tạo nòng cốt cho việc đặt trọng tâm vào việc tạo ra sự giàu có
Điều này đã thúc đẩy tăng trưởng trong các doanh nghiệp sữa hiện có, và cung cấp động lực cho chuyển đổi đất từ mục đích sử dụng khác vào sản xuất sữa
Sự thống trị sân chơi của một cầu thủ và một tầm nhìn xuất khẩu đã dẫn dắc ngành này Các cách thức thay thế nhỏ khác cho thị trường đang trên đường phát triển nhằm cung cấp thêm những lựa chọn mới cho các nhà sản xuất
Không như thứ ngôn ngữ được dùng trong lĩnh vực sản xuất của ngành này ở
Úc, ở đây có rất ít cuộc thảo luận về giá sữa – mà ngôn ngữ tập trung vào tính bền vững của việc tạo ra sự giàu có đầy đủ thông qua đầu tư và thực hành tốt hơn
Có nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng của hạn chế đó Rabobank cho
là tăng trưởng trong quá khứ đó sẽ không lặp lại trong năm 2012 đã qua và rằng ngay
cả tốc độ tăng trưởng 2-3 năm theo dự kiến của Fonterra sẽ là một thách đố
Những biện pháp để tăng hiệu suất đất đai và bò sữa sẽ được thêm vào chi phí sản xuất, đặc biệt là ở các doanh nghiệp vùng South Island Điều này có thể gây hại đến khả năng của các nhà sản xuất quản lý biến động thị trường dự kiến
Trang 112.1.5 Australia
Ngành công nghiệp sữa của Australia nằm ở ngã tư đường, nó đã không phát triển như một ngành vốn lừng danh trong thập kỷ qua Những mùa nghèo cắt đi năng lực, nhưng tính không chắc chắn càng ngày càng trở nên tồi tệ bởi khả năng và thái độ của chính chúng ta
Do khí hậu và biến động thị trường, ngành sữa đã - phải đối mặt với một bộ ngày càng phức tạp của vấn đề quản lý và kỹ thuật trang trại Trong khi chúng ta đang đầu
tư để xem xét các vấn đề, thì nói chung chúng ta đã mất đi khả năng quản lý thành công và phát triển sự giàu có trên trang trại bò sữa theo thời gian thông qua các chu
kỳ hàng hóa không thể tránh khỏi Ngành sữa đã nêu bật những thách thức, nhưng chưa đưa ra được các giải pháp toàn ngành hiệu quả Chiều theo những người không phải là đầu bảng, ngành sữa đã không kỷ niệm thắng lợi, điều này gây hạn chế tới sức hấp dẫn của ngành sữa như một nơi để làm việc và đầu tư
Thay vì nhìn thấy cơ hội trong biến động để thu hoạch cái cao và chế ngự cái thấp, một mối quan tâm ngắn hạn với rủi ro đã cản trở các khả năng ứng phó với một thị trường sữa ngày càng tăng
Các hạn chế cung cấp sữa đã dẫn đến thiếu đầu tư công nghệ và quy mô trong các nhà máy sữa của chúng ta – và kết quả ngành sữa Australia là không đủ sức cạnh tranh trong chuỗi cung ứng của chúng ta Ngành sữa hoạt động mô hình manh mún, cạnh tranh, với nhà máy nhỏ, chi phí cao so với chuẩn thế giới, và hạn chế kết hợp với kinh doanh của khách hàng
2.2 Những diễn biến kinh tế Việt Nam thời gian gần đây
2.2.1 Kinh tế Việt Nam
Môi trường bên ngoài đã trở nên kém lạc quan và bất định hơn Tăng trưởng GDP toàn cầu theo giá so sánh dự kiến sẽ giảm nhẹ từ 3% theo dự báo cho năm 2018 xuống 2,9% cho năm 2019 và 2,8% cho năm 2020 do tác động của các hoạt động kinh tế bị chững lại, các ngân hàng trung ương rút dần chính sách tạo thuận lợi, tăng trưởng
Trang 12thương mại và đầu tư toàn cầu suy giảm khi căng thẳng gia tăng trong cuộc chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế lớn Sau khi đạt đỉnh 6,6% vào năm 2017, tăng trưởng GDP ở các nền kinh tế mới nổi tại Đông Á và Thái Bình Dương dự kiến sẽ giảm nhẹ từ 6,3% theo dự báo cho năm 2018 xuống 6,0% cho cả hai năm 2019 và
2020, chủ yếu do giảm xuất khẩu trong điều kiện căng thẳng thương mại tăng lên và
đà phát triển kinh tế của Trung Quốc chững lại
Mặc dù điều kiện bên ngoài không thuận lợi như trước nhưng tăng trưởng của Việt Nam vẫn đứng vững với sự hỗ trợ bởi sức cầu mạnh trong nước kết hợp với sự năng động của các ngành chế tạo, chế biến theo định hướng xuất khẩu Tăng trưởng GDP theo giá so sánh của Việt Nam vẫn giữ mốc 7% (so cùng kỳ năm trước) đến tận Quý
3, 2018 Các ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 8,9%, nhờ thành tích tăng trưởng sáng lạng ở mức 12,9% trong các ngành chế tạo, chế biến Bên cạnh đó là mức tăng trưởng 3,7% trong ngành nông nghiệp nhờ sức cầu bên ngoài tuy giảm đà nhưng vẫn ở mức cao Ngành dịch vụ tăng trưởng ở mức 6,9% do du lịch và tiêu dùng tư nhân vẫn phát triển tốt Sức cầu trong nước vẫn mạnh, được phản ánh qua đầu tư và tiêu dùng tư nhân tiếp tục đứng vững và được sự tiếp sức bởi mức lương cao hơn, chính sách tiền tệ tạo thuận lợi và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn đổ vào mạnh mẽ
Mặc dù các cán cân kinh tế đối ngoại vẫn thặng dư nhưng các thị trường trong nước bắt đầu cảm nhận tác động lan tỏa do biến động tài chính toàn cầu tăng lên trong nửa cuối năm 2018 Thặng dư tài khoản vãng lai dự kiến vẫn được duy trì ở mức 2,2% GDP trong năm 2018, tương đương năm 2017 Lưu lượng thương mại tuy chững lại, nhưng tăng trưởng nhập khẩu giảm với tốc độ lớn hơn so với xuất khẩu Đồng nội tệ bắt đầu phải chịu áp lực từ tháng 6/2018 do căng thẳng thương mại toàn cầu tăng lên
và các đồng tiền trên toàn Châu Á yếu đi, dòng tiền thoái vốn tăng lên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ứng phó bằng cách cho phép đồng nội tệ hạ giá từng bước, giảm khoảng 2,7% so với đồng đô-la Mỹ theo tỷ giá danh nghĩa (tính từ đầu năm) Mặc dù vậy, tỷ giá thực đa phương (REER) tiếp tục tăng lên đến khoảng 2,5% (tính từ đầu năm), có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam
Trang 13Tuy ít phải chịu nguy cơ về biến động dòng vốn khiến cho tác động lan tỏa tức thời của biến động toàn cầu chỉ ở mức hạn chế, nhưng Việt Nam cũng đã trải qua một số xáo trộn khi thị trường chứng khoán điều chỉnh tới 10% vào tháng 10
Chính sách tiền tệ vẫn theo hướng tạo thuận lợi, nhưng điều kiện tín dụng đã bị thắt lại trong nửa sau năm 2018 trong điều kiện lạm phát tăng nhẹ Chỉ số giá tiêu dùng nhích dần trong năm 2018 đến tháng 10, chủ yếu do tăng giá thuộc diện nhà nước quản lý, nhưng vẫn ở mức vừa phải là 3,6% (so cùng kỳ năm trước) NHNN đã
hạ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của khu vực ngân hàng và đặt ra hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Lãi suất liên ngân hàng tăng lên và đến nay
đã song hành với lãi suất chiết khấu Kết quả là tăng trưởng tín dụng của năm tính đến tháng 10 hạ nhiệt còn bình quân 15% (so cùng kỳ năm trước), từ mức 18.6% cùng
kỳ năm 2017 Nhưng tỷ lệ tín dụng trên GDP vẫn cao, ở mức 136% trong Quý 3,
2018
Bội chi ngân sách giảm xuống giúp kiềm chế nợ công tăng lên Theo số liệu sơ bộ đến Quý 3, 2018, bội chi ngân sách dự kiến rơi vào khoảng 4% GDP trong năm 2018, thấp hơn so với mức 4,3% năm 2017 Duy trì chính sách tài khóa kiềm chế và hạn chế cấp bảo lãnh của nhà nước cũng là cách để đảm bảo tuân thủ với hạn mức nợ công theo luật định là 65% GDP ĐIỂM LẠI Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam
Hoạt động kinh tế khởi sắc hơn đã tiếp sức tạo việc làm và tăng lương thực tế Mức lương thực tế tăng 3,2% trong nửa đầu năm 2018 (so cùng kỳ năm trước) Số liệu thất nghiệp theo báo cáo chính thức vẫn được giữ nguyên ở mức 2,2% đến Quý
3, 2018, ngang bằng so với 2017, còn tỷ lệ khiếm dụng lao động giảm nhẹ xuống 1,5% trong cùng kỳ, so với 1,6% năm 2017
Tuy đã có những tiến triển về cải thiện môi trường kinh doanh, nhưng thứ hạng của Việt Nam trong báo cáo Môi trường kinh doanh thuận lợi năm 2019 lại bị rớt xuống thứ 69 trên 190 nền kinh tế, so với thứ 68 vào năm ngoái Điều này cho thấy nhu cầu phải bắt kịp với tiến độ cải cách ở các quốc gia khác để duy trì năng lực cạnh
Trang 14tranh Nhưng dù sao, Việt Nam cũng đã có những cải thiện cụ thể trong một số nội dung, như thành lập doanh nghiệp
Biểu đồ 2.2.1: Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm giai đoạn 2013-2018
2.2.2 Tình hình ngành sữa Việt Nam
Biểu đồ 2.2.2.1: Thước đo uy tín ngành Thực phẩm-đồ uống
0 1 2 3 4 5 6 7
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
Thực
phẩm
tưới
sống (VIS
17.2
22.4 16.4 11.6
34.3 29.2 32.5
41.8 45.3
23.1