iii CÁC TỪ VIẾT TẮT AHP Analytical Hierarchy Process Phương pháp Phân tích thứ bậc Bộ NN&PTNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn BVTV Bảo vệ thực vật CBA Cost-Benefit Analysis Phân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỖ THỊ TÀI THU
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỖ THỊ TÀI THU
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 9850101.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Trần Văn Tuấn
2 GS.TS Nguyễn Cao Huần
Hà Nội, 2019
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Đỗ Thị Tài Thu
Trang 4Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Khoa Địa lý, các thầy cô ở Khoa Địa lý, đặc biệt là Bộ môn Quản lý đất đai đã chỉ bảo, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận án
Tác giả gửi lời cảm ơn tới các thầy cô thuộc Khoa Địa chất, Khoa Môi trường, và Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,
đã giúp đỡ, hỗ trợ cho tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô, các nhà khoa học ở Viện Địa
lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Đại học Tài nguyên & Môi trường Hà Nội, Hội Địa lý Việt Nam, Tổng cục Quản lý đất đai, Hội Khoa học Đất,… đã góp ý, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cán bộ tại Sở Tài nguyên và Môi trường TP
Hà Nội; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quốc Oai; UBND huyện Quốc Oai; Phòng Kinh tế huyện Quốc Oai; các chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp,… đã cung cấp thông tin, tài liệu tham khảo giúp tác giả hoàn thành luận án
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè, những người đã luôn giúp đỡ, động viên, khuyến khích tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận án
Hà Nội, ngày 8 tháng 8 năm 2019
Tác giả luận án
Đỗ Thị Tài Thu
Trang 5iii
CÁC TỪ VIẾT TẮT
AHP Analytical Hierarchy Process (Phương pháp Phân tích thứ bậc)
Bộ NN&PTNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BVTV Bảo vệ thực vật
CBA Cost-Benefit Analysis (Phân tích chi phí – lợi ích)
CQNS Cảnh quan nhân sinh
ĐVĐĐ Đơn vị đất đai
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc) FESLM Framework for Evaluating Sustainable Land Management
(Khung đánh giá quản lý đất đai bền vững) GAP Good Agricultural Practices
(Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt) HTSDĐ Hệ thống sử dụng đất
IIASA International Institute for Applied Systems Analysis
(Viện phân tích hệ thống ứng dụng quốc tế) ITC
Faculty of Geo-Information Science and Earth Observation, University of Twente
(Khoa Khoa học Địa-Thông tin và Quan sát Trái đất, Đại học Twente) KHKT Khoa học kỹ thuật
KTST Kinh tế sinh thái
LHSDĐ Loại hình sử dụng đất
MUSLE Modified Universal Soil Loss Equation
(Phương trình mất đất phổ dụng điều chỉnh) LQIs Land quality indicators (Bộ chỉ thị chất lượng đất đai)
N – LN Nông – lâm nghiệp
PSR Pressure - State – Response (Áp lực – Hiện trạng – Đáp ứng)
PTBV Phát triển bền vững
PRA Participatory Rural Appraisal
(Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia)
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
RCFEE Research Centre for Forest Ecology and Environment
(Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng)
Trang 6iv
RUSLE Revised Universal Soil Loss Equation
(Phương trình mất đất phổ dụng hiệu chỉnh lại) SARD The Sustainable Agriculture and Rural Development
(Nông nghiệp bền vững và Phát triển nông thôn) TKNN Thiết kế nông nghiệp
TN&MT Tài nguyên và môi trường
UNDP United Nations Development Programme
(Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc) USDA United States Department of Agriculture
(Bộ nông nghiệp Mỹ) USBR United States Bureau of Reclamation
(Cục Khai hoang Mỹ) UNCED United Nations Conference on Environment and Development
(Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển) UNEP United Nations Environment Programme
(Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc) UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc) USLE Universal Soil Loss Equation (Phương trình mất đất phổ dụng)
WB World Bank (Ngân hàng Thế giới)
WAAE Wisconsin Association of Agricultural Educators
(Hiệp hội các nhà giáo dục nông nghiệp Wisconsin)
Trang 7v
MỤC LỤC
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN 4
6 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ 4
7 CƠ SỞ TÀI LIỆU THỰC HIỆN LUẬN ÁN 4
8 Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN 5
9 CẤU TRÚC LUẬN ÁN 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬNÁN 6
1.1.1 Hướng nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất 6
1.1.2.Hướng nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững 11
1.1.3.Hướng nghiên cứu về đánh giá hệ thống sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững 13
1.1.4 Hướng nghiên cứu có liên quan đến đánh giá đất và hệ thống sử dụng đất ở thành phố Hà Nội và huyện Quốc Oai 21
1.1.5 Nhận xét từ kết quả tổng quan, phân tích các công trình nghiên cứu 22
1.2 CƠSỞLÝLUẬN NGHIÊNCỨUĐÁNHGIÁHỆTHỐNGSỬDỤNGĐẤT CHO PHÁTTRIỂNNÔNGNGHIỆPBỀNVỮNGÁPDỤNGCHOHUYỆNQUỐCOAI 22
1.2.1 Hệ thống sử dụng đất – hệ thống tự nhiên và nhân tác 23
1.2.2 Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp – các cấp đơn vị phân loại và tính nhịp điệu mùa 24 1.2.3 Mô hình cấu trúc và chức năng của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 26
1.2.4 Phân vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 29
1.2.5 Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững 30
1.2.6 Xây dựng bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 32
1.2.7 Đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 34
1.2.8 Định hướng không gian và các giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững 40
1.3.QUANĐIỂM,PHƯƠNGPHÁPVÀQUYTRÌNHNGHIÊNCỨU 41
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 41
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
1.3.3 Quy trình nghiên cứu 47
TIỂUKẾTCHƯƠNG1 49
Trang 8vi
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 50
HUYỆN QUỐC OAI 50
2.1. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN QUỐC OAI 50
2.1.1 Các yếu tố tự nhiên 50
2.1.2 Các hoạt động nhân tác 63
2.2. ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN QUỐC OAI 70
2.2.1 Đơn vị đất đai 70
2.2.2 Loại hình sử dụng đất nông nghiệp 78
2.2.3 Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 81
2.3. PHÂN VÙNG HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN QUỐC OAI 84
2.3.1 Nguyên tắc và tiêu chí phân vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 84
2.3.2 Đặc điểm, cấu trúc, chức năng các tiểu vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 85
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 91
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CÁC HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤTNÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG HUYỆN QUỐC OAI 92
3.1. ĐÁNH GIÁ CÁC HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN QUỐC OAI 92
3.1.1 Xây dựng danh sách bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 92
3.1.2 Đánh giá Kinh tế - Sinh thái các loại hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 94
3.1.3 Phân tích các Áp lực – Hiện trạng – Đáp ứng ở các tiểu vùng hệ thống sử dụng đất 114
3.2. ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN QUỐC OAI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 127
3.2.1 Định hướng không gian sử dụng hợp lý hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 127 3.2.2 Giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp ở huyện theo hướng bền vững 139
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 161
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí lựa chọn các chị thị cho đánh giá nông nghiệp bền vững 12
Bảng 1.2 Các tiêu chí phân loại HTSDĐ huyện Quốc Oai 25
Bảng 1.3 So sánh đánh giá đất đai và đánh giá hệ thống sử dụng đất 28
Bảng 1.4 Số nông hộ được điều tra theo các HTSDĐ của huyện Quốc Oai 45
Bảng 1.5 Thang đo Likert 5 cấp độ 46
Bảng 1.6 Mức độ đánh giá các chỉ tiêu theo thang đo Likert 47
Bảng 2 1 Kết quả phân tích phẫu diện loại đất Pb tại bãi bồi ven sông Đáy 57
Bảng 2 2 Kết quả phân tích phẫu diện đất Pk tại xã Sài Sơn 57
Bảng 2 3 Kết quả phân tích phẫu diện đất Pg tại xã Nghĩa Hương 58
Bảng 2 4 Kết quả phân tích phẫu diện đất Pj 59
Bảng 2 5 Kết quả phân tích phẫu diện đất Fs tại xã Phú Mãn 60
Bảng 2 6 Kết quả phân tích phẫu diện đất Fp tại xã Phú Mãn 60
Bảng 2 7 Kết quả phân tích phẫu diện đất Fl tại xã Hòa Thạch 61
Bảng 2 8 Kết quả phân tích phẫu diện đất Fk 61
Bảng 2 9 Biến động diện tích đất nông nghiệp qua các năm (đơn vị: ha) 65
Bảng 2 10 Cơ cấu ngành kinh tế nông lâm nghiệp huyện Quốc Oai 65
Bảng 2 11 Giá trị sản xuất giai đoạn 2010- 2017 (đơn vị: triệu đồng) 66
Bảng 2 12 Các loại đá mẹ/mẫu chất hình thành đất ở huyện Quốc Oai 71
Bảng 2 13 Cơ cấu diện tích theo hình thái địa hình ở huyện Quốc Oai 71
Bảng 2 14 Cơ cấu diện tích các loại đất theo độ dốc ở huyện Quốc Oai 72
Bảng 2 15 Cơ cấu diện tích các loại đất ở huyện Quốc Oai 73
Bảng 2 16 Cơ cấu diện tích các loại đất theo tầng dày đất ở huyện Quốc Oai 73
Bảng 2 17 Cơ cấu diện tích các loại đất theo thành phần cơ giới ở huyện Quốc Oai 74
Bảng 2 18 Phân cấp chế độ tưới huyện Quốc Oai 75
Bảng 2 19 Phân cấp chế độ tiêu huyện Quốc Oai 75
Bảng 2 20 Các đơn vị đất đai huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 77
Bảng 2 21 LHSDĐ nông nghiệp chủ yếu của huyện Quốc Oai năm 2018 79
Bảng 2 22 Các tiểu vùng hệ thống sử dụng đất huyện Quốc Oai 90
Bảng 3 1 Danh sách bộ chỉ thị chất lượng đất đai áp dụng đối với huyện Quốc Oai 93 Bảng 3 2 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá các loại hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 95
Bảng 3 3 Ma trận chuẩn hóa và trọng số các chỉ tiêu thành phần của HTSDĐ chuyên lúa 97
Bảng 3 4 Ma trận chuẩn hóa và trọng số các chỉ tiêu thành phần của HTSDĐ lúa – cá 98 Bảng 3 5 Ma trận chuẩn hóa và trọng số các chỉ tiêu thành phần của HTSDĐ rau màu 98
Bảng 3 6 Ma trận chuẩn hóa và trọng số các chỉ tiêu thành phần của HTSDĐ cây ăn quả 98 Bảng 3 7 Ma trận chuẩn hóa và trọng số các chỉ tiêu thành phần của HTSDĐ chè 99
Bảng 3 8 Ma trận chuẩn hóa và trọng số các chỉ tiêu của HTSDĐ rừng 99
Bảng 3 9 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của HTSDĐ chuyên lúa 100
Trang 10viii
Bảng 3 10 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của HTSDĐ lúa - cá 101
Bảng 3 11 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của HTSDĐ rau màu 102
Bảng 3 12 Kết quả mức độ thích nghi sinh thái của HTSDĐ cây ăn quả lâu năm 102
Bảng 3 13 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của HTSDĐ chè 104
Bảng 3 14 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của HTSDĐ lâm nghiệp 104
Bảng 3 15 Kết quả tổng hợp diện tích thích nghi sinh thái hiện tại (đơn vị %) 105
Bảng 3 16 Kết quả tổng hợp diện tích thích nghi sinh thái tương lai (đơn vị %) 106
Bảng 3 17 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các HTSDĐ nông nghiệp 107 Bảng 3 18 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các HTSDĐ nông nghiệp 109
Bảng 3 19 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội HTSDĐ nông nghiệp 110
Bảng 3 20 Đánh giá hiệu quả xã hội của các HTSDĐ nông nghiệp 110
Bảng 3 21 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường huyện Quốc Oai 110
Bảng 3 22 Tình hình sử dụng trung bình một số loại thuốc bảo vệ thực vật ở huyện 112 Bảng 3 23 Đánh giá hiệu quả môi trường của các HTSDĐ 112
Bảng 3 24 Tổng hợp chung kết quả đánh giá của các HTSDĐ nông nghiệp 113
Bảng 3 25 Chỉ số bền vững của các HTSDĐ nông nghiệp 113
Bảng 3 26 Chỉ số bền vững của các HTSDĐ ở các tiểu vùng (đơn vị:%) 114
Bảng 3 27 Mức độ sử dụng đất nông nghiệp một số năm của huyện Quốc Oai 115
Bảng 3 28 Cường độ canh tác đất nông nghiệp của huyện Quốc Oai từ 2008 - 2018, dự báo đến năm 2020 (tiếp) 116
Bảng 3 29 Áp lực từ các yếu tố tự nhiên đến HTSDĐ nông nghiệp 117
Bảng 3 30 Áp lực đến HTSDĐ nông nghiệp từ các yếu tố kinh tế - xã hội 118
Bảng 3 31 Áp lực tới các HTSDĐ nông nghiệp từ những chính sách của nhà nước 119 Bảng 3 32 Biến động độ pH và hàm lượng hữu cơ trong đất ở khu vực nghiên cứu 120 Bảng 3 33 Mức độ thay đổi trong chất lượng và môi trường đất 121
Bảng 3 34 Mức độ thay đổi sử dụng đất của các HTSDĐ trên các tiểu vùng 121
Bảng 3 35 Mức độ thay đổi các đặc trưng về kinh tế - văn hóa – xã hội 122
Bảng 3 36 Mức độ hiệu quả của các giải pháp truyền thống trong canh tác ở huyện 123
Bảng 3 37 Mức độ hiệu quả của các giải pháp về sử dụng đất ở huyện 124
Bảng 3 38 Mức độ hiệu quả của các giải pháp về chính sách SDĐ ở huyện 124
Bảng 3 39 Mức độ hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật đối với các HTSDĐNN 125
Bảng 3 40 Các áp lực, hiện trạng và giải pháp chính ở các tiểu vùng 126
Bảng 3 41 Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất của huyện đến 2030 133
Bảng 3 42 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của các HTSDĐ mới 134
Bảng 3 43 Định hướng không gian phát triển các TVHTSDĐ 139
Bảng 3 44 Định hướng giải pháp phát triển các TVHTSDĐ 144
Trang 11ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc HTSDĐ theo Dent D và Young A (1981) 10
Hình 1.2 Mô hình khái niệm hệ thống sử dụng đất và các bộ phận cấu thành 23
Hình 1.3 Mô hình cấu trúc hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 27
Hình 1.4 Tháp dữ liệu thông tin 32
Hình 1.5 Sơ đồ logic xây dựng bộ chỉ thị chất lượng đất đai 33
Hình 1.6 Quy trình đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển theo hướng bền vững 35
Hình 1.7 Sơ đồ đánh giá kinh tế - sinh thái HTSDĐ nông nghiệp 37
Hình 1.8 Quy trình phân tích Áp lực – Hiện trạng – Đáp ứng các tiểu vùng 40
Hình 1.9 Quy trình nghiên cứu 48
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai……….50a Hình 2.2 Bản đồ địa chất huyện Quốc Oai……… 51a Hình 2.3 Bản đồ địa mạo huyện Quốc Oai……… 52a Hì nh 2.4 Bản đồ thổ nhưỡng huyện Quốc Oai……… 56a Hình 2.5 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Quốc Oai năm 2018……… 64a Hình 2.6 Bản đồ độ dốc huyện Quốc Oai……….… 72a Hình 2.7 Bản đồ chế độ tưới huyện Quốc Oai……….……… 74a Hình 2.8 Bản độ chế độ tiêu huyện Quốc Oai……….……….74b Hình 2.9 Bản đồ đơn vị đất đai huyện Quốc Oai………75a Hình 2.10 Bản đồ loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai……….…… 79a Hình 2.11 Bản đồ hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai……… 82a Hình 2.12 Bản đồ phân vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai…………90a Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện giá trị hiện ròng tích dồn của cây nhãn (chiết khấu r = 6%) 108
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện giá trị hiện ròng tích dồn của cây keo (chiết khấu r = 6%) 108
Hình 3.3 Bản đồ chỉ số bền vững của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai……… ……… 113a Hình 3.4 Chuỗi giá trị nông sản đề xuất cho huyện Quốc Oai 135
Hình 3.5 Bản đồ định hướng không gian sử dụng đất huyện Quốc Oai……… 138a Hình 3.6 Hình ảnh hệ thống thông tin hỗ trợ nông nghiệp sinh thái 142
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là dạng tài nguyên thiên nhiên, là điều kiện để sinh tồn và không thể thiếu được để sản xuất, nhất là nó được xem như tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Do đó để sử dụng đất đai hiệu quả, Nhà nước cần có các công
cụ để quản lý Cùng với pháp luật, kinh tế đất thì quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) là một công cụ quan trọng để nhà nước quản lý chặt chẽ và hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt cho mục đích sản xuất nông lâm nghiệp Một trong những bước quan trọng nhất của công tác QHSDĐ là đánh giá đất đai cho các mục đích sử dụng đất khác nhau Trong những năm qua công tác đánh giá đất đai ở các cấp đặc biệt là đất nông nghiệp ở nước ta đã được quan tâm, đầu tư nhiều nhưng hiệu quả sử dụng đất còn chưa cao, nhiều phương án quy hoạch chưa hợp lý, chưa phù hợp với tiềm năng đất đai của địa phương Mặc dù, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả
về đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững nói riêng và quy hoạch sử dụng đất nói chung Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, sau đó đánh giá từng đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) với yêu cầu của mỗi loại hình sử dụng đất (LHSDĐ) để phân hạng mức độ thích hợp
[89], mà chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần trong hệ thống
sử dụng đất (HTSDĐ) và giữa các hệ thống sử dụng đất với nhau Điều đó ngụ ý rằng
nó sẽ hạn chế khả năng xác định các biện pháp cải tạo để nâng cao mức độ thích hợp đất đai và ngoại suy kết quả đánh giá cho định hướng không gian Do đó, nghiên cứu đánh giá đất theo tiếp cận HTSDĐ trên quan điểm hệ thống sẽ toàn diện hơn và khắc phục được những hạn chế của các nghiên cứu trước đây
Hệ thống sử dụng đất là “sự kết hợp của LHSDĐ với điều kiện đất đai tạo thành
hai hợp phần tác động lẫn nhau và từ sự tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng
về mức độ chi phí và đầu tư, năng suất sản lượng cây trồng, mức độ và các biện pháp cải tạo đất” [90] Việc làm rõ và đánh giá HTSDĐ cho phép xác định rõ hơn những
vấn đề hạn chế sử dụng đất và lựa chọn thích hợp nhất cho phương án quy hoạch sử dụng đất
Mặt khác, trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển ngày một mạnh mẽ của nền kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa và áp lực dân số ngày càng tăng với những
Trang 132
tai biến thiên nhiên khó lường đã ảnh hưởng lĩnh vực nông nghiệp làm nảy sinh những mâu thuẫn ngày càng rõ nét giữa phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường Chính vì vậy, cần xây dựng, quản lý, giám sát và duy trì những mô hình HTSDĐ bền vữngtrên cơ sở phân tích các chỉ số định lượng Để đạt được mục đích này cần tiến hành đánh giá cụ thể cả về hiệu quả sử dụng đất và quản lý sử dụng đất Tuy nhiên,
đa số các công trình nghiên cứu chú trọng đánh giá hiệu quả sử dụng đất và chưa làm nổi bật được vai trò của con người trong quản lý sử dụng đất hay nói khác đi sự tương tác giữa con người và đất đai cùng với dự báo xu hướng thay đổi của mối liên hệ đó.Trong khi đó, các chỉ thị chất lượng đất đai được coi là một công cụ hữu ích phục vụ công tác quản lý đất đai [124] Do đó, nghiên cứu đánh giá HTSDĐ theo tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai sẽ góp phần định hướng chính xác và đầy đủ hơn, đặc biệt thể hiện được sự tương tác của con người đối với đất đai cả về sử dụng và quản lý sử dụng đất
Quốc Oai là huyện nằm ở phía tây của thành phố Hà Nội Với sự đa dạng, thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên Quốc Oai có tiềm năng phát triển toàn diện: thuận lợi phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 9637,91 ha chiếm 63,77% tổng diện tích tự nhiên của huyện [52] Quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên hiện tại đã tác động ngày càng lớn đến môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trong khu vực Chính vì vậy, việc định hướng cho người dân và các nhà quản lý trong vùng khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn tài nguyên, triển khai và duy trì các HTSDĐ nông nghiệp bền vững phục vụ phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết
Theo định hướng quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, huyện Quốc Oai sẽ phát triển cân bằng giữa đô thị và nông thôn, kết hợp với bảo vệ các giá trị văn hóa, cảnh quan tự nhiên và vùng nông nghiệp năng suất cao Trong lĩnh vực nông nghiệp, huyện Quốc Oai được định hướng phát triển làng sinh thái và nông nghiệp công nghệ cao trong quy hoạch chung xây dựng của thủ đô Hà Nội [53]
Xuất phát từ những lý do trên cùng với sự mong muốn được góp phần vào vào sự phát triển bền vững của địa phương, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài luận án:
“Nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp
bền vững huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”
Trang 143
2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập cơ sở khoa học với bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phục vụ định hướng không gian và đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu đặt ra, tác giả luận án đã xác định các câu hỏi nghiên cứu nhằm góp phần định hướng cho quá trình thực hiện nội dung, phương pháp, giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
1) Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp của huyện Quốc Oai cụ thể là những hệ thống
sử dụng đất nào và có những đặc điểm gì? Lựa chọn hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trong đánh giá đất có những ưu thế gì?
2) Đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai theo tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai có giải quyết được các nội dung của nông nghiệp bền vững không? Dựa vào bộ chỉ thị chất lượng đất đai nào để đánh giá các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp? Làm thế nào để cho hệ thống sử dụng đất nông nghiệp này có thể phát triển bền vững ở huyện Quốc Oai?
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện các nội dung sau:
(1) Tổng quan và xác lập cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu đánh giá hệ thống
sử dụng đất theo tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai
(2) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai
(3) Nghiên cứu xây dựng hệ thống phân loại và đặc điểm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai
- Đặc điểm các đơn vị đất đai huyện Quốc Oai
- Đặc điểm các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai
- Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai
(4) Phân vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai
(5) Đánh giá các HTSDĐ nông nghiệp huyện Quốc Oai theo tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai
- Xây dựng danh sách bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá các HTSDĐ nông nghiệp tại huyện Quốc Oai
- Đánh giá Kinh tế - Sinh thái các đơn vị HTSDĐ nông nghiệp của huyện, từ đó xác định chỉ số bền vững của các HTSDĐ nông nghiệp huyện Quốc Oai
Trang 154
- Phân tích Áp lực – Hiện trạng – Đáp ứng ở các tiểu vùng HTSDĐ huyện Quốc Oai (6) Định hướng không gian và các giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp ở huyện Quốc Oai theo hướng bền vững
- Định hướng không gian sử dụng hợp lý các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
- Giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp ở huyện theo hướng bền vững
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi không gian: Toàn bộ diện tích đất theo đơn vị hành chính huyện
Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Phạm vi khoa học: Với mục tiêu và nội dung đặt ra, luận án giới hạn phạm vi
nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau:
- Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp của huyện Quốc Oai
- Bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phục
vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp huyện Quốc Oai
- Định hướng không gian và các giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp ở huyện Quốc Oai theo hướng bền vững
5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Điểm mới 1: Đã làm rõ đặc điểm và sự phân hóa các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp,
các tiểu vùng hệ thống sử dụng đất huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội (tỉ lệ 1/25.000)
- Điểm mới 2: Đã xây dựng bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá hệ thống sử
dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Quốc Oai trên cơ sở tích hợp đánh giá Kinh tế
- Sinh thái và mô hình Áp lực – Hiện trạng – Đáp ứng; Đề xuất định hướng không gian và các giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp ở huyện Quốc Oai theo hướng bền vững
6 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
Luận điểm 1: Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai là hệ thống tự
nhiên - nhân tác, gồm 61 loại thuộc 4 tiểu vùng như nguồn lực cho phát triển nông nghiệp bền vững
Luận điểm 2: Bộ chỉ thị chất lượng đất đai được xác lập dựa trên tiếp cận Kinh tế
- Sinh thái và mô hình Áp lực – Hiện trạng - Đáp ứng, tạo cơ sở cho đánh giá hệ thống
sử dụng đất phục vụ định hướng không gian và đề xuất các giải pháp quản lý phát triển nông nghiệp ở huyện Quốc Oai theo hướng bền vững
7 CƠ SỞ TÀI LIỆU THỰC HIỆN LUẬN ÁN
a) Tài liệu, số liệu trung ương và địa phương: nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu
không gian và dữ liệu phi không gian được cụ thể hóa qua bảng 1 sau:
Trang 165
Bảng 1 Các loại dữ liệu nghiên cứu được sử dụng
I Dữ liệu không gian
1 Bản đồ địa hình huyện Quốc Oai tỷ lệ 1:25.000 Microstation Cục đo đạc và bản đồ nhà nước
2 Bản đồ đất tỉnh Hà Tây và thuyết minh năm 2005 Mapinfor Viện QH và TKNN
3 Bản đồ địa chất và khoáng sản Hà Nội, tỷ lệ 1:50.000 Mapinfor Tác giả Ngô Quang Toàn
4 Bản đồ địa mạo Hà Nội, tỷ lệ 1:50.000 Mapinfor Tác giả Đào Đình Bắc
5 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Quốc Oai Microstation Phòng TN&MT H Quốc Oai
6 Bản đồ kế hoạch sử dụng đất năm 2018 huyện Quốc Oai Pdf UBND huyện Quốc Oai
7 Trạm tưới tiêu và thống kê số liệu Pdf Phòng Kinh tế H Quốc Oai
8 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất huyện Quốc Oai năm
2020 và thuyết minh
Microstation Sở TN&MT Hà Nội
9 Quy hoạch chung đến năm 2030 của huyện Quốc
Oai, tỷ lệ 1: 10.000
Pdf UBND huyện Quốc Oai
II Dữ liệu phi không gian
1 Báo cáo Thống kê – Kiểm kê đất đai của huyện Quốc
Oai từ năm 2013 đến 2017
Word UBND huyện Quốc Oai
2 Niên giám thống kê huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Nội giai đoạn 2008-2018
Word UBND huyện Quốc Oai
3 Báo cáo KT-XH huyện Quốc Oai từ 2009 - 2018 Word UBND huyện Quốc Oai
4 Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng huyện Quốc
Oai đến năm 2030
Word UBND huyện Quốc Oai
b) Các công trình nghiên cứu khoa học: bao gồm các tài liệu, sách, bài báo khoa
học về lý thuyết và ứng dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu của luận án; các đề tài,
dự án liên quan đến đánh giá đất và khu vực nghiên cứu huyện Quốc Oai, thành phố
Hà Nội được sử dụng và trích dẫn rõ ràng trong luận án
c) Các dữ liệu điều tra, khảo sát thực địa của nghiên cứu sinh: bao gồm kết quả
phân tích 10 phẫu diện đất, 190 phiếu điều tra,…
8 Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú
phương pháp nghiên cứu trong phát triển nông nghiệp bền vững
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở, tài liệu tham khảo hữu ích
cho công tác quy hoạch sử dụng đất phục vụ hoạch định không gian phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường trong sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện Quốc Oai
9 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Quốc Oai
Chương 3: Đánh giá các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững huyện Quốc Oai
Trang 176
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Hướng nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất
Hệ thống sử dụng đất (HTSDĐ) là một phức hợp gồm đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) và loại hình sử dụng đất (LHSDĐ) [90] Do đó, khi nghiên cứu về HTSDĐ cần tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan ĐVĐĐ và LHSDĐ để đảm bảo cho nội dung nghiên cứu đầy đủ
1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu về đơn vị đất đai
a) Hướng nghiên cứu về đơn vị đất đai
- Quan niệm đơn vị đất đai như một đơn vị tự nhiên - vạt đất/khoanh đất/khoanh vi đất
Có nhiều quan niệm về bản chất đơn vị đất đai, trong đó quan niệm đơn giản nhất
đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) được coi như là “một khoanh đất được xác định cụ thể trên
bản đồ ĐVĐĐ với những đặc tính và tính chất riêng biệt, thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất có cùng điều kiện quản lý đất đai, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo” [89, 39, 4, 20] Như vậy, mỗi ĐVĐĐ có chất lượng (đặc tính và tính chất)
riêng và thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định [39,110] Quan niệm này
đã thể hiện tuy nhiên chưa rõ bản chất ĐVĐĐ như một hệ thống gồm các yếu tố thành tạo và mối quan hệ tương hỗ của chúng để hình thành ĐVĐĐ
- Quan niệm đơn vị đất đai như một bộ phân tự nhiên của hệ thống sử dụng đất
Dưới quan điểm hệ thống, ĐVĐĐ như một bộ phận tự nhiên của hệ thống sử dụng đất Bộ phận này là một phức hợp các yếu tố phi sinh vật có liên quan và tác động qua lại lẫn nhau Quan niệm này được đề cập trong các công trình nghiên cứu của [91, 90, 107, 93, 50] Quan niệm đã chỉ rõ và đầy đủ hơn về bản chất của ĐVĐĐ
so với quan điểm trước đó Các yếu tố tự nhiên đóng vài trò hết sức quan trọng trong việc hình thành các ĐVĐĐ Chúng giúp cho việc phân biệt một cách rõ ràng giữa ĐVĐĐ này với ĐVĐĐ khác Mỗi đơn vị ĐVĐĐ sẽ là đơn vị cơ sở cho nghiên cứu
và đánh giá để phục vụ quy hoạch và sử dụng hợp lý tài nguyên đất
- Quan niệm sinh thái học về đơn vị đất đai như đơn vị sinh thái cảnh
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là tổ hợp các nhân
tố sinh thái [88] Khái niệm ĐVĐĐ tương đối đồng nhất với khái niệm “sinh thái cảnh
– site unit” bởi các ĐVĐĐ với các đặc tính và tính chất riêng biệt có liên quan đặc biệt
đến các điều kiện sinh thái và môi trường tự nhiên của mỗi vùng [23] Khái niệm này đã được sử dụng trong nghiên cứu quy hoạch lâm nghiệp và nông nghiệp của Cộng hòa
Liên bang Đức Thuật ngữ “sinh thái cảnh” lần đầu được sử dụng ở Việt Nam qua nghiên
Trang 187
cứu Hệ sinh thái cà phê Đắc Lắc 1982-1984 thay cho thuật ngữ “đơn vị lập địa” thường
dùng trong khoa học lâm nghiệp [23], sau đó được phát triển rộng rãi như trong các nghiên cứu [42, 44, 58],…
- Quan niệm đơn vị đất đai được hiểu là vùng sinh thái nông nghiệp
Khi nghiên cứu ở các cấp lãnh thổ quy mô diện tích lớn như cấp quốc gia, cấp vùng,… ĐVĐĐ với khái niệm rộng được hiểu là vùng sinh thái nông nghiệp [39] Đó
là các vùng và khu vực tương đối đồng nhất về điều kiện tự nhiên và sinh thái cho trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp nhưng ở cấp quy mô lớn hơn [99, 35, 108, 39] Phương pháp tiếp cận này nhằm mục đích lập bản mô tả cấp toàn cầu hoặc toàn quốc các nguồn tài nguyên đất trong một khoảng thời gian ngắn Điều đó ngụ ý rằng thủ tục quy trình đơn giản và cần ít dữ liệu Tính đơn giản của cách tiếp cận này có điểm mạnh và điểm yếu của nó, cụ thể điểm mạnh là các thủ tục quy trình giải thích sẽ nhanh được chính thức hóa và áp dụng rộng rãi, và đưa ra các ước tính tiềm năng, sản lượng thực tế và năng suất Điểm yếu thể hiện ở tính chính xác của các ước lượng năng suất của các vùng sinh thái nông nghiệp là thấp và chắc chắn là không đủ cho quy hoạch vùng [120]
- Quan niệm về đơn vị đất đai như đơn vị tổng thể không đầy đủ
Dưới góc độ của cảnh quan học, ĐVĐĐ như địa tổng thể không đầy đủ [17] ĐVĐĐ được xem như một phức hợp bao gồm các hợp phần tự nhiên vô cơ (đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất) giữa chúng cho mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Từ mối quan hệ và tác động qua lại này quyết định đến năng suất tự nhiên của mỗi ĐVĐĐ Các ĐVĐĐ hay đơn vị sinh thái cảnh, đơn vị tổng thể không đầy đủ, thường được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên cho mục đích
sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau: đánh giá ĐVĐĐ phục vụ cho phát triển cây trồng trong nông nghiệp là chính [32, 21, 47, 12], còn đơn vị sinh thái cảnh cho phát triển lâm nghiệp là chính
Từ phân tích các công trình trên có thể thấy: các quan niệm về đơn vị đất đai của
các nhà nông nghiệp, lâm nghiệp, địa lý học, sinh thái học trong và ngoài nước đều thống nhất coi đơn vị đất đai là khu vực đồng nhất sinh thái, có những thuộc tính tương đối đồng nhất của các yếu tố tự nhiên Đơn vị đất đai được hiểu là đơn vị chung, áp dụng cho mọi lãnh thổ mà chưa có sự phân cấp, phù hợp với từng cấp độ về quy mô diện tích (tỉnh, huyện, xã)
b) Hướng xác định chỉ tiêu và phân cấp chỉ tiêu xây dựng đơn vị đất đai
Xác định chỉ tiêu và phân cấp chỉ tiêu để xây dựng các ĐVĐĐ nói riêng và vùng sinh thái nông nghiệp (VSTNN) nói chung có ý nghĩa quan trọng, vì nó không những đảm bảo tính chính xác của bản đồ đơn vị đất đai, bản đồ phân vùng sinh thái nông
Trang 198
nghiệp mà còn phản ánh đúng các nhu cầu sử dụng đất cho các LHSDĐ và điều kiện đất đai trong HTSDĐ của lãnh thổ [48] Trên thế giới, ở Australia năm 2002 dựa vào
3 nhóm chỉ tiêu về đất, địa hình, khí hậu để xác định các VSTNN Abraham S năm
2014 xác định 4 VSTNN cho huyện Bandung của Indonesia dựa vào 3 tiêu chí là khí hậu, loại đất và địa hình [66],… Ở Việt Nam, năm 1995, Viện QH &TKNN đã hoàn thành việc xác định các ĐVĐĐ toàn quốc nhằm phục vụ cho công tác đánh giá đất theo FAO trên phạm vi cả nước ở tỷ lệ 1/500.000 với 7 nhóm chỉ tiêu [39] Nghiên cứu ở cấp quy mô nhỏ hơn có nghiên cứu của [39, 47, 2, 20, 12],… Nhìn chung, các nghiên cứu đều dựa vào những đặc thù về điều kiện tự nhiên mà lựa chọn các chỉ tiêu và phân cấp các chỉ tiêu thích hợp nhằm phản ánh được tính đặc trưng của lãnh thổ [39]
c) Hướng nghiên cứu ứng dụng thực tiễn của đơn vị đất đai
Việc xác định các ĐVĐĐ hay VSTNN là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý [111, 147, 143, 115],…; chìa khóa để xác định và giải quyết những vấn đề về quản lý tài nguyên môi trường đất [112]; hỗ trợ chiến lược phát triển quy hoạch và cung cấp các thông tin về nguồn tài nguyên đất [105]; nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng mang đất và di cư [125]; tính toán mô hình dự báo lương mưa thống kê [128] Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu như [64, 75, 119, 142, 70],… Ở Việt Nam, ĐVĐĐ cũng đã được nghiên cứu rộng rãi và thu được các thành tựu khả quan, trong đó có hướng nghiên cứu phục vụ sử dụng đất bền vững với các giải pháp đa lợi ích [47],…; đánh giá thích hợp đất sản xuất nông nghiệp từ đó bố trí cây trồng hợp lý [20],… Nhìn chung, các nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của ĐVĐĐ, VSTNN, tiến hành phân vùng sinh thái nông nghiệp hoặc thành lập bản đồ ĐVĐĐ để làm dữ liệu đầu vào cho quá trình đánh giá đất Tuy nhiên, các nghiên cứu trong đánh giá đất phần lớn chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần trong ĐVĐĐ
1.1.1.2 C ác công trình nghiên cứu về loại hình sử dụng đất nông nghiệp
a) Hướng nghiên cứu lý luận về loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Quan niệm trong khoa học đất về loại hình sử dụng đất
Để giúp đánh giá đất, khái niệm 'loại hình sử dụng đất' đã được đề cập trong công
trình “Đánh giá đất đai” của [76, 89, 39, 4], Khái niệm này phản ánh một cách cụ thể, thực tế trong sử dụng đất, mô tả về sản phẩm, lao động, vốn, quản lý, công nghệ, quy mô
hoạt động và tăng cường cơ sở triết học trong đánh giá đất [76]
Hướng nghiên cứu về phân loại mức độ của LHSDĐ, các tác giả hầu như đều dựa theo mức độ nghiên cứu và yêu cầu đánh giá khái quát, bán chi tiết và chi tiết để phân
loại: Kiểu LHSDĐ chính và LHSDĐ Dựa trên số lượng loại sử dụng đất có LHSDĐ
Trang 209
đa mục đích và LHSDĐ kết hợp [89] Ở nước ta, dựa trên phân loại của FAO, Bộ NN&PTNN cũng tiến hành phân loại 2 cấp là Kiểu LHSDĐ chính và Loại hình sử
dụng đất [4] Trong khi đó, một số tác giả xác định gồm 3 cấp: LHSDĐ chính, LHSDĐ
và Kiểu sử dụng đất như [5, 3, 15, 32],… cũng đã xác định cấp phân loại để tiến hành
đánh giá đất Đa số các công trình đều phân loại theo nguyên tắc: ở cấp quy mô càng nhỏ thì LHSDĐ càng được phân loại một cách chi tiết hơn
- Quan niệm LHSDĐ như một bộ phận nhân tác của HTSDĐ nông nghiệp
Quan niệm này được đề cập trong các công trình nghiên cứu của [76, 152, 92, 39,
61, 93],… Qua đó góp phần phân tích sơ bộ về sự ảnh hưởng của đất đai đối với hiệu suất sử dụng đất hiện tại và các sử dụng đất thay thế
Từ phân tích các công trình trên có thể thấy: các quan niệm về LHSDĐ đều khẳng
định LHSDĐ đề cập đến mục đích sử dụng của thửa đất phục vụ cho lợi ích của con người Tuy theo mức độ đánh giá đất đai, có thể sử dụng sự phân loại khác nhau nhưng chưa có sự phân cấp thống nhất với từng cấp độ về quy mô diện tích (tỉnh, huyện, xã) khi là một phụ hệ của HTSDĐ
b) Hướng nghiên cứu về yêu cầu của loại hình sử dụng đất
Trên thế giới, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng yêu cầu về sinh thái là yêu cầu quan trọng nhất và hầu hết dùng cho các LHSDĐ về nông lâm nghiệp Do đó, có rất nhiều các tác giả đều đưa ra các điều kiện sinh trưởng từ tốt hoặc rất tốt cho từng loại cây trồng và hoa màu Ở Việt Nam, có các nghiên cứu của [4, 11, 43],… Điều đó cho thấy, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến năng suất và sự ổn định của LHSDĐ hay tình trạng quản lý và thực hiện LHSDĐ đó Những yêu cầu sử dụng đất của một LHSDĐ thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu Hay bản chất của yêu
cầu sử dụng đất có thể được định nghĩa như là “những điều kiện tự nhiên cần thiết để
thực hiện thành công và bền vững một LHSDĐ” [4]
1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
a) Hướng nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
- Quan niệm hệ thống sử dụng đất là một hệ thống tự nhiên – nhân tác
Trong đánh giá đất, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc – FAO (1976-1992) đã đưa ra khái niệm về HTSDĐ đầu tiên trên thế giới Để cụ thể hơn cho định nghĩa HTSDĐ, Beek K.J, Dent D và Young A đã đưa ra mô hình cấu trúc HTSDĐ [152] (hình 1.1) Trong mô hình cấu trúc đã thể hiện được mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa ĐVĐĐ và LHSDĐ, yếu tố đầu vào – yếu tố đầu ra của hệ thống Sau
đó, Driessen P.M và Konijn N.T, Stomph T.J, Fresco L.O và Van Keulen H, Huizing
H, ITC đã đưa ra quan điểm tương tự nhưng rõ hơn về thành phần và cấu trúc của
Trang 2110
HTSDĐ so với định nghĩa trước đây [120, 141, 61] Đặc biệt, Huizing H đã khái quát hóa các HTSDĐ theo công thức ngắn gọn hơn là HTSDĐ = ĐVĐĐ + LHSDĐ [107] Gần đây có các công trình nghiên cứu về ứng dụng thực tiễn của HTSDĐ như [85, 127,
80, 72, 71, 144],…, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu triển khai áp dụng cụ thể cũng chưa nhiều
Trên cơ sở các nghiên cứu về lý luận HTSDĐ trên thế giới, ở Việt Nam một số tác giả
kế thừa và phát triển những nghiên cứu của mình về HTSDĐ Mặc dù, với số lượng không nhiều các nghiên cứu nhưng cũng góp phần xây dựng cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm nghiên cứu tổng hợp ở nhiều lĩnh vực cho các nghiên cứu sau này như [26, 29, 30, 50];… Với ưu điểm như sự mô phỏng về cấu trúc nên cách tiếp cận HTSDĐ như vậy sẽ cho phép
dễ dàng ngoại suy kết quả đánh giá đất cho nghiên cứu hệ thống canh tác và quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu chưa đưa ra mô hình cấu trúc hoặc có mô hình cấu trúc nhưng ở mức độ còn khái quát, chưa thể hiện rõ được mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần trong hệ thống và sản phẩm đầu ra, đầu vào của hệ thống
- Quan niệm hệ thống sử dụng đất như cảnh quan nhân sinh
Hệ thống sử dụng đất cũng được xem như một địa hệ tương đồng với “cảnh quan nhân sinh” trong cảnh quan học [17, 24, 22],… chẳng hạn như cảnh quan nông nghiệp; cảnh quan quần cư nông thôn, đô thị và công nghiệp; cảnh quan rừng nhân sinh,… Mỗi đơn vị CQNS luôn chứa đựng 2 nhóm thuộc tính là thuộc tính tự nhiên (địa chất, địa mạo, khí hậu – thủy văn, đất đai, sinh vật) và thuộc tính nhân tác (con người và các hoạt động khai thác tài nguyên) Do đó, có thể ứng dụng các thành tựu trong nghiên cứu cảnh quan học để xem xét mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần trong HTSDĐ và giữa các HTSDĐ với nhau như một cách đầy đủ và toàn diện hơn Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau: thứ nhất, CQNS phản ánh đặc điểm cấu trúc hình thái với các sản phẩm đầu ra tùy theo từng cảnh quan, còn HTSDĐ phản ánh nhiều hơn về các LHSDĐ thích hợp, các biện pháp kỹ thuật canh tác, chăm bón, quản
lý cùng với sản phẩm đầu ra, trong đó sản phẩm kinh tế được chú ý nhiều hơn Thứ
Trang 2211
hai, HTSDĐ liên quan chặt chẽ với Thống kê sử dụng đất, Quy hoạch sử dụng đất và được quản lý theo các quy định của pháp luật
b) Hướng nghiên cứu về bản đồ hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Bản đồ hệ thống sử dụng đất nông nghiệp là một loại bản đồ chuyên đề phản ánh tổng hợp các yếu tố tự nhiên và nhân tác cùng với mối quan hệ tác động của chúng Từ những nghiên cứu lý luận, FAO và UNEP đã có những nghiên cứu về xây dựng bản đồ HTSDĐ nông nghiệp ở quy mô toàn cầu cho phân tích đánh giá thoái hóa đất gồm 40 loại HTSDĐ [93, 102] Ở Việt Nam, có những nghiên cứu về lý luận nhưng chỉ có một
số ít công trình nghiên cứu xây dựng bản đồ HTSDĐ nông nghiệp trong thực tiễn (Trần Văn Tuấn, Nguyễn Cao Huần và nnk, 2015 - 2018,…)
c) Hướng về phân loại hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Các nghiên cứu về phân loại HTSDĐ còn rất hạn chế Nếu có thì hệ thống phân loại cũng chỉ dựa vào các tiêu chí đơn giản mặc dù HTSDĐ là hệ thống phức tạp, hàm chứa nhiều mối quan hệ Dựa theo mục đích sử dụng, HTSDĐ được phân loại thành HTSDĐ đơn mục đích, HTSDĐ đa mục đích, HTSDĐ phức hợp, hệ thống trang trại [120, 93], Hệ thống phân loại này còn quá đơn giản bởi vì mới tính đến LHSDĐ mà chưa xem xét đến chất lượng ĐVĐĐ tương ứng Bởi HTSDĐ dù đơn hay đa mục đích cũng gồm 2 phân hệ: ĐVĐĐ và LHSDĐ trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Ở Việt Nam, đánh giá sản xuất nông nghiệp cho HTSDĐ cây trồng, dựa theo FAO, Viện QH & TKNN chia ra 2 HTSDĐ chính là hệ canh tác nhờ mưa
và hệ canh tác có tưới [60] Hiện nay, phân loại HTSDĐ theo thứ bậc phụ thuộc quy
mô lãnh thổ chưa được nghiên cứu, cụ thể phải phân chia ra các cấp độ cho HTSDĐ đối với các cấp xã, huyện, tỉnh và lớn hơn
1.1.2.Hướng nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.2.1 Quan điểm về nông nghiệp bền vững
Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững mới bắt đầu được quan tâm trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX Quan điểm về phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù chưa có sự thống nhất hoàn toàn nhưng hầu hết các nhà kinh tế học đều cho rằng phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình phát triển mà trong đó
có sự ràng buộc giữa tăng trưởng nông nghiệp với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói
và môi trường con người ở nông thôn [138, 74, 82, 81, 100, 135]
Nhằm giúp các quốc gia có một điểm khởi đầu hữu ích để xem xét về các ưu tiên chỉ thị và nhu cầu thông tin phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững, Chương trình Nghị sự 21 về PTBV (UNCED, 1992) tại Riode Janero đã đưa ra 12 tiêu chí về phát triển nông nghiệp bền vững và Chương trình nghị sự 21 tại Johannesburg năm 2002
đã rút gọn lại gồm 11 tiêu chí [109] Dựa trên cơ sở đó, FAO (1997) đã đưa ra khung chương trình phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững (The Sustainable
Trang 2312
Agriculture and Rural Development – gọi tắt là SARD), bao gồm 04 lĩnh vực chuyên
đề hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững Các tiêu chí và lĩnh vực chuyên đề này được xem như là định hướng mang tính toàn cầu và mỗi quốc gia cần đặt ra các chiến lược phù hợp và bối cảnh của quốc gia để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững
Ở Việt Nam, nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu từ khoảng cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX Theo quyết định số 153/2004/QĐ- TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Trong phần 2 mục IV của quyết định đã
đề cập tới phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững ở Việt Nam Ngoài ra, các vấn
đề lý luận về nông nghiệp bền vững được đề cập đến trong các công trình của [56, 28],
1.1.2.2 Tiêu chí lựa chọn các chỉ thị đánh giá phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững
Dựa trên các tiêu chí của khung chương trình phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững (SARD), mỗi địa phương, quốc gia tùy thuộc đặc điểm lãnh thổ sẽ lựa chọn các chỉ thị phù hợp để đánh giá nông nghiệp bền vững cho khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, việc lựa chọn các chỉ thị để đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững cần đảm bảo hai tiêu chí lớn (bảng 1.1): tiêu chí khách quan và tiêu chí dễ sử dụng khi lựa chọn các chỉ thị [62]
Bảng 1 1 Tiêu chí lựa chọn các chị thị cho đánh giá nông nghiệp bền vững
Nguồn: Roy R và Chan N.W, 2011 [62]
Trang 2413
1.1.2.3 Các khung tiếp cận phát triển nông nghiệp bền vững
Có nhiều chỉ thị được xây dựng nhằm phục vụ đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững Tuy nhiên, các chỉ thị nếu không được phát triển dựa trên một khung cấu trúc,
bộ chỉ thị sẽ luôn là một hệ thống không hoàn thiện và sẽ bị tập trung hơn về chuyên ngành của tác giả, đặt nặng về một vài lĩnh vực và sơ lược hoặc thậm chí bỏ sót nhiều chỉ thị quan trọng khác Vì vậy, cần phải có khung tiếp cận đúng đắn phù hợp với mục đích nghiên cứu Bộ chỉ thị đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững sử dụng
ba khung cấu trúc chủ yếu: (i) khung nhân – quả [124, 95, 61, 78, 13],…; (ii) khung theo chủ đề với ba trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường (phụ lục 3); (iii) khung theo mục đích Trong đó, khung nhân – quả mô tả mối quan hệ nguyên nhân - kết quả, do
đó, nó làm nổi bật sự tương tác giữa con người và đất đai và dự báo xu hướng thay đổi của mối liên hệ đó [95]
Ở Việt Nam, từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu phục vụ phát triển nông nghiệp [36, 33, 3, 15, 34] Đa số các công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận khung chủ đề dựa trên ba trụ cột chính (kinh tế - xã hội – môi trường) để xác định hiệu quả sử dụng đất như của các tác giả [32, 47, 45, 28],…
1.1.3.Hướng nghiên cứu về đánh giá hệ thống sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững
Về cơ bản đánh giá đất và đánh giá hệ thống sử dụng đất có nhiều điểm giống nhau
về bản chất [107, 39, 131, 141] Do đó, có thể ứng dụng những phương pháp nghiên cứu trong đánh giá đất đai vào đánh giá HTSDĐ Vì thế, hiện nay đã có một số cách tiếp cận trong đánh giá HTSDĐ như sau: (i) Đánh giá theo trường phái phát sinh, (ii) Đánh giá dựa trên cơ sở phân loại định lượng của Mỹ, (iii) Đánh giá đất theo quan điểm kinh tế - sinh thái và phát triển bền vững của FAO - UNESCO và (iv) Đánh giá theo bộ chỉ thị chất lượng đất đai
1.1.3.1.Đánh giá theo trường phái phát sinh (trường phái Nga)
Cơ sở khoa học của phương pháp này là học thuyết phát sinh đất Học thuyết do nhà bác học Nga Docuchaev V.V đưa ra năm 1883, trong đó ông cho rằng sự tác động tổng hợp của những yếu tố sẽ quyết định quá trình hình thành đất chính [8] Ưu điểm của trường phái này quan tâm đến các yếu tố mang tính khách quan và thể hiện rõ mối quan hệ của các yếu tố hình thành đất Tuy nhiên, hạn chế của trường phái này là chủ yếu thuần tuý quan tâm đến khía cạnh tự nhiên, chưa xem xét đầy đủ khía cạnh kinh tế - xã hội của việc
sử dụng đất đai, đồng thời chưa thể hiện đầy đủ các tính chất hiện tại của đất vì có nhiều tính chất không còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố tự nhiên ban đầu mà phụ thuộc vào yếu tố địa phương do tác động sâu sắc của con người
Trang 2514
1.1.3.2 Đánh giá theo trường phái phân loại định lượng của Mỹ
Trường phái này đánh giá đất dựa trên cơ sở phân loại định lượng thổ nhưỡng (Soil Taxonomy), xem xét các tính chất của từng tầng đất theo tiêu chuẩn được định lượng và dựa trên cơ sở những tính chất đất đai hiện có Hầu hết các tính chất vật lý, hóa học và sinh học đều được sử dụng làm tiêu chuẩn cho Soil Taxonomy, ví dụ như trạng thái nhiệt,
ẩm quanh năm, màu sắc, thành phần cơ giới, pH, hàm lượng hữu cơ, Trong khi nhiều tính chất có thể quan sát ở ngoài đồng thì có rất nhiều tính chất khác yêu cầu phải dùng
kĩ thuật tinh xảo trong phòng thí nghiệm phân tích mẫu đất Sự chính xác này làm tăng tính khách quan của hệ thống, tuy nhiên đòi hỏi kinh phí rất lớn và kéo dài thời gian [8] Nội dung đánh giá: phân hạng đất đai chủ yếu dựa vào những hạn chế của đất đai gây trở ngại đến sử dụng đất, những hạn chế khó khắc phục cần phải đầu tư vốn, lao động kĩ thuật,… mới có thể khắc phục được Hạn chế được chia thành 2 mức: hạn chế tức thời
và hạn chế lâu dài [18] Mặc dù hệ thống này được xây dựng riêng cho điều kiện nước
Mỹ, nhưng nguyên lý của nó được ứng dụng ở nhiều nước [4]
1.1.3.3 Đánh giá theo FAO - UNESCO
Về bản chất đánh giá HTSDĐ theo FAO tương đồng đánh giá kinh tế - sinh thái trong nghiên cứu địa lý ứng dụng Nghĩa là, trong bất kỳ trường hợp nào khi khai thác
sử dụng đất cần phải xem xét tính thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường để làm cơ sở đánh giá tổng hợp (phụ lục 4.2) Đánh giá đất theo FAO – UNESCO có ưu điểm là đã thống nhất, bao quát được các quan điểm của các nước trên thế giới để đưa ra quan điểm chung và đảm bảo sự phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội – môi trường Tuy nhiên, khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai chỉ
có khả năng tích hợp được một số lượng hạn chế các chất lượng đất đai để đối sánh, bởi nếu quá nhiều thì việc xây dựng sẽ trở lên phức tạp và dễ mất tính phân hóa Mặt khác, quy trình đánh giá theo FAO đưa ra năm 1976, trải qua hơn 40 năm phát triển, trước bối cảnh mới hiện nay khi tài nguyên đất đang bị suy thoái, khai thác quá mức,
áp lực dân số ngày càng tăng, đô thị hóa – công nghiệp hóa, thì quản lý đất đai bền
vững trở thành vấn đề cấp thiết nhằm cân đối những cơ hội kinh tế, xã hội và môi
trường cho lợi ích hiện tại và tương lai Do đó, số lượng chỉ thị chất lượng đất cần được xem xét nhiều hơn nữa và đánh giá theo FAO – UNESCO chưa thể hiện rõ được vai trò của con người trong sử dụng và quản lý sử dụng đất để làm nổi bật sự tương tác giữa con người và đất đai và dự báo xu hướng thay đổi của mối liên đó
a) Các nghiên cứu đánh giá thích nghi sinh thái
Đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ phù hợp của các địa tổng thể (cảnh quan trong địa lý học, đơn vị đất đai trong khoa học nông nghiệp, sinh thái cảnh hay lập
Trang 2615
địa trong khoa học lâm nghiệp) đối với đối tượng quy hoạch phát triển Đây là bước đánh giá quan trọng nhất, là cơ sở tiền đề cho các đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội – môi
trường sau này Trong đó, các hệ phương pháp truyền thống thông thường là đánh giá
định tính, chất lượng phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm và sự phán đoán trực quan
nên mang tính chủ quan cao Các hệ phương pháp hiện đại thường dựa trên mô hình, mô
phỏng định hướng và tập trung vào khía cạnh định lượng Tuy nhiên, có thể nhận xét
chung rằng hoạt động đánh giá của mỗi nước theo hệ phương pháp truyền thống hay
phương pháp hiện đại đều tập trung vào các khía cạnh định tính hoặc định lượng [148]
Trong những năm gần đây, khoa học đánh giá đất có bước chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng với nhiều hướng tiếp cận mới
Nhóm các phương pháp đánh giá truyền thống bao gồm các phương pháp chính sau:
(i) Phương pháp giới hạn lớn nhất: phân hạng thích nghi USDA của Mỹ, phân hạng thích hợp sử dụng đất của Anh, phân hạng thích nghi của Hà Lan và thể hiện chi tiết
rõ nhất trong hướng dẫn của FAO (Chapters The FAO Guidelines for Land Evaluation and Other Land Evaluation Systems) [148]; phân hạng thích nghi ở Kenya
[120]; phân hạng thích nghi ở Iran [77, 150, 4] (ii) Phương pháp tham số: nổi tiếng
nhất theo phương pháp này được phát triển bởi Storie R (1933) với phương trình SIR,
ba hệ thống nổi tiếng khác là USLE, MUSLE, RUSLE, phương trình Meta và Raychaudhuri xây dựng năm 1961, hệ số Riquier (1970) [4, 111, 148] (iii) Phương pháp thống kê như của [84, 118], (iv) Phương pháp nhân tố độc lập [148] Hạn chế của phương pháp này là nó không thể đưa vào số lượng ảnh hưởng kết hợp của 2 hoặc nhiều tính chất đất đai
Nhóm các phương pháp đánh giá hiện đại bao gồm các phương pháp chính sau: (i)
Mô hình hệ thống chuyên gia như một công cụ của trí thông minh nhân tạo dựa vào
các chương trình máy tính và biểu diễn những kiến thức suy luận bằng sử dụng cây quyết định (dicision tree) [148] như LECS, MicroLEIS, AEZWIN, @RISK, ALES [4, 129],… (ii) Phân tích thứ bậc AHP của [101, 123, 139, 65, 96], (iii) Phương pháp tập mờ của [117, 98], ; (iv) Mô hình mạng nơron nhân tạo của [97, 153, 146, 63],…; (v) Mô hình dự đoán chức năng của [113, 67, 151] Ngoài ra, có các mô hình
mô phỏng năng động trong nông học và khoa học đất của [122, 83, 130]; mô hình không gian mô phỏng vùng sa mạc hóa của [86],… (vi) Các phương pháp phối kết hợp như kết hợp của mô hình chuyên gia/mô hình mô phỏng [145]; mô hình hệ thống chuyên gia/mô hình mạng thần kinh đánh giá xói mòn đất nông nghiệp [84]; mô hình mạng lưới nơ – ron dựa trên tham số/phương pháp lí thuyết mờ [69], Qua các nghiên cứu trên cho thấy mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng (phụ lục 4.1), tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà lựa chọn phương pháp cho thích hợp [148] Từ
Trang 2716
sự phân tích ở trên có thể thấy có rất nhiều phương pháp đánh giá khác nhau được sử dụng nên kết quả thể hiện mức phân loại trong đánh giá cũng không giống nhau Tuy nhiên được xếp theo nguyên tắc từ thuận lợi nhất đến không thuận lợi (phụ lục 4.3)
b) Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các hệ thống sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hóa, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO (1993), các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế theo phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA - Cost Benefit Analysis) [90] Phương pháp này đòi hỏi việc tính toán toàn bộ lợi ích và chi phí của quá trình đầu tư trong HTSDĐ nông nghiệp, sau đó tính giá hiện ròng (NPV), hệ số hoàn vốn nội tại (IRR), tỉ số lợi ích/chi phí (BCR) [73]
Ưu thế của hệ thống chỉ tiêu này sẽ chỉ rõ được hiệu quả kinh tế từng năm trong cả một chuỗi đầu tư, đặc biệt ý nghĩa đối với những LHSDĐ dài ngày như cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp lâu năm,… Trên thế giới, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng phương pháp này [4, 23] Ở Việt Nam, có nghiên cứu của [6, 45, 50],…Ngoài ra, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế đất theo chỉ tiêu năng suất cây trồng [23]
Ở Việt Nam, Hội Khoa học Đất Việt Nam cũng đề xuất nhóm chỉ tiêu bao gồm năng suất cao, chất lượng sản phẩm, tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích, giảm rủi ro Trong đó, ngoài chỉ tiêu năng suất cây trồng, Hội cũng nhấn mạnh tiêu chí chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu thị trường [21] Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp chủ yếu do 2 quy luật chi phối
đó là quy luật cung cầu và quy luật hiệu quả giảm dần Do đó, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp hàng hóa, vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu Theo Bộ NN&PTNN chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cho cây trồng ngắn ngày gồm: Giá trị sản xuất, chi phí, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, giá trị ngày công [4,
55, 60] Ngoài ra, để linh hoạt cho cấp quy mô đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất,
Bộ NN & PTNN còn đưa ra 2 hệ thống chỉ tiêu tương ứng gồm đối với cấp nông hộ, các trang trại quy mô nhỏ, mà ở đó trình độ hạch toán thấp, chưa hạch toán được đầy
đủ chi phí lao động, nhất là lao động tự làm của hộ nông dân [32, 14, 2] và đối với các trang trại, doanh nghiệp, nông lâm trường có quy mô sản xuất lớn có trình độ hạch toán cao, có khả năng phân định rõ được chi phí lao động, kể cả lao động thuê với lao động
tự làm
- Phân loại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hệ thống sử dụng đất
Sau khi đánh giá hiệu quả kinh tế thì việc phân loại thích hợp kinh tế có vai trò quan trọng Khi phân loại về hiệu quả kinh tế có hai cách phân loại Thứ nhất, có thể phân loại theo chủ quan của người đánh giá Tuy nhiên, cách phân lớp thứ nhất đòi hỏi người đánh
Trang 28tế là một trong những cơ sở quan trọng định hướng sử dụng hợp lý đất đai Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế của các HTSDĐ cho phép đưa ra một số nhận xét về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu ) đến hiệu quả kinh tế của các HTSDĐ [60]
Sự ổn định của thị trường mang tính tương đối nên kết quả đánh giá kinh tế cũng chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định
c) Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuất mang lại với chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế [4] Theo hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO, các chỉ tiêu bền vững về xã hội gồm an ninh lương thực, quy hoạch các hệ thống sử dụng đất phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, cơ hội việc làm và thu nhập, được cộng đồng chấp nhận,… [90] Ở Việt Nam, Hội Khoa học Đất Việt Nam đã đề xuất các chỉ tiêu như sau: đáp ứng nhu cầu của nông hộ, được cộng đồng chấp nhận, phù hợp khả năng của nông hộ (vốn, lao động, kỹ thuật, quyền sử dụng đất đai), đảm bảo an ninh lương thực, [21] Theo Bộ NN&PTNN, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội bao gồm một số chỉ tiêu sau: đảm bảo an ninh lương thực cho nông dân và toàn xã hội; khả năng thu hút lao động – giải quyết việc làm; tỷ lệ sản phẩm hàng hóa; sự phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế của vùng,… [4, 55, 60] Tuy nhiên, không phải bất kỳ HTSDĐ nào cũng đạt được đầy đủ các chỉ tiêu xã hội nêu trên Tùy yêu cầu nghiên cứu hay mục tiêu xây dựng dự án, người đánh giá có thể không lựa chọn chỉ tiêu này mà còn chọn chỉ tiêu kia để đưa vào phân tích, đánh giá [60] Tiêu biểu như đánh giá tính bền vững xã hội căn cứ vào những chỉ tiêu liên quan đến mức sống, thu nhập, sức khỏe của dân cư trong vùng đánh giá ảnh hưởng bởi hoạt động sử dụng đất [1, 46],… Một số nghiên cứu xem xét vấn đề khác như khả năng tạo việc làm, giá trị ngày công lao động, chuyển giao KHKT, cung ứng sản phẩm cho thị trường [50, 38, 25, 2],…; chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất liên quan đến cộng đồng của các dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa [49, 51],…Qua các nghiên cứu cho thấy rằng: thứ nhất đánh giá tính bền vững xã hội nói chung được phân tích dựa vào truyền thống, tập quán sử dụng đất, giá trị ngày công lao động và khả năng tiếp thu trình độ khoa học kĩ thuật của cộng đồng
Trang 2918
và không thể tách xa nhưng định hướng phát triển kinh tế của nhà nước [23] Thứ hai, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn, mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo việc làm cho người lao động, ổn định chỗ ở, xóa đói giảm nghèo, lành mạnh xã hội, [60]
d) Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả môi trường
Đánh giá ảnh hưởng môi trường là xác định và dự báo mức độ ảnh hưởng tốt hoặc xấu của các HTSDĐ tới môi trường đồng thời cũng xác định khả năng chịu tải và độ bền vững của HTSDĐ [4, 23] Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về môi trường bao gồm mức độ xói mòn đất, lở đất và bồi tụ; đảm bảo cung cấp nước, mức độ mất rừng hoặc suy thoái rừng; cấu trúc và thành phần của rừng, đồng cỏ và đất ngập nước, bảo tồn tài nguyên du lịch, vui chơi giải trí,… [90] Ở Việt Nam, Hội Khoa học Đất Việt Nam đề xuất các chỉ tiêu đánh giá bao gồm giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép, khử hay giảm thiểu tối đa các yếu tố có hại trong đất, thực hiện tốt các biện pháp canh tác,… [21] Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường bao gồm: tỉ lệ che phủ tối đa, nguy cơ gây ô nhiễm do phân bón, do sử dụng thuốc hóa học hoặc bảo
vệ thực vật, nguy cơ tái nhiễm mặn hoặc tái nhiễm phèn,… [4] Qua đó có thể kết luận rằng: đánh giá ảnh hưởng môi trường của HTSDĐ được phản ánh ở 2 khía cạnh là nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên và khả năng cải thiện môi trường và tính bền vững chống lại các hiện tượng cực đoan như xói mòn đất, thổi mòn, khô hạn, ngập lụt,… [23, 6, 7, 33, 1]
e) Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp để xác định chỉ số bền vững
Ngoài những nghiên cứu theo các khía cạnh riêng như trên còn có các công trình nghiên cứu tổ hợp giữa chúng Việc nghiên cứu một cách tổng hợp và toàn diện từ tự nhiên đến môi trường, kinh tế và xã hội được đề cập nhiều trong các công trình từ những năm 1980 đặc biệt từ những năm 1990 đến nay như [89, 23, 74, 81, 82, 100],…Theo FAO kết quả đánh giá tổng hợp cuối cùng sẽ xác định được hiệu quả sử dụng đất hay khả năng thích hợp của đất đai [89] Dưới góc độ coi HTSDĐ như một dạng cảnh quan nhân sinh, việc xác định giá trị độ bền vững là vấn đề trung tâm của lý luận cảnh quan nhân sinh [23] Do đó, kết quả đánh giá tổng hợp sẽ xác định được chỉ
số bền vững của các HTSDĐ khi các chỉ tiêu đánh giá được định lượng hóa cụ thể như nghiên cứu giá trị độ bền vững CQNS khu vực khai thác apatit Cam Đường, tỉnh Lào Cai với 5 nhóm bền vững [23] Gần đây, có các nghiên cứu dựa trên sự tích hợp bằng phương pháp cộng các nhóm chỉ tiêu thích nghi sinh thái – kinh tế - xã hội – môi trường
để đưa ra tính bền vững của các LHSDĐ [25]
Trang 3019
1.1.3.4 Đánh giá theo bộ chỉ thị chất lượng đất đai
a) Chất lượng đất đai – Land Quality
Theo quan điểm của FAO (1976), chất lượng đất đai là “tập hợp những thuộc tính
của đất hình thành theo mức độ tác động khác nhau đến sự phù hợp của từng loại hình
sử dụng đất” Theo đó, đất đai biểu hiện các đặc tính thông tin trên hai khía cạnh tiêu
cực và tích cực Các chất lượng đất đai này có thể sử dụng trong phân hạng thích nghi đất đai [124, 134] Chất lượng đất đai không mang giá trị tuyệt đối, do đó khi đánh giá đất phải đặt trong mối liên hệ giữa chức năng của loại hình sử dụng đất cụ thể [136] Các chỉ thị chất lượng đất đai là thước đo, đồng thời là giá trị tính toán các đặc trưng đất đai dưới tác động của con người Các chỉ thị không chỉ thể hiện những thay đổi đặc trưng trong chất lượng đất đai, mà còn tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người [124] Các chỉ thị thường tập trung phản ánh hiệu quả sử dụng đất, nâng cao phương thức quản lý và đánh giá tác động từ chính sách môi trường [124, 68, 104, 121], Như vậy, xây dựng các chỉ thị chất lượng đất đai là cấp thiết trong phản ánh tiềm năng đất đai cho từng mục đất sử dụng của con người [103]
b) Bộ chỉ thị chất lượng đất đai – Land Quality Indicators
Trong bối cảnh hiện nay, quản lý đất đai bền vững trở thành vấn đề cấp thiết nhằm cân đối những cơ hội kinh tế, xã hội và môi trường cho lợi ích hiện tại và tương lai Bộ chỉ thị chất lượng đất đai được coi là một công cụ hữu ích phục vụ công tác quản lý tài nguyên theo định hướng tổng hợp và phát triển bền vững, trong đó có phát triển nông nghiệp bền vững Dựa trên những công trình nghiên cứu về đánh giá đất của FAO năm
1976, cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai (LQI) được phát triển và hoàn thiện: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa [94], Đánh giá đất đai cho lâm nghiệp [91], Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới, Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống nông trại cho quy hoạch sử dụng đất [92] Từ đây, nghiên cứu chất lượng đất đai được thực hiện cho nhiều khu vực trên thế giới như [88,
78, 116, 137, 126, 132], Như vậy, đánh giá đất của FAO mở đầu và là cơ sở phát triển lý luận về đánh giá theo LQI Dựa trên cơ sở này, nhiều ứng dụng nghiên cứu về sau bổ sung và hoàn thiện phục vụ cho đánh giá đất với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là phục vụ nông nghiệp
c) Khung tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai
Từ đó đến nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng và phát triển hệ thống các chỉ thị phục vụ đánh giá theo tiếp cận LQI như của World Bank, FAO, UNEP, UNDP,… [88] Có nhiều khung cấu trúc được sử dụng để xây dựng danh sách LQI hướng tới các nhóm đối tượng khác nhau, phục vụ những mục đích khác nhau trong đó
Trang 3120
có phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững Trong đó, ba khung cấu trúc được sử dụng rộng rãi hơn cả là: Khung nhân quả; Khung theo mục đích và Khung theo chủ đề
- Khung nhân quả: Điển hình là khung PSR mô tả mối quan hệ nguyên nhân – kết
quả, ra đời trong những năm 1970 nhằm mục tiêu đánh giá tác động môi trường Đến năm 1993, mô hình PSR được phát triển và trở thành cơ sở khoa học trong nghiên cứu các chỉ thị chất lượng đất đai [68, 149, 104, 133] Dựa trên cơ sở này, các chỉ thị chất lượng đất đai được phát triển, hoàn thiện và hệ thống lại theo mô hình PSR Các chỉ thị này thể hiện những thông tin quan trọng nhất của đất đai, và được chia thành
ba nhóm:
+ Chỉ thị Áp lực (Pressure): gồm những yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng đất đai Chỉ thị áp lực không bao trùm tất cả các khía cạnh trong sử dụng đất, chỉ phản ánh những ảnh hưởng và tác động từ những hoạt động của con người và tự nhiên lên đất [37, 103, 37, 13, 140] Chỉ thị áp lực thường được xây dựng, nghiên cứu và phát triển dựa trên các số liệu thống kê
+ Chỉ thị về Hiện trạng (State) là đặc trưng về cường độ, phạm vi phân bố và tỉ lệ thay đổi của thực vật, thổ nhưỡng, chất dinh dưỡng, nước,… Chỉ thị hiện trạng phản ánh sự thay đổi và khả năng phục hồi từ những thay đổi, thể hiện mối liên hệ giữa sử dụng đất và chất lượng đất [89, 37, 13, 140], Dữ liệu đầu vào của chỉ thị hiện trạng
là dữ liệu liên ngành, thường không đồng bộ và khó tiếp cận Ngoài ra, có thể xác định các chỉ thị hiện trạng thông qua công nghệ viễn thám và GIS
+ Chỉ thị về Đáp ứng (Response) phản ánh ý thức, nỗ lực của người sử dụng đất
và Nhà nước nhằm tác động lên áp lực và hiện trạng chất lượng đất đai Chỉ thị đáp ứng hỗ trợ đánh giá hoạt động cải tạo chất lượng, gia tăng giá trị; giá trị sử dụng và giá đất [13, 37, 140],…
Nhìn chung, mô hình PSR làm nổi bật sự tương tác giữa con người và đất đai cùng với dự báo xu hướng thay đổi của mối liên hệ đó Tuy nhiên, đa số các bộ chỉ thị chất lượng đất đai theo khung PSR trong các công trình nghiên cứu đều được tính toán theo
ranh giới hành chính Trong khi đó, một số chỉ thị lại cần được xác định dựa vào đặc
điểm điều kiện tự nhiên cho phù hợp với mục đích và ý nghĩa của chúng
- Khung chủ đề: Khung chủ đề phát triển theo hướng là các khung chủ đề trụ cột,
cấu trúc các chủ đề theo 3 trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường Nghĩa là các chỉ thị chất lượng đất đai được tổ chức, sắp xếp theo các trụ cột này và phục vụ các mục đích khác nhau Điển hình, FAO năm 1997 đã đưa ra nhóm các chỉ thị chất lượng đất đai theo ba trụ cột nhằm đánh giá phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững, trong đó
nhóm chỉ thị kinh tế; nhóm chỉ thị xã hội; nhóm chỉ thị môi trường [95]
Trang 3221
- Khung theo mục đích: Tiêu biểu là bộ chỉ thị chất lượng đất đai theo FESLM
nhằm phục vụ mục đích quản lý đất đai bền vững Khung lý thuyết đánh giá quản lý đất đai bền vững (FESLM - Framework for Evaluation of Sustainable Land Management) được phát triển vào năm 1994 [37] Khung này tập trung vào đánh giá các mục tiêu duy trì và nâng cao chất lượng đất đai, gia tăng các lợi ích kinh tế xã hội
và môi trường không chỉ cho hiện tại và tương lai [135, 124, 78, 79],
Qua đó, có thể thấy nghiên cứu đánh giá HTSDĐ theo tiếp cận LQI trên thế giới
đã thu được nhiều thành tựu cả về lý luận và thực tiễn, trong đó nghiên cứu chủ yếu chỉ dựa theo ranh giới hành chính Tuy nhiên, ở nước ta, số lượng các công trình nghiên cứu theo tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai cho đánh giá HTSDĐ nông nghiệp còn rất hạn chế và hầu như chưa được nghiên cứu
1.1.4 Hướng nghiên cứu có liên quan đến đánh giá đất và hệ thống sử dụng đất
ở thành phố Hà Nội và huyện Quốc Oai
Quốc Oai là huyện bán sơn địa của thành phố Hà Nội, được thành lập vào năm 2008 Trước thời điểm đó, Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Tây cũtrong hai giai đoạn 1965-1975 và 1991-2008 Từ 1975 - 1991 hợp nhất với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Các nghiên cứu riêng về Quốc Oai rất hạn chế, mà chủ yếu là nghiên cứu về tỉnh Hà Tây, tỉnh Hà Sơn Bình, thành phố Hà Nội hoặc nghiên cứu cả phía tây của Hà Nội, trong đó
có bao gồm Quốc Oai Do đó, các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án trên lãnh thổ có thể được chia thành các nhóm ở quy mô cấp tỉnh và cấp huyện
1.1.4.1 Hướng nghiên cứu ở quy mô cấp tỉnh, thành phố liên quan đến huyện Quốc Oai
- Nghiên cứu đánh giá đất, sử dụng đất bền vững: Nghiên cứu xây dựng ngân hàng
cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội các tỉnh Hà Tây, Hòa Bình, Sơn La (Đào Vọng Đức và nnk, 1993 – 1995); Đánh giá đất theo phương pháp của FAO (Phạm Dương Ưng, 1994); Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp liên ngành đối với tài nguyên đất nông nghiệp của Hà Nội (Nguyễn Xuân Hải, 2012 – 2013); Các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất khu vực ngoại thành phía Tây Nam Hà Nội (Trần Văn Tuấn, 2013),
- Nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững: thể hiện
trong các công trình như sau: Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm
2030 và tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch phát triển vùng thủ đô (Lưu Đức Hải, 2010); Quy hoạch Thăng Long - Hà Nội phát triển bền vững thân thiện với môi trường (Phạm Trọng Mạnh, 2010); Thực trạng về quy hoạch và phát triển đô thị Hà Nội (Phùng Anh Tiến, 2010); Nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý phục vụ định hướng phát triển không gian đô thị phía tây Hà Nội [45],
1.1.4.2 Hướng nghiên cứu riêng về huyện Quốc Oai
- Nghiên cứu đánh giá đất, sử dụng đất bền vững: ở cấp xã, nghiên cứu cụ thể cho
xã Đại Thành, huyện Quốc Oai của Trần Văn Tuấn, Nguyễn Cao Huần, Đỗ Thị Tài
Trang 3322
Thu và nnk (2015) Tuy nhiên, nghiên cứu đa số sử dụng các phương pháp định tính như đánh giá thích nghi bằng phương pháp hạn chế Điều này sẽ được nghiên cứu sinh khắc phục trong luận án Ngoài ra, ở huyện Quốc Oai còn có các báo cáo của huyện về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội [54, 53],
Như vậy, các nghiên cứu về huyện Quốc Oai chủ yếu nằm trong các nghiên cứu,
dự án phát triển chung của cả tỉnh hoặc thành phố, nghiên cứu riêng về huyện rất hạn chế, nhất là nghiên cứu đánh giá HTSDĐ phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi huyện Quốc Oai được đặt trong và chịu sự tác động của quá trình phát triển của thủ đô Hà Nội như quá trình đô thị hóa, tăng dân số, với nhiều xung đột giữa các lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường thì vấn đề sử dụng bền vững tài nguyên đất đặc biệt đất nông nghiệp trở nên rất cấp thiết
1.1.5 Nhận xét từ kết quả tổng quan, phân tích các công trình nghiên cứu
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên có thể rút ra nhận xét:
a) Hệ thống sử dụng đất được xem xét như một hệ thống nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về nó Các bộ phận cấu thành như đơn vị đất đai, loại hình sử dụng đất
được nghiên cứu nhiều hơn nhưng dưới góc độ ứng dụng thực tiễn, mà ít phân tích
nó dưới góc nhìn từ lý thuyết hệ thống
b) Các khái niệm về HTSDĐ, ĐVĐĐ và LHSDĐ đều mang tính chất chung, áp dụng chung cho tất cả các quy mô lãnh thổ khác nhau Điều này tạo cho các nghiên cứu dễ thực
hiện nhưng không phân biệt được sự khác nhau của đơn vị HTSDĐ, ĐVĐĐ, LHSDĐ cho
cấp xã, huyện, tỉnh và lớn hơn Vì vậy, những vấn đề này khi xem xét cần được quan tâm
giải quyết nhằm phân biệt rõ thứ bậc ĐVĐĐ phù hợp với các quy mô lãnh thổ
c) HTSDĐ nông nghiệp là một HTSDĐ đặc biệt được quan tâm, có sự khác biệt với các HTSDĐ khác khi nghiên cứu phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Trong HTSDĐ nông nghiệp cũng giống như cảnh quan nông nghiệp cần chú ý
đến tính nhịp điệu mùa và tính vùng/khu vực trong sản xuất Trong thực tế, các nghiên
cứu HTSDĐ nông nghiệp ở trên thế giới và Việt Nam chưa được quan tâm
d) Phân vùng sinh thái nông nghiệp đã thu được rất nhiều thành tựu cả về lý luận
và ứng dụng thực tiễn, tuy nghiên nghiên cứu phân vùng hệ thống sử dụng đất nông
nghiệp chưa được nghiên cứu và đề cập
e) Định hướng nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững dựa trên đánh giá đất cho một số loại hình sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nếu định hướng cho phát triển nông
nghiệp bền vững theo tiếp cận bộ chỉ thị chất lượng đất đai với khung kết hợp đánh giá
KT-ST và mô hình Áp lực – Hiện trạng– Đáp ứng của các HTSDĐ nông nghiệp thì sẽ đảm
bảo cơ sở khoa học toàn diện và đầy đủ hơn
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG ÁP DỤNG CHO HUYỆN QUỐC OAI
Trang 34b) Mô hình khái niệm về hệ thống sử dụng đất
Bất kỳ HTSDĐ nào đều chứa đựng hai nhóm thuộc tính: thuộc tính tự nhiên và thuộc tính nhân tác Nói một cách rõ hơn, HTSDĐ gồm hai phụ hệ thống: phụ hệ thống tự nhiên và phụ hệ thống nhân tác, tác động qua lại lẫn nhau bởi dòng vật chất
và năng lượng (hình 1.2)
- Phụ hệ thống tự nhiên là ĐVĐĐ (tổng thể tự nhiên không đầy đủ), một phức hợp tương tác các yếu tố khí hậu, địa hình, độ dốc, thổ nhưỡng, thành phần cơ giới đất,… và mỗi yếu tố tự nhiên có vai trò nhất định trong quá trình hình thành và phát triển HTSDĐ
- Phụ hệ thống nhân tác là LHSDĐ có những thuộc tính, đặc điểm liên quan tới hoạt động sản xuất của con người như các thuộc tính kỹ thuật và quản lý sản xuất, thuộc tính kinh tế xã hội,… với tính ổn định không cao, thay đổi phụ thuộc vào yếu tố con người Các đặc tính của ĐVĐĐ và các thuộc tính của LHSDĐ đều phản ánh tính chất tổng hợp của đơn vị HTSDĐ Do đó, HTSDĐ đều chịu sự chi phối đồng thời của hai quy luật: quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội Mối tương tác chặt chẽ giữa hai
bộ phận này quyết định đến đầu ra của hệ thống
c) Tính đa dạng của hệ thống sử dụng đất
Các ĐVĐĐ ít bị biến đổi do tác động của con người so với các LHSDĐ trong HTSDĐ của một lãnh thổ Do đó, tính đa dạng của HTSDĐ phụ thuộc vào tính đa dạng của các LHSDĐ, các lãnh thổ có sự phân hóa cao về điều kiện tự nhiên sẽ có tính đa dạng cao hơn về LHSDĐ và ngược lại
Các HTSDĐ được phân chia theo nguồn gốc, có thể được xếp vào một số nhóm:
- Các HTSDĐ liên quan chặt với điều kiện tự nhiên: ví dụ các HTSDĐ trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản,…
Hệ thống sử dụng đất - HTSDĐ
Đơn vị đất đai (ĐVĐĐ)
(Phụ hệ thống tự nhiên)
Loại hình sử dụng đất (LHSDĐ)
(Phụ hệ thống nhân tác)
Trang 351.2.2 H ệ thống sử dụng đất nông nghiệp – các cấp đơn vị phân loại và tính nhịp điệu mùa
a) Khái niệm
HTSDĐ nông nghiệp là hệ thống sử dụng đất bao gồm hai phụ hệ thống: đơn vị đất đai và loại hình sử dụng đất nông nghiệp tác động qua lại lẫn nhau bởi dòng vật chất tự nhiên và nhân tác So với HTSDĐ quần cư nông thôn, đô thị và công nghiệp, HTSDĐ nông nghiệp có tính khác biệt, được thể hiện ở tính đặc thù trong cấu trúc, nhất là phụ hệ thống nhân tác liên quan đến các LHSDĐ nông nghiệp với dòng năng lượng, vật chất ở đầu vào và sản phẩm đầu ra của hệ thống (được phân tích cụ thể trong mô hình cấu trúc của HTSDĐ nông nghiệp ở hình 1.3)
b) Các cấp đơn vị phân loại HTSDĐ nông nghiệp và các tiêu chí xác định
Với mục đích phân biệt mức độ chi tiết khác nhau trong nghiên cứu, đánh giá các ĐVĐĐ, các LHSDĐ nói chung và các HTSDĐ nói riêng phù hợp với từng quy mô lãnh thổ cần thiết phải phân loại các đối tượng này theo các cấp phân vị tương ứng Nguyên tắc phân loại như sau:
- Hệ thống đơn vị phân loại HTSDĐ phải đơn giản, logic và bao quát đủ các cấp
để có thể sử dụng cho các quy mô lãnh thổ khác nhau
- Mỗi cấp đơn vị phân loại HTSDĐ sẽ có các cấp ĐVĐĐ và LHSDĐ tương ứng kèm theo Dựa theo các nguyên tắc nêu trên, có thể xây dựng hệ thống các đơn vị phân loại
HTSDĐ gồm 4 cấp: Kiểu – Nhóm – Loại – Dạng, tương ứng với các cấp phân vị này
là các cấp Kiểu – Nhóm – Loại - Dạng ĐVĐĐ và Kiểu – Nhóm – Loại – Dạng LHSDĐ (bảng 1.2) Phân loại hệ thống sử dụng đất nói chung và HTSDĐ nông nghiệp nói riêng là sự nhóm gộp các HTSDĐ theo các tiêu chí Mỗi cấp đơn vị phân loại HTSDĐ nông nghiệp được phân theo các tiêu chí về ĐVĐĐ và LHSDĐ nông nghiệp tương ứng, trong đó mỗi một cấp ĐVĐĐ và cấp đơn vị LHSDĐ nông nghiệp được phân chia theo các tiêu chí riêng (phụ lục 5 và phụ lục 6) Đồng thời trong mỗi cấp, các tiêu chí phân chia ĐVĐĐ phải có sự phù hợp với các LHSDĐ tương ứng và được thể hiện rõ hơn bằng sự phân cấp các chỉ tiêu phù hợp khi triển khai nghiên cứu
cụ thể cho mỗi địa phương để sự phân hóa của các ĐVĐĐ có thể phản ánh được chính xác nhu cầu sinh thái của LHSDĐ trong mỗi đơn vị HTSDĐ
Trong HTSDĐ nông nghiệp, các kiểu ĐVĐĐ – kiểu LHSDĐ, nhóm ĐVĐĐ - nhóm LHSDĐ sẽ phù hợp cho các nghiên cứu đánh giá ở mức độ sơ bộ, định tính và cấp quy mô lớn như cấp vùng, tỉnh Loại ĐVĐĐ và Dạng ĐVĐĐ sẽ phù hợp cho các
Trang 3625
nghiên cứu đánh giá ở mức độ chi tiết và cấp quy mô nhỏ hơn như cấp huyện, xã [60]
Do LHSDĐ hoặc dạng LHSDĐ đề cập đến một cây trồng, một nhóm cây trồng thuộc một HTSDĐ ở một môi trường kinh tế - xã hội cụ thể nên sẽ phù hợp trong các nghiên cứu đánh giá ở mức độ chi tiết và định lượng
loại HTSDĐ huyện Quốc Oai Tiêu chí về ĐVĐĐ
tụ thống trị và nhóm đất)
Kiểu LHSDĐ chính
(Loại sử dụng đất phân theo nhóm ngành chính trong nông nghiệp, phi nông nghiệp và chưa sử
dụng)
- Kiểu HTSDĐ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng
- Kiểu HTSDĐ NTTS vùng đồng bằng;
- Kiểu HTSDĐ sản xuất nông nghiệp vùng đồi;
- Kiểu HTSDĐ lâm nghiệp vùng đồi;
Nhóm LHSDĐ
(Đồng nhất về thời gian sinh trưởng của
cây trồng)
Nhóm HTSDĐ cây hàng năm vùng đồng bằng thấp;
Nhóm HTSDĐ cây lâu năm vùng đồng bằng thấp; Nhóm HTSDĐ NTTS nước ngọt vùng đồng bằng thấp; Nhóm HTSDĐ cây hàng năm vùng đồi thấp; Nhóm HTSDĐ cây lâu năm vùng đồi thấp; Nhóm HTSDĐ rừng sản xuất vùng đồi thấp;
Loại
Loại ĐVĐĐ
(Đồng nhất nền tảng rắn - thổ nhưỡng và nền nhiệt ẩm)
Loại LHSDĐ
(Mức độ chi tiết của LHSDĐ với sự khác biệt
về biện pháp kĩ thuật canh tác, chăm bón, quản
Dạng LHSDĐ
(Dạng sử dụng đất
cụ thể đến từng cây trồng và mùa vụ)
Dạng HTSDĐ rau xanh xuân – rau xanh hè – rau xanh đông ở bãi bồi ngoài đê chịu ảnh hưởng của
lũ hàng năm, thường bị ngập úng theo mùa; Dạng HTSDĐ lúa đông xuân – lúa hè thu ở bãi bồi ngoài đê không chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm và không bị ngập úng theo mùa;
…
Đối với quy mô lãnh thổ cụ thể như huyện Quốc Oai, cấp đơn vị là Loại HTSDĐ được xác định dựa vào Loại ĐVĐĐ và LHSDĐ Để nhận diện các đơn vị HTSDĐ nông nghiệp với nhau, HTSDĐ được kí hiệu n-X, trong đó: X là loại hình sử dụng
đất nông nghiệp, n là đơn vị đất đai Trong một HTSDĐ nông nghiệp, dưới tác động của con người mỗi giá trị của X được lựa chọn mà phù hợp cả về mặt tự nhiên, kinh
tế - xã hội và môi trường với ĐVĐĐ thứ n thì có thể tạo ra “đặc sản” hoặc “chỉ dẫn địa lý” cho địa phương Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Trong nông nghiệp, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định Ở huyện Quốc Oai, nổi tiếng với đặc sản nhãn chín muộn Đại Thành (thuộc xã Đại Thành), chè Long Phú (thôn Long Phú), rau Quảng Yên
Trang 3726
(thôn Quảng Yên),…trong đó có 2 sản phẩm đã được đăng ký chỉ dẫn địa lý để bảo
hộ thương hiệu cho địa phương là chè Long Phú và nhãn chín muộn Đại Thành
c) Tính nhịp điệu mùa của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Nhịp điệu mùa là những thay đổi lặp lại một cách có quy luật và làm thay đổi trạng thái HTSDĐ nông nghiệp theo thời gian của năm, trong đó chế độ nhiệt ẩm đóng vai trò chủ đạo HTSDĐ nông nghiệp có tính nhịp điệu mùa phản ánh sự thay đổi trạng thái của HTSDĐ mà không thay đổi cấu trúc, trong đó chế độ nhiệt ẩm đóng vai trò chủ đạo ảnh hưởng mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc luân canh cây trồng tạo nên tính đa dạng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Tính nhịp điệu mùa của HTSDĐ nông nghiệp thể hiện rõ trong miền nhiệt đới gió mùa, trong đó có Việt Nam và cụ thể là huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Chính sự thay đổi của các yếu tố khí hậu theo mùa là nguyên nhân chủ yếu tạo ra tính nông vụ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Do đó, tính nhịp điệu mùa quy định lịch nông vụ trong phát triển nông nghiệp Sự biến động mạnh mẽ trong diễn biến mùa khí hậu tác động đến lịch nông vụ của lãnh thổ, tạo nên tính đa dạng trong phát triển sản xuất nông nghiệp với sự phong phú của các LHSDĐ cụ thể là các cây trồng xứ nóng
và cây trồng xứ lạnh (được canh tác vào vụ hè và vụ đông)
1.2.3 Mô hình cấu trúc và chức năng của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
1.2.3.1 Mô hình cấu trúc của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Mô hình cấu trúc HTSDĐ nông nghiệp được luận án xây dựng phát triển ở hình 1.3 dựa trên cơ sở nghiên cứu sinh kết hợp mô hình của Nguyễn Cao Huần và Đào Châu Thu [ 24, 39] Trong đó chỉ rõ các bộ phận cấu thành với đầu vào gồm nguồn vật chất - năng lượng tự nhiên (nhiệt, ẩm, dinh dưỡng,…) và nguồn vật chất – năng lượng nhân tác (khoa học kĩ thuật, chính sách, giống, phân bón,…) cùng với sản phẩm đầu ra là các sản phẩm kinh tế (năng suất, sản lượng,…), sản phẩm xã hội và sinh thái
- môi trường Do đó, sản phẩm đầu ra của HTSDĐ nông nghiệp tốt hay xấu phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên liên quan đến ĐVĐĐ và thuộc tính nhân tác gắn với con người cùng với các hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên đất Thuộc tính nhân tác quyết định đến khả năng làm ổn định hoặc biến đổi HTSDĐ Trong phụ hệ nhân tác, LHSDĐ nông nghiệp nếu được bố trí hợp lý phù hợp với các ĐVĐĐ sẽ có tác động tích cực và cải thiện môi trường sinh thái Ngược lại, nếu bố trí không hợp lý sẽ dẫn đến hậu quả xấu về xã hội, môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nông nghiệp bền vững Mối quan hệ con người và HTSDĐ quyết định sự cân bằng và tính bền vững của hệ thống Hơn nữa, cấu trúc của hệ thống được đặc trưng bởi sự tác động liên tục giữa con người với HTSDĐ theo không gian và thời gian Như vậy, HTSDĐ luôn ở trạng thái cân bằng động, luôn thay đổi theo thời gian, không gian, môi trường, mục đích sử dụng đất, đồng thời là sự tác động qua lại giữa các hợp phần
tự nhiên và nhân tác trong suốt quá trình tồn tại
Trang 38s ản lượng,…)
S ản phẩm
xã h ội, tinh
th ần
S ản phẩm Sinh thái – Môi trường (c ải thiện,
ph ục
h ồi/suy thoái ô nhiễm môi trường,…)
Trang 3928
Xuất phát từ cấu trúc của HTSDĐ dễ dàng nhận thấy đánh giá HTSDĐ có những điểm khác biệt so với đánh giá đất (bảng 1.3).Bởi vì, trong đánh giá đất đai là đã có chủ thể và sẽ bố trí khách thể lên trên, còn bản thân HTSDĐ đã là một hệ thống tổng hợp, do đó đầu ra của đánh giá này không phải là mức độ thích hợp như đánh giá đất đai mà nó phải là mức độ phù hợp trong HTSDĐ đó.Do đó, thuật ngữ về đánh giá HTSDĐ phục vụ hai mục đích: Thứ nhất, thể hiện một cách ngắn gọn, thuận tiện để
đề cập đến sự kết hợp giữa LHSDĐ với ĐVĐĐ Thứ hai, nó cung cấp một khung phân tích để đánh giá hiệu quả của các biến thể trong hệ thống Một sự thay đổi trong bất kỳ một trong những thành phần chính - đầu vào, LHSDĐ và các yêu cầu của nó, ĐVĐĐ và phẩm chất của nó, và đầu ra, sẽ có tác động trở lại khác nhau Hay nói khác
đi, nó cho thấy được mối quan hệ tương tác giữa các thành phần Khái niệm này cung cấp một cơ sở để phân tích hệ quả của sự thay đổi: đối với ĐVĐĐ (bằng cách cải tạo đất), đối với LHSDĐ (bằng cách sửa đổi đặc điểm kỹ thuật), hoặc đầu vào
Bản chất Sẽ bố trí các khách thể lên trên Là một hệ thống tổng hợp có sẵn
Tính hệ thống Chưa quan tâm Mô phỏng cấu trúc cho phép xem xét đầy đủ
mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần Kết quả đánh giá Mức độ thích hợp Mức độ phù hợp
Vì vậy, đánh giá hệ thống sử dụng đất ngoài mô phỏng cấu trúc một cách rút gọn sự
kết hợp giữa LHSDĐ và ĐVĐĐ, nó còn cho phép xem xét đầy đủ mối quan hệ tương
hỗ giữa các hợp phần trong HTSDĐ và giữa các HTSDĐ với nhau một cách cụ thể nhờ tính mô phỏng cấu trúc trong hệ thống đó Do đó, nghiên cứu đánh giá đất theo tiếp cận HTSDĐ trên quan điểm hệ thống sẽ toàn diện, đầy đủ hơn và cho phép ngoại suy trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất
1.2.3.2 Chức năng của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Đơn vị HTSDĐ là một dạng tài nguyên không gian, là đơn vị cơ sở để tổ chức sản xuất theo các mục đích sử dụng khác nhau, vì thế, chúng chứa đựng các chức năng tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định Đối với lãnh thổ khu vực đồi núi, HTSDĐ không những chứa đựng tài nguyên thiên nhiên mà còn tiềm ẩn nguy cơ tai biến thiên nhiên [51] Bên cạnh các chức năng sản xuất vật chất, tạo môi trường sống, HTSDĐ nông nghiệp còn có chức năng bảo vệ tài nguyên, môi trường Như vậy, chức năng của HTSDĐ được phân biệt hai dạng: chức năng tự nhiên và chức năng kinh tế - xã hội, môi trường
Chức năng tự nhiên được hiểu là “hoạt động” của HTSDĐ, là tập hợp các quá trình trao đổi và chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ thống (Ixatrenko, 1991), hay
Trang 4029
nói một cách khác: chức năng tự nhiên của HTSDĐ thể hiện “mối tương tác giữa các yếu tố không gian, dòng chảy vật chất và năng lượng cùng sinh vật trong tự nhiên” (Forman và Godron, 1996), là quá trình sinh địa hóa trong HTSDĐ Các quá trình đó giúp HTSDĐ có khả năng chống đỡ với những tác động bên ngoài, tạo nên trạng thái cân bằng trong hệ thống Xác định chức năng tự nhiên của HTSDĐ tạo cơ sở xác định các chức năng kinh tế - xã hội và môi trường
Chức năng kinh tế - xã hội là “khả năng của các quá trình vật chất và năng lượng trong tự nhiên cùng các thành phần của chúng có thể cung cấp các hàng hóa và dịch
vụ thỏa mãn nhu cầu của con người” [51] Dưới góc độ quy hoạch, cấu trúc chức năng HTSDĐ được sử dụng cho việc đánh giá HTSDĐ phục vụ quy hoạch, cung cấp cho quy hoạch sử dụng đất những thông tin về những phẩm chất hiện có của HTSDĐ Một HTSDĐ có thể đảm nhận nhiều chức năng cụ thể khác nhau như sau:
- Chức năng sản xuất và dịch vụ: Các HTSDĐ có chức năng sản xuất và dịch vụ
nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đó là khả năng để sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, du lịch,
- Chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường tự nhiên: Các HTSDĐ rừng tự nhiên và
rừng trồng trên núi thấp, đồi cao với độ dốc lớn có chức năng phòng hộ đầu nguồn,
phòng chống các tai biến thiên nhiên, như: lũ ống, lũ quét, trượt lở đất,
- Chức năng bảo tồn, phục hồi: Các loại HTSDĐ có chức năng bảo tồn, phục hồi
là thường các loại HTSDĐ rừng tự nhiên trên địa hình núi trung bình và cao,
1.2.4 Phân vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Phân vùng HTSDĐ nông nghiệp là sự phân chia lãnh thổ thành các khu vực riêng biệt dựa vào tính không lặp lại trong không gian, có cấu trúc riêng biệt, bao gồm một tập hợp có quy luật các HTSDĐ trong khu vực nghiên cứu Phân vùng HTSDĐ có ý nghĩa tạo cơ sở cho việc sử dụng tài nguyên đất có hiệu quả tối ưu, phát huy đầy đủ tiềm năng của từng tiểu vùng nhằm sản xuất chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp nông - lâm nghiệp đáp ứng được yêu cầu của thị trường Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể các vùng kinh tế cũng như quy hoạch sử dụng đất của các xã trong huyện,… Ngoài ra, nó còn tạo thuận lợi cho việc triển khai áp dụng trong thực tiễn nhanh chóng và hiệu quả như chính sách, giải pháp đồng bộ làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
Trong phạm vi lãnh thổ cấp huyện, phân vùng HTSDĐ nông nghiệp chính là phân chia lãnh thổ huyện thành các tiểu vùng HTSDĐ nông nghiệp Hai cấp đơn vị phân vùng được sử dụng là vùng và tiểu vùng Trong đó, toàn bộ lãnh thổ huyện cụ thể là huyện Quốc Oai được xem như một vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Tiêu chí phân vùng hệ thống sử dụng đất nông nghiệp: dựa trên đặc điểm phân hóa
HTSDĐ nông nghiệp khu vực nghiên cứu có thể tiến hành phân vùng HTSDĐ Tiêu chí phân vùng HTSDĐ dựa vào tập hợp các HTSDĐ nông nghiệp chiếm ưu thế Điều