Hướng dẫn ứng dụng elearning trong dạy học Địa lí lớp 11 trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, ngoài ra các bạn có thể ứng dụng sử dụng phần mềm dạy học elearning ở các cấp từ lớp 6 12 và đặc biệt không chỉ giảng dạy môn Địa lí mà giảng dạy được tất cả các môn học.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô hướng dẫn khóa
luận PGS.TS Ngô Thị Hải Yến – cô đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Đồng thời em cũng xin cảm ơncác thầy cô trong khoa Địa lí đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lí luận & Phương phápdạy học Địa lí đã tạo điều kiện giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu để khóaluận tốt nghiệp đạt kết quả tốt nhất
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn thư viện khoa Địa lí, thư viện trườngĐại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp những tài liệu liên quan, giúp em hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện tốtnhất để em có thể hoàn thành tốt nhất đề tài
Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để hoàn thiện luậntốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục các bảng biểu vi
Danh mục các hình vẽ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG E - LEARNING TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 – THPT 6
1.1 Những định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 6
1.1.1 Quan điểm đổi mới chỉ đạo giáo dục phổ thông 6
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông 7
1.2 Một số vấn đề về E - learning trong dạy học ở nhà trường phổ thông 11
1.2.1 Khái niệm E - learning 11
1.2.2 Những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng E – learning trong dạy học Địa lí 11 - THPT 12
1.2.3 Đặc điểm của dạy học E - learning 14
1.3 Mục tiêu, nội dung chương trình Địa lí lớp 11 và SGK Địa lí lớp 11 – THPT 15
Trang 31.3.1 Mục tiêu chương trình 15
1.3.2 Nội dung chương trình Địa lí 11- THPT 16
1.4 Thực trạng ứng dụng E - learning trong dạy học Địa lí lớp 11 – THPT 18
1.4.1 Đối với giáo viên 18
1.4.2 Đối với học sinh 21
1.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 – THPT 25
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 11 – THPT 25
1.5.2 Trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 - THPT 25
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI HỌC E - LEARNING TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 – THPT 27
2.1 Nguyên tắc và yêu cầu bài học E-learning trong dạy học môn Địa lí lớp 11 – THPT 27
2.1.1 Nguyên tắc thiết kế bài học E - learning trong môn Địa lí lớp 11 – THPT 27
2.1.2 Yêu cầu một bài giảng E - learning trong môn Địa lí lớp 11 – THPT 28
2.2 Thiết kế bài học E-learning trong dạy học Địa lí 11 - THPT 30
2.2.1 Quy trình thiết kế bài dạy E - learning trong môn Địa lí lớp 11 – THPT 30
2.2.2 Một số phần mềm thiết kế bài học E-learning 32
2.2.3 Thiết kế bài dạy bằng phần mềm iSpring Presenter 33
2.3 Hướng dẫn sử dụng bài học E-learning trong dạy học Địa lí 11 – THPT 44
2.4 Một số bài giảng minh họa 48
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 Mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc thực nghiệm 62
Trang 43.1.1 Mục đích thực nghiệm 62
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 62
3.1.3 Nguyên tắc thực nghiệm 62
3.2 Tổ chức thực nghiệm 62
3.2.1 Thời gian thực nghiệm 62
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 63
3.2.3 Nội dung thực nghiệm 63
3.2.4 Quy trình thực nghiệm 63
3.3 Kết quả thực nghiệm 64
3.3.1 Nhận xét về mặt định tính 64
3.3.2 Nhận xét về mặt định lượng 64
PHẦN KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tra
Bảng 1.1: Đặc điểm của lớp học truyền thống và lớp học E-Learning 15
Bảng 1.2: Mức độ cần thiết của việc ứng dụng E-learning 19
Bảng 1.3: Mức độ sử dụng hình thức dạy học E-learning 19
Bảng 1.4: Mức độ thể hiện khả năng ứng dụng E-learning 20
Bảng 1.5: Những khó khăn của giáo viên khi ứng dụng E-learning trong dạy học 20
Bảng 1.6: Mức độ thành thạo các khả năng cơ bản của học sinh 22
Bảng 1.7: Điều kiện học tập của học sinh 23
Bảng 1.8: Nhu cầu tham gia các lớp học bài giảng E-learning 24
Y Bảng 3.1: Bảng thống kê điểm số của các lớp TN và ĐC 64
Bảng 3.2: Bảng phân loại trình độ học sinh qua các bài kiểm tra thực nghiệm 65
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Tra
Hình 2.1: Thanh công cụ của V-iSpring được tích hợp vào PowerPoint 34
Hình 2.2: Giao diện Chèn web vào slide 34
Hình 2.3: Giao diện chèn Youtube 35
Hình 2.4: Giao diện chọn định dạng Sách điện tử 36
Hình 2.5: Giao diện khởi động chương trình soạn đề trắc nghiệm 37
Hình 2.6: Giao diện soạn đề trắc nghiệm 39
Hình 2.7: Giao diện thu âm bài giảng 40
Hình 2.8: Giao diện quản lí đồng bộ lời giảng với hiệu ứng slide 40
Hình 2.9: Giao diện quản lí cấu trúc bài giảng 41
Hình 2.10: Giao diện quản lí tài liệu đính kèm bài giảng 42
Hình 2.11: Giao diện chính trang thư viện trực tuyến violet 44
Hình 2 12: Giao diện hộp thoại đăng nhập/đăng kí 45
Hình 2.13: Giao diện đăng kí thành viên 45
Hình 2.14: Giao diện sau khi đã điền đầy đủ thông tin 46
Hình 2.15: Giao diện thông tin bị sai khi đăng kí 46
Hình 2.16: Giao diện đăng nhập 47
Hình 2.17: Giao diện hộp thoại sau khi đăng nhập 47
Hình 2.18: Giao diện chọn bài học 48
Y Hình 3.1: Biểu đồ so sánh trình độ HS qua bài kiểm tra trong thực nghiệm giữa lớp TN và ĐC 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [4] Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bảnchất của đổi mới phương pháp dạy học người học và một số biện pháp đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng này
Mục tiêu của chương trình Địa lí 11 – THPT nhằm giúp cho học sinh nắmđược những đặc điểm nổi bật về thiên nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của các châulục; về nền kinh tế thế giới đương đại, một số vấn đề mang tính toàn cầu và địa límột số khu vực, quốc gia đại diện cho các trình độ phát triển kinh tế - xã hội khácnhau trên thế giới, góp phần chuẩn bị hành trang cho học sinh bước vào cuộc sốngtrong thời đại bùng nổ thông tin và mở rộng giao lưu, hợp tác giữa nước ta với cácnước trong khu vực và trên thế giới [2] Do đó việc thay đổi phương pháp dạy họcgiúp học sinh tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng địa lí và đặc biệt phát triển nănglực cho học sinh như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng công nghệ thôngtin (ICT)… là một vấn đề quan trọng đối với việc giảng dạy bộ môn Địa lí ở trườngTHPT Như vậy, giáo viên cần tổ chức nhiều hoạt động để kích thích tính tích cực ởhọc sinh như tính tự học, khám phá, suy nghĩ độc lập và giải quyết một số vấn đề.Thực tế hiện nay, nhiều giáo viên đã thay đổi theo hướng tích cực bằng việcthiết kế bài học có sử dụng ICT trong dạy học Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạyhọc đồng thời áp dụng những tiến bộ khoa học, kĩ thuật và công nghệ thông tintrong dạy học thì việc lựa chọn phương pháp pháp dạy học tối ưu nhất là một điều
Trang 9vô cùng quan trọng và phương pháp dạy học E-learning đã đáp ứng được nhữngyêu cầu trên
Dạy học E - learning đã phát triển hầu hết ở các nước, trong đó có Việt Nam.Đây là một môi trường học tập rất tốt Đặc biệt, dạy học E – learning giúp chongười học có thể tự khám phá, nghiên cứu kiến thức một các độc lập Chính điềunày, đã giúp giáo viên buộc phải đổi mới cách thiết kế bài dạy, tăng cường sử dụngcông nghệ thông tin trong dạy học, vấn đề này góp phần trong việc đổi mới phươngpháp dạy học
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Ứng dụng E - learning trong dạy học Địa lí lớp 11 - THPT”.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là ứng dụng dạy học E - learning trong dạy học Địa lí11- THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lựccho học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy vàhọc môn Địa lí ở nhà trường phổ thông
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cách thức ứng dụng E - learning trong dạy họcĐịa lí 11 - THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng E - learning trongdạy học Địa lí 11 – THPT
- Đề xuất những yêu cầu và nguyên tắc của E – learning trong dạy học Địa lí11- THPT
- Thiết kế và tổ chức E – learning trong dạy học một số bài Địa lí 11 – THPT
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả và mức độ khả thi của đề tài
- Đưa ra kết luận và kiến nghị về việc tổ chức dạy học E - learning
5 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu việc khả năng ứng dụng E-learning trong dạy họcĐịa lí 11 – THPT
Trang 10- Phạm vi tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng ở một số trường THPT HàNội như:
+Trường THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông, Hà Nội
- Thời gian thực nghiệm: từ 7/1 – 6/4/2019
- Phạm vi thực nghiệm việc ứng dụng E-learning để tích cực hóa hoạt độngnhận thức của học sinh ở trường THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông, Hà Nội
- Tiến hành thực nghiệm trên các bài đã soạn như:
+ Bài 10: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), (tiết 1: Tự nhiên, dân
cư và xã hội)
+ Bài 11: Khu vực Đông Nam Á (Tiết 3: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN)
6 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm hệ thống
Các thành tố như mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục,phương tiện giáo dục, nhà giáo dục… trong giáo dục, có quan hệ chặt chẽ, tác độngqua lại với nhau trong cùng một hệ thống Khi một thành phần trong hệ thống thayđổi thì sẽ kéo theo là sự thay đổi của nhiều thành phần khác Như chúng ta đã biết,
mục tiêu giáo dục của nước ta hiện nay là “nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Với mục tiêu giáo dục trên
nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, nhà giáo dục…cũng phải thay đổi theo.Nội dung giáo dục không phải là những nội dung riêng rẽ mà chúng có tính hệthống, chủ đề với nhau Nội dung thay đổi, phương pháp cũng phải thay đổi theohướng phát huy hơn nữa vai chủ động, tích cực của người học, giúp người học hìnhthành và phát triển khả năng tư duy, những năng lực và kĩ năng cần thiết để giảiquyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra
Trong quá trình nghiên cứu đề tài thì tác giả cũng phải đảm bảo tính hệ thống.Vận dụng quan điểm hệ thống giúp tác giả hiểu rõ hơn việc áp dụng E -learningtrong dạy học dạy học Địa lí 11- THPT Đồng thời, việc vận dụng quanđiểm hệ thống sẽ giúp cho việc nghiên cứu của tác giả toàn diện và sâu sắc hơn
Trang 116.1.2 Quan điểm lấy học sinh làm trung tâm
Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm được đã được đề cập khá nhiềutrong các tài liệu dạy học ở trong nước cũng như nước ngoài Quan điểm lấy giúpcho giúp cho học sinh biết suy nghĩ, học tập và có thái độ muốn học tập, làm chohọc sinh có ý chí và năng lực học tập
Quan điểm này đề cao tính tích cực chủ thể của người học nhưng không coinhẹ vai trò chỉ đạo của người dạy Giáo dục nhà trường là quy trình có mục đích, có
kế hoạch, được tiến hành dưới sự chỉ đạo của giáo viên Trong môn Địa lí lớp 11 –THPT, việc áp dụng E - learning trong dạy học, HS luôn được đặt trong môi trườnghoạt động và buộc phải hoạt động để thực hiện và hoàn thiện sản phẩm, thông qua
đó phát triển năng lực bản thân
6.1.3 Quan điểm giáo dục định hướng phát triển năng lực
Quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về hoạtđộng trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực tự giải quyết vấn đề gắn với nhữngtình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạtđộng thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập nhóm, đổi mới quan hệ giáoviên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực
xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn họcchuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giảiquyết vấn đề
Quan điểm này đã giúp tác giả trong việc áp dụng E - learning trong dạy họcĐịa lí 11 – THPT để xây dựng các bài toán nhận thức, các chủ đề phát huy đượccác năng lực của học sinh như năng lực sáng tạo, năng lực tự học, năng lực giảiquyết vấn đề tạo ra tính tự giác, chủ động trong mọi tính huống, khả năng giảiquyết các vấn đề trong xã hội thực tiễn
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Tác giả thu thập thập thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau có liên quanđến vấn đề nghiên cứu Sau đó đó tiến hành phân tích, tổng hợp các tài liệu tạo ramột hệ thống lí thuyết đầy đủ, logic, khoa học để phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Trang 126.2.3 Phương pháp khảo sát, điều tra
Khảo sát, điều tra là nội dung không thể thiếu của dạy học Địa lí Nó là mộtphần của chương trình, nhưng được dạy dưới hình thức ngoài lớp Thông qua khảosát, điều tra thực tế về tình hình, hiện trạng giảng dạy và sử dụng E - learning trong
tổ chức dạy học Địa lí lớp 11 - THPT Đây là cơ sở thực tế nhằm đưa ra những kếtluận về việc ứng dụng E – learning trong dạy học Địa lí 11 - THPT để tích cực hóahoạt động nhận thức của học sinh
6.2.3 Phương pháp chuyên gia
Đây là một phương pháp không thể thiếu khi tác giả thực hiện đề tài Tác giả
sử dụng phương pháp để tham khảo và xin ý kiến đánh giá của các giảng viên, giáoviên về vấn đề đề tài đang nghiên cứu Từ những góp ý của các giảng viên, giáoviên tác giả chỉnh sửa và hoàn thiện đề tài của mình
6.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu Thựcnghiệm thành công sẽ cho kết quả khách quan và tạo ra khả năng vận dụng nhanhchóng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đồng thời tạo ra những phương hướngnghiên cứu mới Ở đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp thực nghiệm để thunhận thông tin nhằm kiểm tra tính khả thi của việc ứng dụng E-learning trong dạyhọc Địa lí lớp 11 – THPT
6.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số tham số để đo lườngnhư: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn…để xử lí kết quả thực nghiệm
7 Cấu trúc của đề tài
Khóa luận bao gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luậnPhần nội dung của khóa luận là phần quan trọng nhất được cấu trúc thành bachương chính:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc áp dụng E - learning trong dạy
học Địa lí 11 – THPT
Chương 2: Thiết kế và sử dụng bài học E - learning trong dạy học Địa lí 11 – THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG
E - LEARNING TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 – THPT
1.1 Những định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.1.1 Quan điểm đổi mới chỉ đạo giáo dục phổ thông
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo
Trong bức thư cuối cùng gửi ngành GD&ĐT, ngày 15/11/1968, Người nêu rõ: "Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Ðảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới".
Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GD&ĐT, trongcác văn kiện Đại hội Đảng trước đây, đặc biệt Nghị quyết số 29-NQ/TW, Hội nghị
lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực” tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu, “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.
Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hành độngcủa Chính Phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hộinghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối
kì học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nên giáo dục phát triển”
Trang 141.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông
Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông:
Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyệntập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới phương phápdạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quenthuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhượcđiểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này ngườigiáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dung thành thạo các kỹ thuậtcủa chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹthuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt cáccâu hỏi và xử lí các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyệntập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vìthế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng cácphương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học pháthuy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Chẳng hạn có thể tăng cường tính tíchcực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy họcgiải quyết vấn đề[3]
Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu vànội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm
và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hìnhthức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để pháthuy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm,nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp vớinhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng Tình trạng độc tôn của dạy họctoàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệtthông qua làm việc nhóm [3]
Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cảitiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc
Trang 15nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên hìnhthức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụhọc tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việcnhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học,
sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứutrường hợp, dự án Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhómxen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của họcsinh Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong củaphương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạyhọc tích cực khác[3]
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lítrong dạy học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương phápdạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học.Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phươngtiện dạy học và phương pháp dạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạyhọc mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên cácphương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần đượcphát huy[3]
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa làphương tiện dạy học trong dạy học hiện đại Đa phương tiện và công nghệ thông tin
có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiệnnhư một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy họccũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning) Phươngtiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới.Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạyhọc sử dụng mạng điện tử, trong đó học sinh khám phá tri thức trên mạng một cách
có định hướng[3]
Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tíchcực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh Có những phương pháp nhận thức
Trang 16chung như phương pháp thu thập, xử lí, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chứclàm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệtcủa từng bộ môn Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh cácphương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn[3].
Tóm lại có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với nhữngcách tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung Việc đổi mớiphương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vậtchất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lí
Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên vớikinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiếnphương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân
Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp vềphương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lí Ngoài
ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giảng viên với kinh nghiệmriêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương phápdạy học và kinh nghiệm của cá nhân
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi nguồnnhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng Nguồn nhânlực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi đơn vị, doanh nghiệpnói riêng và của đất nước nói chung Kiến thức và sự hiểu biết về nguyên tắc đảmbảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logíc tất yếu đòi hỏi chất lượng đào tạongày càng phải tốt hơn Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáodục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sangmột nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủđộng, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là pháthuy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộngtác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cáchPPDH ở nhà trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
Trang 17theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”[4] Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bảnchất của đổi mới phương pháp dạy học người học và một số biện pháp đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng này
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh Đổimới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dụctiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâmđến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việchọc Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theolối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹnăng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổimới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằmphát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻcủa các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên mônnhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành vàphát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thôngtin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thùcủa môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải
đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự
tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạyhọc Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình
Trang 18thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rènluyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú chongười học.
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quiđịnh Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dunghọc và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tintrong dạy học
Việc đổi mới phương pháp dạy học thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp họcsinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thứcđược sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạtđộng học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào cáctình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tàiliệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và pháthiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp,đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và pháttriển tiềm năng sáng tạo
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thànhmôi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinhnghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiếntrình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng pháttriển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức nhưtheo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phêphán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
1.2 Một số vấn đề về E - learning trong dạy học ở nhà trường phổ thông
1.2.1 Khái niệm E - learning
E – learning (viết tắt của từ Electronic Learning) là thuật ngữ khá mới mẻ.Hiểu theo nghĩa rộng, E – learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đàotạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin
Trang 19Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiềucách hiểu về E – learning Sau đây là một số định nghĩa E – learning đặc trưng nhất:
E – learning là sử dụng các công cụ Web và Internet trong học tập (WilliamHorton)
E – learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trêncông nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc)
E – learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặcquản lí sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau vàđược thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cực (MASIE Center)
Theo quan điểm hiện đại, E – learning là sự phân phát các nội dung học sửdụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet,Intranet trong đó nội dung học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hìnhthức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video [7]
1.2.2 Những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng E – learning trong dạy học Địa lí 11 - THPT
1.2.2.1 Ưu điểm
E – learning làm thay đổi cách học cũng như vai trò người học, người họcđóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đạo tạo, có thể học mọi lúc, mọinơi nhờ có phương tiện trợ giúp người học
Người học có thể học theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tùy theo khảnăng và có thể chọn các nội dung học, do đó nó sẽ mở rộng đối tượng đào tạo rấtnhiều Tuy không thể hoàn toàn thay thế được phương thức đào tạo truyền thống, E– learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục đó lànhu cầu đào tạo của người lao động và số lượng sinh viên của các cơ sở đào tạo
E – learning sẽ có sức lôi cuốn rất nhiều người học kể cả những người trướcđây chưa bao giờ bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và rất phù hợp với hoàn cảnhcủa những người đi làm nhưng vấn muốn nâng cao trình độ
Các chương trình đào tạo từ xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độphong phú về giao diện, sử dụng rất nhiều hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh,hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kĩ xảo hoạt hình có độ tương tác cao giữa
Trang 20người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng Điều này đem đếncho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quảtrong học tập.
E – learning cho phép học sinh làm chủ hoàn toàn quá trình học sinh làm chủhoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũngnhư thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức cóliên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cáchnhanh chóng, tự do trao đổi mới những người cùng học hoặc giáo viên ngay trongquá trình học, những điều mà cách học truyền thống không thể hoặc đòi hỏi chi phíquá cao [7]
- Trong nhiều trường hợp, không thể và không nên đưa các nội dung quá trừutượng, quá phức tạp Đặc biêt là các nội dung liên quan đến thí nghiệm, thực hành
mà Công nghệ thông tin không thể hiện được hay thể hiện kém hiệu quả [6]
- Hệ thống E-learning cũng không thể thay thế được các hoạt động liên quantới việc rèn luyện và hình thành kĩ năng, đặc biết là kĩ năng thao tác vận động
Về người học
- Người học phải có khả năng làm việc độc lập với ý thức tự giác cao độ.Bên cạnh đó, cũng cần thể hiện khả năng hợp tác, chia sẻ qua mạng một các hiệuquả với giảng viên và các thành viên khác
- Người học phải biết lập kế hoạch phù hợp với bản thân, tự định hướngtrong học tập, thực hiện tốt kế họach học tập đã đề ra
Trang 21- HS học tập trong môi trường E-learning không có điều kiện tiếp xúc trựctiếp với thầy cô và bạn bè nên rất buồn tẻ sẽ hạn chế lớn khả năng giao tiếp, tìnhcảm giữa GV với HS và HS với nhau hạn chế.
- Học tập với E-learning phải tốn kém số tiền khá lớn, các HS có hoàn cảnhkhó khăn thì có có thể thực hành với hình thức này
- HS THPT Việt Nam chưa có thói quen tự học và làm việc nhóm, tính độclập chưa cao còn phụ thuộc nhiều vào GV, chưa tự giác giác học tập…
1.2.3 Đặc điểm của dạy học E - learning
Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông như công nghệ mạng, kĩ thuật
đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán
Hiệu quả của E – learning cao hơn so với cách học truyền thống, do E –learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học traođổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng
và sở thích của từng người
E – learning đã và đang trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức vàđang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổchức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E – learning ra đời
Bản chất của Internet, nền tảng của công nghệ học trực tuyến là linh họa Từkhi đăng kí học đến lúc hoàn tất, người học có thể học tập theo thời gian biểu mìnhđặt ra, không bị gò bó thời gian và không gian lớp học dù vẫn đang ở trong lớp học
“ảo”[1]
Trang 22Sự khác biệt giữa lớp học truyền thống và lớp học E-learning được thể hiệntrong bảng so sánh dưới dây:
Bảng 1.1: Đặc điểm của lớp học truyền thống và lớp học E-Learning Yếu tố liên
Lớp học
-Phải có phòng học, không gian
và kích thước phòng giới hạn
-Lớp học phải đồng bộ, cáchhọc cũng phải đồng bộ
- Không gian lớp học không giới hạn
- Học ở mọi lúc, mọi nơi
Số lượng
Có giới hạn, phải đến lớp, học ởmột giờ nhất định, trực
- Học liệu điện tử, đa phương tiện
- Không giới hạn, tìm kiếmnhanh
1.3 Mục tiêu, nội dung chương trình Địa lí lớp 11 và SGK Địa lí lớp 11 – THPT
1.3.1 Mục tiêu chương trình
Môn Địa lí lớp 11- THPT nhằm góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho
HS, phát triển tư duy logic, tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học lên các lĩnh vựckhoa học tự nhiên và khoa học xã hội Đặc biệt củng cố và phát triển cho HS 4 nănglực chủ yếu sau:
- Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở kiến thức, kĩ năng, phẩm chất
đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp
- Năng lực hợp tác phối hợp trong hoạt động và đời sống
- Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi của cuộc sống
- Năng lực tự khẳng định bản thân
Chương trình Địa lí 11 – THPT có những mục tiêu cụ thể sau:
- Về kiến thức: Trọng tâm kiến thức của môn Địa lí lớp 11 – THPT là địa líkinh tế - xã hội thế giới Chương trình được chia theo các đơn vị kiến thức lớn, bámsát SGK với hai nội dung lớn:
Trang 23+ Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới giúp học sinh biết được đặc điểmkhái quát của kinh tế thế giới, các vấn đề mang tính toàn cầu, một số vấn đề của cácchâu lục, khu vực.
+ Địa lí khu vực và quốc gia giới thiệu và cung cấp các kiến thức về các tổchức quốc tế tiêu biểu như: Liên minh Châu Âu (EU); Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN); các nền kinh tế tiêu biểu của thế giới như: Hoa Kì, Liên BangNga, Trung Quốc, Nhật Bản
- Về kĩ năng: Bên cạnh việc giúp học sinh có cái nhìn khái quát về kinh tế thếgiới, Địa lí lớp 11 – THPT còn rèn luyện cho học sinh những kĩ năng quan trọng như:
+ Kĩ năng quan sát, nhận xét, phân tích, giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí.+ Kĩ năng sử dụng, phân tích, nhận xét biểu đồ, bản đồ, bảng số liệu
+ Kĩ năng thu thập, xử lí các thông tin Địa lí
+ Kĩ năng vận dụng kiến thức để giải thích, chứng minh các sự vật, hiệntượng Địa lí, giải thích các mối quan hệ Địa lí
+ Học sinh có những kĩ năng sống cần thiết như: kĩ năng giao tiếp, ra quyếtđịnh, giải quyết vấn đề
- Về thái độ, tình cảm: Môn Địa lí lớp 11 – THPT giúp cho HS có thái độđúng đắn trước những vấn đề mang tính toàn cầu Có ý thức tìm hiểu về các khu vực,quốc gia trên thế giới
Với những mục tiêu cụ thể của môn Địa lí 11 – THPT cho thấy sự cần thiết phảiđổi mới phương pháp dạy học theo hướng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực đểtích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, giúp hoc sinh chiếm tri thức, rèn luyện kĩnăng, kĩ xảo, biết vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế cuộc sống
1.3.2 Nội dung chương trình Địa lí 11- THPT
Nội dung chương trình Địa lí chuẩn bao gồm các nội dung chính sau:
- Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới (7 tiết)
- Địa lí khu vực và quốc gia
+ Hợp chủng quốc Hoa Kì (3 tiết)
+ Liên minh châu Âu (4 tiết)
+ Liên Bang Nga (3 tiết)
Trang 24+ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (3 tiết)
+ Khu vực Đông Nam Á (4 tiết)
+ Ô – xtrây – li –a (2 tiết)
- Phần 1: Khái quát về nền kinh tế - xã hội thế giới
+ Về lí thuyết: Đề cập đến sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xãhội của các nhóm nước: phát triển, đang phát triển, nhóm nước công nghiệp mới;đặc điểm và tác động của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tới sựphát triển của nền kinh tế toàn cầu; toàn cầu hóa và các tổ chức liên kết khu vực;một số vấn đề nổi bật mang tính toàn cầu như: bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường,nguy cơ chiến tranh và sự cần thiết phải bảo vệ hòa bình
+ Về thực hành: Tập trung vào tìm hiểu những cơ hội và thách thức của toàn cầuhóa đối với các nước phát triển, chứng minh các kiến thức lí thuyết đã trình bày, rènluyện các kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, viết báo cáo ngắn về một vấn đề mang tínhtoàn cầu
- Phần 2: Địa lí khu vực và quốc gia
+ Về lí thuyết: Tìm hiểu địa lí các khu vực và quốc gia về vị trí địa lí, phạm vilãnh thổ; các đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, phân tích được nhữngthuận lợi và khó khăn của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; đặc điểm dân
cư – lao động; đặc điểm kinh tế - xã hội, một số ngành kinh tế chủ chốt, sự chuyểndịch cơ cấu ngành và phân bố theo lãnh thổ của nền kinh tế, ghi nhớ một số địa danh
+ Về thực hành: Chứng minh các kiến thức lí thuyết đã học Rèn luyện chohọc sinh những kĩ năng cơ bản nhất là kĩ năng sử dụng bản đồ, phân tích số liệuthống kê, vẽ biểu đồ, nhận xét biểu đồ
Nội dung và hình thức trình bày của SGK Địa lí lớp 11 – THPT
Các bài lí thuyết: Mỗi bài đều được thiết kế gồm kênh hình và kênh chữ
- Kênh chữ: Là phần quan trọng nhất, bao gồm hệ thống kiến thức đã đượclựa chọn kĩ lưỡng nhằm phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh
- Kênh hình: Ngày nay trong SGK các biểu đồ, bản đồ, hình ảnh đã tăng lên
cả về số lượng và chất lượng Kênh hình được kết hợp với hệ thống câu hỏi mở làmtăng tính tích cực cho HS, giảm bớt các kiến thức lí thuyết, khoa học trừu tượng
Trang 25- Câu hỏi giữa bài: Trong mỗi bài thường có một hoặc vài câu hỏi giữa bài,những câu hỏi này thường được in nghiêng với màu chữ nổi bật, có tác dụng giúphọc sinh tìm hiểu trước đồng thời cũng gợi mở cho học sinh hướng giải quyết nộidung, vấn đề học tập.Thông thường các câu hỏi này không quá khó với học sinh.
- Câu hỏi và bài tập cuối bài: Là những câu hỏi và bài tập chỉ ra những kiếnthức cơ bản và kĩ năng cần thiết nhất đối với học sinh Đồng thời những câu hỏi vàbài tập này còn có ý nghĩa củng cố bài học
- Các bài thực hành: Trong tổng số 29 bài trong SGK thì có 8 bài thực hành,chiếm 27.5% điều này chứng tỏ vai trò của bài thực hành được coi trọng trongchương trình Địa lí lớp 11 – THPT [2]
Đặc thù của môn Địa lí đó là các chủ thể nội dung phong phú, nhận thức đadạng, phạm vi kiến thức và kĩ năng sâu rộng, điều đó mâu thuẫn với lượng thời gianhọc sinh học tập rèn luyện trên lớp Do đó cần có những phương pháp dạy học hiệnđại, tích cực nhằm phát huy tốt nhất năng lực của người học
Tóm lại,với nội dung của chương trình và cách thức trình bày trong sách giáokhoa Địa lí lớp 11- THPT, kiến thức mở rộng và nâng cao hơn so với bậc THCS.Với đặc điểm mục tiêu, nội dung bài học của bộ môn như trên cho phép giáo viên
có thể ứng dụng E-learning trong dạy học nhằm phát huy tính tự học, tự khám phákiến thức của học sinh để học sinh trước khi lên lớp có sự chuẩn bị tốt nhất
1.4 Thực trạng ứng dụng E - learning trong dạy học Địa lí lớp 11 – THPT
Trong quá trình thực hiện đề tài này, để làm rõ hơn về việc ứng dụng learning trong dạy học Địa lí lớp 11 – THPT, tác giả đã tiến hành phỏng vấn, traođổi, làm phiếu khảo sát với 20 giáo viên (THPT Chuyên Bắc Ninh, THPT Lê QuýĐôn – Hà Đông, THPT Quế Võ 1 – Bắc Ninh ) và 100 học sinh đang học tập tạitrường THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông, Hà Nội, tác giả đã rút ra một số đánh giá vềhiện trạng ứng dụng E-learning trong dạy học Địa lí 11- THPT
E-1.4.1 Đối với giáo viên
- Mức độ cần thiết của việc ứng dụng E-learning trong dạy học Địa lí –THPT
Trang 26Bảng 1.2: Mức độ cần thiết của việc ứng dụng E-learning
tự học của học sinh chưa cao …
- Mức độ sử dụng hình thức dạy học E-learning trong hướng dẫn tự học mônĐịa lí – THPT
- Khả năng ứng dụng E-learning trong dạy học Địa lí
Trang 27Bảng 1.4: Mức độ thể hiện khả năng ứng dụng E-learning
E Khó khăn của giáo viên khi ứng dụng EE learning trong dạy học Địa lí –THPT
Bảng 1 5: Những khó khăn của giáo viên khi ứng dụng E-learning trong dạy học
ta là một nước đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nênviệc phát triển đồng đều ở các khu vực là điều rất khó
- Mong muốn của GV về việc nâng cao hiệu quả ứng dụng E-learning trongdạy học Địa lí
Trong số giáo viên được hỏi, có nhiều giáo viên có những mong muốn như sau:
Trang 28+ Nâng cao hiệu quả ứng dụng e-learning, các thầy cô cần được tìm hiểu
nhiều hơn về các PPDH tích cực hiện đại, đặc biệt là pp E-learning “Cô Trần Minh Ngọc – giáo viên bộ môn Địa lí – Trường THPT Quế Võ 1 – Bắc Ninh”
+ Trang bị cơ sở vật chất đầy đủ, quảng cáo và khuyến khích hs tìm đến ứng
dụng e-learning “Cô Dương Thị Thanh Nga - giáo viên bộ môn Địa lí – trường THPT Chuyên Bắc Ninh”
+ “Để ứng dụng E-learning vào dạy học thì không phải trừng hợp nào cũng
áp dụng được Còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như cơ sở vật chất, khả năng củahọc sinh Mình nghĩ là để nâng cao hiệu quả ứng dụng E-learning thì trước tiênngười giáo viên phải không ngừng nâng cao năng lực của mình cả về chuyên môn
và khả năng tin học cùng các kĩ năng mềm khác Từ đó có thể hướng dẫn cho họcsinh của mình Đồng thời khích lệ, động viên học sinh vì có những trường hợp họcsinh khá lười và không tích cực tham gia Ngoài ra phải xem xét từng bài một,
không phải bài nào cũng áp dụng e-learning được” “Cô Nguyễn Thị Kim Oanh – giáo viên bộ môn Địa lí – trường THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông, Hà Nội.”.
Như vậy, thông qua phiếu hỏi ý kiến về giáo viên của nhiều trường THPTcho thấy việc ứng dụng E-learning là cần thiết nhưng điều kiện nhà trường, giáoviên và học sinh nhiều nơi chưa cho phép việc phát triển áp dụng dạy học bằng bàigiảng E-learning trong trường học bởi rất nhiều lí do như nhiều giáo viên chia sẻđược tác giả trích dân như trên
1.4.2 Đối với học sinh
mà không cần sự hướng dẫn của giáo viên Tuy nhiên, đa số học sinh chưa từngnghe đến bài giảng E-learning cho biết: “Ở trường, giáo viên chưa từng giới thiệu
về bài giảng learning cho học sinh tìm kiếm trên mạng” hay “Bài giảng
Trang 29E-learning là như thế nào ạ?” Từ đây, cho thấy bài giảng E-E-learning vẫn còn là mộtkhái niệm xa lạ đối với học sinh các trường THPT ở Việt Nam.
có thể tìm hiểu, chuẩn bị bài trước khi đến lớp”
- Về khả năng
Bảng 1.6: Mức độ thành thạo các khả năng cơ bản của học sinh
Khả năng
Mức độ thành thạo Tốt Tương đối tốt thường Bình Không tốt
Tìm kiếm thông tin trên mạng internet 22.2% 44.4% 33.4% 0%
ở mức độ tốt và chiếm 33.4% HS ở mức độ bình thường
Để có thể là một người trong thời đại công nghệ 4.0 thì việc sử dụng các ứngdụng cũng như các phần mềm là điều tối thiểu Trong tổng học sinh được hỏi ý kiếnthì có 33.4% HS sử dụng tốt, 22.2% HS ở mức độ tương đối tốt, 33.3% HS ở mức
độ bình thường Đáng kể nói, chiếm 11.1% HS ở mức độ không tốt, điều này càng
Trang 30nhấn mạnh điều kiện và hoàn cảnh cũng như môi trường học tập của mỗi HS làkhác nhau.
Về vấn đề tự học, đa số học sinh tự đánh giá bản thân đã có tính tự học(44.4%), ở mức độ rất tốt chiếm 22.2% và ở mức độ bình thường chiếm đến 33.4%.Vấn đề tự học đã đượcc chú ý từ lâu đời, ngay từ thời phong kiến, giáo dục chưaphát triển nhưng đất nước đã có rát nhiều nhân tài kiệt xuất Qua các thời kì pháttriển của đất nước thời kì thực dân Pháp đô hộ, giải phóng đất nước và cho đến hiệnnay thì “tự học vẫn là một cốt lỗi” trong quá trình phát triển giáo dục
Trên thực tế, giao tiếp là chìa khóa thành công trong mỗi câu chuyện của mỗingười Trong những học sinh được hỏi thì 22.3% học sinh tự đánh giá ở mức độgiao tiếp tốt, ở mức độ tương đối tốt và bình thường học sinh chiếm phần lớn(33.3%) và có một bộ phận học sinh không nhỏ vẫn còn hạn chế về vấn đề giao tiếp
và lí do chính là HS không tự tin về bản thân
- Về điều kiện
Bảng 1.7: Điều kiện học tập của học sinh
Điện thoại di động có kết nối mạng internet 100% 0%
Đa số học sinh có đầy đủ các điều kiện để có thể tham gia học với bài giảngE-learning, 100% học sinh đều có máy tính kết nối Internet, điện thoại di động cókết nối mạng và có tai nghe hoặc loa âm thanh hỗ trợ, phần lớn học sinh THPT đã
sử dụng email (77.8%), chỉ có 22.2% HS chưa sử dụng email trong quá trình họctập Tuy nhiên, phiếu hỏi ý kiến này mới chỉ được tác giả khảo sát ở khu vực thànhthị như Hà Nội, Bắc Ninh… đây là những thành phố phát triển ở nước ta Cònnhững khu vực miền núi, chúng ta cũng có thể nhận thấy rõ điều kiện học tập của
HS còn rất hạn chế qua việc HS các trường THPT ở các tỉnh miền núi đã khôngtham gia phiếu hỏi
- Về nhu cầu
Bảng 1.8: Nhu cầu tham gia các lớp học bài giảng E-learning
Trang 31Tham gia các lớp học với bài giảng E-learning khác Tỉ lệ
Có 55,6% HS muốn tham gia các lớp học bài giảng E-learning, và số HS rấtmuốn tham gia và chưa muốn tham gia cùng chiếm 22.2% Qua phiếu hỏi ý kiếnhọc sinh về việc tham gia các lớp học ứng dụng E-learning những học sinh muốntham gia cho biết: “Em muốn tham gia lớp học bởi vì em chưa từng tiếp cận vớicách học như vậy, em không biết cách học truyền thống và cách học mới có khácbiệt nhau như thế nào?” Còn những học sinh chưa muốn tham gia lớp học cho biết:
“Điều kiện và hoàn cảnh của em chưa đáp ứng được nhu cầu học tập với bài giảngE-learning.”
Như vậy, nhu cầu luôn tỉ lệ thuận với với điều kiện và hoàn cảnh của mỗi
HS, điều kiện càng thuận lợi và đầy đủ thì nhu cầu tìm tòi, khám phá của HS ngàycàng cao
Thông qua tất cả phiếu hỏi ý kiến HS về nhận thức, vai trò, điều kiên và khảnăng, nhu cầu học tập về ứng dụng E-learning trong học tập, đã nhấn mạnh việc ứngdụng E-learning trong trường học là cần thiết, bởi HS rất muốn khám phá nhữngcách thức học mới bên cạnh cách học taajp truyền thống hiện nay
Trang 321.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 – THPT
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 11 – THPT
Về mặt sinh lí: HS lớp 11 – THPT có độ tuổi trung bình là 16 – 17 tuổi, các
em đã bắt đầu bước vào độ tuổi thanh niên Đây là độ tuổi có sự phát triển kháhoàn thiện về mặt thể chất, nhất là hệ thần kinh đã có sự thay đổi quan trọng docấu trúc của não khá phức tạp, chức năng của não phát triển Vì vậy các em có khảnăng tư duy lí luận , tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo, tư duy của các
em chặt chẽ hơn Đồng thời, tính phê phán trong tư duy của các em cũng phát triểnhơn Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho các em thực hiện các thao tác toán học
tư duy toán học phức tạp, phân tích các nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng
và nắm vững được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội đó là cơ sở đểhình thành thế giới quan cho học sinh [8]
Về mặt tâm lí: Ở lứa tuổi này, các em đứng trước một thách thức khách quan
của cuộc sống, bước đầu các em xác định cho mình hướng đi sau khi rời khỏi ghếnhà trường, xây dựng cho mình một cuộc sống độc lập trong xã hội Các em có ýthức tập làm người lớn nên trong các hoạt động thể hiện sự chủ động của bản thân ,thích khám phá các mới thích thể hiện bản thân trước đám đông, tập thể [8]
Qua phân tích về đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 11 – THPT như trên,chứng tỏ rằng học sinh lớp 11 không chỉ phù hợp với các học tập truyền thống màcòn phù hợp với nhiều cách học khác có ứng dụng công nghệ thông tin và nổi bậthơn hết là học tập với bài giảng E-learning có thể giúp học sinh phát triển nhiềunăng lực của bản thân như năng lực tự học, năng lực khám phá, tìm tòi những kiếnthức mới……
1.5.2 Trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 - THPT
Đặc điểm hoạt động học tập: học tập vẫn là hoạt động chủ đạo của học sinh
THPT Với những yêu cầu cao hơn về tính tích cực và độc lập trí tuệ Muốn lĩnhhội được sâu sắc môn học phải có trình độ tư duy Đòi hỏi phải có tính năng động
và độc lập ở lứa tuổi này Thái độ đối với việc học tập cũng có sự thay đổi Thái
độ tự ý thức về việc học tập cho tương lai được nâng cao Học sinh THPT bắt đầuđánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm của tương lai của mình Có thái độ lựa
Trang 33chọn đối với từng môn học và đôi khi chỉ chăm chỉ học những môn được cho làquan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai Ở lứa tuổi này các hứng thú vàkhuynh hướng học tập đã trở nên xác định và thể hiện rõ ràng hơn, học sinhthường có hứng thú ổn định đối với một môn khoa học hay lĩnh vực nào đó Điềunày kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức trong linh vựctương ứng [8]
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ lứa tuổi THPT là giai đoạn quan trọng trong
việc phát triển trí tuệ Do cơ thể được hoàn thiện nên tạo điều kiện cho phát triển trítuệ Cảm giác và tri giác lứa tuổi này đã đạt mức độ của người lớn Điều này làmcho năng lực cảm thụ được nâng cao.Trí nhớ cũng phát triển rõ rệt, học sinh đã biết
sử dụng nhiều phương pháp ghi nhớ chứ không chỉ ghi nhớ một cách máy móc (họcthuộc) Sự chú ý của học sinh THPT cũng phát triển Ví dụ học sinh có thể tập trungchú ý vào tài liệu mà mình không hứng thú nhưng hiểu được ý nghĩa quan trọng của
nó Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, ở thời kỳ này học sinh đã
có khả năng tư duy lý luận, trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo Những nănglực như phân tích, so sánh, tổng hợp cũng phát triển Tóm lại, hoạt động nhận thứccủa lứa tuổi học sinh THPT đã phát triên ở mức độ cao, có khả năng nhận thức vấn
đề một cách đúng đắn và sâu sắc Khả năng tư duy và nhận thức cũng sẽ dần đượchoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện cá nhân [8]
Từ những nhận xét và phân tích trên đã chứng minh một điều, sự phát triển vềmặt tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 – THPT khá thuận lợi choviệc dạy học theo hình thức dạy học trực tuyến (E-learning) Điều đó cho thấy sựcần thiết ứng dụng E-learning trong dạy học Địa lí với học sinh lớp 11 – THPT
Trang 34CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI HỌC E - LEARNING
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 – THPT
2.1 Nguyên tắc và yêu cầu bài học E-learning trong dạy học môn Địa lí lớp 11 – THPT
2.1.1 Nguyên tắc thiết kế bài học E - learning trong môn Địa lí lớp 11 – THPT
Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học
Xác định mục tiêu bài học là xác định yêu cầu cần đạt được của người họcsau khi học bài xong chứ không phải là việc mô tả những yêu cầu của nội dungchương trình quy định, nó không phải là chủ đề của bài học mà là cái đích HS phảiđạt tới và là nhiệm vụ mà HS phải hoàn thành Khi thiết kế bài học, tổ chức hoạtđộng nhận thức cho HS thì mỗi mục tiêu phải được cụ thể hoá thành các câu hỏi,phiếu học tập cùng với sự kết hợp của tranh ảnh, bản đồ, video, … để định hướngcác hoạt động học và tự học của HS Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giảiquyết được các câu hỏi, phiếu học tập đó đồng thời cũng là quá trình thực hiện cácmục tiêu dạy học Câu hỏi định hướng này phải chưa đựng trong đó giải pháp tìm rakiến thức mới[10]
Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung
Nội dung bài học trong phần mềm thiết kế được thể hiện bằng kênh chữ vàkênh hình, bao gồm các câu hỏi và thông tin phản hồi, tranh ảnh, video… tất cả phảiđược thể hiện một cách chính xác và khoa học Nếu những bảng số liệu, bản đồ, cáccâu hỏi định hướng hoạt động cho HS không phù hợp với nội dung, nghĩa là kiếnthức không đảm bảo được tính chính xác thì hoạt động của HS sẽ không đạt đượcmục tiêu bài học Chất lượng của tư liệu điện tử phụ thuộc vào chất lượng của nộidung thiết kế Do đó, việc đảm bảo tính chính xác nội dung là yêu cầu quan trọngnhất [10]
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Nội dung trình bày trên các trang trình chiếu phải chính xác, rõ ràng, cácphương tiện dạy học (hình ảnh, video, sơ đồ…) cần phải được kiểm tra, chọn lựatrước khi đưa vào bài giảng sao cho phù hợp với các đơn vị kiến thức và phù hợp
Trang 35với trình độ nhận thức học sinh Nội dung kiến thức phải có sự liên hệ chặt chẽ, đặcbiệt phần mềm dạy học phải có tính liên hoạt cao, thường xuyên cập nhật, bổ sungthông tin mới, các thành tựu khoa học mới [10].
Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm
Trong hoạt động dạy học, tiêu chí của bài học không giống như các bàithuyết trình, báo cáo Cho nên, việc chuẩn bị một bài giảng ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông cần đảm bảo không những là tính nội dung (khoa học) màcòn đảm bảo đến tiêu chính về tính sư phạm Tính sư phạm bao gồm: sự phù hợp vềmặt tâm sinh lí HS, sự thể hiện nhuần nhuyễn của các nguyên tắc dạy học Tính sưphạm thể hiện ở bố cục của từng tiết học, trong từng bài giảng phải rõ ràng, phù hợpvới nội dung SGK, dung lượng kiến thức và sự phân bố thời gian Tính sư phạm cònthể hiện ở việc kết hợp gia công nội dung với các hình ảnh, video, bản đồ, …phùhợp nội dung, tạo nên những biểu tượng trực quan sinh động, HS kết hợp kênh chữvới kênh hình để chiếm lĩnh kiến thức mới Vì vậy, GV muốn xây dựng tư liệu điện
tử có hiệu quả thì bên cạnh có kiến thức cơ bản về tin học, GV còn phải có nghiệp
vụ sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và biết vận dụng các phương pháp dạy họctích cực vào quá trình thiết kế, biên tập tư liệu và sử dụng để tổ chức các hoạt độngnhận thức cho HS [10]
2.1.2 Yêu cầu một bài giảng E - learning trong môn Địa lí lớp 11 – THPT.
Thiết kế hỗ trợ người học tự nghiên cứu, khám phá tri thức
Chuyển từ lớp học truyền thống sang E-learning đòi hỏi cần có các quá trình
và kĩ năng giảng dạy để tạo ra các tài liệu học tập đặc biệt phục vụ người học Vớilớp học truyền thống thì người dạy có thể là trung tâm của quá trình dạy học nhưngvới đào tạo E-learning thì người học luôn là trung tâm Như vậy, các tài liệu học tập(học tập điện tử) phải được thiết kế sao cho giúp đỡ người học tự nghiên cứu, khaiphá tri thức Điều này có thể thực hiện được với sự giúp đỡ của chương trình máytính Các chương trình máy tính có chức năng giao tiếp đa chiều sẽ hỗ trợ người họckiểm soát quá trình học tập
Ngoài văn bản, việc khai thác tối đa các dạng học liệu đa phương tiện giúptăng cường khả năng cung cấp thông tin Các thông tin được truyền đạt dưới dạng
Trang 36âm thanh, hình ảnh, video và các mô phỏng sẽ có khả năng thể hiện lại các bài dạycủa giáo viên trên lớp, đồng thời mô phỏng trực quan các kiến thức được truyền đạt.Các phần mềm mô phỏng sẽ hỗ trợ người học tham gia trực tiếp vào quá trình thựchành, thí nghiệm nâng cao kĩ năng và tính thực tế của người học.
Để đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình thiết kế bài dạy E-learning, cầnchuẩn bị thật chu đáo về ý tưởng sư phạm, các tư liệu điện tử hỗ trợ Bài dạy E-learning cần phải sử dụng có các tư liệu đa phương tiện đạt tối thiểu từ 30% -40%thời lượng của toàn bài dạy
Trợ giúp người học tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh
Ở đây người học phải tự giải quyết các bài tập yêu cầu, ngoài ra người họccòn phải tự rèn luyện kĩ năng và ôn tập, tổng hợp kiến thức giống như cách họctruyền thống thì bài dạy E-learning cần có các chức năng kiểm tra kiến thứcngười học Chức năng này giúp người học tự kiểm tra và đánh giá mức độ nhậnthức của bản thân người học, tự phát hiện những lỗ hỏng kiến thức và nhanhchóng điều chỉnh
Do vậy, phần cuối của mỗi bài học E-learning cần sử dụng hệ thống các câuhỏi kiểm tra hay bài tập vận dụng để đánh giá mức độ tiếp thu bài của người học
Đầy đủ thông tin hướng dẫn người học
Nội dung bài dạy E-learning phải đầy đủ, chi tiết ít nhất như sách giáo khoa
và thể hiện rõ ràng mục tiêu học tập Nó phải thể hiện đầy đủ các thông tin hướngdẫn như: tóm tắt bài dạy, hướng dẫn cụ thể cách học, điều kiện tiên quyết để có thểtham gia lớp học cũng như danh mục tài liệu tham khảo để người học có thể dễdàng tiến hành hoạt động học tập
Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc đầy đủ thông tin hướng dẫn cho người học,bài dạy E-learning cần có:
- Cấu trúc môn học rõ ràng, logic Giao diện thân thiện, dễ sử dụng, khôngđòi hỏi người học phải có trình độ hiểu biết nhiều về tin học
- Để giúp người học sử dụng bài dạy một cách thuận nhất và đề phòngtrường hợp có những máy tính cá nhân không cài đặt đầy đủ các phần mềm chuyêndụng, ở đầu bài học ngoài thông tin hướng dẫn, bài dạy E-learning cần kèm theo sẵn
Trang 37những phần mềm hỗ trợ tiện ích để học chương trình như: Internet Explorer,Window Media Player, Acrobat Reader nếu cần thiết).
- Các bài dạy phải có sự liên kết tới những trang nội dung tham khảo khác
Tra cứu và tìm kiếm thông tin
Khi người học cần tìm kiếm kiến thức và giải đáp thắc mắc, họ có thể nhanhchóng tìm thấy những thông tin cần thiết liên quan đến phần kiến thức quan tâmhoặc khi đã nắm vững nội dung học nào đó, học có thể bỏ qua và chuyển sang phầnnội dung tiếp theo Do đó, bài dạy E-learning cần được thiết kế có chức năng tracứu thông tin và dễ dàng lựa chọn nội dung
Phù hợp với các chuẩn E-learning
Chuẩn E-learning giúp chúng ta giải quyết một số vấn đề sau:
- Nội dung bài học được sử dụng trong nhiều môi trường khác nhau và có thể
sử dụng lại khi cần thiết
- Nội dung được cung cấp thêm thông tin bổ sung để người học có thể tìmkiếm dễ dàng
- Để tải lên hệ thống E-learning phải tuân theo chuẩn E-learning, cụ thể phùhợp với chuẩn Scorm 1.2 hoặc Scorm 2004
2.2 Thiết kế bài học E-learning trong dạy học Địa lí 11 - THPT
2.2.1 Quy trình thiết kế bài dạy E - learning trong môn Địa lí lớp 11 – THPT
Quy trình thiết kế một bài dạy E-learning gồm 5 bước như sơ đồ sau:
1 Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản bài học.
Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa phổ thông đượcchọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp một cáchlôgíc, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao Bởi vậy cần bám sát vào