TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA TRIẾT HỌC & KHOA HỌC XÃ HỘI TIỂU LUẬN Tên đề tài: Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học mác lê nin trong thời đại cách mạng công
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC & KHOA HỌC XÃ HỘI
TIỂU LUẬN
Tên đề tài: Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học mác lê nin trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay
Tên sinh viên:
Mã Sinh viên
Lớp
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Một thời đại công nghiệp cách mạng 4.0 đã và đang bùng nổ, là cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh
tế, văn hóa- xã hội, khoa học, giáo dục, … nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường ở bất kể lĩnh vực nào, muốn đồng hành cùng sự phát triển buộc phải có những chiến lược, hướng đi đúng đắn phù hợp để thích nghi với nó, sự đi ngược với sự phát triển và tiến bộ chính là kết cục cho sự tụt hậu hoặc bị đào thải khỏi thị trường đầy cam go và thách thức Vật đòi hỏi các nhà triết học và cách nhà khoa học chuyên môn phải giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách Sự giải đáp này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo thế giới quan
và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác Lê nin Do đó việc nghiên cứu những vấn đề về mối quan hệ giữa triết học và khoa học chụ thể Vấn đề về chức năng phương pháp luận của triết học đối với các khoa học cụ thể có ý nghĩa quan trọng Và việc phát triển công nghiệp 4.0 là rất quan trọng trong nền kinh tế nói riêng và đất nước nói chung, để hiểu được cốt lõi vấn đề phát triển ấy, chúng em chọn đề tài
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học mác lê nin trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trong thời đại ngày nay do sự tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 khoa học – công nghệ, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức nên có sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bối cảnh đó cũng mang đến cả thời cơ và thách thức cho sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin để bảo vệ, bổ sung, phát triển nó lên một trình độ mới có một tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối nền kinh tế đất nước trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập để đất nước không bị lạc hậu nghèo đói
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Triết học tác động vào nền cách mạng công nghiệp 4.0 trước tiên là thông qua thế giới quan và phương pháp luận khoa học Như chúng ra đã biết Lê nin đã nói đến ý nghĩa to lớn của phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác đối với khoa học kinh tế Chủ nghĩa duy vật biện chứng, với phương diện là phương pháp luận của triết học giúp cho việc khái quát và giải thích tính đúng đắn những thành tựu mới của khao học Trong những điều kiện ngày nay khi cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển thì việc chú ý đến những vấn đề phương pháp luận là đặc biệt quan trọng Con đường để làm phong phú và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng chính là ở đây và tác động chru yếu của nó đối với cách mạng công nghiệp 4.0
Ngoài lời mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của thế giới quan và phương pháp luận trong triết học
Trang 3Chương II: Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học mác lê nin trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay
Trang 4
NỘI DUNG
Chương I Cơ sở lý luận của thế giới quan và phương pháp luận trong triết học
1 Triết học là gì
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ thức VIII đến thế kỷ thứ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp
Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật,
Theo người ấn độ, triết học là darshana Điều đó có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
Theo chữ Hy lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là sự yêu thích thông thái Nhà triết học được coi
là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật Như vậy dù là ở phương đông hay phương tây, khi triết học mới ra đười đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật
Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, để tồn tại, con người đã phải tiến hành hoạt động lao động sản xuất và những hoạt động khác Điều này đã đem lại cho con người những tri thức nhất định về thế giới xung quanh và về bản thân mình, nhưng đây mới chỉ là những tri thức rời rạc, phản ánh bề ngoài của đối tượng Hệ thống tri thức lý luận chung nhất chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:
Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để rút ra được cái chung xây dựng nên các học thuyết, lý luận Đây là điều kiện về mặt nhận thức
Trình độ của nền sản xuất phát triển tới mức có sự phân chia lao động thành lao động chân tay và lao động trí óc Đó cũng là khi có một bộ phận người có điều kiện suy nghĩ và chuyên tâm vào các hoạt động nhận thức Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan niệm, quan điểm rời rạc thành các học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời
Tất cả những điều kiện trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó nó nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội Sự ra đời của triết học đánh dấu bước phát triển vượt bậc của tư duy con người, làm một cuộc cách mạng vĩ đại trong nhận thức về tự nhiên, xã hội và tư duy
Để có khái niệm triết học ta xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, con người cần tìm hiểu thế giới để có tri thức Tri thức cụ thể sẽ hình thành nên khoa học cụ thể Những tri thức chung nếu bao trùm cả 3 lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy thì được gọi là tri thức triết học Tri thức triết học được liên kết lại theo cách thức tương ứng sẽ tạo nên triết học
Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung Đó là tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức
có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người Khái quát lại có thể cho rằng:
Trang 5 Quan niệm đương đại về triết học và triết lý.
-Quan niệm đương đại về triết học:
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về bản thân con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó
- Quan niệm đương đại về triết lý:
Triết lý là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên
cơ sở nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần hoặc sức mạnh ứng xử, được phát biểu ngắn gọn, xúc tích Triết lý như một tín điều, làm kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng
2 Phương pháp nhận thức thế giới của triết học
Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tồn tại và tư duy, giúp cho việc nhân thức
và hoạt động cải tạo thế giới Triết học Mác dựa vào những thành quả của các khoa học cụ thể, nhưng nó không lấy phương pháp của các ngành khoa học cụ thể để làm phương pháp cho mình Phương pháp biện chứng duy vật đối lập với phương pháp siêu hình
Phương pháp biện chứng và siêu hình xuất hiện từ sớm, từ thời cổ đại Phương pháp biện chứng
là phương pháp nhận thức sự vật và hiện tượng trong sự liên hệ, tác động qua lại, vận động cà phát triển Ngược lại, phương pháp siêu hình xem xét suwjw vật, hiện tượng trong tách rời, không vận động và không phát triển Cuộc đấu tranh giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình cũng là một nội dung cơ bản của lịch sử triết học
Phương pháp biện chứng duy vật xuất hiện từ thời kỳ cổ đại( biện chứng duy vât thô sơ , mộc mạc tự phát ) chỉ đến khi triết học Mác ra đời, phương pháp này mới thực sự trở thành phương pháp triết học khoa học Phương pháp này giúp con người khả năng nhận thức một cách đúng đắn, khách quan về thế giới tự nhiên, xã hội va tư duy và giúp con người đạt được hiệu quả trong hoạt động thực tiễn
3 Thế giới quan và phương pháp luận của triết học và vai trò của chúng
Những vấn đề triêt học đặt ra và giải quyết trước hết là những vấn đề thế giới quan Đòa là một trong những chức năng cơ bản của triết học
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó Thế giới quan đóng vai trò định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, từ thực tiễn đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân để từ đó xác định lý tưởng, hệ giá lối sống, nếp sống của mình Như vậy, thế giới quan đúng đắn, khoa học là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá sự trưởng thành của mỗi cánhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội Thế giới quan được hình thành, phát triển trong quá trình sinh sống và nhận thức của con người, đến lượt mình, thế giới quan lại trở thành nhân tố định hướng cho con người tiếp tục quá trình nhận thức thế giới xung quanh, cũng như tự nhận thức bản thân mình, và đặc biêtj
là, từ đó con người xác định thái độ, cách thức hoạt động và sinh sống của mình Thế giới quan đúng đắn là tiền đề hình thành nhân singh quan tích cực, tiến bộ
Thế giới quan có nhiều trình độ khác nhau: thế giới quan huyền thoại thoại, thế giới quan tôn giáo, thế giới quan triết học Triết học ra đời với tư cách là hệ thống lý luận chung nhất
về thế giới quan, là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đã làm cho thế giới quan phát triển lên một trình độ tự giác dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học mang lại Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ
Trang 6bản đối lập nhau: thế giới quan duy vật, khoa học và thế giới quan duy tâm, tôn giáo Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng này hay cách khác cuộc đấu trnah giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội đối lập nhau Chủ nghĩa duy vật là thế giới quan của giai cấp, của lực lượng xã hội tiến bộ, cách mạng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ của xa hội Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm được sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luận cho giai cấp thống trị lỗi thời, lạc hậu, phản động
Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan
Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó
Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau
Do vậy:
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động
+ Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan
Cùng với chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năng phương pháp luận
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn Phương pháp luận có nhiều cấp độ; trong đó, phuơng pháp luận triết học là phương pháp luận chung nhất Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực Tất cả những lý luận và nguyên lý nào có tác dụng hướng dẫn, gợi mở, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận Mọi nguyên lý thế giới quan đều có tác dụng ấy, chúng hợp thành nội dung của phương pháp luận
Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau: phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung, phương pháp luận chung nhất Trong triết học, thế giới quan và phương pháp luận không tách rời nhau Bất cứ lý luận triết học nào, khi lý giải về thế giới xung quan và bản thân cobn người, đồng thời cũng thể hiện một phương pháp luận nhát định, chỉ đạo cho việc xây dựng và vận dụng phương pháp Mỗi hệ thống triết học không chỉ là một thế giới quan nhất định, mà con là phương pháp luận chung nhât trobng việc xem xét thế giới Mỗi quan điểm triết học đòng thời là một nguyên tắc phương pháp luận, là lý luận về phương pháp Với tư cách là phương pháp lý luận chung nhất, triết học đóng vai trò định hướng cho
Trang 7con người trong quá trình tìm tòi, xây dựng, lực chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thwucs và hoạt động thực tiễn, và do đó, nó có ý nghĩa quyết định đối với thành vài trong haotj động nhận thức va thực tiễn con người
Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
+ Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là
lý luận về phương pháp
Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung
Với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử Trang bị thế giới quan đúng đắn mới chỉ là một mặt của triết học Mác - Lênin Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới
và vai trò của con người trong thế giới đó, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất Phương pháp luận của triết học Mác - Lênin đã góp phần quan trọng chỉ đạo, định hướng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Qua phân tích các khái niệm, phương pháp chính là cách thức con người sử dụng để đạt được những mục đích đặt ra; phương pháp hệ là nhóm các cách thức con người sử dụng để hoàn thành những nhiệm vụ, thông thường nó liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học Phương pháp và phương pháp hệ gắn trực tiếp với quá trình hoạt động thực tiễn Còn phương pháp luận là lý luận về phương pháp, nghĩa là nó gắn liền với quá trình tư duy, không trực tiếp đến hoạt động thực tiễn được đề ra Điểm phân biệt giữa phương pháp luận
và phương pháp luận triết học chính là phân loại cấp độ
Thế giới quan và phương pháp luận triết học là lý luận nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin: là sự
kế thừa, phát triển tinh hoa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Trong triết học mác xít, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất chặt chẽ với nhau: chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật Sự thống nhất đó đã làm cho triết học mác xít trở thành thế giới quan và phương pháp luận thật sự khoa học trong nhận thức và thực tiễn hiện nay vì sự tiến bộ của xã hội cũng như cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay
Chương II Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học mác lê nin trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay
Thế giới hiện đang đối diện với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) làm thay đổi căn bản cách thức con người sống, làm việc, quan hệ và hợp tác cùng nhau Quy mô, phạm vi ảnh hưởng, độ phức tạp
và sự chuyển dịch của xã hội từ cuộc cách mạng này rất to lớn, tạo ra cho mỗi quốc gia cơ hội và thách thức mang tính tích hợp, toàn diện, khác hẳn các cuộc cách mạng khoa học trước đó
Ngày nay, ứng dụng những thành tựu của cuộc CM KH-CN đang là xu thế chung và tất yếu đối với cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển Đối với các nước đang phát triển, CM KH-CN được gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là quá trình làm cho xã hội chuyển biến từ
Trang 8xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, làm biến đổi căn bản bộ mặt của xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế chính trị, xã hội
Nước ta thuộc vào nhóm các nước đang phát triển Do đó, để thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, văn minh, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiếp thu vận dụng cuộc CM
KH-CN Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định: Đây là nhiệm vụ trọng tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới Để thực hiện được nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu đó, chúng ta không thể không sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Nói cách khác khoa học, kỹ thuật và công nghệ có vai trò hết sức to lớn trong công cuộc CNH - HĐH đất nước
Vậy đứng trước sự phát triển như vũ bảo của cuộc cách mạng khoa công nghệ hiện nay, triết học Mác –
Lê nin với tư cách là một khoa học cơ bản có vai trò to lớn với cách mạng công nghiệp 4.0
1 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là gì?
Cụ thể cho đến nay, thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp và đang bước sang cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ tư
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra cuối thế kỷ thứ XVIII ở nước Anh Cuộc cách mạng này sau đó nhanh chóng lan rộng sang các nước Tây Âu và các nước khác như một trào lưu phát triển mới của thế giới, đánh dấu bằng việc thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, nhằm biến một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX kéo dài tới đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của máy phát điện, đèn điện, động cơ điện, mở rộng việc sử dụng điện năng trong sản xuất, mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt…
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào thập niên 1960 Đặc điểm của cuộc cách mạng này là lần đầu tiên con người đã sáng tạo ra một loại máy có thể thay thế một phần quan trọng của lao động trí óc - đó là máy tính (chứ không như các loại máy cơ khí và điện khí chỉ thay thế lao động cơ bắp) Sự ra đời của chất bán dẫn đã dẫn tới việc sáng chế ra các siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990)
Khái niệm “công nghiệp 4.0” được đưa ra vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dựkiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm thay đổi và nâng cao giá trị của nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức Có thể xem cuốn sách “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (The Fourth Industrial Revolution) của giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) là tuyên ngôn về cuộcCMCN 4.0 [1] Một số quan điểm cho rằng, hình ảnh của CMCN 4.0 vẫn còn khá mờ và khó có thể dự đoán chính xác những gì đang ở phía trước, nhưng đều thống nhất ở chỗ, giống như các cuộc CMCN trong quá khứ, CMCN 4.0 sẽ tạo ra việc làm mới và cũng sẽloại bỏmột sốcông việc hiện tại Theo David Lamotte, Phó Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khu vực châu Á -Thái Bình Dương: đó là những công việc đơn giản, không đòi hỏi nhiều KN và mang tính lặp đi, lặp lại Kỉ nguyên số, tự động hóa, sốhóa sẽ xóa bỏ những công việc này nhưng ngược lại, sẽ có những công việc mới được tạo ra Trước sự thay đổi chóng mặt của công nghệ số, ngành nghề nào cũng đứng trước nguy cơ bịthay thế, vì vậy nhu cầu nhân lực trong tương lai đòi hỏi người làm việc phải đa dạng cả vềKN và kiến thức Chúng ta thấy phía nào cũng cần thay đổi KN, những người làm về công nghệ thì cần KN xã hội, những người làm về lĩnh vực xã hội thì cần bổsung những KN vềcông nghệđểđối mặt với một môi trường mà thông tin và công nghệ phổ biến cho tất cảmọi người Bởi vậy, đúng như Phó Thủtướng Vũ Đức Đam khẳng định trong Đối thoại cao cấp APEC 2017 vềPhát triển nguồn nhân lực trong kỉ nguyên số ngày 15/05/2017 tại Hà Nội: Vấn
đề đặt ra hiện nay là cần phải thay đổi căn bản, không chỉ đổi mới trên phương diện ĐT ngành nghề
Trang 9hay giáo dục ở bậc đại học, mà cần thay đổi từ giáo dục bậc phổthông, mẫu giáo; yêu cầu đặc biệt hiện nay là giáo dục ý thức và KN của một công dân toàn cầu Từ đó, ông đưa ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong kỉ nguyên số
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 còn có tên gọi khác là Industry 4.0 hay cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Cụm từ này có từ đầu thế kỷ 21 tại Đức Lúc đó, việc thông minh hóa nhà máy sản xuất tại Đức đã được đặt ra Tập đoàn công nghệ Siemens đã có nhà máy hoàn toàn tự động đã khá lâu Từ ngày 20 đến 23 tháng 01 năm 2016 tại Diễn đàn kinh tế thế giới 2016 tổ chức tại Thụy Sĩ, Giáo sư Klaus Schwab – Chủ tịch Diễn đàn, một lần nữa đề cập và nêu lên định nghĩa về Industry 4.0 hay Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (FIR) Trong khoảng thời gian hơn một năm trở lại đây, thuật ngữ này được phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Theo đó, FIR là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo FIR được định nghĩa là “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet của vạn vật và Internet của các dịch vụ
So sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc CMCN lần thứ tư phát triển với tốc
độ ở cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng Hơn nữa, nó đang làm biến đổi mọi nền công nghiệp
ở mọi quốc gia Bề rộng và chiều sâu của những thay đổi này tạo nên sự biến đổi của toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị
Cuộc CMCN thứ 4 được mở đường bằng những đột phá khoa học vào thế giới vi mô và khám phá ra những quy luật mới của thế giới này, từ đó hình thành những công nghệ mới như công nghệ na-nô,
in 3D, công nghệ sinh học phân tử, công nghệ di truyền, công nghệ của trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật…
Theo nhận định của các nhà nghiên cứu chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực khoa học, các xu thế lớn của công nghệ mới có thể được chia thành 3 nhóm: vật lý, kỹ thuật số và sinh học Cả ba đều liên quan chặt chẽ và thâm nhập vào nhau, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, rất thích dụng và có giá trị sử dụng cao, thậm chí có thể thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động Đó là các loại xe ô tô
tự lái và nhiều loại phương tiện tự lái khác Cùng với quá trình phát triển của cảm biến và trí tuệ nhân tạo, khả năng của các phương tiện tự hành này cũng được cải thiện với tốc độ nhanh chóng Người ta dự báo trong khoảng mười năm tới, 10% xe chạy trên đường ở Mỹ sẽ là xe không người lái
“Cuộc cách mạng công nghiệp” ở đây dùng để chỉ một sự thay đổi mang tính đột biến và triệt để trong lĩnh vực công nghiệp Nhiều cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra trong suốt lịch sử thế giới khi các công nghệ mới và phương pháp mới, tạo ra một sự thay đổi sâu sắc trong các hệ thống kinh tế và kết cấu xã hội Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trải dài từ năm 1760 đến khoảng năm 1840, được bắt đầu bằng việc xây dựng các tuyến đường sắt và phát minh ra động
cơ hơi nước, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại - kỷ nguyên sản xuất cơ khí Tiếp theo, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai được bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ
XX, với sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào những năm thập niên 1960 và thường được gọi
là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và internet (thập niên 1990) Ngày nay, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 FIR đã bắt đầu vào thời điểm chuyển giao sang thế kỷ này và xây dựng dựa trên cuộc cách mạng
số, đặc trưng bởi internet ngày càng phổ biến và di động, bởi các cảm biến nhỏ và mạnh mẽ hơn với giá thành rẻ hơn, bởi trí tuệ nhân tạo và “học máy” Các công nghệ số với phần cứng máy
Trang 10tính, phần mềm và hệ thống mạng đang trở nên ngày càng phức tạp hơn, được tích hợp nhiều hơn và vì vậy đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đó là những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực nhờ khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn; tốc độ không có tiền lệ trong lịch sử, theo hàm cấp số mũ FIR làm thay đổi căn bản cách thức con người tạo ra sản phẩm, từ đó tạo nên “cách mạng” về tổ chức các chuỗi sản xuất - giá trị Hiện nay, cách mạng công nghiệp 4.0 nổi lên ba xu hướng lớn, bao gồm vật lý (xe tự lái, công nghệ in 3D, rô bốt cao cấp, vật liệu mới); kỹ thuật số (sự xuất hiện internet của vạn vật - Internet of Things, IoT) và sinh học (giải trình, kích hoạt, chỉnh sửa gen, DNA) So sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển với tốc độ ở cấp số nhân, tạo nên sự biến đổi của toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản
lý và quản trị; làm thay đổi mạnh mẽ, toàn diện nền kinh tế mỗi quốc gia về cấu trúc, trình độ phát triển, tốc độ tăng trưởng, mô hình kinh doanh, thị trường lao động,… Nói một cách tổng quát, thực chất cách mạng công nghiệp 4.0 chính là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất
ở trình độ cao dựa trên KH&CN Nói cách khác, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự xâm nhập trực tiếp và nhanh chóng của tri thức khoa học vào tất cả các bộ phận trong kết cấu lực lượng sản xuất, mà trước hết là người lao động và công cụ lao động, sẽ tạo ra những công nghệ tiên tiến, hiện đại, mang tính cách mạng - những biểu hiện của cách mạng công nghiệp 4.0 Cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu vàtạo ra cơ hội, độnglựcthúcđẩyKH&CN pháttriển Đó chính là biện chứng giữa khoa học, công nghệ với cách mạng công nghiệp 4.0 Như vậy, cách mạng công nghiệp 4.0 chính là minh chứng sinh động cho luận điểm “khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” của C.Mác trong thời đại hiện nay, và triết học Mác Lê nin cũng là nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
2 Vai trò của triết học với cách mạng công nghiệp 4.0
Triết học Mác - Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại Nó được C.Mác và Ph Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người
Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người
nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn
Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định