“Nghĩa vụ thanh toán ngân hàng” (Bank Payment Obligations – BPO) là một phương thức thanh toán hoàn toàn mới mẻ đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Phương thức này được xem là cầu nối của phương thức Tín dụng chứng từ hay thanh toán bằng Thư tín dụng (Letter of Credit LC) và Ghi sổ (Open Account), do đã kết hợp được những ưu thế và hạn chế các rủi ro của hai phương thức này. Do ảnh hưởng của xu thế phát triển hoạt động tài trợ thương mại thế giới theo hướng tập trung vào hoạt động tài trợ các chuỗi cung ứng (Supply Chain Finance), và vào những hoạt động trên nền tảng phát triển trình độ công nghệ thông tin cao đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải tìm kiếm một giải pháp an toàn và hiệu quả cho chiến lược phát triển hoạt động dịch vụ của mình, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và tài trợ thương mại quốc tế. BPO có thể được xem là sự lựa chọn mới hoàn hảo cho các ngân hàng trong việc hoạch định chiến lược phát triển của mình phù hợp với những biến động của hoạt động thương mại thế giới cũng như đáp ứng được những đòi hỏi của xu thế phát triển về công nghệ thông tin hiện nay
Trang 1PHƯƠNG THỨC NGHĨA VỤ THANH TOÁN NGÂN HÀNG - SỰ THAY THẾ HOÀN HẢO CHO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
“Nghĩa vụ thanh toán ngân hàng” (Bank Payment Obligations – BPO) là một phương thức thanh toán hoàn toàn mới mẻ đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Phương thức này được xem là cầu nối của phương thức Tín dụng chứng từ hay thanh toán bằng Thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) và Ghi sổ (Open Account), do đã kết hợp được những ưu thế
và hạn chế các rủi ro của hai phương thức này Do ảnh hưởng của xu thế phát triển hoạt động tài trợ thương mại thế giới theo hướng tập trung vào hoạt động tài trợ các chuỗi cung ứng (Supply Chain Finance), và vào những hoạt động trên nền tảng phát triển trình độ công nghệ thông tin cao đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải tìm kiếm một giải pháp an toàn
và hiệu quả cho chiến lược phát triển hoạt động dịch vụ của mình, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và tài trợ thương mại quốc tế BPO có thể được xem là sự lựa chọn mới hoàn hảo cho các ngân hàng trong việc hoạch định chiến lược phát triển của mình phù hợp với những biến động của hoạt động thương mại thế giới cũng như đáp ứng được những đòi hỏi của xu thế phát triển về công nghệ thông tin hiện nay.
Mở đầu
Thế giới đang bước vào thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất và lưu thông được thực hiện trên các hệ thống không thực - ảo, các hệ thống điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và internet vạn vật (IoT) Cuộc cách mạng này diễn ra toàn diện trên hầu khắp các lĩnh vực tiền tệ và tài chính ngân hàng cũng như lĩnh vực thương mại quốc tế Phương thức thanh toán BPO, phối hợp cùng với việc sử dụng và lưu trữ chứng từ thương mại điện tử là một minh chứng rõ ràng cho những bước phát triển trong việc truyền dữ liệu bằng điện số hóa Cho đến năm 2016, trên thế giới, có khoảng hơn 104 ngân hàng của 53 nhóm ngân hàng trên 41 quốc gia khác nhau
đã triển khai phương thức thanh toán BPO và gặt hái nhiều thành công Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng có quy mô nhỏ hơn cũng đã chấp nhận phương thức thanh toán này, hoặc đã đăng
kí với SWIFT và lắp đặt hệ thống mạng lưới điện tín theo tiêu chuẩn ISO 20022 để chuẩn bị đưa phương thức BPO vào hoạt động
Tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế gắn với phương thức Nhờ thu (Collection), Ghi sổ (Open Account), Tín dụng chứng từ (Documentary Credits), Bảo lãnh theo yêu cầu
Trang 2(Demand Guarantee), Tín dụng Dự phòng (Standby Credit) gần 2 thế kỷ qua được thực hiện dựa trên cơ sở giao dịch chứng từ văn bản (Paper documents) truyền thống đã hạn chế sự phát triển của thương mại thế giới như tốc độ thanh toán chậm, chi phí chứng từ tốn kém, rủi
ro trong thanh toán nhiều, nghĩa vụ thanh toán chưa gắn liền với việc cung ứng và thu hồi vốn tài trợ của ngân hàng, chưa tạo nên các chuỗi tài trợ và thanh toán gắn kết với nhau v.v… Chính vì những hiện trạng đó, các giới thương mại, logistics, ngân hàng và tài chính thường cho rằng thương mại và tài chính quốc tế dựa trên nền tảng giao dịch bằng chứng từ văn bản đã lỗi thời, phải sớm thiết kế được một phương thức thanh toán và tài trợ thương mại kiểu mới, hiện đại và thích hợp với giao thương và tài chính của thời đại công nghệ kỹ thuật
số, điện toán đám mây và đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Phương thức đó là
Các nghĩa vụ Thanh toán Ngân hàng – (Bank Payment Obligations), gọi tắt là BPO, được điều chỉnh bởi Các Quy tắc thống nhất đối với các Nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng - URBPO (Uniform Rules for Bank Payment Obligations) do Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Paris ban hành tháng 4/2013
Trong điều kiện phát triển về công nghệ như hiện nay, BPO được hứa hẹn sẽ trở thành
“phương thức thanh toán của thế kỉ 21” Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ có rất nhiều các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng như các doanh nghiệp trên thế giới sử dụng phương thức thanh toán này Nếu như các NHTM Việt Nam không có sự chuẩn bị kĩ lưỡng ngay từ bây giờ để đưa phương thức thanh toán này vào triển khai thì sẽ có nguy cơ mất đi một lượng lớn khách hàng và hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam cũng có khả năng mất đi nhiều đối tác quan trọng Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về BPO, quy trình thực hiện BPO, điều kiện áp dụng BPO và ưu điểm của phương thức BPO trong tương quan so sánh với phương thức L/C hiện đang sử dụng rất phổ biến tại Việt Nam là rất cần thiết để hiểu rõ phương thức thanh toán này trước khi áp dụng vào thực tế
1 Bối cảnh ra đời của phương thức BPO
Theo thống kê của SWIFT, tỷ trọng thanh toán của các phương thức thanh toán trong thương mại thế giới rất không đều nhau, hầu hết rơi vào phương thức Ghi sổ (O/A), một tỷ trọng rất nhỏ thuộc về các phương thức thanh toán còn lại Năm 2016, phương thức thanh toán Ghi sổ chiếm tới 70% tổng lượng thanh toán thương mại thế giới, tỷ trọng của L/C chỉ chiếm 15% Dự báo vào năm 2020, tỷ trọng này còn thay đổi hơn nhiều, O/A vào khoảng 90%, còn 10% thuộc về các phương thức còn lại như L/C, nhờ thu (Collection)… trong đó
Trang 3phương thức L/C chiếm khoảng 6-7% Trong năm 2015, khu vực Châu Á và Thái Bình Dương phát hành trên 3,7 triệu L/C và nhận thông báo gần 5 triệu L/C, khu vực Bắc Mỹ bình quân khoảng 1 triệu, Châu Âu và khu vực đồng EUR phát đi 1.001.084 L/C, nhận về 403.452 L/C và khu vực Trung và Mỹ La tinh thấp rất nhiều 124.435 L/C phát đi, nhận về 90.749 L/C Một đặc điểm là trị giá bình quân một L/C trên dưới 450.000 USD, trong khi đó, trị giá bình quân một đơn đặt hàng thanh toán theo Open Account là trên dưới 2-3 triệu USD
(Nguồn: 2016 Rethinking trade and finance SWIFT)
Xu hướng chung trên thế giới là như vậy, tuy nhiên, theo khảo sát của ICC, khu vực vẫn sử dụng L/C nhiều nhất là các nước Châu Á và Thái Bình Dương Trong năm 2015, khu vực này phát hành và thông báo L/C gấp 4,2 lần các quốc gia Bắc Mỹ; 6,1 lần các nước khu vục đồng EUR; 10 lần các quốc gia Trung Đông; 18 lần các quốc gia Châu Phi và 40 lần các nước Trung và Mỹ La Tinh
Như vậy, hai phương thức Ghi sổ và L/C chiếm gần trọn tổng lượng thanh toán trong thương mại thế giới Tuy nhiên, các giao dịch bằng phương thức Ghi sổ chỉ phù hợp đối với các đối tác đã giao dịch thời gian dài, giao dịch trong nội bộ hệ thống, tập đoàn… nên vẫn tồn tại nhu cầu sử dụng L/C với chức năng là một cam kết của bên thứ ba (Ngân hàng) Đối với giao dịch của các đối tác mới, khi hai bên người bán và người mua chưa thể tin tưởng nhau, BPO ra đời để cân bằng cả hai nhu cầu này BPO được tích hợp từ hai phương thức này nhằm kế thừa được tính đảm bảo chắc chắn trong thanh toán của phương thức Tín dụng chứng từ và khai thác hiệu quả được độ “mở” trong giao dịch của phương thức Ghi sổ, đặc biệt phương thức Ghi sổ còn dành cho người mua quyền định đoạt chứng từ về quyền sở hữu
thương mại trực tiếp từ người bán không thông qua khâu trung gian như phương thức thanh toán bằng L/C
2 Phương thức thanh toán “BPO” là gì?
Ngày 17/4/2013, tại Lisbon (Bồ Đào Nha), Phòng Thương Mại Quốc tế (ICC) đã thông qua Các Quy tắc thống nhất đối với Nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng, phiên bản 1.0 (URBPO 1.0 ICC 2013), có hiệu lực áp dụng từ 1/7/2013, nhằm điều chỉnh phương thức Các
Nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng (BPO), một phương thức thanh toán mới được cho là sản phẩm tài trợ thương mại của thế kỷ 21
Theo điều khoản 3 URBPO 1.0 ICC 2013, “Các Nghĩa vụ Thanh toán Ngân hàng” hay “BPO” là một cam kết độc lập và không thể hủy ngang của một Ngân hàng có Nghĩa vụ
Trang 4(Obligor Bank) sẽ thanh toán ngay hoặc cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn một số tiền nhất định cho Ngân hàng tiếp nhận (Recipient Bank) sau khi xuất trình tất cả các
Bộ dữ liệu do Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập yêu cầu và cho kết quả So khớp phù hợp hoặc đã chấp nhận so khớp không phù hợp theo đúng quy định”
Khái niệm BPO nói trên tương tự như khái niệm Tín dụng chứng từ, nếu có khác, chỉ khác những nội dung cơ bản sau đây:
- Ngân hàng phát hành BPO là Ngân hàng có Nghĩa vụ (Obligor Bank), Ngân hàng này có thể là Ngân hàng Người mua và hoặc cũng có thể là một ngân hàng khác; ngược lại, trong thanh toán bằng L/C, ngân hàng phát hành (Issuing Bank) chỉ có thể là Ngân hàng của Người mua;
- Ngoài là một cam kết không thể hủy ngang giống như L/C, BPO còn là một cam kết độc lập;
- Ngân hàng phát hành BPO thanh toán hay cam kết thanh toán cho Ngân hàng Tiếp nhận BPO (Recipient Bank), không cam kết thanh toán hay thanh toán trực tiếp cho người bán;
- Điều kiện thanh toán và hoặc cam kết thanh toán là so khớp Bộ dữ liệu thương mại số
(Digital Commercial Data Set) phù hợp với Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập (Established Baseline) thay vì so khớp chứng từ thương mại văn bản (Paper Commercial Documents)
xuất trình phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C;
- Việc so khớp Bộ dữ liệu thương mại số được tiến hành bằng máy TMA, không bằng tay, mắt thường như so khớp các Chứng từ thương mại với các điều kiện, điều khoản L/C trong phương thức Tín dụng chứng từ;
- BPO là một cam kết độc lập, do đó, không thể chuyển nhượng BPO, ngược lại, L/C có thể chuyển nhượng, nếu như L/C không ngăn cấm;
- Không gian pháp lý của BPO là B2B (Obligor Bank-to-Recipient Bank), còn của L/C là B2C (Issuing Bank-to- Beneficiary Customer);
- URBPO1.0 2013 là một tập quán thương mại quốc tế của ICC dùng để điều chỉnh BPO, thay vì UCP 600 ICC 2007 đang điều chỉnh phương thức Tín dụng chứng từ
3 Quy trình nghiệp vụ tổng thể của phương thức thanh toán BPO
Quy trình nghiệp vụ thanh toán tổng thể của BPO sẽ trải qua 3 giai đoạn: (1) Xác lập quan hệ pháp lý giữa khách hàng với ngân hàng trong sử dụng BPO; (2) Thiết lập Dữ liệu số
cơ sở; và (3) Vận hành phương thức thanh toán BPO
Trang 5Quy trình nghiệp vụ tổng thể của phương thức BPO có thể bao gồm hai quy trình hình
thành và vận hành khác nhau Một là, quy trình nghiệp vụ có một ngân hàng có nghĩa vụ
(Obligor Bank) cam kết trả tiền cho Ngân hàng tiếp nhận (Recipient Bank) quy định trong
một Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập (Established Baseline); hai là, quy trình nghiệp vụ có
nhiều hơn một ngân hàng có nghĩa vụ cùng tham gia thanh toán cho một Ngân hàng tiếp nhận quy định trong cùng một Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập
3.1 Quy trình nghiệp vụ tổng thể của BPO có một Ngân hàng có nghĩa vụ tham gia.
Giai đoạn 1: Xác lập quan hệ pháp lý giữa người mua, người bán và ngân hàng
người mua và ngân hàng người bán bằng ký kết “Thỏa thuận khách hàng với BPO” (BPO
Customer Agreement s) gồm 9 điều khoản như sau:
- Khái niệm về nghĩa vụ thanh toán ngân hàng quy định theo URBPO;
- Loại dịch vụ ngân hàng cung ứng;
- Yêu cầu của khách hàng đối với một giao dịch BPO;
- Giá trị pháp lý và xử lý dữ liệu;
- Phí và lệ phí;
- Sử dụng Hệ ứng dụng so khớp dữ liệu giao dịch (TMA) và sự sẵn sàng của TMA;
- Trách nhiệm;
- Luật điều chỉnh và thẩm quyền xét xử
Giai đoạn 2: Thiết lập Dữ liệu số cơ sở
Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập (Established Baseline) là một sự thỏa thuận của hai Ngân hàng có nghĩa vụ (Obligor Bank) và Ngân hàng tiếp nhận (Recipient Bank) lập ra dựa trên cơ sở Hợp đồng thương mại ký kết giữa Người mua và Người bán, trong đó Ngân hàng
có nghĩa vụ sẽ phát hành BPO cam kết trả tiền không hủy ngang cho Ngân hàng tiếp nhận với điều kiện xuất trình Bộ dữ liệu thương mại số (Digital Commercial Data Set) không có sai biệt so với Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập (Established Baseline)
- Bước : Người mua và người bán giao kết hợp đồng, hoặc là người bán gửi đơn chào hàng
(Offer) đến người mua hoặc là người mua gửi Lệnh mua hàng (Purchase Order) đến người bán, việc chấp nhận đơn chào hàng hoặc Lệnh mua được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa
đã được ký kết
- Bước và : Người mua và người bán gửi các nội dung chi tiết của hợp đồng mua bán hàng hóa cho ngân hàng của mình để mỗi ngân hàng thiết kế Dữ liệu số cơ sở ban đầu
Trang 6Ngân h àng ngư
ời M ua
Ngân h àng ngư
ời B án
TMA
8 1 9
4
10 3 5
6
11 1 7 12
14 Ngân hàng người mua Ngân hàng người bán Obligor Bank Recipient Bank
Sơ đồ 1
(Initial Baseline) thông qua TMA tìm thấy sự phù hợp giữa các nội dung chi tiết của hợp đồng và các Dữ liệu số cơ sở ban đầu do hai bên vừa chuyển
- Bước và : Ngân hàng người mua xuất trình Dữ liệu số cơ sở ban đầu của mình dự
thảo qua TMA yêu cầu so khớp với Dữ liệu số cơ sở ban đầu của Ngân hàng người bán và gửi cho ngân hàng người bán Báo cáo thúc đẩy công việc phải hoàn thành (Full Push Through Report)
- Bước : Ngân hàng người Bán tái xuất trình bản Dữ liệu số cơ sở ban đầu để TMA so
khớp
- Bước : TMA công bố kết quả so khớp Dữ liệu số cơ sở ban đầu thành công cho ngân
hàng người mua, ngân hàng người bán, người mua, người bán và thông báo Dữ liệu số cơ sở ban đầu chính thức được thiết lập (Established Baseline) Lúc này, Ngân hàng người mua
trở thành Ngân hàng có nghĩa vụ (Obligor Bank) và ngân hàng người bán trở thành Ngân hàng tiếp nhận (Recipient Bank), tức là, ngân hàng thụ hưởng BPO Nếu cấu trúc của BPO
có kèm theo BPO thì BPO chính thức được phát hành, ngược lại, ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán (Obligor Bank) sẽ phát hành BPO sau này theo như thỏa thuận trong Thỏa thuận khách hàng với BPO (BPO Customer Agreements)
- Bước và : Căn cứ vào hợp đồng thương mại đã ký kết, người bán giao hàng cho người
mua và giao trực tiếp bộ chứng từ thương mại cho người mua không phải thông qua ngân hàng của mình
Giai đoạn 3: Vận hành BPO
Trang 7- Bước 10: Sau khi hoàn thành giao hàng, người bán gửi các chứng từ thương mại chi tiết cho Ngân hàng người bán để ngân hàng này tạo lập Bộ dữ liệu thương mại số xuất trình qua TMA yêu cầu so khớp với Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập;
- Bước 11: Ngân hàng người bán xuất trình Bộ Dữ liệu thương mại số qua TMA yêu cầu so
khớp với Dự liệu số cơ sở đã được thiết lập xem có phù hợp hay không;
- Bước 12: Nếu kết quả so khớp thành công, TMA thông báo so khớp thành công đến ngân hàng người mua và ngân hàng người bán
- Bước 13: Ngân hàng người mua thông báo cho khách hàng của mình biết so khớp bộ dữ
liệu số thương mại phù hợp với Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập Từ thời điểm này, Ngân hàng người mua trở thành ngân hàng có nghĩa vụ (Obligor Bank) phải có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng tiếp nhận (Ngân hàng thụ hưởng BPO- Recipient Bank) theo quy định của BPO và của Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập
- Bước 14: Đến hạn thanh toán quy định trong BPO, Ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng người bán, giao dịch BPO đến giai đoạn này là kết thúc
3.2 Quy trình nghiệp vụ tổng thể BPO có nhiều Ngân hàng có nghĩa vụ tham gia.
Có thể dẫn ra một ví dụ sau đây: Một Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập với giá trị hàng
hóa đồng loại là 100 triệu Yên Hai ngân hàng Obligor Bank A và B tham gia thanh toán cho Ngân hàng người bán bằng cách phát hành BPO trị giá lần lượt 30 triệu Yên và 60 triệu Yên
Số tiền 10 triệu Yên còn lại chuyển sang phương thức thanh toán nhờ thu Hàng được giao làm 3 chuyến: chuyến 1 có trị giá 27 triệu Yên, chuyến 2 là 21 triệu Yên, chuyến 3 là 52 triệu Yên Nghĩa vụ thanh toán phân chia theo tỷ lệ:
Trị giá giao hàng Nghĩa vụ thanh toán
Ngân hàng Obligor A
Nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng Obligor B
Chuyến 1: 27 27 x (30/100) = 8,1 27x (60/100) = 16,2 Chuyến 2: 21 21 x ( 30/100) = 6,3 21x ( 60/100) = 12,6 Chuyến 3: 52 52 x ( 30/100) = 15,6 51 x (60/100) = 31,2
Tổng cộng = 100 Tổng cộng = 30 Tổng cộng = 60
Trong 3 chuyến giao hàng tổng hợp, tổng số 100 đã được giao ( 27+21=52), đồng thời mỗi ngân hàng Obligor sẽ phải hoàn thành nghĩa vụ thanh toán của nó (Obligor Bank A: 8,1+ 6,3 + 15,6 = 30 triệu Yên; Obligor Bank B: 16,2 + 12,6 + 31,2 = 60 triệu Yên)
Về cơ bản, các quy trình nghiệp vụ hình thành và vận hành BPO không thay đổi, chỉ khác ở quy trình, Ngân hàng tham gia (Involved Bank) với vai trò là Obligor Bank phải thừa nhận Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập bởi Ngân hàng người mua và Ngân hàng người bán
Trang 8Người Mua Người Bán
Ngân hàng tham gia
TMA
HĐ
2
3
4
5 6 7
và chấp nhận vai trò của mình là ngân hàng có nghĩa vụ (Obligor Bank) hoặc là Ngân hàng
có nghĩa vụ duy nhất (Only Obligor Bank)
- Các bước 1,2,3,4,5,6,7 tương tự như các bước trong sơ đồ 1
- Bước 8: TMA thông báo kết quả so khớp hai Dữ liệu số cơ sở ban đầu của Ngân hàng người mua và Ngân hàng người bán xuất trình phù hợp với nhau cho Ngân hàng tham gia
- Bước 9: Ngân hàng tham gia thông báo cho TMA thừa nhận Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập (Established Baseline) và chấp nhận vai trò của mình như là Ngân hàng có nghĩa vụ duy nhất (Only Obligor Bank)
Sơ đồ 2
4 Đặc trưng của phương thức thanh toán BPO
- BPO là một cam kết của Ngân hàng có nghĩa vụ (Obligor Bank) cam kết trả tiền cho Ngân hàng tiếp nhận BPO, tức là, ngân hàng người bán, không trả tiền trực tiếp cho người bán Việc hoàn trả tiền từ ngân hàng thụ hưởng BPO cho người bán sẽ được thực hiện theo Thỏa thuận riêng ký kết giữa ngân hàng người bán và người bán (gọi là BPO Customer Agreement) URBPO không điều chỉnh mối quan hệ giữa Ngân hàng người bán và người bán này
- BPO là một cam kết trả tiền độc lập và không thể hủy ngang, có nghĩa là ngân hàng đó phải
là ngân hàng hạch toán kinh tế độc lập Ngoài tính chất không thể hủy ngang như L/C, BPO còn có thêm tính chất độc lập, có nghĩa là BPO sẽ không được chuyển nhượng giống như L/
C chuyển nhượng
Trang 9- Nếu không gian pháp lý của L/C là B2C (Ngân hàng – Khách hàng), thì của BPO là B2B (Ngân hàng-Ngân hàng) Không gian pháp lý “đơn nhất” của BPO nói trên sẽ giảm thiểu được các rủi ro thường phát sinh do sự khác biệt gây ra trong giao dịch
- Ngân hàng có nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng thụ hưởng BPO chỉ căn cứ vào việc so khớp
Bộ dữ liệu thương mại số với Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập, không căn cứ vào các chứng
từ thương mại văn bản do người bán xuất trình, dù cho Bộ dữ liệu thương mại số này được trích suất từ các chứng từ thương mại văn bản đó
- Ngôn ngữ vận hành BPO, ngoài tiếng Anh thông dụng, là Các Mẫu tin ISO 20022 TSMT messages
- Việc so khớp và kiểm tra các dữ liệu thương mại được thực hiện bằng máy qua Hệ ứng dụng so khớp giao dịch (TMA), nhờ đó, tránh được nhân tố chủ quan, giữ được tính trung lập và độc lập TMA là một cái máy (Engine), do đó, phải có tổ chức quản lý, vận hành nó,
đó là Trung tâm tiện ích dịch vụ thương mại - TSU (Trade Services Utility) Các ngân hàng muốn sử dụng TMA phải đăng ký với TSU
- Trong cơ chế thanh toán dựa vào chứng từ văn bản, vấn đề giải quyết sự khác biệt phát sinh
từ đối chiếu chứng từ rất phức tạp và mất rất nhiều thời gian, ngược lại, trong phương thức thanh toán BPO vấn đề giải quyết khác biệt Dữ liệu số nhanh chóng, kịp thời là nhờ ở không gian pháp lý đơn nhất và số hóa chứng từ thương mại
5 Lợi thế của phương thức thanh toán BPO so với các phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) và Ghi sổ (O/A)
BPO là “sự kết hợp giữa giảm thiểu rủi ro và những lợi ích về vốn lưu động trong thanh toán L/C với những lợi ích về chi phí và hiệu quả hoạt động trong thanh toán Ghi sổ”
Vì vậy, BPO mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế như người xuất khẩu, người nhập khẩu và các ngân hàng:
- Trong phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ, ngân hàng phát hành L/C cam kết thanh toán cho một hợp đồng thương mại Hợp đồng này có thể có kim ngạch nhỏ vài trăm ngàn USD, thời hạn hiệu lực L/C ngắn, nhưng cũng không loại trừ có hợp đồng kim ngạch rất lớn hàng chục triệu USD, thời hạn hiệu lực L/C kéo dài tới vài năm Do chỉ có một ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho một hợp đồng thương mại, cho nên sự độc quyền thanh toán này đã làm tăng chi phí vay vốn của người mua, thiếu nhân tố cạnh tranh tín dụng và làm tăng độ rủi ro trong thanh toán
Trang 10- Ngược lại, trong thanh toán bằng phương thức BPO, một Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập có thể có nhiều Ngân hàng tham gia phát hành BPO cam kết thanh toán cho một Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập đã phá vỡ thế độc quyền trong thanh toán Tín dụng chứng từ, nhờ đó, giảm chi phí thanh toán, dành được lãi suất vay hợp lý, dàn trải rủi ro, giảm thiểu được rủi ro trong thanh toán…
- Trong phương thức thanh toán BPO, người bán giao hàng xong gửi trực tiếp chứng
từ hàng hóa cho người mua, không phải chuyển giao qua trung gian như phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ hoặc Nhờ thu kèm chứng từ, cho nên tạo lợi thế cho người mua có điều kiện nhận hàng thuận lợi không phải thông qua trung gian
- Đặc trưng của phương thức thanh toán Ghi sổ là thanh toán sau khi nhận xong hàng hóa một số ngày nhất định, cho nên hầu hết các chứng từ vận tải đều ghi là giao hàng trực tiếp theo lệnh của người mua, cho nên người mua đã dành được quyền định đoạt sở hữu hàng hóa ngay sau khi người bán gửi chứng từ vận tải cho người mua Đây là một lợi thế mà bất cứ người mua hàng nào cũng muốn dành lấy Dùng BPO người mua sẽ dành được lợi thế này
- Rút ngắn được độ trễ trong thanh toán so với thanh toán bằng L/C hoặc Ghi sổ, cho nên tốc độ thanh toán nhanh hơn, giúp cho người bán giảm thiểu chi phí đọng vốn lưu động trên đường đi
- Kế thừa được đặc tính an toàn của phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ và
“độ mở” của phương thức thanh toán Ghi sổ, BPO đã gắn kết thanh toán với tín dụng tạo thành các chuỗi thanh toán theo từng định kỳ 15, 30, 45, 60, 90 ngày với chuỗi cung ứng tín dụng trước khi giao hàng, sản xuất, tồn kho, sau khi giao hàng, chứng từ trên đường đi…
- Các phương thức thanh toán truyền thống, đặc biệt là L/C có đặc điểm là chi phí cao
do quy trình xử lý thủ công, thông tin không rõ ràng, đồng thời các ngân hàng phải chịu áp lực về tính thanh khoản cao Ngược lại, với phương thức thanh toán BPO, nhờ quy trình xử
lý được tự động hóa nên chi phí xử lý được cắt giảm tối đa, tạo điều kiện cho các ngân hàng đưa ra mức phí cạnh tranh cho khách hàng của mình khi thực hiện giao dịch
- Quy trình so khớp dữ liệu là đặc điểm mang lại những lợi ích thực tế lớn nhất Không phải kiểm tra chứng từ bằng tay và không có khái niệm sai sót hay tranh cãi trong kiểm tra chứng từ bởi việc so khớp dữ liệu số điện tử được thực hiện tự động hoàn toàn, không có sự can thiệp mang tính chủ quan của con người vào quy trình so khớp Toàn bộ