1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Triết lý chính trị Hồ Chí Minh

180 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 14,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thành quả nghiên cứu trong và ngoài nước về Hồ Chí Minh cho thấy, toàn bộ hệ thống tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh cũng như thực tiễn chính trị của Người được xây dựng và triển khai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

(NHÓM B)

Tên đề tài: TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

Mã số đề tài: QG.13.17

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lại Quốc Khánh

ĐAI HỌC GUỐ C GIA HA NÔI TRUNG TAM THÔNG TIN THƯ VIÊN

Hà Nội, 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ Đ Ầ U 2

1 Tính cấp thiết của đề tà i 2

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 4

3 Đối tưọng và phạm vi nghiên cứ u 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên c ứ u 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp về khoa học của Đề tài 10

7 Kết cấu của báo cáo kết quả nghiên cứ u 10

Chương 1 TRIÉT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN C H U N G 11

11 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN c ứ u TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ Hồ CHÍ MINH 11

1.1.1 Triết lý và triết h ọ c 11

1.1.2 Khái niệm Triết lý chính trị Hồ Chí M inh 17

1.1.3 Triết học chính trị - khung khổ lý thuyết nghiên cửu triết lý chính trị íồ Chí M in h 21

12 C ơ SỜ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỔ CHÍ M IN H 41

1.2.1 Cơ sở lý luận hình thành triết lý chính trị Hồ Chí M inh 41

1.2.2 Cơ sở thực tiễn hình thành triết lý chính trị Hồ Chí M in h 71

Ciương 2 NHỮNG NỘI DƯNG c ơ BẢN CỦA TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ t ò CHÍ M IN H 86

2 TRIẾT LÝ VÈ MỤC TIÊU VÀ GIÁ TRỊ CHÍNH T R Ị 86

2.1.1 Công lý và hòa bình - môi trường để con ngưòi tồn tạ i 88

2.1.2 Tự do và độc lập - từ thân phận nô lệ thành con người 92

2.1.3 Dân chủ và hạnh phúc - từ con người thành CON NGƯỜI thực s ự 94

2.; TRIẾT LÝ VỀ QUÁ TRÌNH CHÍNH TRỊ 97

2.2 TRIẾT LÝ VỀ CHỦ THÊ CHÍNH TRỊ 111

2.4 TRIẾT LÝ VÈ THỂ CHẾ CHÍNH T R Ị 117

Trang 4

Chương 3 VẬN DỤNG TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH HIỆN N A Y 130

3.1 S ự CẦN THIẾT TIẾP TỤC VẬN DỤNG TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ

HỒ CHÍ MINH 130

3.1.1 Quá trình đổi mới chính trị ở Việt Nam - những vấn đề đặt ra 131 3.1.2 Tình hình thế giói trong kỷ nguyên toàn cầu hóa - những vấn đề

đặt ra 142

3.1.3 Điều kiện vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí M inh 145

3.2 GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỒI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THEO TRIẾT

LÝ CHÍNH TRỊ H ồ CHÍ M IN H 148

3.2.1 Những quan điểm chỉ đạo vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh

trong thực tiễn đòi sống chính trị Việt Nam hiện n a y 149

3.2.2 Những giải pháp vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh trong

thực tiễn đời sống chính trị Việt Nam hiện nay 152 KẾT L U Ậ N 168 TÀI LIỆU THAM K H Ả O 170

Trang 5

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ sau sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, đời sống chính trị thế giới đã có những biến đổi phức tạp, khó lường Đặc biệt, trong những năm gần đây, tuy hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhung chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố, bất ổn chính trị - xã hội, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ vẫn diễn ra ở nhiều nơi, diễn biến phức tạp, thách thức nhiều nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chính trị vốn đã được định hình, ổn định và được đề cao trong một thời gian dài Nhu cầu đối với một triết lý chính trị sáng suốt, đáng tin cậy, giúp lý giải, đánh giá chính xác diễn biến của đời sống chính trị thế giới, định hướng suy nghĩ, hành động của chúng ta trong quá trình hội nhập quốc tế mạnh hon bao giờ hết Triết lý chính trị Hồ Chí Minh hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu đó và vì thế, việc đẩy mạnh nghiên cứu và vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà còn có ý nghĩa chính trị cấp bách

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước đối mới quan trọng trong tư duy chính trị,

và chắc chắn rằng, để theo kịp những đòi hòi của thực tiễn bảo vệ, xây dựng

và phát triển đất nước, công cuộc đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ còn được tiến hành mạnh mẽ hơn nữa Tuy nhiên, công cuộc đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam cần được tiến hành trên cơ sở đảm bảo những nguyên tắc nền tảng, và một trong những nền tảng quan trọng ấy là Học thuyết Hồ Chí Minh, trong đó, đóng vai trò nền tảng, chính là triết lý chính trị Hồ Chí Minh Nghiên cứu làm rõ triết lý chính trị Hồ Chí Minh, vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần cưng cấp cơ sở khoa học cho công cuộc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực thực hành chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một nhiệm vụ cần kíp

Trang 6

Những thành quả nghiên cứu trong và ngoài nước về Hồ Chí Minh cho thấy, toàn bộ hệ thống tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh cũng như thực tiễn chính trị của Người được xây dựng và triển khai trên một nền tảng triết học vững chắc Đó là triết lý chính trị Hồ Chí Minh Những thành quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh học mà chúng ta tích lũy được qua nhiều năm qua đã gợi mở và cho phép đi sâu nghiên cứu, làm rõ triết lý chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời, việc nghiên cứu triết lý chính trị Hồ Chí Minh sẽ quay trở lại góp phần giúp chúng nhận thức đầy đủ hơn, đúng đắn hơn tư tưởng và sự nghiệp chính trị của Người, góp phần gợi mở những vấn đề, những hướng nghiên cứu mới cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

Mặt khác, việc vận dụng lý thuyết triết học chính trị hiện đại để nghiên

cứu trường họp triết lý chính trị Hồ Chí Minh cũng là một công việc cần

thiết nhằm phát triển bộ môn triết học chính trị, triết lý chính trị Hồ Chí Minh - bộ môn rất quan trọng, nhưng còn khá mới, trong cơ cấu nghiên cứu, đào tạo Chính trị học ở Việt Nam

Tất nhiên, không phải đến bây giờ vấn đề nghiên cứu và vận dụng triết

lý chính trị Hồ Chí Minh mới được đặt ra Trong thực tế nghiên cứu Hồ Chí Minh, đã có những nghiên cứu tiên phong về phương pháp luận và phương pháp Hồ Chí Minh, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, tư duy triết học Hồ Chí Minh, triết lý Hồ Chí Minh, V V Mặc dù những kết quả nghiên cứu đã đạt được chứa đựng nhiều giá trị, song chưa có công trình nào triển khai theo hướng vận dụng lý thuyết triết học chính trị hiện đại để đi sâu nghiên cứu triêt lý chính trị Hồ Chí Minh, tập trung làm rõ trong tính chỉnh thể mục tiêu, những nguyên lý chung nhẩt, những quan điêm trụ cột và những phạm trù/khái niệm căn bản của triết lý chính trị Hồ Chí Minh, những tính chất chủ yếu của triết lý chính trị đó, và vận dụng triết lý chính trị đó để nhận diện và giải quyết những vấn đề lớn đang đặt ra trong thực tiễn đời sống chính trị Việt Nam hiện nay như cách đặt vấn đề của đề tài này

Trang 7

Tóm lại, đẩy mạnh nghiên cứu và vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh trên cơ sở vận dụng lý thuyết triết học chính trị hiện đại là một hướng nghiên cứu mới, có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, hứa hẹn có những đóng góp mới cả về khoa học và chính trị.

2 Tình hình nghiên cứu có Hên quan đến đề tài

2.1 Ở nước ngoài

Cho đến nay, chưa có công trình nào được công bố ở Việt Nam và trên thế giới trình bày trực diện và hệ thống triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu khá phong phú và

có thể được phân thành hai nhóm:

Nhóm thứ nhất là những công trình nghiên cứu về triết lý/triết học chính trị Đây là những công trình cần được tham khảo trong xây dựng

khung lý thuyết phục vụ nghiên cứu của đề tài Có thể thấy rằng, bản thân

triết lỷ/trỉết học chính trị đã có một lịch sử rất lâu đòi Các nhà tư tưởng

chính trị, các nhà hoạt động chính trị tiêu biểu trong lịch sử nhân loại đều ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp xây dựng hệ thống tư tưởng chính trị và sự nghiệp thực tiễn chính trị của họ trên một nền tảng triết lý/triết học chính trị Nói cách khác, triết lý/triết học chính trị đã là một bộ phận cấu thành quan trọng của các tư tưởng và thực tiễn chính trị tiêu biểu trên thế giới từ c ổ đến

Kim, từ Đông sang Tây Tuy nhiên, những nghiên cứu về triết lý/triết học

chính trị với tư cách là nghiên cứu chuyên ngành-liên ngành triết học-chính

trị thì mới xuất hiện chưa lâu, từ đầu thế kỷ XX đến nay, và nhất là từ những

năm 70 của thế kỷ XX Mặc dù là một chuyên ngành trẻ, song khoa học về

triết học chính trị đã xây dựng được khung lý thuyết của riêng mình, mà trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi sẽ lựa chọn và vận dung khung lýthuyết của khoa học về triết học chính trị hiện đại để nghiên cứu triết lýchính trị Hồ Chí Minh - một hướng tiếp cận và nghiên cứu mà theo quan điểm của chúng tôi là còn khá mới ở Việt Nam

Trang 8

Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.

Giai đoạn 1970 - 1980: Đây là thời kỳ những tình cảm lớn và đạo đức, tác phong của Hồ Chí Minh được các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta nêu cao đế nhân dân học tập Ngoài các công trình nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, V V , nhân dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất hoặc những ngày lễ lớn của dân tộc có nhiều bài nghiên cứu về Hồ Chí Minh Đáng kể nhất trong giai đoạn này là Hội nghị khoa học nghiên cứu về Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Người (1890 - 1980) do Ban Nghiên cứu lịch

sử Đảng Trung ương, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh và Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức Nhìn chung, những nghiên cứu trong giai đoạn này chưa nhiều, chưa có hệ thống và nhất là chưa có nhiều công trình phản ánh đúng với tầm vóc nhà tư tưởng, nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh

Giai đoạn 1980 - 1990: Đây là thời kỳ việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đạt được những thành tựu to lớn cả ở trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện cho việc UNESCO ra Nghị quyết công nhận danh hiện Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu khá công phu và toàn diện về Hồ Chí Minh đã được công

bố Trong nước, đang chú ý nhất trong giai đoạn này là một Hội thảo quốc tế

có tầm cỡ về Chủ tịch Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn đã được tổ chức trọng thể trong hai ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1990 tại Hà Nội với 70 đại biểu quốc tế thuộc 34 nước và hơn 1000 đại biểu người Việt Nam Hội nghị đã có sự đánh giá rất cao về con người, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đặc biệt, tầm vóc, giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí 'Minh đã được không chỉ các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động chính trị trong nước mà còn trên thế giới thừa nhận với những đánh giá rất sâu sắc, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi đi sâu nghiên cứu, tổng kết

Trang 9

Giai đoạn 1990 đến nay: tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng và nhân dân ta cũng đã chính thức ghi nhận vị trí, ý nghĩa của tư tưởng

Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng nước ta Tiếp đó, đã có một chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước (KX.02) bao gồm 13 đề tài

về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là về tư tưởng của Hồ Chí Minh một cách

có hệ thống và toàn diện Sau khi chương trình nghiên cứu nói trên kết thúc thành công, tạo bước chuyển rất căn bản trong nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng và Nhà nước ta đã tiếp tục đẩy việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh lên một bước mới, theo một hướng mới, nghĩa là nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh trong nghiên cứu các vấn đề cơ bản khác của khoa học xã hội

và nhân văn Cùng với sự ra đời của Biên niên Tiểu sử Hồ Chí Minh và xuất bản lần thứ 2 Hồ Chí Minh toàn tập vói nhiều tư liệu quý mới được bổ sung (năm 2011, Hồ Chí Minh toàn tập đã được xuất bản lần thứ 3, bổ sung thêm khoảng 800 tư liệu mới), những thành quả và những vấn đề mà việc nghiên cứu Hồ Chí Minh nói chung, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng giai đoạn 1990 đến nay đã mở ra một thời kỳ mới trong nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh

Trong số lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh, hầu

như chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu triết lý chính trị Hồ Chí

Minh, đặc biệt là từ góc tiếp cận như đề tài đã đề xuất, mặc dù trong những

năm gần đây, chủ đề tư tưởng triết học, tư duy triết học, phương pháp triết học, triết lý, V V , của Hồ Chí Minh đã ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã có những công trình nghiên cứu được xuất bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đoi tượng

Triết lý chính trị Hồ Chí Minh đóng vai trò nền tảng thế giới quan, phương pháp luận, giá trị luận cho toàn bộ hệ thông tư tưởng chính trị Hô Chí Minh, thê hiện trong các tác phẩm và trong thực tiễn chính trị của Hồ Chí Minh

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Cấu trúc và nội dung triết lý chính trị Hồ Chí Minh được hình thành

và phát triển trong toàn bộ cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh

- Tư liệu chủ yếu phục vụ nghiên cứu triết lý chính trị Hồ Chí Minh là

bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, xuất bản lần thứ 3 năm 2011) và bộ Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Làm rõ cơ sở hình thành, mục đích, nội dung, tính chất và giá trị của triết lý chính trị Hồ Chí Minh Vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh để nhận diện và đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết một số vấn đề lớn đang đặt ra trong đời sống chính trị Việt Nam hiện nay, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Xác định và phân tích sâu những cơ sở chủ yếu hình thành ừ-iết lỷ

chính trị Hồ Chí Minh, trong đó tập trung làm rõ phương pháp luận và

phương pháp của Hồ Chí Minh trong kế thừa triết lý, triết học chính trị của dân tộc và nhân loại, trong tiếp cận và phân tích những biến chuyển mang tính bản chất và quy luật trong thực tiễn đời sống chính trị; làm rõ những giá trị triêt lý/triết học chính trị của dân tộc và nhân loại đã được Hồ Chí Minh

kế thừa, cũng như những sự cải biến, những bước phát triển của Hồ Chí Minh đối với di sản triết lý/triết học chính trị của dân tộc và nhân loại; phân

Trang 11

tích những biến chuyển lớn trong đời sống chính trị Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX có ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh.

- Trình bày một cách hệ thống và phân tích sâu những nội dung căn

bản ừ-ong triết ỉỷ chỉnh trị của Hồ Chỉ Minh thể hiện qua hệ thống các tác

phẩm và đặc biệt là qua thực tiễn chính trị của Hồ Chí Minh, trong đó tập

trung làm rõ những nguyên lý chung nhất, những quan điếm trụ cột và những

phạm trù/khái niệm then chốt trong triết lý chính trị Hồ Chí Minh.

- Vận dụng triết ỉý chính trị Hồ Chí Minh vào thực tiễn chính trị Việt

Nam để nhận diện và đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm giải quyết số vấn đề lớn đang đặt ra trong đời sống chính trị Việt Nam hiện nay, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Tư tưởng, lý luận triết học/triét lý chính trị Việt Nam và thế giới được tiếp cận và vận dụng trên cơ sở triết học chính trị Mác-xít

- Đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Các thành quả nghiên cứu có liên quan đế triết lý/triết học chính trị

Hồ Chí Minh của các học giả có uy tín của Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng tông hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành triết học - chính trị, trong đó, tuỳ từng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết phục vụ nghiên cứu triết lý chính trị Hồ Chí Minh: Các phương pháp xây dựng thư mục khoa học, xây dựng phiếu tư liệu, nghiên cứu văn bản, hệ thống hóa - cấu trúc, mồ hỉnh hỏa

- Nghiên cứu cơ sở hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh: Các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, kết họp lịch sử - lôgic, hệ

Trang 12

thống - cấu trúc, phân tích diễn ngôn, phân tích văn bản, phân tích hành vi,

so sánh

- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của triết lý chính trị Hồ Chí Minh: Các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, kết hợp lịch sử - lôgic, hệ thống - cấu trúc, mô hình hóa, đi từ trừu tượng đến cụ thể

- Nghiên cứu giá trị của triết lý chính trị Hồ Chí Minh: Các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống - cấu trúc, phân tích diễn ngôn, nghiên cứu văn bản học, phỏng vấn chuyên g ia Ưu tiên sử dụng phương pháp chính trị học so sánh trong nghiên cứu tính chất và giá trị của triết lý chính trị Hồ Chí Minh: so sánh triết lý chính trị Hồ Chí Minh với triết lý chính trị của chủ nghĩa Mác, Mao Trạch Đông, Tôn Trung Sơn

- Nghiên cứu vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh vào thực tiễn đời sống chính trị Việt Nam hiện nay: Các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống - cấu trúc, so sánh - đối chiếu, phân tích văn bản học, phân tích tình huống chính trị, so sánh chính trị, dự báo chính trị, V V

6 Đóng góp về khoa học của Đe tài

- Xây dựng và vận dụng khung lý thuyết triết học chính trị hiện đại để nghiên cứu và trình bày triết lý chính trị Hồ Chí Minh

- Áp dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành phù hợp đế giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, trong đó nổi bật là áp dụng các phương pháp chính trị học so sánh (so sánh triết lý chính trị), phân tích diễn ngôn, phân tích tình huống chính trị, dự báo chính trị, V V

- Là công trình đầu tiên trình bày một cách có hệ thống cơ sở hình thành, nội dung, giá trị và vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của báo cáo kết quả nghiên cứu

Báo cáo kết quả nghiên cửu, ngoài phẩn mờ đầu, kết ỉuận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính được kết cấu gồm 3 chương

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1 TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHƯNG

1.1 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN c ứ u TRIÉT LÝ CHÍNH TRỊ

HỒ CHÍ MINH

1.1.1 Triết lý và triết học

Lây ví dụ trường hợp tiếng Anh: Trong tiếng Anh chỉ có một từ Philosophy, nhưng khi dịch ra tiếng Việt, có thể được dịch thành Triết học hoặc Triết lý Ngược lại, hai khái niệm Triết học và Triết lý, khi dịch ra tiếng Anh đều được dịch là Philosophy Như vậy, nếu nhìn từ góc độ này, chúng ta

có thể kết luận rằng, Triết học và Triết lý là một!

Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy Trong tiếng Việt có hai từ Triết học và Triết lý, và cách sử dụng cho thấy, nội hàm của hai từ này tuy

có phần giao thoa, nhưng không hoàn toàn trùng khớp vào nhau Sự không trùng khớp nhau này thể hiện rõ ngay trong ngôn ngữ thường nhật

Trước hết, trở lại với từ nguyên: Triết học và Triết lý đều là những từ

Hán Việt Trong tiếng Hán cổ không có từ Triết học ( 1 5 ^ ) và Triết lý ỢẼM ) mà chỉ có từ Triết (15) Theo c ổ Hán ngữ đại từ điển - bộ đại từ điển về

tiếng Hán cổ, Triết có nghĩa là: 1 Thông minh; 2 Triết nhân (nhà triết học)

[146, tr 878] Theo Từ Hải - một bộ từ điển nổi tiếng của Trung Quốc - thì

từ Triết học xuất hiện muộn, vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ XIX, khi những nhà truyền bá triết học phương Tây thời kỳ đầu ở Nhật Bản tạo ra từ Triết học để dịch từ Philosophia ra chữ Hán Từ sau 1896, khi Hoàng Tôn Hiến và Khang Hửu Vi giới thiệu cách dịch cúa người Nhật vào Trung Quốc,

từ Triết học dần dần được sử dụng phổ biến [147, tr 897] Trong Từ Hải không giải thích từ Triết lý Trong Hiện đại Hán ngữ từ điển - một bộ từ điển

Trang 14

tiếng Hán hiện đại rất nổi tiếng và thông dụng ở Trung Quốc - có cả hai từ Triết học và Triết lý, trong đó, Triết học có nghĩa là “học thuyết về thế giới quan Là sự khái quát và tổng kết tri thức tự nhiên và tri thức xã hội v ấ n đề

cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ của tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất, căn cứ vào sự giải đáp khác nhau đối với vấn đề cơ bản này mà hình thành hai trường phái lớn đối lập nhau là triết học duy tâm chủ nghĩa và ừiết học duy vật chủ nghĩa”; còn Triết lý là “nguyên lý về vũ trụ và nhân sinh” [148, tr 1594] Như vậy, cả hai từ Triết học và Triết lý đều là những từ xuất hiện gần đây, và hiện được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ thường nhật ở Trung Quốc Nội hàm của hai từ này có phần giao thoa nhưng không hoàn toàn trùng khớp, trong đó, Triết lý là một kết quả của nhận thức triết học, ở tầm khái quát cao, về quy luật nền tảng của vũ trụ và đạo lý gốc của nhân sinh Theo nghĩa như thế, Triết lý không trùng khớp hoàn toàn với Triết học, nhưng thực chất cũng là một nội dung hoặc một loại hình triết học

Ở Việt Nam, theo Từ điển Hán Việt do học giả Đào Duy Anh biên

soạn, Phan Bội Châu hiệu đính (xuất bản lần đầu năm 1931), Triết học là

“thứ học vấn nghiên cứu về nguyên lý của vũ trụ và nhân sinh”, còn Triết

lý là “đạo lý về triết học” Theo Tự điển Việt Nam của Ban Tu thư Khai Trí,

xuất bản ở Sài Gòn năm 1971, thì Triết học là: “Môn học nghiên cứu và tìm hiểu nguyên lý vạn vật”, còn Triết lý là: “ l Ý niệm của nhân loại khi đã tự

ý thức được đời sống của mình và cố gắng nâng đời sống ấy lên một chỗ

thích hợp nhất 2 Tỏ ý niệm riêng của mình về việc gì” Theo Từ điển

Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (xuất bản năm 2004), Triết học được

hiểu là: “Khoa học nghiên cứu về những quy luật chung nhất của thế giới

và sự nhận thức thế giới”, còn Triết lý được hiểu là: “ 1 Lý luận triết học 2 Quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội”; Như vậy, điểm qua một số bộ từ điển xuất hiện kế tiếp nhau từ đầu thế kỷ

XX đến nay, ở cả miền Nam và miền Bắc Việt Nam, có thể thấy, trong trong ngôn ngữ đời sống thường nhật, Triết học và Triết lý không phải là

Trang 15

hai từ có nội hàm hoàn toàn trùng khớp với nhau, nhưng liên hệ mật thiết với nhau, v ề đại thể, có thể thấy, triết lý là một phần của triết học, hay chính xác hơn là một két quả rút ra từ nhận thức triết học Nó có thể ỉà ý niệm triết học, quan niệm triết học, lý luận triết học hoặc đạo lý triết học Nội dung của triết lý có thể là vấn đề vũ trụ, nhưng cũng có thể là những

vấn đề nhân sinh, là sự hiểu biết ở tầm triết học, tức là phản ánh được bản chất, quy luật, về vũ trụ và nhân sinh, đồng thời là sự định hướng cho hành động của chủ thể hướng đến các giá trị (“cố gắng nâng đời sống ấy lên một

chỗ thích hợp nhất”) Triết lý, ngoài nghĩa là một sản phẩm của nhận thức triết học, còn có nghĩa là hành vi - giải thích, lý giải (lý) một cách thông minh (triết) về vấn đề gì đó

Trong ngôn ngữ khoa học, các nhà khoa học cũng đã nỗ lực biện luận

về sự khác biệt và mối liên hệ giữa Triết học và Triết lý Có thể dẫn ra ở đây một số ý kiến chuyên gia về vấn đề này:

GS Trần Văn Giàu cho rằng: “Trong tiếng Pháp chỉ có một từ

philosophie, không có từ thứ hai Còn dân Việt Nam mình thì vừa nói triết

lý, vừa nói triết học Tôi nghĩ, triết lý và triết học không hoàn toàn giống

nhau

Triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức, tức nhận thức luận, hay nói

một cách cụ the hơn, đó là phương pháp luận tổng quát của các khoa học Có người ngày xưa gọi triết học là khoa học của các khoa học Nói một cách

nôm na, triết học đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Còn triết lỷ

chủ yếu hướng về đạo lý; hướng về đạo lý chứ không chỉ là đạo lý Nó chủ yếu đặt vấn đề tốt hay xấu, nên hay chăng, chứ không đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Hai loại vấn đề ấy tuy có quan hệ với nhau, nhưng

Trang 16

GS.VS Hoàng Trinh thì định nghĩa: “Triết lý là những nguyên lý đầu

tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày Có những dân tộc đấ có những triết lý từ lâu mặc dầu

chưa có ừ-iết học với hệ thống các khái niệm của nó”

GS.TS Hồ Sĩ Quý tiến hành so sánh Triết lý với Triết học, từ đó rút ra một số đặc trưng của triết lý như sau:

- Triết lý ở trình độ thấp hơn triết học về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và

tư duy Trong đa số trường hợp, triết lý thường thiếu chặt chẽ hơn, phiến diện hơn và mang nhiều khả năng chứa đựng mâu thuẫn hơn so với triết học

- Trong ngôn ngữ, triết học thường được sử dụng với tư cách là một danh từ, đôi khi là một tính từ Còn triết lý thường xuyên được sử dụng với

tính cách là danh từ, tính từ và động từ

- Triêt lý có thế là những mệnh đề được cô đúc lại từ một triết học nào

đó Song nó cũng có thế là mảnh vụn của một hoặc một số quan niệm, học thuyết hoặc trào lưu triết học nào đó Ánh phản của triết học trong triết lý có thể là trung thực, cũng có thể là méo mó

Từ đó ông xác định: “v ề đại thể, triết lý có thể và nên được hiểu là những tư tưởng, quan điểm hay quan niệm mang tính khái quát cao; được phản ánh một cách cô đúc dưới dạng các mệnh đề hoặc các phán đoán thường là trau chuốt về mặt ngữ pháp; và được sử dụng ữong đời sống xã hội với tính cách là những định hướng cho hoạt động của con người về mặt thế giới quan, phương pháp luận hoặc nhân sinh quan”

GS.TS Phạm Xuân Nam thì cho rằng:

“a) Triết học là môn khoa học nghiên cứu những phạm trù, những quy

luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó cung cấp thế giới quan và phương pháp luận tổng quát cho các khoa học khác Ket quả nghiên cứu của

Trang 17

nó thường được thể hiện thành hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các nguyên lý có tính trừu tượng hóa cao và có lôgic nội tại chặt chẽ.

b) Triết lý có thể là những kết luận được rút ra, suy ra từ một triết thuyết, một hệ thống các nguyên lý triết học nhất định Nhưng triết lỷ còn là

những tư tưởng, những quan niệm (thường được thể hiện dưới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích) phản ánh được bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh động mọi mặt của mỗi cá nhân và của cộng đồng theo hướng khẳng định những niềm tin, giá trị, đạo lý, có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ và hành động của con người trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó

Nói cách khác, triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và

đúc kết thành những công thức, những phương châm, những tư tưởng cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về những hoạt động thực tiễn rât đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy”

Còn có thể dẫn ra nhiều ý kiến khác, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, những ý kiến ở trên là khá tiêu biểu và cũng đã đủ cho phép chúng ta hình dung phần nào ý kiến của giới khoa học Việt Nam về sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học và Triết lý Nhìn chung, trong nhận thức của giới khoa học Việt Nam, Triết học và Triết lý là hai khái niệm khác biệt nhau dù có quan hệ chặt chẽ với nhau

Từ việc khảo sát ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ khoa học như trên, có thể rút ra một số suy nghĩ về Triết học và Triết lý như sau:

về mặt nội dung và tính chất, nếu chiết tự thì Triết lý và Triết học có

cùng nội dung và tính chất là Triết Một mặt, Triết học là cái học (học vấn, khoa học) về Triết, còn Triết lý là cái hiểu (lý ngộ, lý giải) về Triết Mặt khác, Triết học là cái học có tính chất Triết (trí tuệ, sáng suốt), còn Triết lý là cái hiểu có tính chất Triết (trí tuệ, sáng suốt)

Trang 18

Nếu nhìn từ quan niệm khoa học thì Triết học là khoa học về bản chất

và quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, còn Triết lý là những ý niệm, quan niệm, lý luận về bản chất, quy luật của vũ trụ và nhân sinh Nếu Triết học có tác dụng “giải thích thế giới theo nhiều cách khác nhau” và từ giải

thích thế giới (thế giới quan) đi tới định hướng chân lý cho nhận thức và

hành động “cải tạo thế giói” (phương pháp luận), thì triết ]ý cũng có tác dụng

giải thích/cải tạo thế giới, nhưng thiên về định hướng giá trị cho nhận thức

và hành vi của con người Triết lý có thể là kết quả đúc rút từ một hệ thống triết học nào đó, hoặc là kết quả của quá trình tư duy ở tầm triết học của chủ thể nhận thức

về mặt hình thức, nếu Triết học với tư cách là một học vấn, một khoa

học, có cấu trúc lý thuyết chặt chẽ với hệ thống các nguyên lý, quy luật và phạm trù, thì Triết lý với sự cách là sự thấu hiểu, thấu ngộ, thường thể hiện dưới hình thức ngắn gọn, cô đọng của những phán đoán, thậm chí dưới những hình thức “vô ngôn từ” như hình tượng, sống, hành động, thái độ,

trị thực tiễn hơn so với triết học Như vậy triết lý và triết học đều cùng một

phạm trù đó là thê giới quan (và nhân sinh quan) Triêt học là thế giới quan

Trang 19

lỷ luận, còn triết lỷ là nhãn sinh quan kinh nghiệm Quan hệ giữa triết học và

triết lý không quy giản về quan hệ đúng - sai, cao - thấp, hay - d ở ; bởi vì theo nguyên lý tương đối trong văn hóa thì còn có quan hệ bổ sung cho

nhau” Trong công trình Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam (2013), giáo

sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhìn chung lại, Triết học và Triết lý đều bắt đầu bằng chữ Triết chỉ sự am hiểu, tri thức đại quát, bản chất, thông thái; tiếp theo, một đằng là chữ “học” là học thuyết, khoa học, môn học, khoa đào tạo; một đằng là chữ “lý” là lý lẽ, lý giải, ý sâu xa, một toát yếu, một châm ngôn,

rất khái quát đại thể có thể hiểu Triết lý là triết học đã được vận dụng vào

một trường hợp cụ thể, gắn với cuộc sổng thực ở một cấp độ nào đó, trong một phạm vi nào đó.

1.1.2 Khái niệm Triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Kể từ khi ra đời, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, triết lý tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nó không chỉ tác động đến khoa học, văn học, văn hóa nghệ thuật, kinh tế m à còn có tác động đến quá trình chính trị Ăngghen đã từng nói, lịch sừ bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ

đó Quá trình loài người tìm kiếm các phương thức xây dựng quyền lực chính trị, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nhằm thực hiện tối

ưu mục tiêu chính trị là quá trình loài người xây dựng nên các tư tưởng chính trị, các học thuyết, lý thuyết về chính trị và về hoạt động chính trị; do đó, đó cũng chính là quá trình loài người, mà chính xác hơn, là các chủ thể chính trị xây dựng nên các học thuyết, các mô hình tổ chức, vận hành, hoạt động của các hệ thống chính trị; từ đó hình thành các trường phái, các xu hướng chính trị trên cơ sở giai cấp, và do đó, trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan, hệ

tư tưởng mà phân hóa thành các thể chế chính trị, thể chế nhà nước và các hệ thống chính trị khác nhau

Hoạt động chính trị ìuôn iuôn vô cùng phong phú, đa dạng, muôn màu săc nhưng cái cốt lõi bên trong của đời sống chính trị là quy luật sinh thành, vận động và phát triển nó Mỗi một thể chế chính trị, mỗi một cộng đồng dân

Trang 20

tộc, quôc gia đều có mục tiêu chính trị riêng của mình, nhưng cái chung của chính trị là việc sử dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để thực hiện mục tiêu chính trị vì lợi ích của chủ thể chính trị, của đảng, của giai cấp, của quốc gia, dân tộc.

Chủ thể đảng, nhà nước, quốc gia, dân tộc thực hiện lợi ích, lý tưởng, mục tiêu dân tộc, đó là chính trị quốc gia, dân tộc; lý tưởng, mục tiêu, lợi ích

đó thống nhất, đồng thuận nhau, cũng có thể mâu thuẫn, xung đột nhau Điều

đó làm cho đời sống chính trị diễn ra vô cùng phức tạp nhưng cũng hết sức sinh động Tham gia vào đời sống chính trị phức tạp đó, mỗi một chủ thể chính trị luôn đặt ra những vấn đề thể hiện mong muốn vươn tới những giá trị nhân văn: làm thế nào để chính trị góp phần vào sự thịnh vượng của nhân loại? Cuộc sống tốt đẹp là gì và làm sao để thực hiện được nó? Những nguyên tắc và giá trị nào cần được sử dụng để định hình và đánh giá các tổ chức chính trị? Ý nghĩa của bình đẳng, công lý và tự do là gì? Khi suy ngẫm, đúc kết, tổng kết về những vấn đề đó, các chủ thể chính trị rút ra được những mệnh đề, những tư tưởng có ý nghĩa triết lý và xem đó là những nguyên tắc

cư xử trong đời sống chính trị, phương châm của hoạt động chính trị Đó chính là triết lý chính trị và cũng thể hiện “chính trị luôn luôn có triết lý chính trị nằm bên trong nó” [134, p 5] Triết lý chính trị luôn quan tâm đến tât cả những câu hỏi trên Triết lý chính trị “tập trung vào các vấn đề cụ thể liên quan đến đời sống chính trị của chúng ta xem xét các ý tưởng quan trọng về sự công bằng, công lý, quyền lợi của cá nhân và cộng đồng và làm thế nào để đạt được các giá trị đó” [143, p 2]

Có thê hiếu, triết lý chính trị là những tư tưởng, những quan niệm cốt lõi thường được thể hiện dưới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích phản ánh được bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống chính trị của cá nhân và cộng đồng theo hướng khẳng định những niềm tin chính trị, những giá trị chính trị, những đạo lý chính trị, có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử chính trị, tư duy và hành vi chính trị của con người trong

Trang 21

những hoàn cảnh chính trị cụ thể Nói cách khác, triết lý chính trị là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những phương châm, những định hướng cơ bản và cốt lõi về đời sống chính trị cũng như hoạt động giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của các chủ thể chính trị.

Hồ Chí M inh là một nhà hoạt động chính trị xuất sắc đồng thời cũng là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam “Là nhà tư tưởng, không thể không lấy tư tưởng triết học làm điểm xuất phát cho hệ thống lý luận của mình Hệ tư tưởng với tư duy triết học của một nhà tư tưởng gắn với nhau như hình với bóng Không có nhà tư tưởng nào lại không có hệ tư tưởng triết học của riêng mình Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ” [69, tr 479]

Hồ Chí Minh cũng đã một số lần trực tiếp sử dụng thuật ngữ Triết lý

Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (9 - 1923) Người viết: ở Việt Nam

“tiểu tư sả n .chịu sự chi phối bởi nhiều triết lý, như là nó hướng vào phong trào dân tộc rất vội vã” [73, tr 221] Trong Bảo cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ và

Nam Kỳ - một tác phẩm có thể là của Hồ Chí Minh cũng đã nhắc đến thuật

ngữ triết lý: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử” [73, tr 509-510] Trong Ông Anbe Xarô và bản Tuyên

ngôn Nhân quyền, Nguyễn Ái Quốc viết: “Dù rằng sự thực đau lòng như

vậy, nhưng thế giới rồi cũng quen đi với cái triết lý, cái tính trì độn vốn dĩ,

mỗi khi người ta khuấy lên cái tư tưởng định mệnh của nó” [73, tr 259]

Trong Đáp từ tại buổi chiêu đãi của Chủ tịch G.BỈđôn ở Paris (2 - 7 - 1946),

Hồ Chí Minh nói: “Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương

một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”(nghĩa là điều mà

mình không muốn thì đừng làm cho người khác)” [76, tr 304] Khi Trả lời

phỏng vấn ông L.Hanxen, Chủ bút hãng u p của M ỹ ở Châu Á (12 - 1955),

Người khắng định: “Trong chính sách đối ngoại, triết lý hướng dẫn chúng tôi

là sự thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, về chính sách nội trị, triết

lý hướng dẫn chúng tôi là sự thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ để

Trang 22

thực hiện thống nhất đất nước chúng tôi” [82, tr 228] Như vậy, có thể thấy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, triết lý là những tư tưởng có tác dụng chỉ đạo cách ứng xử, cách hành động của con người trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó.

Là một nhà chính trị thực hành, trong bối cảnh văn hóa chính trị đặc thù, Hồ Chí Minh hiếm khi bàn về những vấn đề trừu tượng như duy tâm và duy vật, biện chứng và siêu hình, khả tri hay bất khả tri Người cũng không

để lại những tác phẩm chuyên bàn về triết lý chính trị Nhưng không thể nói rằng, toàn bộ hệ thống lý luận của Hồ Chí Minh lại không in đậm nét dấu ấn của quan điêm duy vật triết học một cách triệt để, lại không xuyên suốt phép biện chứng duy vật từ đầu đến cuối, lại không đề cao thực tiễn và tính quy luật khách quan của đời sống xã hội lên hàng đầu Giáo sư Trương Chính đã từng viêt: “Riêng chúng tôi lúc đầu có phân vân, bởi vì chúng tôi thường nhìn Người quá gần, chỉ thấy Người là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Đọc tác phẩm của Người, chúng tôi chăm chăm những chi tiết Tầm vóc của người vượt quá tầm nhìn của chúng tôi Có khi cũng thấy nhưng chỉ thấy

trong ánh hào quang Đời của Người đúng là thiên huyền thoại của một vị

hiền triết” [25, tr 151] Cũng hiểu theo hướng đó, giáo sư Trần Văn Giàu

khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một nhà cách mạng vĩ đại

mà đồng thời là một nhà tư tưởng có triết lý vũ trụ và nhân sinh đặc sắc, có phong cách của một bậc hiền triết phương Đông” [27, tr 283]

Trên con đường bôn ba vạn dặm tìm chân lý, tham gia vào thực tiễn đời sống chính trị ở các nước khắp năm châu, bốn biển, cái mà Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là học thuyết, hệ tư tưởng nào hướng tới vấn đề đấu tranh

đê giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, hướng tới xóa bỏ mọi áp bức bất công cho dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới Hô Chí Minh cũng tiếp xúc với nhiều trường phái triết học chính trị khác nhau để rồi đến với triết học chính trị Mác - Lênin - nền tảng cốt lõi của học thuyết chính trị Mác-xít Từ phạm trù xuất phát của tư duy triết học,

Trang 23

hướng tiếp cận mà Hồ Chí Minh chủ trương là hướng về con người, hướng

về nhân dân, hướng về đồng bào bị đọa đày đau khổ Một khi coi con người, coi nhân dân là phạm trù xuất phát thì về nguyên tắc, quá trình tư duy triết học, tư duy chính trị của Người cũng gắn với nhân dân Và cũng chính quá trình suy tư đó mà Hồ Chí Minh đã hình thành nên cho mình triết lý chính trị sâu sắc - triết lý chính trị hướng tói giải phóng con người

Có thể hiểu, ừiết lý chính trị Hồ Chí Minh là những tư tưởng, những

quan niệm cô đọng, súc tích, cốt lõi nhất của Hồ Chí Mình về bản chất, giá trị, về chủ thể và quá trình giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị; ỉà kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển triết học chính trị Mác - xít vào điều kiện cụ thể chính trị Việt Nam, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa triết lý chính trị truyền thống dân tộc, triết lý chính trị phương Đông và triết học chính trị phương Tây nhằm hướng đến giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người; nó trở thành nguyên tắc, phương châm chỉ đạo tư duy và hành động chính trị của Người.

1.1.3 Triết học chính trị - khung khổ lý thuyết nghiên cứu triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Ở phương Tây, bộ môn khoa học Political Philosophy (Triết học chính trị hoặc Triết lý chính trị) đã có lịch sử hơn 100 năm là chỉ là một bộ môn duy nhất Còn ở Việt Nam, bộ môn Triết lý chính trị với tư cách là một bộ môn khoa học còn rất mới mẻ, dù rằng, triết học chính trị/triết lý chính trị với tư cách là nền tảng cho nhận thức và hành động chính trị thì đã xuất hiện

từ rất sớm cùng với tiến trình lịch sử chính trị Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, bộ môn nghiên cứu triết học chính trị còn khá mới mẻ, chưa có công trình khoa học nào trình bày một cách hệ thống lý thuyết về triết học chính trị Bản thân khái niệm Triết học chính trị cũng chưa được bàn luận nhiều

Tuy nhiên, trên thế giới, Triết học chính trị lại là một bộ môn khoa học

đã có lịch sử gần 100 năm

Trang 24

Vậy triết học chính trị là gì?

Trước hết, chúng tôi trở lại với quan niệm của Leo Strauss về triết học

chính trị trong tác phẩm nổi tiếng của ông What ỉs Politỉcaỉ Philosophy

(Triết học chính trị là gì) Công trình này xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Anh năm 1959

Leo Strauss cho rằng, từ khi triết học chính trị manh nha ra đời ở Athen đến nay, ý nghĩa và đặc điểm quan trọng của triết học chính trị vẫn luôn rõ ràng Mục tiêu của tất cả mọi hành động chính trị nếu không phải là bảo thủ thì là cải cách Khi mong muốn bảo thủ, chúng ra hy vọng không trở nên tồi tệ hơn; khi mong muốn cải cách, chúng ta hy vọng có thể mang đến những điều tốt đẹp hơn Tất cả mọi hành động chính trị, vì thế mà đều do những tư tưởng nào đó về điều tốt đẹp hơn hoặc tồi tệ hơn dẫn dắt Nhưng những tư tưởng về điều tốt đẹp hơn hoặc tồi tệ hơn lại ẩn chứa trong những suy tư về điều thiện (the good) Ý thức về điều thiện (the awareness o f the good) đang dẫn dắt mọi hành động của chúng ta có đặc điểm của ý thức: ý thức vê điều thiện không còn bị nghi ngờ, nhưng thông qua phản tư, nó lại chứng minh bản thân là khả nghi Chúng ta có thể nghi ngờ ý thức về điều thiện, và chính cái sự thật này khiến chúng ta hướng đến một loại tư tưởng

về điều thiện không còn đáng nghi - hướng đến một tư tưởng không còn là ý kiến mà là tri thức Sau đó, bản thân tất cả mọi hành động chính trị đều đã hướng đến tri thức về điều thiện: về đời sống tốt hoặc xã hội tốt Bởi vì xã hội tốt là cái thiện chính trị hoàn chỉnh

Nêu như tỉnh chỉ hướng này trở nên d ễ thay, nếu như mọi người đem những tri thức về đời sống tốt, xã hội tốt mà họ có được làm thành mục tiêu

rõ ràng của họ, thì ừ-iết học chính trị đã xuất hiện Gọi sự tìm kiếm này là

triết học chính trị hàm ý rằng triết học chính trị là một bộ phận hợp thành của một chỉnh thể lớn hơn - triết học; hoặc là, triết học chính trị là một phân ngành của triết học Trong thuật ngữ “triết học chính trị”, “triết học” vừa biêu thị chủ đề vừa biểu thị chức năng; triết học chính trị dùng một phương

Trang 25

thức có liên quan đến đời sống chính trị để xử lý các sự vụ chính trị; vì thế, chủ đề của triết học chính trị tất nhiên tương đồng với mục đích, với mục đích cuối cùng của chính trị Chủ đề của triết học chính trị là các loại mục tiêu vĩ đại của nhân loại: tự do cũng như chính phủ hoặc đế quốc - những mục tiêu này có thể nâng con người vượt qua cái tôi đáng thương của chính

họ Triết học chính trị là một phân ngành triết học gần gũi nhất với đời sống chính trị, đời sống phi triết học và đời sống nhân loại

Triết học chính trị đã là một phân ngành của triết học thì về vấn đề triết học chính trị là gì, cách giải thích cho dù là tạm thời cũng không thể nào thoát khỏi các giải thích triết học là gì, bất kể cách giải thích đó về triết học có làm tạm thời đến thế nào đi nữa Triết học theo đuổi trí tuệ là sự theo đuổi tri thức phổ biến, là sự theo đuổi đổi với tri thức chỉnh thể (theo whole) Nếu như loại tri thức này dễ dàng có được, thì không nhất thiết phải theo đuổi Nhưng thiếu tri thức mang tính chỉnh thể hoàn toàn không

có nghĩa là mọi người không nghĩ đến cái chỉnh thể: Các loại ý kiến về cái

chỉnh thể tất nhiên là có trước triết học Vì thế, triết học là thử dùng tri

thức về chỉnh thể thay thế ỷ kiến về cái chỉnh thể Ngoài cái “chỉnh thể”,

các nhà triết học còn nói đến “vạn vật” (all things): chỉnh thể không phải là một cái gì đó hoàn toàn thuần tĩnh hoặc hoàn toàn tối tăm mà trong đó người ta không thể nào phân rõ các bộ phận, hoặc không quan sát được bất

kỳ sự vật nào Sự theo đuổi tri thức về “vạn vật” có nghĩa là theo đuổi tri thức về thần, thế giới và con người - hay nói cách khác, có nghĩa là theo đuổi những tri thức về bản tính của vạn vật: bản tính của vạn sự vạn vật về tổng thể chính là “chỉnh thể”

v ề căn bản mà nói, triết học không có chân lý, mà là theo đuổi chân

lý Triết nhân có đặc điểm khác với mọi người ở chỗ “họ biết rằng mình không biết gì cả”, thấy rõ sự vô tri của chúng ta đối với các sự vật quan trọng nhất, từ đó thôi thúc họ dốc sức có được tri thức Neu như vì không thể nào trả lời được các câu hỏi này mà né tránh các vấn đề có liên quan hoặc đế đó

Trang 26

không nghiên cứu, thì họ không còn là triết nhân Những đáp án có thể rút ra

về các vấn đề này, chính diện hoặc phản diện sẽ trước sau hoặc không nhiều thì ít ở vào trạng thái cân bằng, vì thế, triết học nhất định không thể vượt qua giai đoạn thương thảo hoặc tranh luận, nhất định không thể đạt đến giai đoạn quyết sách (đưa ra quyết định) Điều này hoàn toàn không thể làm cho triết học hoàn toàn vô dụng Việc nắm bắt một cách rõ ràng một vấn đề căn bản đòi hỏi phải lý giải được bản tính của chủ đề mà vấn đề đề cập đến Sự hiểu biết thực sự, sự lý giải toàn diện một vấn đề căn bản đòi hỏi phải dễ chịu với

sự mù quáng và vô tri đối với vấn đề này, cho dù cùng với sự mù quáng và

vô tri này phải chăng là có tri thức đối với số lượng lớn đáp án cho các vấn

đề ngoại vi hoặc tạm thời

Triết học chính trị chính là một phân ngành của triết học dùng phương thức này để lý giải sự vật Triết học chính trị là phép thủ dùng tri thức về bản tính của sự vật chính trị để thay thế cho ý kiến về bản tính của

sự vật chính trị Các sự vật chính trị theo bản tính của nó dễ chịu sự ủng hộ hoặc phản đối, lựa chọn hoặc ngăn cản, cũng như tán xưng hoặc chê trách Tinh túy của sự vật chính trị không phải là trung lập, mà là đề xuất chủ trương cho sự sự phục tùng, trung thành, quyết định hoặc phán đoán của mọi người Nếu như một người không từ góc độ tốt hay xấu, chính nghĩa hay bất nghĩa để đối xử với chủ trương hoặc bộc trực hoặc hàm súc của mọi người, cũng có nghĩa là, nêu như không căn cứ tiêu chuẩn tốt hoặc chính nghĩa để đo lường chủ trương của mọi người, thì anh ta sẽ không hiểu được những chủ trương này với tư cách là bộ mặt chân thực của sự vật chính trị Muốn đưa ra những phán đoán toàn diện, con người cần phải biết được những tiêu chuẩn chân chính Triết học chính trị nếu như hy vọng đối xử một cách công bằng với những chủ trương của nó, thì cần phải nỗ lực thu ìượm tri thức chân chính về những tiêu chuẩn này Triết học chính trị là một phép thử, nhằm thực sự hiểu được bản tính của sự vật chính trị cũng như trật tự chính trị chính đáng hoặc tốt

Trang 27

Triết học chính trị cần được phân biệt với tư tưởng chính trị nói chung Thời đại của chúng ta thường đánh đồng chúng với nhau Người ta đã hạ thấp danh dự của triết học như thế, đến mức có cách nói triết học bịp bợm Thông qua tư tưởng chính trị, chúng ta đi tới hiểu được sự phản tư và giản thuật đôi với các loại quan niệm chính trị (political ideas); thông qua quan niệm chính trị, chúng ta có thể lý giải được tất cả khi liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của chính trị, khi bất cứ “huyễn tưởng, khái niệm, chủng loại hoặc tư duy đại não có thể sử dụng” Vì thế, tất cả mọi triết học chính trị đều là tư tưởng chính trị, nhưng không phải là tất cả mọi tư tưởng chính trị đều là triết học chính trị Đối với sự khác biệt giữa ý kiến và tri thức, tư tưởng chính trị không hề quan tâm; nhưng triết học chíhh trị thì nỗ lực một cách có ý thức, ăn khớp và không mệt mỏi sử dụng tri thức có liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của chính trị để thay thế ý kiến có liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của chính trị Tư tưởng chính trị có thể cùng lắm là tường thuật một xác tín (conviction) được giữ một cách kiên trì hoặc một thần thoại

cô vũ nhân tâm, hoặc cùng lắm là biện hộ cho những xác tín hoặc thần thoại như thế, thậm chí có thể có ý như thế; nhưng đối với triết học chính trị, điều được quan tâm nhất là thông qua việc ý thức được một cách lo âu sự khác biệt căn bản giữa xác tín hoặc tín ngưỡng với tri thức, nó sẽ bị rơi vào (trạng thái) chuyển động, và bị kẹt trong chuyển động Một nhà tư tưởng chính trị không phải là triết học chủ yếu cảm thấy hứng thú với một loại trật tự hoặc chính sách nhất định, hoặc phụ thuộc vào trật tự hoặc chính sách này; còn nhà triêt học chính trị chủ yếu cảm thấy hứng thú với chân lý, hoặc phụ thuộc vào chân lý Một tư tưởng chính trị không phải là triết học chính trị có thể có được sự biểu đạt xác đáng trong các văn bản pháp luật, các chuyện kể thơ ca, sách tuyên truyền bỏ túi và các bài diễn thuyết công cộng cũng như các ioại hình thức khác; hình thức thích đáng để biểu đạt triết học chính trị ià luận văn (the treatise) Tư tưởng chính trị cũng lâu đời như nhân loại; người đầu tiên nói từ “phụ thân” hoặc câu “mày không nên” thì chính là nhà tư

Trang 28

tưởng chính trị đầu tiên; nhưng triết học chính trị thì xuất hiện trọng một niên đại có thế biết được trong quá khứ mà sử sách đã ghi chép lại.

Ngày nay người ta thường lý giải lý luận chính trị thành sự phản tư toàn diện về tình hình chính trị Sự phản tư này có thể chuẩn bị tốt cho việc đưa ra một chính sách rộng lớn Với tư cách là thủ đoạn cuối cùng, sự phản

tư này nói đến những nguyên tắc mà dân ý (public opinion) hoặc một một phân dân ý có thể tiếp nhận; cũng có nghĩa là, nó giả định một cách võ đoán các loại nguyên tắc có thể bị nghi n g ờ

Chúng ta bị buộc phải phân tách triết học chínnh trị và thần học chính trị Chúng ta hiểu thần học chính trị là sự giáo huấn chính trị lấy sự khởi thị của thần làm cơ sở Triết học chính trị thì giới hạn ở những sự vật mà đầu óc con người có thể tiếp cận được Còn về triết học xã hội (social philosophy), chủ đề của nó tương đồng vói triết học chính trị, nhưng góc nhìn mà chúng lựa chọn thì khác nhau Tiền đề mà triết học chính trị dựa vào là quan hệ chính trị - tổ quốc và dân tộc của mỗi người - là quan hệ quyền uy toàn diện nhất, còn triết học xã hội thì coi quan hệ chính trị là một bộ phận của một chỉnh thể lớn hơn (mà nó gọi là xã hội)

Cuối cùng, chúng ta cần phải thương thảo mối quan hệ giữa triết học chính trị và khoa học chính trị “Khoa học chính trị” là một từ hàm loạn: nó chỉ rõ các loại nghiên cứu đối với sự vật chính trị cần chịu sự chỉ dẫn của mô thức khoa học tự nhiên, nó chỉ rõ loại công việc này cần phải do các thành viên của khoa khoa học chính trị tiến hành Đối với điều thứ nhất, chúng ta

có thể gọi là khoa học chính trị “mang tính khoa học”, nó tự coi là phương thức duy nhất (the way) để thu được tri thức chân chính về sự vật chính trị, còn tri thức chân chính về sự vật chính trị cũng chỉ khi triết học chính trị hoàn toàn nhường chỗ cho những nghiên cứu khoa học về chính trị thì mới băt đâu hình thành Giống như khoa học tự nhiên độc ỉập tự tại, phần lớn là cung cấp một cách vô thức tư liệu tư biện cho các nhà triết học tự nhiên, khoa học chính trị cũng độc lập tự tại, phần lớn là cũng cấp một cách vô thức

Trang 29

tư liệu tư biện cho các nhà triết học chính trị Nghĩ đến sự khác biệt giữa sự kiên cố của sự theo đuổi thứ nhất với sự tự mệnh lệnh siêu phàm đáng thương của sự theo đuổi thứ hai, thì cách làm hợp lý hơn là vứt bỏ hoàn toàn

sự tư biện mơ hồ trống rỗng của triết học chính trị, mà không tiếp tục tán thành trên đầu lưỡi một truyền thống cũ kỹ và không đáng tin cậy Khoa học

- khoa học tự nhiên và khoa học chính trị - nói thẳng ra đều không phải là triết học Chúng chỉ cần một loại triết học: phương pháp luận hoặc logic Nhưng những khoa học triết học này hiển nhiên không có gì chung với triết học chính trị Khoa học chính trị “mang tính khoa học” với triết học chính trị trên thực tế không thể chấp nhận nhau giống như nước với lửa

Những công việc hữu dụng mà những người mang danh “nhà khoa học chính trị” làm không liên quan gì với bất cứ sự gánh vác nào đối với khoa học chính trị “mang tính khoa học” Nó chỉ bao hàm việc thu thập và phân tích một cách cẩn thận, tỷ mỷ các cứ liệu có liên quan đến chính trị Đe hiểu được ý nghĩa của công việc này, chúng ta nhìn lại một chút định nghĩa tạm thời về triết học chính trị Triết học chính trị là thử lý giải bản tính của

sự vật chính trị Trước khi muốn thử hiểu được bản tính của các sự vật chính trị, con người cần phải biến được sự vật chính trị: con người cần phải nắm được tri thức về chính trị Chí ít mỗi một người trưởng thành có tâm trí bình thường đều nắm được tri thức chính trị ở một trình độ nhất định Mọi người đều biết đến thuế khóa, cảnh sát, cai tù, chiến tranh, hòa bình, đình chiến,

V V Mỗi người đều biết mục tiêu của chiến tranh là thắng lợi, và chiến tranh đòi hỏi có sự hy sinh lớn nhất cũng như nhiều tổn thất khác, V V Mọi người đều biết mua một cái quần khác với bỏ một lá phiếu, và điều thứ nhất không phải là hành động chính trị Tri thức chính trị mà người bình thường nắm được không nhiều bằng những người lấy việc cung cấp thông tin về sự vật chính trị và chi đạo ià nghề nghiệp Tri thức chính trị của người binh thường đương nhiên không thể so được với những người có kinh nghiệm chính trị lâu dài và có nhiều tài trí Ở đỉnh cao của thang bậc xếp hạng, chúng ta phát

Trang 30

hiện các nhà chính trị vĩ đại nắm được tri thức chính trị, năng lực thấu hiểu chính trị, trí tuệ chính chị và kỹ năng chính trị ở mức độ cao nhất: đây chính

là hàm nghĩa sơ khai của từ “khoa học chính trị” (politikè - epistèmè)

Tất cả các tri thức chính trị đều do các ý kiến chính trị xoay quanh và

tô điểm Nói đến ý kiến chính trị, ở đây chúng ta hiểu “ý kiến” khác với “tri thức” về sự vật chính trị: sai lầm, suy đoán, niềm tin, thiên kiến, dự đoán,

V V Đời sống chính trị được dẫn dắt bởi hỗn hợp tri thức chính trị và ý kiến chính trị Vì thế, tất cả mọi đời sống chính trị đều đi cùng với nỗ lực dùng tri thức chính trị thay cho ý kiến chính trị, sự nỗ lực này hoặc nhiều hoặc ít là liên tục và còn khó khăn

Đặc tính của xã hội (the character o f society) gần đây đã phát sinh những biến đổi, điều này đã gây nên những ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đối với đặc tính của tri thức chính trị cũng như yêu cầu của chính ta đối với tri thức chính trị Trong những thời đại đã qua, thông qua việc nghe lời của các bậc trưởng giả trí tuệ, đọc tác phẩm của các sử gia ưu tú, thông qua du lịch

và dân thân vào các sự vụ công cộng, người có tài trí có thể thu được tri thức chính trị cũng như năng lực lý giải chính trị mà học cần Biện pháp có được tri thức chính trị như thế hiện không còn đủ dùng, bởi vì chúng ta sống trong những xã hội đại chúng năng động (dynamic mass societies) Đặc tính của xã hội này là cực kỳ phức tạp, biến đổi không cùng So với những thời đại trước, tri thức chính trị khó có được hơn, nhưng lại nhanh chóng lỗi thời hơn Trong tình cảnh như thế, thì cần có nhiều người hoàn toàn dấn thân vào nhiệm vụ thu thập và tiêu hóa các tri thức về sự vật chính trị Đó chính là hoạt động mà ngày nay thường được gọi là khoa học chính trị Neu như không thực hiện trong các sự vật khác, thì hoạt động này sẽ không thể xuất hiện, thậm chí loại sự vụ chính trị này cũng không thể phát sinh ảnh hưởng đôi vói tình hình trước mắt đáng đế nghiên cứu, việc nghiên cứu đối với các

sự vụ này cần phải cố hết sức tiến hành một cách cẩn thận: sự cẩn thận đặc biệt này là đê ngăn ngừa chúng ta mắc phải những sai lầm nhất định khi phán

Trang 31

đoán về các sự vật chính trị Hơn nữa, những người mà chúng ta nói đến này chịu đựng gian khổ chính là muốn mang đến cho tri thức chính trị hình thức giáo huấn có thể truyền thụ được trong các phòng học Ngoài ra, các chính khách cho dù là không kiêng dè gì để thành công cũng cần phải không ngừng thử dùng tri thức chính trị thay thế cho những ý kiến chính trị trong đầu óc

họ, mà các học giả chuyên nghiên cứu sự vật chính trị sẽ vượt qua điểm này,

cố sức trình bày công khai kết quả nghiên cứu của họ, hoàn toàn không hề che dấu, hoàn toàn không hề bè phái: họ sẽ đóng vai trò công dân yêu nước

đã được khai sáng, không có bất cứ tư tâm nào Nói một cách khác, những tìm tòi học thuật về tri thức chính trị từ gốc rễ chịu sự xung động của đạo đức và sự khích lệ bởi tình yêu nồng nhiệt đối với chân lý Nhưng cho dù người ta tưởng tượng như thế nào đi nữa về sự khác biệt giữa tìm tòi học thuật và tìm tòi phi học thuật về tri thức chính trị, cho dù những khác biệt này quan trọng như thế nào đi nữa, thì cả hai là tương đồng trên một phương diện có tính quyết định: trung tâm tham khảo của chúng đều là tình hình chính trị xác định, thậm chí trong đại đa số tình huống đều là tình hình chính trị nhất định của bản thân quốc gia của học g iả

Tất cả tri thức về sự vật chính trị đều hàm ấn các loại giả thiết về bản tính của sự vật chính trị; những giả thiết này không chỉ liên quan đến tình hình chính trị xác định, mà còn liên quan đến đời sống chính trị hoặc là bản thân đời sống của nhân loại Neu như đối với bản thân chiến tranh và bản thân bị trí của nó trong đời sống nhân loại không có chút khái niệm nào - cho dù khái niệm này có mờ tối mông lung đến thế nào đi nữa - người ta sẽ không thể nào hiểu được bất cứ tình huống của một cuộc chiến tranh trong một thời gian nhất định Neu chưa xác lập một giả thuyết về pháp luật hoặc chính phủ, người ta sẽ không thể nào coi một cảnh sát là một cảnh sát Những giả thiết vê bản tính của sự vật chính trị hàm ấn trong tất cả mọi tri thức về sự thực chính trị, có đặc trưng của ý kiến Chỉ có biến những giả thiêt này thành chủ đề kinh qua sự phân tích có tính phê phán mạch lạc thì

Trang 32

mới có thể xuất hiện con đường nghiên cứu triết học hoặc khoa học về chính trị.

Trạng thái nhận biết của tri thức chính trị không khác với trạng thái nhận biết của người chăn nuôi, người chồng, vị tướng quân hay người đầu bếp đã nắm được tri thức Chỉ có điều, sự theo đuổi của những loại người trên không thể đưa đến sự ra đời của triết học về đồng ruộng, triết học hôn nhân, triết học quân sự hay triết học nấu ăn, bởi vì mục tiêu cuối cùng của bọn họ đủ rõ ràng, không hề hỗn loạn Mặt khác, mục tiêu chính trị cuối cùng bức thiết đòi hỏi sự phản tư mạch lạc Mục tiêu của vị tướng quân là thắng lợi, còn mục tiêu của nhà chính trị là cái thiện chung (the common good) Hàm nghĩa của thắng lợi về căn bản mà nói là không có tranh cãi, nhưng hàm nghĩa của cái thiện chung về căn bản mà nói thì là điều gây tranh cãi Tính mập mờ của mục tiêu chính trị có nguyên nhân ở đặc tính bao la vạn tượng của nó Vì thế đã xuất hiện một sự thấu cảm, phủ nhận hoặc né tránh đặc tính bao la vạn tượng của chính trị, coi chính trị là một trong nhiều

bộ phận (của xã hội) Thế nhưng, nếu như cần phải đối diện với cảnh ngộ của chúng ta với tư cách là con người, cũng tức là cảnh ngộ mang tính chỉnh thể, thì cần phải ngăn chặn thấu cảm này

Triết học chính trị mà chúng ta luôn nỗ lực muốn đưa ra một định nghĩa từ khi ra đời luôn được bồi đắp, có vẻ như chưa từng gián đoạn, cho đến không lâu trước đây Ngày nay, nêu như nói rằng triết học chính trị vẫn chưa hoàn toàn mất đi, thì cũng đã ở vào trạng thái suy vi hoặc mục nát Không chỉ chủ đề, phương pháp và chức năng của ừiết học chính trị hoàn toàn không có được sự nhất trí; mà bản thân tính khả năng của bất cứ hình thức triết học chính trị nào đều bắt đầu trở nên có vấn đề Duy nhất một điểm

m à các thầy giáo khoa học chính trị trong học viện vẫn đồng ý là tác dụng của nghiên cứu ỈỊch sử triết học chíiih trị Nói đến triết nhận, nếu dùng tác phẩm của Hermann Cohen đối chiếu với tác phẩm của bốn triết nhân vĩ đại nhất trong bốn chục năm trở lại đây — Bergson, White Head, Husserl và

Trang 33

Heiderger thì mới thấy triết học chính trị bắt đầu mất đi danh dự một cách nhanh chóng, triệt để như thế nào Chúng ta có thể mô tả tình cảnh trước mắt như sau Ban đầu, triết học chính trị đồng nhất với khoa học chính trị, là sự nghiên cứu bao quát mọi sự vụ của nhân loại Ngày nay, chúng ta phát hiện triết học chính trị đã bị cắt thành từng mảnh, chúng giống như các khúc của một con giun Trước hết, người ta ứng dụng sự phân chia giữa triết học và khoa học vào nghiên cứu các sự vụ của nhân loại, tương ứng còn tiến hành phân chia khoa học chính trị phi triết học với triết học chính trị phi khoa học, trong tình hình trước mắt, sự phân chia này đã lấy mất toàn bộ sự tôn nghiêm

và toàn bộ sự thành thực của triết học chính trị Tiếp đó, rất nhiều bộ phận trước đó thuộc về triết học chính trị hoặc khoa học chính trị hiện nay được giải phóng dưới cái tên như kinh tế học, xã hội học và tâm lý học xã hội Đối với phần còn lại đáng thương hại, các nhà khoa học xã hội vẫn không để ý đến, và các phần còn lại này chìm đắm vào trong Khi chúng ta nói, ngoại trừ tài liệu gửi đi chôn cất (cũng tức là cung cấp cho nghiên cứu lịch sử) hoặc là chủ đề kháng nghị yếu đuối khó mà tín phục, triết học chính trị ngày nay đã không còn tồn tại, thì chúng ta không hề khoa trương

Neu như đi sâu nghiên cứu nguyên nhân sinh ra sự biến đổi to lớn này, thì chúng ta có được đáp án như thế này: triết học chính trị là phi khoa học, hoặc là phi lịch sử, hoặc là cả hai Khoa học và lịch sử hai lực lượng lớn của thế giới đương đại, cuối cùng đã hủy diệt thành công bản thân khả năng tồn tại của triết học chính trị

Quở trách triết học chính trị là phi khoa học là đặc trưng của chủ nghĩa thực chứng hiện nay Chủ nghĩa thực chứng đã phản bội lại ước nguyện ban đầu khi sáng lập của Auguste Comte Nhưng ở một điểm nó vẫn tán thành Comte, đó là chủ trương khoa học hiện đại là hình thức tối cao của tri thức, điều này chính là bởi vì, mục tiêu của khoa học hiện đại không còn giống với

thần học và siêu hình học là tri thức tuyệt đối về là cái gì, mà là tri thức tươgn đôi về làm thế nào Nhưng kinh qua sự tu chính của chủ nghĩa thực

Trang 34

dụng, chủ nghĩa tiến hóa và chủ nghĩa Kant mới, chủ nghĩa thực chứng đã hoàn toàn vứt bỏ hy vọng của Comte - Comte vốn hy vọng khoa học xã hội lấy khoa học tự nhiên hiện đại làm mô thức sẽ có thể khắc phục được sự hồn loạn tri thức của xã hội hiện đại Khoảng 10 năm cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực chứng trong khoa học xã hội đã phát triển đến hình thức cuối cùng của

nó Nó nhận thức được rằng hoặc là quyết định nói giữa sự thực và giá trị có một sự khác biệt căn bản, chỉ có phán đoán sự thực trong phạm vi năng lực của khoa học: khoa học xã hội mang tính khoa học là không thể đưa ra các phán đoán giá trị, vì thế mà cần phải triệt để tránh các phán đoán giá trị về

định nghĩa từ “giá trị” trong sự trình bày nói trên, chúng ta chỉ có thể nói

“giá trị” nói đến sự vật ưu thích hoặc nguyên ưa thích

Ngày nay để thảo luận về tín điều của chủ nghĩa thực chứng trong khoa học xã hội không thể không giải thích hàm nghĩa của triết học chính trị Trước hết chúng ta cần suy nghĩ lại về những hậu quả thực tế của chủ nghĩa thực chứng, khoa học xã hội của chủ nghĩa thực chứng là “không liên quan đến giá trị” và “trung lập về luân lý” : cho dù thiện và ác được lý giải như thế nào, nó vẫn giữ sự trung lập trong những xung đột của thiện và ác Điều này

có nghĩa là, cơ sở chung của tất cả các khoa học xã hội, cơ sở để các khoa học này tiến hành nghiên cứu và thương thảo, chỉ có thể đạt được thông qua việc thoát khỏi các phán đoán đạo đức hoặc rút bỏ các phán đoán đạo đức: đạo đức trì trệ là điều kiện tất yếu của phân tích khoa học Chúng ta chờ đợi

sự chia tác đối với đạo đức hoàn toàn tê liệt, trên ý nghĩa đó, chúng ta bị buộc phải đưa ra phán đoán giá trị Khi nhìn sâu vào các hiện tượng xã hội

và nhân loại mà không đưa ra các phán đoán giá trị - thói quen này có ảnh hưởng mang tính ăn mòn đối với bất cứ một sở thích nào Chúng ta với tư cách là các nhà khoa học xã hội càng nghiêm túc, thì càng có thể bồi đắp một cách triệt đê trong chúng ta một loại trạng thái: đối với bất cứ mục tiêu nào đêy không hề động lòng, không hề có chủ đích, nương theo dòng nước, trạng thái này có thể được gọi là hư vô chủ nghĩa Các nhà khoa học xã hội không

Trang 35

hề miễn dịch đối với các loại sở thích; Anh ta, với tư cách một con người, một công dân, nhất định có các loại sở thích, những sở thích này có khả năng chiến thắng sự siêu nhiên của các khoa học khác, hoạt động của các nhà khoa học xã hội chính là không ngừng đấu tranh với những sở thích này Anh ta hiến thân cho một giá trị, và cũng là giá trị duy nhất - chân lý, từ đó

mà có được lực lượng để đấu tranh với ảnh hưởng của các nguy cơ này Nhưng theo nguyên tắc của khoa học xã hội, chân lý không nhất định là một giá trị cần phải lựa chọn: con người vừa có thể lựa chọn nó vừa có thể cự tuyệt nó Trên thực tế, nhà khoa học với tư cách là nhà khoa học đã lựa chọn chân lý Nhưng cho dù nhà khoa học hay khoa học không phải hoàn toàn nhất định không thể thiếu Đối với vấn đề bản thân khoa học xã hội là tốt hay không tốt, khoa học xã hội không thể nào đưa ra kết luận cuối cùng Cho nên

nó bị buộc phải giáo huấn rằng, xã hội có quyền lợi và lý do như nhau để ủng hộ khoa học xã hội hoặc do tính phá hoại, tính lật đổ, tính sa đọa và tính

hư vô của khoa học xã hội mà áp chế nó

Ngoài quan niệm được coi là kinh điển của các học giả phương Tây về triết học chính trị nêu trên, chúng ta còn có thể trở lại với quan niệm của các học giả phương Đông

Trước hết có thể nêu lên quan niệm về Triết học chính trị trong Bách khoa toàn thư Trung Hoa: “Triết học chính trị (Political Philosophy) nghiên cứu đạo đức chính trị và vấn đề chính trị trên phương diện siêu hình học;

nó ứng dụng phương pháp triết học và lịch sử để nghiên cửu các vấn đề như tính chất của nhà nước, phương thức của đời sống chính trị, các tầng diện triết học của nghiên cứu chính trị, các cơ sở của nghĩa vụ chính trị, các loại nghĩa vụ đạo đức của chính phủ, quan hệ giữa đạo đức và chính sách, mục đích của chính trị, cũng như phương pháp mà các xã hội chính trị thực hiện mục đích này

Chủ đề trung tâm của triết học chính trị là làm thé nào sắp đặt và hạn chế quyền lực công, để duy trì và thúc đẩy phẩn chất đời sống chính trị của

Trang 36

nhân loại Triết học chính trị chịu ảnh hưởng và hạn chế của thời đại, tình hình chính trị, và bản thân các nhà tư tưởng chính trị.

Triết học chính trị phần lớn đều là (kết quả của) lý luận và tư biện triết học, chứ không phải là (kết quả của) mô tả; với tư cách là một khoa học quy

phạm, nó tập trung vào các phán đoán nên là (what is ought to be) chứ không chú trọng mô tả cái là (what is to be), cũng có nghĩa là nó hướng đến pháp

đoán giá trị, chứ không hướng đến phán đoán sự thực Đúng thì là đúng, sai thì là sai, thiện thìa là thiện, ác thì là ác, tuyệt nhiên không thế tích sai thành đúng, tích ác thành thiện Điều mà triết học chính trị quan tâm là các vấn đề

cơ bản như: hệ thống chính trị, quyền lực chính trị, nhân vật chính trị cũng như là mục đích của hành vi chính trị là có chính đáng hay không; nên hay không nên biến thủ đoạn thành mục đích; trạng thái lý tưởng của đời sống chính trị là gì; công đạo trong chính trị là gì, quyền lợi của nhân dân hoặc tự

do chính trị nên được bảo đảm như thế nào; quyền hạ giữa các cơ quan chính trị nên được phân định như thế nào để vấn có hiệu năng; mục đích của nhà nước là gì; cơ sở của chủ quyền được xác định như thế nào, V V

Phạm vi của triết học chính trị tương đối rộng Nó có quan hệ với luân

lý học, triết học xã hội, xã hội học tri thức và nhân học xã hội; có sự giao thoa với tư tưởng chính trị và lý luận chính trị Cho dù là trong lịch sử Trung Quốc hay thế giới, đại bộ phận các nhà tư tưởng chính trị hoặc các nhà lý luận chính trị đều là nhà triết học chính trị

Tuy nhiên, lý luận chính trị (hoặc học thuyết chính trị) có hàm nghĩa rộng hơn triết học chính trị; ngoài triết học chính trị là nội dung cơ bản ra, nó còn bao gồm hai hạng mục: một lý lý luận chính trị về pháp luật, thảo luận tính chât của pháp luật thực chứng, quan niệm chủ quyền, cũng như những hành xử của quvền lực chính tri vốn chịu sự khốns chế của Dháp luật; hai là những nguyên lý, nguyên tắc của những suy luật, khái quát lý luận chính trị khoa học (Scientiíĩc Political Theory)

Trang 37

Trong thế kỷ XX, dòng chủ lưu của triết học chính trị là chủ nghĩa tam dân, vì chủ nghĩa tam dân nghiên cứu ba vấn đề lớn có tính phổ biến trong (đời sống) nhân loại thế kỷ này - vấn đề dân tộc, vấn đề dân quyền và vấn đề dân sinh Bước vào thế kỷ XXI, ba vấn đề lớn này vấn chưa được giải quyết triệt để, nên đương nhiên vẫn là chủ đề quan tâm của nhân loại thế kỷ này Bởi vậy, thế kỷ XXI vẫn là thế kỷ của chủ nghĩa tam dân”.

Chúng tôi cũng đặc biệt chú ý đến quan niệm của tác giả Diêu Đại Chí

về triết học chính trị và tán đồng với một số quan điểm của học giả này về triết học chính trị:

Nhìn chung, triết học có thể được phân chia thành hai bộ phận lớn, là triết học lý luận và triết học thực tiễn Thuộc về triết học lý luận có siêu hình học, nhận thức luận, triết học ngôn ngữ, triết học tâm linh, triết học khoa học

và tri thức luận Thuộc về triết học thực tiễn có triết học chính trị, triết học đạo đức, triết học pháp luật, triết học xã hội và mỹ học

về mặt đối tượng mà nói, triết học lý luận nghiên cứu vấn đề "sự thực", cho dù các nhà triết học có cách nhìn khác nhau về vấn đề "sự thực là gì" Dựa trên cách nhìn khác nhau về vấn đề này, các nhà triết học có thể phân thành các nhà thực tại luận và các nhà phi thực tại luận Triết học thực tiễn nghiên cứu vấn đề giá trị, mà giá trị thì phong phú đa dạng, như giá trị chính trị, giá trị đạo đức, giá trị xã hội và giá trị mỹ học, từ đó mà bản thân

bộ phận này lại được phân thành triết học chính trị, triết học đạo đức, triết học xã hội và mỹ học

Nhìn từ phương diện chủ thể, triết học lý luận tương ứng với với lý tính lý luận mà Kant đã nói, vấn đề mà nó quan tâm là "tôi có thể biết gì"; còn triết học thực tiễn thì tương ứng với lý tính thực tiễn mà Kant đã nói, vấn

đề mà nó quan tâm là "tôi nên làm gì" Muốn biết được "tôi có thể biết gì", thì vừa phải hiểu thế giới (siêu hình học), vừa phải hiểu được bản thân mình (triêt học tâm linh), lại còn phải hiểu được mối quan hệ giữa mình với thế giới (tri thức luận và triết học ngôn ngữ) Muốn biết được "tôi nên làm gì",

Trang 38

thì cần phải biết được cái gì là chính nghĩa và phi chính nghĩa (triêtd học chính trị), cái gìblà đúng đắn và sai lầm (triết học đạo đức), cái gì là tốt và xấu (triết học xã hội), cái gì là đẹp và xấu (mỹ học).

Trên ý nghĩa này mà nói, triết học chính trị là một loại triết học thực tiễn Đe làm cho quan niệm về triết học chính trị rõ ràng hơn Chúng ta cần đưa ra một định nghĩa chính xác về nó Muốn đưa ra một định nghĩa minh xác về triết học chính trị thì cần xác định vấn đề đặc thù mà triết học chính trị nghiên cứu là gì, mà các vấn đề này các loại triết học thực tiễn khác (như triết học đạo đức và mỹ học) thường không chú ý Vậy vấn đề đặc biệt mà triết học chính trị là gì? v ấ n đề đặc biệt mà triêtd học chính trị quan tâm mà

ra bao gồm ba phương diện: gía trị chính trị, chế độ chính trị và lý tưởng chính trị Tuy ba bộ phận này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng lĩnh vực mà nó liên quan đến là khác nhau Giá trị chính trị liên quan đến lý luận giá trị trong triết học chính trị, chế độ chính trị liên quan đến lý luận về nhà nước, còn lý tưởng chính trị thì liên quan đến lý thuyết Utopia mà truyền thống đã nói đến

Trước hết, lý luận giá trị là cơ sở của triết học chính trị Giá trị là cái

mà chúng ta theo đuổi, nó chỉ dẫn "ta" và "chúng ta" làm gì Cái chỉ dẫn

"chúng ta nên làm gì" là gì trị cá nhân, còn chỉ dẫn "chúng ta nên làm gì" là giá trị chính trị Giá trị cá nhân có thể chỉ có giá trị đối với một số người nào

đó, còn giá trị chính trị đối với tất cả mọi người đều có giá trị Cũng có nghĩa

là, giá trị chính trị là giá trị công

Trong những thời đại khác nhau và xã hội khác nhau, giá trị chính trị

mà người ta theo đuổi là khác nhau Đối với xã hội đương đại, giá trị chính trị cũng là phong phú đa dạng, như tự do, bình đẳng, quyền lợi, lợi ích tập thê, phúc lợi công cộng và cái thiện của cộng đồng, v.v Các trường phái triêt học chính trị khác nhau đặt các giá trị chính trị khác nhau vào vị trí ưu tiên, ví dụ như chủ nghĩa tự do đặt tự do vào vị trí số một, chủ nghĩa cộng đồng đặt cái thiện cộng đồng vào vị trí thứ nhất, chủ nghĩa xã hội đặt bình

Trang 39

đẳng vào vị trí thứ nhất Một chủ nghĩa nào đó đặt một giá trị nào đó vào vị trí thứ nhất, điều đó không có ý nghĩa là nó không thừa nhận các giá trị khác Ví dụ, tuy chủ nghĩa tự do đặt tự do vào vị trí ưu tiên, nhưng nó cũng theo đuổi các giá trị như bình đẳng, quyền lợi, phúc lợi công cộng, chỉ có điều nó chủ trương tự do ưu tiên hơn các giá trị khác Triết học chính trị là

vô cùng phức tạp, một trong những nguyên nhân là ở chỗ nó phối hợp các

loại giá trị mà nó theo đuổi (tự do, bình đẳng, quyền lợi, lợi ích công cộng,

V V ) với nhau

Lý luận giá trị trong triết học chính trị về đại thể có thể phân thành hai loại: một là lý luận về nghĩa vụ, hai là lý luận về hậu quả Nói chung, triết học chính trị thuộc về nghĩa vụ luận chủ trương, giá trị chính là chính nghĩa,

và chính nghĩa thể hiện thành tự do, bình đẳng và quyền lợi, V V Triết học chính trị thuộc chủ nghĩa hậu quả chủ trương, giá trị chính là thiện, và thiện thế hiện thành lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và phúc lợi công cộng, V V Đối với nghĩa vụ luận, thiện là giá trị cuối cùng, chính nghĩa là công cụ đạt đến thiện, vì thế thiện ưu tiên hơn so với chính nghĩa

Tiếp đó, lý luận nhà nước là hạt nhân của triết học chính trị Neu như nói, đối tượng của triết học đạo đức là cá nhân, nó nói cho cá nhân biết cần phải làm gì, thì đối tượng của triết học chính trị là nhà nước, nó nói cho nhà nước biết nên thực hành chế độ chính trị như thế nào Thực hành chế độ chính trị như thế nào và coi trọng giá trị chính trị nào là có liên quan với nhau: một mặt, chế độ chính trị cần thể hiện ra được coi là giá trị chính trị quan trọng nhất; mặt khác, chế độ chính trị cũng nên mang đến sự bảo đảm cho mỗi cá nhân được hưởng các giá trị chính trị có liên quan

Đối với triết học chính trị, lý luận nhà nước chủ yếu có hai chức năng Một chức năng chủ yếu của lý luận nhà nước là mang đến tính hợp pháp cho nhà nước, biện Ỉ1Ộ cho nhà nước theo một tính chất nào đó Chức năng tính hợp pháp của lý luận nhà nướccó thể phân chia thành hai tầng Tầng vấn đề thứ nhất là "nhà nước phải chăng nên tồn tại", đối tượng mà nó nhắm đến là

Trang 40

chủ nghĩa vô chính phủ Mỗi một thời đại đều có những người theo chủ nghĩa vô chính phủ, họ cho rằng bất cứ nhà nước nào đều có tính áp chế, từ

đó không có nhà nước nào có thể là tốt hơn Vì thế, triết học chính trị muốn luận chứng cho sự tồn tại của nhà nước, sự luận chứng này không chỉ muốn chứng minh sự tồn tại của nhà nước là tốt hơn là vô chính phủ, hơn nữa còn muốn chứng minh sự ra đời và tồn tại của nhà nước đều phù hợp với đạo đức Tầng vấn đề tiếp theo là "nhà nước nào tốt hơn", nó muốn biện hộ cho nhà nước theo một chế độ chính trị nào đó trong số nhà nước theo các chế độ chính trị khác nhau Trong lịch sử tồn tại nhiều loại chế độ chính trị, như chế

độ quân chủ, chế độ quân chủ lập hiến và chế độ dân chủ Trong chế độ dân chủ lại có sự khác biệt giữa chế độ dân chủ theo chủ nghĩa tự do, chế độ dân chủ theo chủ nghĩa xã hội, chế độ dân chủ theo chủ nghĩa cộng hoà và chế độ dân chủ theo chủ nghĩa cộng đồng Triét học chính trị muốn chứng minh, trong các chế độ chính trị này, chế độ nào là tốt hơn hoặc tốt nhất

Một chức năng chú yếu khác của lý luận nhà nước là tiến hành hạn chế đối với quyền lực nhà nước Lý luận nhà nước mang đến tính hợp pháp cho nhà nước, nhưng nó không cho rằng bất cứ nhà nước nào đều hợp pháp Triết học chính trị mang đén sự biện hộ cho nhà nước thực hành một chế độ chính trị nào đó, nhưng điều mà nó mang đến là sự biện hộ về mặt đạo đức, mà chỉ

có những nhà nước đã trải qua sự kiểm nghiệm đạo đức mới có thể đàng hoàng tiếp nhận sự biện hộ này Nhà nước theo ý nghĩa hiện đại có quyền lực rất lớn, nếu như không có sự hạn chế đối với quyền lực to lớn này, thì nhà nước, thì nhà nước sẽ có khả năng lạm dụng quyền lực, xâm phạm cá nhân

Đê hạn chế quyền lực nhà nước, triết học thường có thể đề xuất một số nguyên tắc mà nhà nước không được vi phạm: trước hết là "nguyên tắc tự do", nhà nước không được xâm phạm các loại tự do và quyền lợi mà mỗi một công dân có, mà iihững tự do và quyền ỉợi này thường là được hiến pháp

và các loại luật quy định; tiếp đó là "nguyên tắc bình đẳng", đối với tất cả mọi công dân, nhà nước phải coi họ như nhau, không được phân biệt đối xử,

Ngày đăng: 26/09/2020, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w