1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý chính trị hồ chí minh cơ sở hình thành và nội dung cơ bản

120 369 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên con đường bôn ba vạn dặm tìm đáp án cho những câu hỏi đó, Hồ Chí Minh đã đến được với chân lý của thời đại, tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả

Phan Duy Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn này xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lại Quốc Khánh, với tinh thần trách nhiệm và tấm lòng của một người Thầy đã hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ em trên con đường nghiên cứu khoa học

Xin cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn_ĐHQGHN và Thầy, Cô giảng dạy các chuyên

đề trong quá trình học Các anh, chị, em học viên cao học đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin được gửi tới gia đình, người thân và bạn bè lời biết ơn sâu sắc vì sự quan tâm, thấu hiểu và sẻ chia

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Những đóng góp của luận văn 12

NỘI DUNG 13

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 13

1.1 Quan niệm về triết lý, triết lý chính trị và triết lý chính trị Hồ Chí Minh 13 1.1.1 Triết lý 13

1.1.2 Triết lý chính trị và triết lý chính trị Hồ Chí Minh 18

1.2 Cơ sở lý luận hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh 22

1.2.1 Triết lý chính trị truyền thống Việt Nam 22

1.2.2 Triết lý chính trị phương Đông 29

1.2.4 Triết học chính trị Mác xít 45

1.3 Cơ sở thực tiễn hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh 49

1.3.1 Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 49

1.3.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 53

1.3.3 Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh 57

Tiểu kết Chương 1 63

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 64

2.1 Triết lý về mục tiêu và giá trị chính trị 64

2.2 Triết lý về quá trình chính trị 74

2.3 Triết lý về chủ thể chính trị 87

2.4 Triết lý về thể chế chính trị 93

Tiểu kết Chương 2 104

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tòa lâu đài Pubbiloco ở Senia (Italia) có hai bức tranh được vẽ giữa năm 1337 và 1339 bởi họa sĩ lừng danh Anbrogio Lorenzetti Chúng thường được gọi là ngụ ngôn về “Chính phủ tốt và xấu” – miêu tả bản chất của chính phủ tốt và xấu tương ứng bằng những hình tượng các nhân vật đại diện cho các phẩm chất mà nhà lãnh đạo phải có và không nên có, đồng thời thể hiện ảnh hưởng của chính phủ đến cuộc sống của người dân

Ở bức tranh “Chính phủ tốt”, hình tượng nhà lãnh đạo đáng kính trong áo choàng lộng lẫy ngồi trên ngai vàng, xung quanh là các nhân vật đại diện cho những đức tính của lòng dũng cảm, công bằng, khoan dung, hòa bình, thận trọng

và chừng mực Bên dưới là những người dân được liên kết bởi một sợi dây dài hai đầu buộc chặt vào cổ tay người lãnh đạo, tượng trưng cho sự gắn bó giữa nhà lãnh đạo và nhân dân Cuộc sống sung túc của người dân dưới những tác động của chính phủ tốt được Lorenzetti vẽ lên sinh động Thành phố rất có trật tự và giàu có, nông thôn tự do trồng trọt và thu hoạch Tất cả đều toát lên sức sống mãnh liệt

Bức tranh ở phía đối diện, đại diện cho “Chính phủ xấu”, ít được bảo quản nhưng thông điệp của nó cũng rất quan trọng: một người cai trị độc tài được bao quanh bởi các biểu tượng tật xấu như tính hám lợi, độc ác và lòng tự kiêu, một thành phố dưới sự chiếm đóng của quân đội và một miền quê cằn cỗi bị tàn phá Tất cả đều toát lên sự sợ hãi

Hai bức biếm họa về “Chính phủ tốt và xấu” của Lorenzetti được xem là tác phẩm về triết học chính trị thể hiện bằng hình vẽ, màu sắc [136, p 1-5] Qua hai bức tranh, tác giả muốn đi tìm căn nguyên của các vấn đề chính trị: chính phủ tốt hay xấu ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng cuộc sống của con người như thế nào? Hình thức của chính phủ có thể hoàn thiện được không? Làm sao để phân biệt được chính phủ tốt hay xấu? Đây cũng chính là những câu hỏi nền tảng của triết học chính trị Từ khi nhà nước xuất liện trong lịch sử nhân loại, con người đều đi

Trang 7

tìm một cách thức tổ chức nhà nước tốt nhất, bởi quyền lực nhà nước tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của mỗi người

Vào những năm đầu thế kỷ XX, một bức biếm họa về “Chính phủ xấu” lại được vẽ lên, không phải bằng bút vẽ, sơn màu mà bằng chất liệu ngôn từ trên báo chí Pháp bởi “họa sĩ” Nguyễn Ái Quốc – một người con của dân tộc thuộc địa

Hãy xem “bức tranh” “Vấn đề dân bản xứ” được đăng trên báo Nhân đạo ngày 2

tháng 8 năm 1919, hình ảnh một dân tộc nô lệ được Nguyễn Ái Quốc thể hiện rõ

nét: “…từ khi Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt

ngày này qua ngày khác (người trích nhấn mạnh – PDA), không hề biết chính

quyền muốn dẫn mình đi đến đâu…Về hành chính và pháp lý: cả một vực thẳm

cách biệt người Âu với người bản xứ Người Âu hưởng mọi tự do và ngự trị

như người chủ tuyệt đối; còn người bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyền phải phục tùng, không được kêu ca…Còn công lý, đối với người bản xứ, nó tồn tại thế này đây: người Âu nào đã giết chết, tàn sát hoặc cường dâm người bản xứ, thì trong trường hợp vụ án không thể được ỉm hoàn toàn, anh

ta chắc mẩm rằng mình được toàn tha bổng, mình ra tòa chẳng qua là chuyện

hình thức…Ở các tỉnh, người bản xứ bị trói tay trói chân, phải gánh chịu thói

tùy hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp và thói tham tàn của bọn

làm tôi tớ ngoan ngoãn cho chúng, bọn quan lại, sản phẩm của chế độ mới Ấy là

công lý bị bán đứt cho kẻ nào mua đắt nhất, trả giá hời nhất…” [73, tr

10-12] Đây chỉ là một “bức tranh” trong nhiều bức tranh Nguyễn Ái Quốc vẽ về chế

độ thực dân phản động

Cả cuộc đời cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn đi tìm một con đường giải phóng cho dân tộc và một cách thức tổ chức nhà nước nhằm mang lại cho tất cả mọi người dân cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự Hồ Chí Minh với suy tư ở tầm sâu triết học đã đặt ra cho chính bản thân Người những câu hỏi cần giải đáp: đâu là giá trị đích thực của một nền chính trị? Con đường nào để đạt được những giá trị ấy? Ai sẽ là người thực hiện con đường đó? Cần xây dựng một chính phủ như thế nào để giữ vững và phát huy những giá trị ấy cho cuộc sống của nhân dân?

Trang 8

Trên con đường bôn ba vạn dặm tìm đáp án cho những câu hỏi đó, Hồ Chí Minh đã đến được với chân lý của thời đại, tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản – con đường kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, từ đó chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu nước, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc – thời đại Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã xây dựng những tiền đề tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng vô sản ở Việt Nam, thường xuyên quan tâm chăm sóc, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua mọi thử thách khó khăn Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Hồ Chí Minh với những chiến lược thiên tài, đã cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra thời kỳ sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân mới, góp phần tác động sâu xa vào tiến trình lịch sử thế giới trong thế

kỷ XX Hồ Chí Minh đã khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa qua chủ nghĩa tư bản, bị chiến tranh tàn phá Những thành quả to lớn đó đã khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng, nhân văn của Học thuyết Hồ Chí Minh, mà nền tảng là triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Từ sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, đời sống chính trị thế giới luôn có những biến đổi phức tạp, khó lường Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng trong những năm gần đây, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố, bất ổn chính trị - xã hội, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ vẫn xảy ra ở nhiều nơi với diễn biến phức tạp, thách thức nhiều nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chính trị vốn đã được định hình, ổn định và

đề cao trong một thời gian dài Một yêu cầu bức thiết đặt ra là cần có một triết lý chính trị sáng suốt, đúng đắn để lý giải, đánh giá diễn biến của đời sống chính trị thế giới, định hướng suy nghĩ, hành động của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ Triết lý chính trị Hồ Chí Minh hoàn toàn đáp ứng được yêu

Trang 9

cầu đó và vì thế, việc đẩy mạnh nghiên cứu và vận dụng triết lý chính trị Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa chính trị cấp bách

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước đổi mới quan trọng trong tư duy chính trị Để theo kịp những đòi hỏi của thực tiễn bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, công cuộc đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam phải được tiến hành mạnh mẽ hơn Công cuộc đổi mới tư duy chính trị đó cần được tiến hành trên cơ sở đảm bảo những nguyên tắc nền tảng, mà một trong những những nền tảng quan trọng đó là Học thuyết Hồ Chí Minh với vai trò cốt lõi là triết lý chính trị Hồ Chí Minh Nghiên cứu làm rõ triết

lý chính trị Hồ Chí Minh nhằm góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công cuộc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực thực hành chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một nhiệm vụ cấp bách

Từ những lý do trên đây, đồng thời trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ,

tôi đã chọn đề tài “Triết lý chính trị Hồ Chí Minh – Cơ sở hình thành và nội dung cơ bản” làm đề tài luận văn của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Học thuyết Hồ Chí Minh là một di sản quý báu của Đảng và nhân dân Việt Nam Với vị trí là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của cách mạng Việt Nam, các bộ phận của học thuyết Hồ Chí Minh nói chung đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và phân tích

Các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp/gián tiếp đến đề tài luận văn khá phong phú và có thể chia thành các nhóm sau:

 Ở nước ngoài:

Nhóm thứ nhất là những công trình nghiên cứu về triết học chính trị Đây là

những công trình cần được tham khảo trong xây dựng khung lý thuyết phục vụ nghiên cứu của đề tài Có thể thấy rằng, bản thân triết học chính trị đã có một lịch

sử rất lâu đời Các nhà tư tưởng chính trị, các nhà hoạt động chính trị tiêu biểu trong lịch sử nhân loại đều ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp xây dựng hệ thống

Trang 10

tư tưởng chính trị và sự nghiệp thực tiễn chính trị của họ trên một nền tảng triết học chính trị Nói cách khác, triết học chính trị đã là một bộ phận cấu thành quan trọng của các tư tưởng và thực tiễn chính trị tiêu biểu trên thế giới từ Cổ đến

Kim, từ Đông sang Tây Tuy nhiên, những nghiên cứu về triết học chính trị với

tư cách là nghiên cứu chuyên ngành - liên ngành triết học - chính trị thì mới xuất hiện chưa lâu, từ đầu thế kỷ XX đến nay, và nhất là từ những năm 70 của thế kỷ

XX Có thể kể đến về một số công trình quan trọng về triết học chính trị hiện đại

như: The Human Condition (1958), Between Past and Future (1961), On

Revolution (1963) của Arendt, H; Theories of Justice (1989), Democracy and Power 2 vols (1991) của Barry, B; Rationalism in Politics (1962) của Oakeshott,

M; Modern Political Thought (1991) của Plant, R; A Theory of Justice (1972),

Political Liberalism (1993) của Rawls, J; History of political philosophy (1987)

của Strauss, Leo v.v Trong đó tiêu biểu là công trình History of political

philosophy của Leo Strauss và A Theory of Justice của J Rawls

Leo Strauss (1899-1973) là một trong những nhà tư tưởng quan trọng nhất của thế kỷ XX và được đánh giá như “một nhân vật trung tâm trong sự hồi sinh các nghiên cứu về triết học chính trị” [141, p 1] Nghiên cứu của ông tập trung vào các phong trào chính trị và các nhà tư tưởng chính trị từ cổ đại đến hiện đại như Platon, Machiavelli, Husserl, Heidegger, Weber, Schmitt, Scholem…

History of political philosophy là một công trình đồ sộ do Leo Strauss chủ biên,

xuất bản lần đầu tiên vào năm 1963 Công trình tập hợp 21 chuyên luận về 21 nhà tư tưởng chính trị phương Tây từ thời Hy Lạp cổ đại đến thế kỷ XX của các chuyên gia về triết học chính trị, trong đó có các chuyên luận của Leo Strauss về Platon, Marsilius Padua và Niccolo Machiavelli Đặc biệt, tới lần tái bản thứ ba (1987 – sau khi Leo Strauss qua đời), các tác giả đã bổ sung thêm chuyên luận

“Leo Strauss và lịch sử triết học chính trị”, khẳng định cống hiến to lớn của Leo Strauss đối với triết học chính trị và ý nghĩa đặc biệt của triết học chính trị trong các công trình nghiên cứu của ông Phương pháp luận khi nghiên cứu triết học chính trị được Leo Strauss đề cao trong công trình này là chú trọng đến mối liên

hệ giữa triết gia và xã hội của triết gia Ông cho rằng, dù suy tư là một hoạt động

Trang 11

cao quý nhất của con người, nhưng đó là một sinh hoạt ngoài khả năng của đa số quần chúng Vì vậy, trong chuyên luận về Platon, ông thể hiện sự ngưỡng mộ ý nghĩ táo bạo của Platon về những vị vua hiền triết (philosopher kings) đôi khi phải phát ngôn những “gian dối cao thượng” để giữ trật tự trong đám đông thiếu

hiểu biết [142, p 33] History of political philosophy là cuốn sách tham khảo

quan trọng khi nghiên cứu về triết học chính trị

John Rawls (1921-2002) là một nhà triết học hàng đầu của Mỹ Năm 1971 ông

đã cho xuất bản cuốn sách A Theory of Justice – được coi là một công trình quan

trọng nhất của nền triết học Hoa Kỳ thế kỷ XX Với một phạm trù mới mẻ: công lý như là công bằng, coi đây là vấn đề trung tâm, John Rawls đã trình bày một lý thuyết về công lý trong cuốn sách gồm ba phần lớn với 9 chương và 87 mục Trong công trình này, Rawls đã đề cập đến một vấn đề lý luận phức tạp nhất, cũng

là một thức tế nhức nhối nhất của xã hội Mỹ: vấn đề công bằng xã hội trước tình trạng bất công xã hội gia tăng Những bức xúc về công bằng xã hội là vấn đề không riêng của nước Mỹ Công bằng xã hội là vấn đề gay go nhất của thế giới hiện đại, bởi lẽ cái nhân loại cần không chỉ là một cuộc sống vật chất thuần túy, với vai trò chúa tể của đồng tiền, mà là sự hài hòa cả về vật chất lẫn tinh thần Công bằng là điều kiện tối cần thiết để con người được tự do, hạnh phúc Với mục đích “là đưa ra một lý thuyết về công lý có thể thay thế những quan điểm cũ đã thống trị quá lâu trong nền triết học truyền thống của chúng ta” [139, p 3] – lý

thuyết “công lý như là công bằng”, John Rawls đã thực sự tạo ra một tiếng vang

lớn và gây tranh luận trong giới triết học phương Tây suốt hơn 40 năm qua

Nhóm thứ hai là những công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh và triết lý

chính trị Hồ Chí Minh Có thể khẳng định rằng, đến nay đã có rất nhiều công

trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh được các học giả nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài và Việt kiều) công bố Một số công trình có giá trị đã được dịch ra tiếng Việt Trong nhiều công trình thuộc nhóm này, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu tiểu sử, sự nghiệp cách mạng và tư tưởng Hồ Chí Minh, và trong những nghiên cứu ấy, có lúc, có tác giả đã đưa ra những nhận định, đánh giá sâu sắc về tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, triết lý chính trị Hồ Chí Minh Tất nhiên,

Trang 12

những nhận xét như vậy chưa nhiều, chưa hệ thống và vì nhiều lý do, có những ý kiến chưa chính xác, cần thảo luận thêm Có thể nêu lên các công trình tiêu biểu

như: Ho Chi Minh (1967) của Jean Lacouture; Ho Chi Minh (1970) của C P Ragiơ; Đồng chí Hồ Chí Minh (1985) của E Côbêlép; Ho Chi Minh: A Life (2001) của William J Duiker; Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 – 1941 (2002) của Sophie Quinn-Judge; Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư

tưởng cách mạng Hồ Chí Minh (2003) của John Le Van Hoa v.v

Đặc biệt trong công trình Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng

cách mạng Hồ Chí Minh, John Lê Văn Hóa đã khẳng định giá trị tinh hoa văn

hóa dân tộc là yếu tố quan trọng nhất để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh Với ba phần, 8 chương, tác giả đã luận giải những vấn đề cơ bản trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh từ cách tiếp cận văn hóa chính trị và triết học chính trị Những vấn đề của triết học chính trị như tính chính đáng của chính quyền, sự nổi dậy của quần chúng, từ “mệnh trời” đến “ý dân”…được tác giả phân tích sâu sắc Đây là một công trình tham khảo có giá trị cho đề tài

 Ở trong nước:

Nhóm thứ nhất, những công trình nghiên cứu về triết học chính trị, phương

pháp luận chính trị, lý luận chung về chính trị Những tác phẩm này giúp củng

cố thêm nhận thức của tác giả về những khái niệm chính trị, những yếu tố căn cốt của triết học chính trị theo quan điểm nghiên cứu của các học giả Việt Nam Có

thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Phân tích triết học những vấn đề cơ

bản của chính trị và khoa học chính trị (2006) của Nguyễn Hữu Khiển; Triết học chính trị về quyền con người (2005) của Nguyễn Văn Vĩnh; Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam (2006) của Lê

Tuấn Huy; Triết học chính trị Khổng giáo (2007) của Trần Quang Thuận v.v Tiêu biểu nhất là tác phẩm Phân tích triết học những vấn đề cơ bản của chính

trị và khoa học chính trị của Nguyễn Hữu Khiển Tác giả dựa theo phương pháp

phân tích triết học đã nghiên cứu chính trị với tính cách là một hình thái ý thức

xã hội Cuốn sách cũng nghiên cứu bản chất của các mối quan hệ tư tưởng (ý thức) và thực tiễn trong đời sống chính trị - một bộ phận của đời sống xã hội

Trang 13

đang vận động Đây là một công trình tham khảo có ý nghĩa đối với đề tài

Nhóm thứ hai, các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học, tư duy triết

học, phương pháp triết học, triết lý của Hồ Chí Minh Có thể nêu lên một số

công trình tiêu biểu như: Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực

tiễn (2009) của Phạm Ngọc Anh ; Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh (2011)

của Hoàng Chí Bảo; Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh (2005) của Nguyễn Đức Đạt; Những nhận thức cơ bản về Tư tưởng Hồ Chí Minh, (1998) của Phạm Văn Đồng; Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (2000) của Võ Nguyên Giáp; Sự hình thành về cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh (1997) của Trần Văn Giàu; Minh triết Hồ Chí Minh (1999) của Vũ Ngọc Khánh; Biện chứng của

tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (2009) của Lại Quốc

Khánh; Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh (1997) của Đặng Xuân Kỳ;

Triết lý phát triển ở Việt Nam - Mấy vấn đề cốt yếu (2005) của Phạm Xuân Nam;

Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng thiên tài (2011) của Trần Nhâm; Tư tưởng triết học

Hồ Chí Minh (2000) của Lê Hữu Nghĩa; Đạo Khổng trong văn Bác Hồ (1996), Suy tưởng trước Ba Đình (1998) của Đào Phan; Hồ Chí Minh học và minh triết

Hồ Chí Minh (2008), Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển Việt Nam (2010) của Bùi

Đình Phong; Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc (2005) của Song Thành; Hồ

Chí Minh - Nhà cách mạng sáng tạo (2009) của Mạch Quang Thắng; Tư tưởng

Hồ Chí Minh và triết lý phát triển Việt Nam hiện nay (2007) của Hồ Bá Thâm; Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh (2004) của Hồ Kiếm

Việt

Tiêu biểu nhất là công trình Triết lý phát triển Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận

và thực tiễn của Phạm Ngọc Anh (CB) và Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh của Hồ Kiếm Việt Triết lý phát triển Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận và thực tiễn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống triết lý phát triển

Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu nhất như: triết lý về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam và xã hội Việt Nam; triết lý về mô hình phát triển

xã hội xã hội chủ nghĩa; triết lý về sự phát triển hài hòa, toàn diện mối quan hệ trong xã hội và xã hội với tự nhiên; triết lý về động lực phát triển xã hội Trong

Trang 14

công trình Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh, tác giả đã

tập trung nghiên cứu có hệ thống về tư duy triết học Hồ Chí Minh – một tư duy triết học phát triển trên nền tảng triết học Mác – Lênin, từ nội dung quyết định luận duy vật Mác-xít, luận giải mối quan hệ giữa hoàn cảnh và con người, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hoàn cảnh và con người, làm sáng tổ mối quan hệ giữa

tự do và tất yếu theo thế giới quan duy vật biện chứng; đồng thời kế thừa triết lý dân tộc Việt Nam, bao gồm trong đó tinh hoa triết lý phương Đông, chủ yếu là Nho học ở vấn đề cơ bản nhất là quan hệ Thiên – Nhân đã được Việt hóa, hướng

sự cải biến cách mạng đối với xã hội, trước hết vào giáo hóa con người vì con người và phát huy nhân tố con người Ngoài ra cuốn sách còn dành nhiều trang cho vấn đề rất cơ bản trong việc vận dụng tư duy triết học Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay Đây là những công trình tham khảo trực tiếp của đề tài

Thông qua tổng quan tài liệu nghiên cứu với những nhóm vấn đề đã được khái quát ở trên, có thể thấy phần nào nội dung đã được nghiên cứu liên quan đến

đề tài Đã có những công trình nghiên cứu về triết học chính trị, đã có những tác phẩm viết về tư tưởng triết học, tư duy triết học của Hồ Chí Minh, cũng đã có những luận điểm đánh giá về triết lý chính trị Hồ Chí Minh Song, chưa có công trình nào đề cập nghiên cứu một cách trực diện và có hệ thống về triết lý chính trị

Hồ Chí Minh Vì vậy, việc nghiên cứu về “Triết lý chính trị Hồ Chí Minh” cần phải được đặt ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Trang 15

- Xác định và phân tích những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đã góp phần hình thành nên triết lý chính trị Hồ Chí Minh

- Phân tích những nội dung cơ bản của triết lý chính trị Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của triết lý chính trị Hồ Chí Minh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên cơ sở lý luận chính trị học và triết học chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp luận Hồ Chí Minh, cùng với các quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam

Có nhiều cách tiếp cận triết học chính trị của các trường phái nghiên cứu khác nhau Cách tiếp cận nghiên cứu của tác giả luận văn là dựa trên lý luận của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là: lý luận về quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên của hình thái kinh tế xã hội, phép biện chứng về mối quan

hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, phép biện chứng về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Phương pháp luận Hồ Chí Minh mà đặc biệt là sự định hướng tư duy trên cơ

sở thực tiễn là cơ sở lý luận cho luận văn bởi triết lý chính trị Hồ Chí Minh cũng nảy mầm trên mảnh đất thực tiễn cách mạng dân tộc Hồ Chí Minh quan niệm:

“Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó

Trang 16

chứng minh với thực tế Đó là lý luận chân chính” Theo quan niệm đó, trong phương pháp tư duy, Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện của đời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho suy nghĩ và hành động, hết sức tránh sao chép sách vở một cách giáo điều, hết sức tránh lặp lại các giải pháp có sắn Đây là một chỉ dẫn sâu sắc để tìm hiểu triết lý chính trị Hồ Chí Minh – muốn biết rõ triết lý chính trị Hồ Chí Minh không chỉ tìm trong những bài nói, bài viết -

“tìm nghĩa trong chữ, tìm tư tưởng trong câu văn”, mà còn phải tìm trong hành động thực tiễn cuộc đời cách mạng phong phú của Người

Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể là những quan điểm chính trị của Đảng, quan điểm của Đảng về sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là

cơ sở lý luận quan trọng mà tác giả dựa vào đó để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận Mác-xít Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:

- Phương pháp hệ thống: nghiên cứu thế giới như một chỉnh thể, nhìn toàn

bộ xã hội như một hệ thống mà chính trị là một yếu tố cấu thành hệ thống đó Nghiên cứu triết lý chính trị Hồ Chí Minh là một hệ thống có các bộ phận cấu thành cơ bản và có mối quan hệ giữa các thành tố ấy

- Phương pháp lịch sử cụ thể: xem xét phân tích sự hình thành, biến đổi và phát triển của triết lý chính trị Hồ Chí Minh trong những điều kiện nhất định của tình hình thế giới và trong nước, trong những tác động cụ thể của những yếu tố khách quan và chủ quan

- Phương pháp so sánh: so sánh triết lý chính trị Hồ Chí Minh với các tư tưởng, triết lý, triết học chính trị khác nhau, qua đó để thấy được sự tiếp thu và phát triển của Hồ Chí Minh đối với triết lý chính trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông; việc Hồ Chí Minh bổ sung làm phong phú thêm triết học chính trị của các nhà kinh điển Mác-xít

- Phương pháp lôgíc: nghiên cứu quy luật, logic vận động của chính trị cũng như triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Trang 17

Ngoài ra, để triển khai đề tài nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

6 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần xác định và làm rõ những cơ sở chủ yếu hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh

- Luận văn bước đầu trình bày một số nội dung cơ bản trong triết lý chính trị Hồ Chí Minh

7 Kết cấu luận văn

Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 7 tiết

Trang 18

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

Khái niệm “triết lý chính trị” tự bản thân nó đã nói lên vai trò của tiếp cận triết học đối với chính trị - một lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm và phức tạp nhất trong đời sống xã hội ở mọi cấp độ: quốc gia – dân tộc, quốc tế - khu vực và thế giới nhân loại Khái niệm này còn hàm nghĩa mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa triết học với chính trị, trên bình diện nhận thức luận cũng như trên bình diện đời sống thực tiễn, nhất là thực tiễn chính trị Bản thân triết lý chính trị có cơ sở, quá trình hình thành, biến đổi và phát triển, phản ánh những biến đổi và phát triển của đời sống chính trị - xã hội Triết lý chính trị Hồ Chí Minh cũng có những cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành

1.1 Quan niệm về triết lý, triết lý chính trị và triết lý chính trị Hồ Chí Minh 1.1.1 Triết lý

Triết học là một môn khoa học được hình thành từ rất sớm, mà chiếc nôi của triết học phải nói đến Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ và Trung Quốc Triết học được hiểu theo nghĩa là sự thông thái, sự hiểu biết về nhân sinh và vũ trụ Ở Trung Quốc được gọi là “Triết” nghĩa là Trí Tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người

và thế giới Còn ở Ấn Độ thì gọi “triết học” là Dar’sana nghĩa là chiêm ngưỡng,

là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp, theo tiếng Latinh từ triết học là Philosophia nghĩa là yêu thích sự thông thái, “ái trí”, nó vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người và tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung về cơ bản là tương đồng: triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng

Trang 19

nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Tựu chung lại,

có thể hiểu, “triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy” [9, tr 8]

Tuy nhiên, có một điều đặc biệt, trong hệ ngôn ngữ Latinh, xuất phát từ tiếng

Hy Lạp, chỉ có một chữ “philosophy” (có nghĩa là: yêu mến sự thông thái, anh minh), chuyển sang tiếng Việt thành “triết học” như môn triết học, khoa triết học, các trường phái triết học, nhưng bên cạnh đó còn được dịch là “triết lý” Vậy

“triết lý” là gì?

Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cách lý giải khác nhau về khái niệm “triết lý”

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992), triết lý có hai nghĩa: 1) lý

luận triết học; 2) quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và

xã hội Theo Từ điển từ và ngữ của Nguyễn Lân (2000) thì triết lý được chiết tự thành: “triết” là sáng suốt, “lý” là lẽ Còn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ

(2007) thì định nghĩa: triết lý là cái lý sâu xa mà phải vậy của mọi sự vật, mọi lý

do, mọi nguyên tắc trên đời…

Cách lý giải của các nhà khoa học Việt Nam về khái niệm “triết lý” cũng khá phong phú

Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Trong tiếng Pháp chỉ có một từ philosophie, không có từ thứ hai Còn dân Việt Nam mình thì vừa nói triết lý vừa nói triết học Tôi nghĩ triết lý và triết học không hoàn toàn giống nhau Triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức, tức nhận thức luận, hay nói một cách cụ thể hơn,

đó là phương pháp luận tổng quát của các khoa học Có người ngày xưa gọi triết học là khoa học của các khoa học Còn triết lý chủ yếu hướng về đạo lý; hướng

về đạo lý chứ không phải đạo lý Nó chủ yếu đặt vấn đề tốt hay xấu, nên hay chăng, chứ không đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Hai loại vấn đề

ấy tuy có quan hệ với nhau, nhưng có khác nhau” [66, tr 21]

Giáo sư Vũ Khiêu thì quan niệm: “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình Triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện

ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người” [66, tr 21]

Trang 20

Giáo sư Hoàng Trinh lại đưa ra định nghĩa: “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và sự xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày…” [114, tr 8]

Còn theo giáo sư Hồ Sỹ Quý thì: “Về đại thể, triết lý có thể và nên được hiểu

là những tư tưởng, quan điểm hay quan niệm…mang tính khái quát cao; được phản ánh một cách cô đúc dưới dạng các mệnh đề hoặc các phán đoán thường là trau chuốt về mặt ngữ pháp; và được sử dụng trong đời sống xã hội với tính cách

là những định hướng cho hoạt động của con người về mặt thế giới quan, phương pháp luận hoặc nhân sinh quan” [96, tr 57]

Để hiểu rõ hơn về khái niệm “triết lý”, chúng ta có thể xem xét những quan điểm luận giải về mối tương quan giữa triết học và triết lý Về điều này, nhìn chung trong giới khoa học Việt Nam có hai luồng ý kiến: một bên cho rằng triết học và triết lý là khác nhau, và một bên cho rằng triết lý là triết học, hay đúng hơn là một hình thái triết học

Về quan điểm triết học và triết lý là khác nhau có thể kể đến ý kiến của giáo

sư Trần Văn Giàu như đã nêu ở trên Giáo sư Hồ Sỹ Quý cũng thể hiện quan điểm này khi cho rằng: “…mặc dù ở ta một số người đã dịch philosophy là triết

lý nhưng trong tiếng Việt chúng ta đều biết triết lý và triết học là các khái niệm khác nhau, dùng để biểu đạt, phản ánh những đối tượng khác nhau (người

trích nhấn mạnh – PDA)… nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy Nói một cách khác, nếu không phải là tất cả thì trong đa số các trường hợp, triết lý thường thiếu chặt chẽ hơn, phiến diện hơn và có nhiều khả năng chứa đựng mâu thuẫn hơn so với triết học” [96, tr 57] Có cùng quan điểm, giáo sư Phạm Xuân Nam, trong

công trình Triết lý phát triển ở Việt Nam – mấy vấn đề cốt yếu (2005) nhận xét:

“Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học đề cập đến những vấn

Trang 21

đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy (người trích nhấn mạnh –

PDA)…Nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học” [66, tr 23]

Về quan điểm triết lý là triết học có thể kể đến ý kiến của giáo sư Vũ Khiêu nêu trên Giáo sư Tô Duy Hợp khi bàn về triết lý dân gian cũng khẳng định:

“Nếu lấy tiêu chuẩn về trình độ tính lý luận, tính hệ thống, tính khoa học, tính nhất quán lôgíc thì có thể thấy triết học ở cung bậc cao hơn triết lý; bởi vì triết lý

có bản tính kinh nghiệm, tiền khoa học, không có tính hệ thống logic chặt chẽ, hoàn chỉnh Nhưng nếu lấy tiêu chuẩn khác, chẳng hạn như tính phổ cập, tính hiệu quả xã hội thực tế.v.v…thì triết lý tỏ ra thiết thực hơn triết học ; theo nghĩa

đó, triết lý có giá trị thực tiễn hơn so với triết học Như vậy triết lý và triết học đều cùng một phạm trù đó là thế giới quan (và nhân sinh quan) Triết học là thế giới quan lý luận, còn triết lý là nhân sinh quan kinh nghiệm (người trích nhấn mạnh – PDA) Quan hệ giữa triết học và triết lý không quy giản về quan hệ

đúng – sai, cao – thấp, hay – dở ; bởi vì theo nguyên lý tương đối trong văn hóa

thì còn có quan hệ bổ sung cho nhau” [45, tr 307-308] Trong công trình Triết lý

giáo dục thế giới và Việt Nam (2013), giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhìn

chung lại, “triết học” và “triết lý” đều bắt đầu bằng chữ “triết” chỉ sự am hiểu, tri thức đại quát, bản chất, thông thái; tiếp theo, một đằng là chữ “học” là học thuyết, khoa học, môn học, khoa đào tạo; một đằng là chữ “lý” là lý lẽ, lý giải, ý

sâu xa, một toát yếu, một châm ngôn, rất khái quát…đại thể có thể hiểu “triết lý”

là triết học đã được vận dụng vào một trường hợp cụ thể, gắn với cuộc sống thực ở một cấp độ nào đó, trong một phạm vi nào đó (người trích nhấn mạnh -

PDA)” [29, tr 36]

Cũng có quan điểm chiết trung khi xem triết lý vừa thuộc triết học vừa không thuộc triết học: “Nếu hiểu triết học theo nghĩa rộng, nó là môn khoa học về triết, bao gồm tất cả các loại triết, thì nó bao gồm cả triết lý Nhưng nếu hiểu triết học

là một hệ thống khái niệm, phạm trù, kết cấu với nhau bằng một logic chặt chẽ nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học thì triết lý không thuộc triết học Gắn triết học với hệ thống cũng chưa hẳn đúng, vì trong lịch sử cũng có những triết

học phi hệ thống… ở Việt Nam có cả triết học (mặc dù trước kia, ông cha ta

Trang 22

không dùng từ này và nó nằm trong quan hệ bất phân với sử, văn, tôn giáo) và triết lý mà chúng tôi gọi chung là triết (người trích nhấn mạnh – PDA)” [33, tr

404-405]

Qua những quan điểm nêu trên thật khó để phân biệt tường minh triết lý và triết học, bởi không có một thang giá trị, chuẩn mực duy nhất để so sánh triết lý

và triết học Để hiểu triết lý theo tính hệ thống, chúng tôi cho rằng, thực chất thì

triết lý là triết học, bởi triết lý và triết học đều diễn đạt cùng một phạm trù thế giới quan và nhân sinh quan Chúng đều thể hiện sự tìm tòi, sự suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân con

người Thật dễ để có sự thống nhất về câu nói “Trái đất cung cấp đủ để thỏa mãn

nhu cầu của con người, nhưng không đủ thỏa mãn sự tham lam của con người”

của Gandhi là một triết lý hướng về đạo lý – sự chừng mực trong việc khai thác

các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng nhu cầu hợp lý của con người;

nhưng cũng rất khó phản bác rằng câu nói đó là một mệnh đề lý luận thể hiện

nhận thức của con người về chính lòng tham – một yếu tố trong bản chất của

con người

Nhưng nếu xét về hình thức biểu đạt thì triết lý và triết học có hình thức biểu đạt khác nhau; bởi triết học thường được thể hiện bằng hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các nguyên lý có tính trừu tượng hóa cao, qua tác tác phẩm đồ sộ

Có thể thấy rõ điều đó trong bất cứ một triết thuyết, một tác phẩm triết học nào, nhất là các triết thuyết, các tác phẩm triết học nổi tiếng như hệ thống “những

nguyên lý cao nhất” về các cặp phạm trù trong Siêu hình học của Aristotle; hệ thống những luận điểm về “ý niệm” và “ý niệm tuyệt đối” trong Lôgích học của Hegel; hay hệ thống những luận điểm về hình thái kinh tế - xã hội trong Góp

phần phê phán khoa kinh tế chính trị và bộ Tư bản của Mác Còn triết lý thường

được thể hiện dưới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích, ngắn gọn, như “Cái gì mà chúng ta học được ở thời tuổi trẻ thì nó luôn luôn còn mãi” của Cervantes, “Một cuộc sống vô ích là một cái chết trước thời hạn” của Goethe…

Hồ Chí Minh cũng đã một số lần trực tiếp sử dụng thuật ngữ “triết lý” Trong

Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (9 – 1923) Người viết: ở Việt Nam “tiểu tư

Trang 23

sản…chịu sự chi phối bởi nhiều triết lý, như là nó hướng vào phong trào dân tộc rất vội vã” [73, tr 221] Trong Báo cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ - một tác

phẩm có thể là của Hồ Chí Minh cũng đã nhắc đến thuật ngữ triết lý: “Mác đã xây

dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử” [73, tr 509-510] Trong Ông Anbe Xarô và bản Tuyên ngôn Nhân quyền, Nguyễn Ái Quốc viết: “Dù rằng sự thực đau lòng như vậy, nhưng thế giới rồi cũng quen đi với cái triết lý, cái

tính trì độn vốn dĩ, mỗi khi người ta khuấy lên cái tư tưởng định mệnh của nó” [73,

tr 259] Trong Đáp từ tại buổi chiêu đãi của Chủ tịch G.Biđôn ở Paris (2 – 7 – 1946), Hồ Chí Minh nói: “Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán

dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”(nghĩa là điều mà

mình không muốn thì đừng làm cho người khác)” [76, tr 304] Khi Trả lời phỏng

vấn ông L.Hanxen, Chủ bút hãng U.P của Mỹ ở Châu Á (12 – 1955), Người khẳng

định: “Trong chính sách đối ngoại, triết lý hướng dẫn chúng tôi là sự thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hòa bình Về chính sách nội trị, triết lý hướng dẫn chúng

tôi là sự thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ để thực hiện thống nhất đất nước chúng tôi” [82, tr 228] Như vậy, có thể thấy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, triết lý là những tư tưởng có tác dụng chỉ đạo cách ứng xử, cách hành động của con người trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó

Tóm lại, có thể hiểu, triết lý là những tư tưởng, những luận điểm, quan

điểm, phương châm, lý lẽ mang tính khái quát cao, cơ bản và cốt lõi về cuộc sống cũng như về những hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội, có vai trò định hướng trực tiếp đối với cuộc sống và những hoạt động rất đa dạng ấy Về mặt hình thức nó thường được thể hiện dưới dạng

những mệnh đề, những châm ngôn ngắn gọn, súc tích bao chứa ý nghĩa sâu xa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, xã hội và con người Tuy nó không thể hiện dưới hình thức một hệ thống chặt chẽ và có thể giải thích và vận dụng khác nhau, nhưng vai trò xã hội của nó thì rất rõ ràng

1.1.2 Triết lý chính trị và triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Kể từ khi ra đời, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, triết lý tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nó không chỉ tác động đến khoa học, văn học,

Trang 24

văn hóa nghệ thuật, kinh tế…mà còn có tác động đến quá trình chính trị Ăngghen đã từng nói, lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó Quá trình loài người tìm kiếm các phương thức xây dựng quyền lực chính trị, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu chính trị

là quá trình loài người xây dựng nên các tư tưởng chính trị, các học thuyết, lý thuyết về chính trị và về hoạt động chính trị; do đó, đó cũng chính là quá trình loài người, mà chính xác hơn, là các chủ thể chính trị xây dựng nên các học thuyết, các mô hình tổ chức, vận hành, hoạt động của các hệ thống chính trị; từ

đó hình thành các trường phái, các xu hướng chính trị trên cơ sở giai cấp, và do

đó, trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan, hệ tư tưởng mà phân hóa thành các thể chế chính trị, thể chế nhà nước và các hệ thống chính trị khác nhau

Hoạt động chính trị luôn luôn vô cùng phong phú, đa dạng, muôn màu sắc nhưng cái cốt lõi bên trong của đời sống chính trị là quy luật sinh thành, vận động

và phát triển nó Mỗi một thể chế chính trị, mỗi một cộng đồng dân tộc, quốc gia đều có mục tiêu chính trị riêng của mình, nhưng cái chung của chính trị là việc sử dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để thực hiện mục tiêu chính trị vì lợi ích của chủ thể chính trị, của đảng, của giai cấp, của quốc gia, dân tộc

Chủ thể đảng, nhà nước, quốc gia, dân tộc thực hiện lợi ích, lý tưởng, mục tiêu dân tộc, đó là chính trị quốc gia, dân tộc; lý tưởng, mục tiêu, lợi ích đó thống nhất, đồng thuận nhau, cũng có thể mâu thuẫn, xung đột nhau Điều đó làm cho đời sống chính trị diễn ra vô cùng phức tạp nhưng cũng hết sức sinh động Tham gia vào đời sống chính trị phức tạp đó, mỗi một chủ thể chính trị luôn đặt ra những vấn đề thể hiện mong muốn vươn tới những giá trị nhân văn: làm thế nào

để chính trị góp phần vào sự thịnh vượng của nhân loại? Cuộc sống tốt đẹp là gì

và làm sao để thực hiện được nó? Những nguyên tắc và giá trị nào cần được sử dụng để định hình và đánh giá các tổ chức chính trị? Ý nghĩa của bình đẳng, công

lý và tự do là gì? Khi suy ngẫm, đúc kết, tổng kết về những vấn đề đó, các chủ thể chính trị rút ra được những mệnh đề, những tư tưởng có ý nghĩa triết lý và xem đó là những nguyên tắc cư xử trong đời sống chính trị, phương châm của hoạt động chính trị Đó chính là triết lý chính trị và cũng thể hiện “chính trị luôn

Trang 25

luôn có triết lý chính trị nằm bên trong nó” [134, p 5] Triết lý chính trị luôn quan tâm đến tất cả những câu hỏi trên Triết lý chính trị “tập trung vào các vấn

đề cụ thể liên quan đến đời sống chính trị của chúng ta…xem xét các ý tưởng quan trọng về sự công bằng, công lý, quyền lợi của cá nhân và cộng đồng và làm thế nào để đạt được các giá trị đó” [143, p 2]

Có thể hiểu, triết lý chính trị là những tư tưởng, những quan niệm cốt lõi

thường được thể hiện dưới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích phản ánh được bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống chính trị của cá nhân và cộng đồng theo hướng khẳng định những niềm tin chính trị, những giá trị chính trị, những đạo lý chính trị, có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử chính trị, tư duy và hành vi chính trị của con người trong những hoàn cảnh chính trị cụ thể Nói cách khác, triết lý chính trị là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những phương châm, những định hướng cơ bản và cốt lõi về đời sống chính trị cũng như hoạt động giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của các chủ thể chính trị

Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động chính trị xuất sắc đồng thời cũng là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam “Là nhà tư tưởng, không thể không lấy

tư tưởng triết học làm điểm xuất phát cho hệ thống lý luận của mình Hệ tư tưởng với tư duy triết học của một nhà tư tưởng gắn với nhau như hình với bóng Không có nhà tư tưởng nào lại không có hệ tư tưởng triết học của riêng mình Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ” [69, tr 479]

Là một nhà chính trị thực hành, trong bối cảnh văn hóa chính trị đặc thù, Hồ Chí Minh hiếm khi bàn về những vấn đề trừu tượng như duy tâm và duy vật, biện chứng và siêu hình, khả tri hay bất khả tri Người cũng không để lại những tác phẩm chuyên bàn về triết lý chính trị Nhưng không thể nói rằng, toàn bộ hệ thống lý luận của Hồ Chí Minh lại không in đậm nét dấu ấn của quan điểm duy vật triết học một cách triệt để, lại không xuyên suốt phép biện chứng duy vật từ đầu đến cuối, lại không đề cao thực tiễn và tính quy luật khách quan của đời sống

xã hội lên hàng đầu Giáo sư Trương Chính đã từng viết: “Riêng chúng tôi lúc

Trang 26

đầu có phân vân, bởi vì chúng tôi thường nhìn Người quá gần, chỉ thấy Người là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Đọc tác phẩm của Người, chúng tôi chăm chăm những chi tiết Tầm vóc của người vượt quá tầm nhìn của chúng tôi Có khi cũng

thấy nhưng chỉ thấy trong ánh hào quang…Đời của Người đúng là thiên huyền thoại của một vị hiền triết” [25, tr 151] Cũng hiểu theo hướng đó, giáo sư Trần

Văn Giàu khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một nhà cách mạng vĩ đại mà đồng thời là một nhà tư tưởng có triết lý vũ trụ và nhân sinh đặc sắc, có phong cách của một bậc hiền triết phương Đông” [27, tr 283]

Trên con đường bôn ba vạn dặm tìm chân lý, tham gia vào thực tiễn đời sống chính trị ở các nước khắp năm châu, bốn biển, cái mà Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là học thuyết, hệ tư tưởng nào hướng tới vấn đề đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, hướng tới xóa bỏ mọi áp bức bất công cho dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới Hồ Chí Minh cũng tiếp xúc với nhiều trường phái triết học chính trị khác nhau để rồi đến với triết học chính trị Mác – Lênin – nền tảng cốt lõi của học thuyết chính trị Mác-xít Từ phạm trù xuất phát của tư duy triết học, hướng tiếp cận mà Hồ Chí Minh chủ trương là hướng về con người, hướng về nhân dân, hướng về đồng bào bị đọa đày đau khổ Một khi coi con người, coi nhân dân là phạm trù xuất phát thì về nguyên tắc, quá trình tư duy triết học, tư duy chính trị của Người cũng gắn với nhân dân Và cũng chính quá trình suy tư đó mà Hồ Chí Minh đã hình thành nên cho mình triết lý chính trị sâu sắc – triết lý chính trị hướng tới giải phóng con người

Có thể hiểu, triết lý chính trị Hồ Chí Minh là những tư tưởng, những

quan niệm cô đọng, súc tích, cốt lõi nhất của Hồ Chí Minh về bản chất, giá trị, về chủ thể và quá trình giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển triết học chính trị Mác – xít vào điều kiện cụ thể chính trị Việt Nam, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa triết lý chính trị truyền thống dân tộc, triết lý chính trị phương Đông và triết học chính trị phương Tây nhằm hướng đến giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người; nó trở thành nguyên tắc, phương châm chỉ đạo tư duy và hành động chính trị của Người

Trang 27

1.2 Cơ sở lý luận hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Là một người “học trò nhỏ” của Lênin, bản thân Hồ Chí Minh luôn ghi nhớ lời chỉ dẫn của thầy: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được

những hiểu biết quý báu của đời trước để lại” [78, tr 357] Chính vì thế, Người đã

kế thừa và phát triển nhiều giá trị trong kho tàng triết lý chính trị dân tộc và nhân loại để xây dựng nên triết lý chính trị của mình Nhà nghiên cứu lịch sử người Đức Bernard Dahm đã từng thừa nhận: “Hồ Chí Minh biết khéo léo sử dụng một nền truyền thống văn hóa hồi sinh” [42, tr 448] Còn nhà sử học người Pháp Paul Mus

trong tác phẩm Ho Chi Minh Le Vietnam L’Asie cũng đã mô tả Hồ Chí Minh “là

một người đặc biệt châu Á, hiểu sâu sắc về Đông Á, nhưng rất nhạy bén tiếp thu tinh hoa của châu Âu, một người làm hãnh diện cho dân tộc mình, cho lịch sử và nền văn minh đã tạo ra mình” [42, tr 449] Đó là những đánh giá có tính chất khái quát và khoa học Nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh có thể thấy nhiều yếu tố: dân tộc và nhân loại hợp thành

1.2.1 Triết lý chính trị truyền thống Việt Nam

Trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, nền chính trị Việt Nam ra đời chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh ra đời của nhà nước đầu tiên Chính hoàn cảnh ra đời nhà nước đầu tiên này đã tạo ra những đặc điểm riêng biệt của chính trị Việt Nam so với các quốc gia khác trên thế giời, đồng thời nó cũng tác động mạnh mẽ đến triết lý chính trị truyền thống của dân tộc

Xuất phát từ những nét riêng biệt về địa lý, tự nhiên của Việt Nam, nhà nước đầu tiên ở Việt Nam ra đời trên cơ sở một xã hội chưa phân hóa sâu sắc mà xuất phát từ nhu cầu đoàn kết cộng đồng để đắp đê trị thủy và chống ngoại xâm nên trong nhà nước đó tính cộng đồng thể hiện nổi trội hơn tính giai cấp Quyền lực nhà nước ở Việt Nam không điển hình như các nhà nước phương Tây Các nhà nước nối tiếp nhau tồn tại trong lịch sử chính trị Việt Nam luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi đặc tính này Một quy luật định hình nền chính trị Việt Nam là lực lượng nào thành công trong việc lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm, làm thủy lợi chính là lực lượng nắm trong tay quyền lực chính trị, được suy tôn Do đó, đặc điểm nổi bật của chính trị Việt Nam, ý thức chính trị của cộng đồng dân tộc

Trang 28

Việt Nam là ý thức về cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái Với

người Việt Nam, Tổ quốc cao hơn tất cả

Đặc điểm nổi bật này đã xuyên suốt chiều dài lịch sử chính trị dân tộc Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”, và “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc Vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [79, tr 38] Hồ Chí Minh luôn “ghi nhớ những công lao” của các vị anh hùng đi trước Người tắm mình trong dòng chảy của lịch sử chính trị dân tộc

để rồi tìm ra những triết lý chính trị sâu sắc

Lịch sử chính trị Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đặc biệt có một không hai trong lịch sử thế giới Người Việt bị mất độc lập chủ quyền và phải sống dưới ách cai trị của chính quyền ngoại bang hơn 10 thế kỷ Không có dân tộc nào có lịch sử đấu tranh giành độc lập lâu dài và bền bỉ như dân tộc Việt Nam Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, theo cách nhìn của người Việt, chính quyền được xem là vấn đề chủ quyền quốc gia Khi ở trong tay ngoại bang, nó là công cụ nô dịch, áp bức dân tộc Cho nên, mục tiêu của tất cả các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong thời kỳ này đều hướng đến việc giành chính quyền về tay người Việt

Trải qua thời kỳ dài với một hoàn cảnh lịch sử như vậy, trong tâm thức của mỗi người Việt Nam hình thành một cách nhìn nhận về chính quyền quốc gia theo kiểu rất riêng biệt: hoặc đó là của ta, hoặc đó là của địch Ý chí đánh đuổi giặc ngoại xâm luôn gắn liền với ý thức giành chính quyền trong tư duy chính trị của người Việt Từ rất sớm, trong bài Hịch đánh đuổi Tô Định, Hai Bà Trưng với hoài bão lớn khôi phục chế độ Hùng Vương, xây dựng lại đất nước, đã nêu rõ:

“Thù nước phải báo, vung cánh tay, kéo bật mạnh dây cung Giặc nước phải trừ,

Trang 29

rửa lưỡi kiếm, nước Ngân Hà múc cạn Nghiệp lớn đến lúc dựng lại Vườn nhà đến lúc lặng yên” [48, tr 26-27] Hay lời khẳng khái của Bà Triệu: “Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng giữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ, há chịu cúi đầu làm tỳ thiếp người ta ư?” [48, tr 30] Có thể thấy, ngay từ Bà Trưng, Bà Triệu đã khẳng định một triết lý chính trị sâu sắc: chỉ có “thù nước phải báo”, “giặc nước phải trừ” thì mới “cởi ách nô lệ” – giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi họa ngoại xâm Đây cũng là biểu hiện

rõ nét về tinh thần độc lập dân tộc, về ý thức dân tộc của người dân Việt Tinh thần này đã nhập thân vào các nhà nước phong kiến độc lập trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo để rồi hình thành nên dòng mạch chủ nghĩa yêu nước Việt Nam sâu sắc Trải qua biến thiên của lịch sử, chủ nghĩa yêu nước vẫn luôn trường tồn với dân tộc Việt Nam Nó đi vào triết lý chính trị Hồ Chí Minh một cách tự nhiên

để rồi chính Hồ Chí Minh lại phát triển nó lên một tầm cao mới Trong Thư gửi

các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô, Hồ Chí Minh đã nói lên sự trao truyền của chủ

nghĩa yêu nước từ truyền thống đến các thế hệ mai sau: “Các em là đội cảm tử Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn

tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau” [77, tr 41] Và chính Người cũng đã nói: “lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc

tế thứ ba” [84, tr 563]

Từ thế kỷ X, dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập Các triều đại phong kiến khác nhau đã kế tiếp nhau trị vì đất nước Các vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê

là những triều đại đầu tiên lãnh đạo cư dân Việt bắt tay vào xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc vừa mới giành được độc lập Tuy tồn tại trong thời gian ngắn nhưng cả

ba triều đại này đều thể hiện ý chí giành và bảo vệ chủ quyền đất nước Những vị vua sáng nghiệp đều là những người vũ dũng, bằng thanh gươm yên ngựa chống thù ngoài dẹp loạn trong Đây là thời kỳ các ông vua mới với vóc dáng của thủ

Trang 30

lĩnh xuất sắc tự trị trên mảnh đất của mình, chống lại các nguy cơ xâm lược từ phương Bắc Tuy nhiên, thực tiễn chính trị lúc bấy giờ đã thể hiển rõ những ông vua Đinh – Lê cai trị một cách khá tùy hứng và chưa thấy ở họ vóc dáng của một

vị Hoàng đế một triều đình với điển chế hoàn bị, tức vóc dáng của một chế độ phong kiến chuyên chế mới bắt đầu trên chặng đường hình thành lâu dài quanh

co Sứ mệnh giành được độc lập dân tộc của ba triều đại đầu tiên Ngô – Đinh – Tiền Lê đã hoàn thành Nhưng độc lập đã giành được phải đơm hoa kết trái, dân tộc còn phải tự lực, tự cường và bước vào thời kỳ trưởng thành, đủ sức để đối đầu với những thử thách lớn tiếp theo Và vương triều Lý với vị vua sáng lập Lý Công Uẩn đã đảm đương nhiệm vụ đó của lịch sử Triều Lý nắm quyền trị nước trong tâm thế kiến tạo, mọi việc còn đều ở phía trước Từ tư tưởng cho đến công việc thực tế mà các vua Lý đã làm đều là những công việc sáng nghiệp Triều Lý

đã lập quy mô của Đại Việt về nhiều phương diện; từ chủ quyền lãnh thổ, mô

hình chính trị, ngôi vua (kiến cực), định đô, định điểm chế hiến chương, các quan

hệ đối ngoại với lân bang, lựa chọn hệ tư tưởng chủ đạo Một thể chế phong

kiến đến đây mới thực sự được kiến lập Tâm thế lập quốc của triều Lý được

khởi đầu từ Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn để rồi được khẳng định vững chắc trong bài thơ thần Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt Trong Chiếu dời đô,

Lý Công Uẩn đã thể hiện ý thức gắn liền việc dời đô với việc dựng nước Mà dựng nước cũng chính là nhằm củng cố và duy trì nền độc lập mà dân tộc vừa giành được “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nước lâu dài phong tục phồn thịnh Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình khinh thường mệnh trời, không theo dấu cũ của Thương Chu, cứ đóng yêu đô thành ở nơi đây khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủ, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi Trẫm rất đau xót về việc đó không thể không dời đổi” [127, tr 229-230] Qua mấy câu ngắn gọn này, Lý Công Uẩn đã nói lên nguyện vọng xây dựng một quốc gia độc lập giàu mạnh, một vương triều bền vững, một nhà nước phong kiến tập quyền mạnh mẽ Đây cũng chính là nguyện vọng của toàn thể dân tộc Nhân dân

Trang 31

Đại Việt muốn xây dựng cho riêng mình một đất nước hùng cường dưới sự trị vì của một vị vua anh minh Mong muốn đó như một quy luật và được thể hiện rõ trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [127, tr 321]

Ở đây đã khẳng định một chân lý: bất kỳ ai xâm phạm đến nền độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam đều sẽ bị đánh tơi bời Có thể nói, toát lên toàn bộ nền chính trị thời Lý chính là tâm thế lập quốc và sự trưởng thành về ý thức dân tộc của cư dân Đại Việt Tâm thế lập quốc và triết lý về độc lập dân tộc xuyên

suốt nền chính trị triều Lý như được Hồ Chí Minh tái hiện trong Tuyên ngôn độc

lập 1945: Dân tộc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập Và sự thật đã

thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vừng quyền tự do độc lập ấy Đến thời Trần, trên cơ sở những thắng lợi huy hoàng trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, ý thức về sự vững vàng của nền độc lập tự chủ của đất nước và sức sống dân tộc trường tồn của nước Việt được phát triển hơn, sâu sắc hơn như mấy dòng cảm xúc của Trần Nhân Tông khi ông làm lễ hiến phù ở Chiêu Lăng: “Xã tắc hai phen phiền ngựa đá Non song nghìn thuở vững âu

vàng” Nhưng triết lý chính trị xuyên suốt nền chính trị triều Trần là: khoan thư

sức dân là thượng sách để giữ nước Tư tưởng lấy dân là gốc không phải đến

triều Trần mới xuất hiện Nhưng do hoàn cảnh lịch sử nhiều lần phải đối mặt với thế lực ngoại xâm mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, “khoan thư sức dân” như một quy luật cho sự tồn vong của nền chính trị, tồn vong của dân tộc lúc đó Người khởi xướng triết lý chính trị sâu sắc này chính là Trần Hưng Đạo Năm 1300, khi trả lời câu hỏi của Trần Anh Tông: “Chẳng may chết, giặc Bắc lại xâm lấn thì làm thế nào?”, Trần Hưng Đạo đã nêu ra những nhận định có tính chất tổng kết kinh nghiệm, rồi vạch ra quy luật của những cuộc chiến tranh giữ nước suốt thời Bắc thuộc cho đến cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông: “khoan thư sức dân

Trang 32

để làm kế sâu gốc bền rễ, là thượng sách để giữ nước” [128, tr 397] Trần Hưng Đạo nhận thấy ở dân tiềm lực to lớn về kinh tế, quân sự, bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự chủ và chủ quyền của đất nước Ông chủ trương dựa vào dân để đánh giặc giữ nước, làm cho mỗi người dân thành một chiến sĩ tham gia vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Muốn thế phải thực hiện được sự đoàn kết toàn dân, đúng như Trần Hưng Đạo đã nói: “lòng dân không chịu”, “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc tự bị bắt” Để có được sự đoàn kết

ấy, để huy động được sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân vào công cuộc giữ nước thì phải thi hành chính sách “khoan thư sức dân” Chăm lo đời sống nhân dân, quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân được xem là việc hệ trọng nhất của việc trị nước thời Trần Chính thực hiện tốt chính sách “khoan thư sức dân” mà quân dân nhà Trần đã tạo nên khí thế “Sát Thát”, hào khí Đông A của nước Đại Việt Các triều đại tiếp sau nhà Trần như Lê Thánh Tông, Minh Mệnh… vẫn thực hiện chính sách khoan thư sức dân, đoàn kết toàn dân như một

kế sách giữ nước sâu bền để rồi hình thành nên dòng mạch tư tưởng chính trị “dĩ dân vi bản”, đoàn kết toàn dân của dân tộc Tiếp thu và phát triển sâu sắc triết lý

“dĩ dân vi bản”, Hồ Chí Minh luôn xem nhân dân là động lực của lịch sử, là lực lượng vô địch, là nguồn sáng tạo vô tận Với Người, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [82, tr 453] Chính từ đó, Người luôn khẳng định triết lý: “Nước lấy dân làm gốc” [77, tr 501] và “Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [77, tr 502]

Sang thời kỳ Lê sơ, sau 10 năm gian khổ giành lại độc lập dân tộc, một nền chính trị mới được thiết lập trên nền tảng triết lý chính trị nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông Với Nguyễn Trãi, trước hết “nhân nghĩa cốt ở an dân” [126, tr 77], là “quân điếu phạt trước lo trừ bạo”, là “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”, là “đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân” [126, tr 153] Nhân nghĩa như vậy chính là yêu nước, thương dân, trừ bạo cứu nước, an dân, trong đó “an dân” là mục đích của nhân nghĩa, “trừ bạo” là đối tượng là phương tiện của nhân nghĩa Người nhân

Trang 33

nghĩa phải đấu tranh sao cho “hợp trời, thuận người”, cho nên có thể lấy “yếu chống mạnh”, lấy “ít địch nhiều”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn lấy chí nhân thay cường bào” [126, tr 79] Nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi còn là đất nước thái bình, nhân dân no đủ, trên thì vua thánh tôi hiền, dưới thì trăm họ yên vui Ông khẳng định: “Lòng thánh muốn cho nhân dân nghỉ ngơi, văn trị cuối cùng phải đưa đến thái bình” Để mang đến thái bình, Nguyễn Trãi chủ trương “hòa”, nghĩa là câng bằng, hài hòa lợi ích: “Kể ra, thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn Nay đúng

là lúc nên làm lễ nhạc Song không có gốc thì không đứng được, không có văn thì không hành được Hòa là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc Thần vâng chiếu làm nhạc, không dám không làm hết sức, nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật, khó được hài hòa Xin bệ hạ yêu nuôi dân chúng,

để cho khắp làng mạc không có tiếng oán giận than sầu, đó là không mất cái gốc của nhạc vậy” [126, tr 113] Nền chính trị “yêu nuôi dân chúng” mà Nguyễn Trãi muốn xây dựng được Lê Thánh Tông thực hiện trong thực tiễn Với triết lý

“hiếu trị ngời ngời trăm họ yên”, Lê Thánh Tông đã xác định mục đích và việc làm của đạo làm vua rằng: “Đạo làm vua rất lớn, phải nghiên cứu rất tinh tường, dưới thì thương yêu dân chúng, trên thì kính trời Trị dân, giữ nước, phải suy nghĩ các kinh nghiệm trước, giữ lòng trong sạch, ít ham muốn, bỏ trò vui chơi Tìm người hiền tài, phát huy văn chương, đức độ, chăm lo võ bị, tôn trọng các tướng súy Đuốc sáng soi nơi nơi, biết tình cảnh dân rét hay ấm, miền xuôi miền ngược đều vui hưởng thái bình” [30, tr 298] Ông thực hiện nền chính trị nhân nghĩa gắn liền với việc giảm nhẹ tô thuế cho dân, làm cho dân no ấm: “Để dân được no ấm, cần bớt sự trưng thuế và cung ứng” Lê Thánh Tông cho rằng lòng

“nhân” như chiếc quạt sẽ mang lại ngọn gió mát cho dân chúng, và làm được như thế vua đã thực hành “nhân” rồi: “Khi cái nóng hừng hực đương lan tràn, ấy là lúc tháng hè dằng dặc; Nhưng trong tay ta đã có làn gió mát vô hạn; Vì bằng giải

oi nồng được cho hết thảy dân ta, Ấy là lúc “gió nhân” trong bốn bể nổi lên rộng khắp” [30, tr 829] Triết lý chính trị nhân nghĩa xuyên suốt triều đại Lê sơ mà đặc biệt từ tư tưởng Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông được Hồ Chí Minh tiếp thu

và phát triển lên tầm cao mới Hồ Chí Minh quan tâm hết thảy mọi công việc có

Trang 34

liên quan đến con người, từ đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công đến những việc hàng ngày như cái ăn, cái mặc, sự học hành của dân Người nói: “chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”, và “Dân không đủ muối, Đảng phải lo Dân không có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo Các cháu bé không có trường học, Đảng phải lo Tôi lo chuyện này lắm: các cháu mắt choẹt, da bủng Tất cả mọi việc, Đảng phải lo Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đấu tranh giành thống nhất nước nhà, Đảng phải lo Ngay đến cả tương, cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo” [85, tr 272]

Tựu chung có thể thấy, Hồ Chí Minh đã tìm trong dòng chảy lịch sử chính trị dân tộc để rút ra những triết lý chính trị truyền thống Việt Nam sâu sắc Từ khát khao giành độc lập dân tộc thời Bà Trưng, Bà Triệu, ý chí giành và giữ vững độc lập dân tộc thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, tâm thế lập quốc và khẳng định chủ quyền đất nước của triều Lý, đến triết lý “khoan thư sức dân” để đoàn kết dân tộc của triều Trần và triết lý chính trị “nhân nghĩa” triều Lê sơ Chính những yếu tố này là cơ sở lý luận quan trọng để hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh

1.2.2 Triết lý chính trị phương Đông

Hồ Chí Minh đã từng nói: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả…Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách phù hợp với điều kiện nước ta”, Đức Phật Thích Ca là “đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn” Và Người “cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” [23, tr 54] Hồ Chí Minh luôn có ý thức tìm hiểu, tiếp thu các giá trị triết lý của nhân loại để phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc Ở đây, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số giá trị trong triết lý chính trị phương Đông có ảnh hưởng nhiều và rõ nét nhất đến sự hình thành triết lý chính trị Hồ Chí Minh

Trang 35

Triết lý chính trị của Khổng giáo

Ngay từ thủa ấu thơ – tuổi của sự hình thành nhân cách, Hồ Chí Minh đã được học chữ Hán với những nhà Nho yêu nước, đã tiếp thu triết lý và đạo đức Khổng – Mạnh qua những sách kinh điển của Nho gia Khi trả lời phỏng vấn nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam, Người đã nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam Những gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải làm việc

gì Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo” [71, tr 275] Những kiến thức Hán học, đăc biệt là triết lý chính trị mà Hồ Chí Minh tiếp thu được từ nhỏ đã ăn sâu vào trí nhớ, để lại những dấu ấn sâu sắc về tư tưởng, tình cảm trong sự hình thành triết lý chính trị của Người

Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến Khổng Tử và Mạnh Tử Ngoài những bài

viết chuyên sâu về Khổng Tử như bài Khổng Tử tháng 2 năm 1927, Hồ Chí Minh

đã 21 lần nhắc đến Khổng Tử và 6 lần nhắc đến Mạnh Tử trong các bài viết, bài nói của mình

Khổng giáo với người khởi xướng là Khổng Tử luôn có tính cách chính trị rõ rệt Xét Tứ thư và Ngũ kinh – những tác phẩm kinh điển của hệ tư tưởng Nho gia, đều thấy bộ nào cũng bàn về chính trị Ngay cả trong Kinh Thi, một tập ca dao, mà ý tưởng chính trị cũng tiềm tàng Đến đạo đức, theo Khổng giáo, cũng

có mục đích chính trị, như trong câu: “Đạo người thì chính trị là lớn” (Lễ ký – Ai Công vấn) Chính vì quan niệm này, các Nho gia đều hướng đến con đường làm chính trị: Khổng Tử bôn ba trong vòng 13 năm chu du các nước, tìm đấng minh quân; Mạnh Tử cũng đi khắp Tề, Lương, Tống, đem tài hùng biện thuyết phục các vua Như vậy có thể thấy Khổng giáo là một triết lý chính trị [58, tr 713] Điểm cốt lõi của triết lý chính trị Khổng – Mạnh là tập trung ở chữ Nhân, lấy con người làm trung tâm và chủ thể của mọi hoạt động chính trị - một tư tưởng nhân bản Khổng Tử nói: “con người có thể phát dương đạo, chứ không phải là đạo phát dương cho con người”

Nhân là hạt nhân của tư tưởng Khổng Tử Nhìn từ góc độ triết lý chính trị,

chữ “nhân” mà Khổng Tử nói là suy từ lòng yêu thương chính mình ra yêu thương mọi người và hiệu quả của nhân bắt đầu từ tình cảm chủ quan, kết thúc ở

Trang 36

hành động khách quan Theo Khổng Tử, toàn bộ đời sống chính trị xã hội là nơi thể hiện đức nhân Nhân phải được bồi dưỡng trước tiên ở lòng nhân chủ quan, rồi mới tùy theo năng lực của mỗi người mà mở rộng từ gần đến xa trong hoạt động thực tế khách quan, bắt đầu từ sự hiếu đễ trong gia đình, kết thúc ở thi hành rộng rãi khắp dân chúng, cả thiên hạ đều quay về đức nhân Sách Đại học viết:

“tu thân rồi thì trong nhà mới tề, nhà tề rồi thì sau đó nước mới được sửa trị, nước được sửa trị rồi thì thiên hạ mới thái bình” [41, tr 11-12], đã chỉ rõ trình tự phát triển, mở rộng lòng nhân và hành động nhân Cho nên, đứng trên phương diện tu dưỡng thì nhân là đạo đức riêng của con người, đứng trên phương diện thực tiễn thì nhân lại trở thành nguyên tắc luân lý, nguyên tắc chính trị Khổng

Tử đã thực sự gộp các phương diện tu dưỡng đạo đức, nhân luân, chính trị vào

làm một trong phạm trù nhân, xuyên suốt mọi đối tượng từ con người đến gia

đình, quốc gia

Xuất phát từ con người, lấy con người làm gốc, làm trung tâm, lại sống trong bối cảnh xã hội loạn lạc, chiến tranh liên miên, Khổng Tử mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho con người - đó là xã hội đại đồng Nền chính trị đại đồng là “lý tưởng cuối cùng của triết học chính trị Khổng Tử” [6, tr 239] Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Khổng giáo không phải

là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng”” [71, tr 275]

Trong Kinh Lễ, chương Lễ vận, Khổng Tử đã nêu rõ quan niệm về xã hội đại

đồng: “Đạo lớn được thi hành, cả thiên hạ đều là của công, tuyển chọn người hiền có tài năng, nói điều tín nghĩa hòa mục, cho nên người ta không chỉ lo người thân của mình, không chỉ lo con cái của mình Xã hội như vậy đủ khiến cho người già được chết yên lành và người khỏe mạnh có chỗ dùng tới, xã hội như vậy khiến cho trẻ nhỏ được yên vui lớn lên Xã hội như vậy kính trọng người cô quả bơ vơ, bệnh tật và nuôi dưỡng họ Đàn ông nào cũng có chức phận, đàn bà nào cũng có chồng, của cải không bị phung phí mà cũng chẳng cần cất dấu Sức mạnh không cần đem ra khoe mà cũng chẳng vì mình Cho nên xã hội như thế không cần dùng trí mưu lược mà bọn đạo tặc trộm cắp không nổi lên được, cho

Trang 37

nên cửa ngoài không cần đóng Đó là Xã hội đại đồng” [Trích theo 53, tr 62] Khi nhắc đến xã hội đại đồng của Khổng Tử, Lương Khải Siêu đã đánh giá:

“Tượng trưng của nền chính trị lý tưởng là “khắp nơi vang tiếng đàn ca” Cái gọi

là “ngăn điều ác ngay từ khi nó chưa nhú mầm, khởi đức kính ngay từ chỗ tế vi”, hay là “hay đổi phong tục tốt đẹp vui hòa” là xuất phát điểm duy nhất của chính trị nhà Nho, đó cũng là điểm đích duy nhất” [6, tr 134]

Để đến được xã hội đại đồng đó, Khổng Tử chủ trương thân giáo và tu thân

Khi Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử về chính trị rằng: nếu giết kẻ vô đạo để thành tựu người hữu đạo thì như thế nào? Khổng Tử nói: “ông làm chính trị hà tất phải chém giết? ông muốn điều thiện thì dân sẽ làm điều thiện Đức của người quân tử như gió, đức của kẻ tiểu nhân như cỏ, gió thổi thì gió rạp xuống” [41, tr 357] Chính trị được nói ở đây đều chú trọng đến sự cảm hóa nhân cách bằng cách lấy điều nhân của bản thân làm gương Cái gốc của chính trị là ở tu thân Trong Đại học cũng có nói: “từ thiên tử đến thứ dân, hết thảy đều lấy tu thân làm gốc Không có chuyện gốc loạn mà ngọn yên” Coi dân là tính khách quan để dẫn phát

Có thể nói “nếu mô hình xã hội đại đồng là sự hiện thực hóa lực lượng bản chất Người, tức là “nhân” thì xã hội ấy chỉ có thể được hiện thực hóa dựa trên sự

Trang 38

nỗ lực của những con người hiện thực, không phải con người bất kỳ, mà là những con người đã được cải tạo để trở thành hiện thân của đạo “nhân”” [53, tr 64]

Dòng mạch xuyên suốt của triết lý chính trị Khổng giáo chính là xuất phát từ con người, lấy việc hành động cải tạo con người bằng phương pháp tu thân làm gốc để xây dựng, cải tạo chính trị, cải tạo xã hội Đây chính là điều nâng

Đạo Khổng lên tầm cao của chủ nghĩa nhân bản

Hồ Chí Minh đã đánh giá cao và tiếp thu dòng mạch đó của triết lý chính trị Khổng giáo Hồ Chí Minh xuất phát từ con người, đặt con người, nhân dân vào trung tâm của cách mạng Người bắt đầu từ lòng ham muốn tột bậc “nước nhà hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng

được học hành” để rồi kết thúc trong Di chúc thiêng liêng cũng luôn đau đáu

“việc đầu tiên là đối với con người” Hồ Chí Minh luôn đấu tranh xây dựng một

xã hội tốt đẹp như xã hội đại đồng của Khổng Tử vậy Với Người, “thế giới đại đồng” là mục tiêu, lý tưởng chính trị của những người cộng sản Khi giới thiệu về

Cách mạng Nga, trong Đường Kách Mệnh, Người viết: “Đảng Cộng sản cầm

quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng” [74, tr 304] Để hướng đến một xã hội tốt đẹp, để xây dựng một chế độ xã hội mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đề cao tư tưởng “tu thân” để “bình thiên hạ” Trong bài nói tại lớp chỉnh Đảng năm 1953, Người đã nhấn mạnh: “Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu; có thế mới “trị quốc bình thiên hạ” được Trị quốc bình thiên hạ đây tức là ta kháng chiến đánh Pháp, kiến quốc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ hòa bình thế giới Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội Lòng mình còn tham ô, lãng phí, muốn cải tạo xã hội làm sao được” [80, tr 113]

Tiếp thu, học hỏi quan điểm hạt nhân của triết lý chính trị Khổng giáo, nhưng

Hồ Chí Minh cũng nhận rõ những hạn chế của di sản tư tưởng đó Người viết:

“…cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các

Trang 39

dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc của Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng Đạo đức của ông là hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp với các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào để đậy kín được cái hộp vuông” [74, tr 562] Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong

đó thì chúng ta nên học” [78, tr 356]

Triết lý chính trị của M Gandhi

Ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến cách mạng Ấn Độ và triết

lý chính trị của Gandhi Người đánh giá cao cuộc đời cách mạng và tư tưởng của ông: “Mahatma Găngđi đã đặt viên đá đầu tiên để dựng lên thuyết bất hợp tác và bất bạo động” [73, tr 59] Hồ Chí Minh đã 15 lần nhắc đến Gandhi trong các bài nói, bài viết của mình

Gandhi là một lãnh tụ yêu nước, là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết nhân dân Ấn Độ vào mặt trận đấu tranh cho độc lập, tự do của đất nước Suốt cuộc đời Gandhi luôn đấu tranh cho một đất nước Ấn Độ mà ông “mơ ước”, ở đó “người nghèo sẽ cảm thấy nó là đất nước của họ, trong đó họ có tiếng nói hữu hiệu, một nước Ấn Độ trong đó không có người cao quý, kẻ tiện dân, một Ấn Độ trong đó tất cả mọi cộng đồng sẽ sống trong sự hài hòa, êm đẹp Có thể trong một nước

Ấn Độ như vậy không có tầng lớp người bị nguyền rủa hoặc có tai họa bị đầu độc bởi rượu và ma túy Phụ nữ có quyền lợi như người đàn ông” [68, tr 244] Và

ông khẳng định một triết lý chính trị sâu sắc trong tác phẩm Harijan của mình

rằng: đất nước đó “phải là một sản phẩm của sự tự do lựa chọn của tất cả mọi người dân Ấn Độ” [131, p 124]

Để xây dựng được xã hội tốt đẹp đó, mục tiêu đấu tranh của Gandhi là giải phóng dân tộc Ông nêu lên triết lý “chúng ta sẵn sàng chết hơn là sống trong chế

độ nô lệ” [140, p 136] và cho rằng, giải phóng dân tộc là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của toàn thể xã hội: “Một dân tộc bị đói rét một nửa không thể có tôn giáo, hay nghệ thuật, hay tổ chức” [68, tr 245] Với Gandhi, độc lập, tự do của dân tộc luôn phải gắn liền với cuộc sống ấm no, hạnh phúc của

Trang 40

nhân dân: “bất cứ gì có thể có ích cho hàng triệu con người đang chết đói, tôi thấy là đẹp Chúng ta hãy trước tiên đem lại những cái gì sống động cho cuộc sống, rồi mọi thứ trang hoàng duyên dáng khác của đời sống sẽ theo đó mà nẩy sinh…” [68, tr 245]

Để giải phóng dân tộc, Gandhi chủ trương phải đoàn kết dân tộc và đấu tranh theo con đường bất bạo động Trong một đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo, mà mối quan hệ dân tộc, tôn giáo lại rất căng thẳng do chính sách phản động của thực dân Anh, Găngđi luôn nêu cao tư tưởng đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc

và khẳng định văn hóa Ấn Độ là nền văn hóa hài hòa giữa các tôn giáo trong lòng dân tộc Ông nói: “Tôi chưa bao giờ nghe nói rằng có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu tôn giáo trên trái đất Nếu có, theo đó, một con người thay đổi quốc tịch khi người đó thay đổi đức tin của mình Do đó [theo logic này], người Anh,

Ai Cập, Mỹ, Nhật Bản, v.v không phải là các dân tộc, nhưng người theo Hồi giáo, Parsis, Hindu, Công giáo, Do Thái, Phật giáo là các dân tộc khác nhau bất

kể họ sinh ra ở đâu Tôi sợ rằng, logic [của cuộc tranh luận đang được bảo vệ] là rất yếu trong đảm bảo rằng các dân tộc hay là nên được chia theo tôn giáo của họ” [131, p 119-120] Với Găngđi, đoàn kết tôn giáo không chỉ là mục tiêu mà còn là phương thức để xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Ấn Độ

Ông chủ trương con đường đấu tranh bất bạo động Trên báo Young India ngày

17/7/1924, Gandhi viết: “Tôi không tin rằng bạo lực là con đường tắt dẫn đến thành công…Tuy nhiên dù tôi có thể đồng cảm và ngưỡng mộ những động cơ xứng đáng, tôi vẫn là người kiên quyết phản đối các biện pháp bạo lực ngay cả khi nó phục vụ những sự nghiệp cao thượng Vì thế, sẽ không có điểm chung nào giữa trường phái bạo lực và tôi Tín điều của tôi về bất bạo lực không những không ngăn tôi, mà buộc tôi phải liên kết với những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và tất cả những ai tin vào bạo lực Sự hợp tác đó luôn luôn có chỉ một mục đích là khiến họ dứt bỏ khỏi những gì với tôi là lỗi lầm của họ Kinh nghiệm cho tôi biết rằng những điều tốt vững bền không bao giờ có thể kết quả từ lừa dối

và bạo lực Ngay cả khi niềm tin của tôi là một ảo tưởng ngây thơ, thì đó cũng vẫn được nhìn nhận là ảo tưởng kỳ diệu” [118, tr 229] Đặc biệt, ông gắn liền bất

Ngày đăng: 18/04/2016, 11:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (ĐCB) (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (ĐCB)
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2003
2. Phạm Ngọc Anh (2009), Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2009
3. Phạm Ngọc Anh (CB) (2012), Phát huy nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (CB)
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2012
4. Hoàng Chí Bảo (1998), “Tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Thông tin lý luận, 5, tr. 10 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, "Thông tin lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1998
5. Hoàng Chí Bảo (2011), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb. CT- HC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. CT-HC
Năm: 2011
6. Tào Thƣợng Bân (2005), Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần, Nxb. ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần
Tác giả: Tào Thƣợng Bân
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 2005
7. Phạm Văn Bính (CB) (2007), Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Bính (CB)
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2007
8. G. Le Bon (2007), Tâm lý học đám đông, Nxb. Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đám đông
Tác giả: G. Le Bon
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Nxb. CTQG. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. CTQG. HN
Năm: 2006
10. Doãn Chính (CB) (2011), Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX
Tác giả: Doãn Chính (CB)
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2011
11. Doãn Chính (CB) (2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính (CB)
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2013
12. Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2004
13. Lương Minh Cừ, Nguyễn Tấn Hưng (2013), Nguyễn Ái Quốc – Từ lý luận đến thực tiễn cách mạng Việt Nam, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ái Quốc – Từ lý luận đến thực tiễn cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lương Minh Cừ, Nguyễn Tấn Hưng
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2013
14. Thành Duy (2010), Một số vấn đề về triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. KHXH. Hà Nội
Năm: 2010
15. Thành Duy (2010), Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam, Nxb. KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. KHXH. Hà Nội
Năm: 2010
16. Nguyễn Đăng Dung (CB) (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, Nxb. ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (CB)
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 2007
17. Nguyễn Sĩ Dũng (2004), Thần linh pháp quyền/ In trong: Một góc nhìn của trí thức, tập 4, Nxb. Trẻ, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần linh pháp quyền"/ In trong: "Một góc nhìn của trí thức, tập 4
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2004
18. Nguyễn Đức Đạt (2005), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh. Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Đạt
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2005
19. Phạm Văn Đồng (1998), Những nhận thức cơ bản về Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhận thức cơ bản về Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1998
20. Phạm Văn Đồng (2012), Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách của dân tộc
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm