1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HƯỚNG DẪN NGỮ VĂN LỚP 7

316 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 316
Dung lượng 17,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

– Làm việc cả lớp : Trong mỗi hoạt động học, sau khi học sinh làm việc cá nhân, cặp đôi, nhóm, giáo viên tổ chức làm việc chung cả lớp để học sinh được trình bày, thảo luận về kết quả th

Trang 1

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN

MÔN

7

NGỮ VĂN

LỚP

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC

(Tái bản lần thứ nhất

cĩ chỉnh lí, bổ sung)

NXBGDVN

Trang 2

NXBGDVN

Trang 3

MỞ ĐẦU

Mô hình trường học mới thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành Nội dung các bài học theo mô hình trường học mới được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, đồng thời phù hợp với việc thực hiện các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học sinh

Tiến trình bài học trong mô hình trường học mới được thiết

kế thành các hoạt động học theo tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học tích cực như : dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tìm tòi nghiên cứu, phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn… Tuy có những điểm khác nhau nhưng tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học tích cực đều tuân theo con đường nhận thức chung là : từ vấn đề cần giải quyết – học sinh phải học kiến thức mới, kĩ năng mới để giải quyết vấn đề – vận dụng, mở rộng kiến thức, kĩ năng mới vào thực tiễn Vì vậy, mỗi bài học trong mô hình trường học mới đều được thiết kế theo 5 hoạt động : Khởi động, Hình thành kiến thức, Luyện tập, Vận dụng, Tìm tòi mở rộng Giáo viên cần hiểu đúng bản chất của từng hoạt động trong mỗi bài học, trong

đó hoạt động cốt lõi là “Hình thành kiến thức” và “Luyện tập” để đảm bảo cho tất cả học sinh phải học được kiến thức mới, luyện được kĩ năng mới theo mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ

NXBGDVN

Trang 4

Hoạt động khởi động nhằm tạo tâm thế học tập cho học sinh, giúp học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú học bài mới Giáo viên sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của bản thân học sinh có liên quan đến

vấn đề xuất hiện trong sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 ; làm bộc

lộ “cái” học sinh đã biết, giúp học sinh bộc lộ quan niệm của mình

về vấn đề sắp học để nhận ra “cái” chưa biết và muốn biết Vì vậy, các câu hỏi/ nhiệm vụ trong hoạt động khởi động là những câu hỏi/ vấn đề mở, không cần và không thể có câu trả lời hoàn chỉnh Kết thúc hoạt động này, giáo viên không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp học sinh phát biểu được vấn đề để học sinh chuyển sang các hoạt động tiếp theo nhằm bổ sung những kiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn thiện câu trả lời hoặc giải quyết được vấn đề

Hoạt động hình thành kiến thức nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mới thông qua việc nghiên cứu tài liệu ; tiến hành thí nghiệm, thực hành ; hoạt động trải nghiệm sáng tạo Kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động học của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập mà học sinh/

nhóm học sinh hoàn thành, giáo viên cần chốt kiến thức mới để học sinh chính thức ghi nhận và vận dụng

Hoạt động luyện tập nhằm giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được thông qua yêu cầu áp dụng trực tiếp kiến thức vào giải quyết các câu hỏi/ bài tập/ tình huống/

vấn đề trong học tập Kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên

có thể lựa chọn những vấn đề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết các câu hỏi/ bài tập/ tình huống/ vấn đề để học sinh ghi nhận và vận dụng, trước hết là vận dụng để hoàn chỉnh câu trả lời/ giải quyết vấn đề đặt ra trong “Hoạt động khởi động”

Hoạt động vận dụng nhằm giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/ vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương Giáo viên cần gợi ý học sinh về những hoạt động, sự vật, hiện tượng cần quan sát trong cuộc sống hằng ngày, mô tả yêu cầu về sản phẩm

mà học sinh cần hoàn thành để học sinh quan tâm thực hiện

NXBGDVN

Trang 5

Hoạt động tìm tòi mở rộng nhằm tạo cho học sinh thói quen không bao giờ dừng lại với những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học, ham mê học tập suốt đời Giáo viên cần giúp học sinh tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau.

“Hoạt động vận dụng” và “Hoạt động tìm tòi mở rộng” không cần tổ chức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải thực hiện như nhau Giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham gia một cách tự nguyện ; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp.Mỗi hoạt động học của học sinh trong tiến trình trên phải được tổ chức một cách linh hoạt giữa hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm nhỏ và toàn lớp Không nên bố trí học sinh ngồi theo các nhóm cố định mà phải chia nhóm theo yêu cầu của hoạt động học Nghĩa là các nhóm học tập nói chung đều được hình thành một cách linh hoạt theo từng nội dung học tập Nếu là hoạt động cá nhân, cặp đôi và toàn lớp thì không cần và không nên

bố trí học sinh ngồi thành nhóm, nhất là trong điều kiện lớp học không cho phép Các hình thức làm việc trong nhóm được thay

đổi thường xuyên căn cứ vào yêu cầu của sách Hướng dẫn học

Ngữ văn 7 và việc thiết kế hoạt động của giáo viên Nhìn chung,

quy trình tổ chức mỗi hoạt động học như sau :– Làm việc cá nhân : Trước khi tham gia phối hợp với bạn,

cá nhân phải tự lĩnh hội kiến thức, chuẩn bị ý kiến tham gia thảo luận Tần suất của các hoạt động cá nhân rất lớn và chiếm ưu thế hơn so với các hoạt động khác

– Làm việc theo cặp hoặc theo nhóm : Sau khi học cá nhân, học sinh cần được hướng dẫn thảo luận với bạn về nội dung học tập Tuỳ điều kiện cụ thể của lớp học và nội dung học tập, giáo viên quyết định giao cho học sinh thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm để hoàn thành sản phẩm học tập được giao Để hoạt động nhóm đạt hiệu quả, mỗi nhóm chỉ nên có 4 học sinh

NXBGDVN

Trang 6

– Làm việc cả lớp : Trong mỗi hoạt động học, sau khi học sinh làm việc cá nhân, cặp đôi, nhóm, giáo viên tổ chức làm việc chung cả lớp để học sinh được trình bày, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập ; nhận xét, đánh giá về sản phẩm học tập của học sinh ; định hướng hoạt động học tiếp theo ; chốt kiến thức, kĩ năng mới để học sinh chính thức ghi nhận và vận dụng.

Việc lựa chọn hình thức hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm hay toàn lớp phụ thuộc vào yêu cầu của các loại hình hoạt động

và luyện tập Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 chỉ là một gợi ý

cho việc tổ chức các hình thức hợp tác này, giáo viên không nên luôn tuân theo một cách máy móc thiết kế có sẵn của sách Tuỳ vào tình hình thực tế, giáo viên có thể điều chỉnh một cách linh hoạt, tạo hứng thú cho học sinh trên nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học

Khi tổ chức hoạt động học của học sinh, giáo viên cần chú ý giao nhiệm vụ học tập cho các nhóm một cách cụ thể và rõ ràng ; đứng ở vị trí thuận lợi để dễ dàng quan sát các nhóm học sinh làm việc và có thể hỗ trợ kịp thời cho từng học sinh và cả nhóm ; hướng dẫn học sinh ghi tóm tắt kết quả hoạt động cá nhân và kết quả thảo luận nhóm vào vở ; không được đọc cho học sinh ghi bài, không yêu cầu học sinh chép lại toàn bộ nội dung bài học trong

sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 Khi giúp đỡ học sinh, cần gợi

mở để học sinh tự lực hoàn thành nhiệm vụ ; khuyến khích để học sinh hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập ; kết hợp nhận xét, đánh giá bằng lời nói ; trong mỗi giờ học cần tranh thủ ghi nhận xét, đánh giá và có thể cho điểm vào

vở học của một số học sinh và luân phiên để mỗi học sinh được ghi từ 2 – 4 lần trong mỗi học kì thay cho việc kiểm tra miệng,

15 phút, 45 phút trước đây

NXBGDVN

Trang 7

PHẦN THỨ NHẤT

DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN LỚP 7 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

NXBGDVN

Trang 8

I – VỊ TRÍ, ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC

1 Vị trí môn học

a) Môn Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội – nhân văn, có nhiệm vụ giúp

học sinh (HS) hình thành những kiến thức tiếng Việt, văn học và tập làm văn,

phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận và tạo lập văn

bản Qua môn học này, HS còn có thêm những hiểu biết về văn hoá, xã hội, lịch

sử, đời sống tinh thần của con người và bản thân

b) Môn Ngữ văn là môn học công cụ HS sử dụng những kiến thức, kĩ năng

của môn Ngữ văn làm công cụ để học tập, nhận thức về xã hội và con người, bồi

dưỡng tư tưởng tình cảm và nhân cách

c) Môn Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mĩ Thông qua việc

tiếp cận với tiếng Việt văn hoá và những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm

văn học, HS được bồi dưỡng và phát triển năng lực tưởng tượng, sáng tạo, làm

giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh, nhằm hoàn thiện nhân

cách của mình

2 Đặc điểm của môn Ngữ văn

a) Môn Ngữ văn vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật

Nội dung dạy học của môn Ngữ văn cần đảm bảo chính xác, khách quan và

hệ thống, trong việc phản ánh những thành tựu mới, những tiến bộ của khoa

học xã hội và nhân văn ; đồng thời thể hiện được những giá trị xã hội – nhân

văn mà các thế hệ đi trước đã xác lập Giáo viên (GV) là người giúp HS khám

phá những giá trị đó

Nhiều văn bản văn học được đưa vào chương trình Ngữ văn đã khơi gợi ở

HS những tình cảm, cảm xúc, khả năng tưởng tượng, sáng tạo, góp phần tích

cực vào việc hình thành các phẩm chất và nhân cách cho các em

b) Môn Ngữ văn có sự tích hợp của ba phân môn Tiếng Việt, Văn học và Tập

làm văn

Phần Tiếng Việt phản ánh những thành tựu nghiên cứu của khoa học về tiếng

Việt, giúp HS vận dụng các tri thức đó để phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt

trong giao tiếp

NXBGDVN

Trang 9

Phần Văn học phản ánh các thành tựu trong lịch sử văn học, giúp HS thấm nhuần sâu sắc các giá trị văn hoá, nhân văn chứa đựng trong các hình tượng văn học

Phần Tập làm văn rèn luyện cho HS các kĩ năng tạo lập văn bản, diễn đạt ý nghĩ, cảm xúc, suy nghĩ của mình

Cả ba nội dung trên thống nhất trong mục tiêu giáo dục tình cảm, cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách cho HS

c) Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn là hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh

Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực cho HS Môn Ngữ văn – một môn học công

cụ, với mục đích phát triển năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề trong nhận thức và trong giao tiếp xã hội – có thế mạnh trong việc góp phần phát triển những năng lực sau : 1) Năng lực giao tiếp (sử dụng tiếng Việt) ; 2) Năng lực thẩm mĩ ; 3) Năng lực hợp tác ; 4) Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.Thông qua các bài học, môn Ngữ văn hướng tới việc hình thành các phẩm chất cơ bản, bao gồm : 1) Yêu gia đình, quê hương, đất nước ; 2) Nhân ái, khoan dung ; 3) Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó ; 4) Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên ; 5) Tôn trọng, chấp hành kỉ luật, pháp luật và thực hiện nghĩa vụ đạo đức,

Đặc biệt, môn Ngữ văn có thế mạnh trong việc hình thành các năng lực đặc thù Năng lực đặc thù cần được phát triển trong môn Ngữ văn trong phần học về tiếng Việt bao gồm 2 loại năng lực :

– Năng lực tiếp nhận văn bản, gồm các kĩ năng nghe, đọc ; – Năng lực tạo lập văn bản, gồm các kĩ năng nói, viết.

Đồng thời, việc học ngôn ngữ luôn song hành cùng với việc hiểu và tiếp nhận một cách sáng tạo những tác phẩm văn học có giá trị Năng lực đặc thù cần được phát triển trong phần học về văn học bao gồm :

– Năng lực tiếp nhận văn học, gồm năng lực cảm thụ thẩm mĩ (cảm thụ các

giá trị của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật)

– Năng lực tạo lập gồm năng lực sáng tạo văn bản nghệ thuật (tạo ra văn bản

bằng ngôn ngữ mang tính nghệ thuật, đồng sáng tạo tác phẩm văn học)

Từ đó, môn Ngữ văn có thế mạnh trong việc hình thành, phát triển các giá trị nhân văn, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách cho HS

NXBGDVN

Trang 10

II – DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN LỚP 7

1 Khái quát về cấu trúc và nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7

Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 tiếp nối sách Hướng dẫn học Ngữ văn 6 được

biên soạn theo mô hình trường học mới Việt Nam Đây là bộ sách được biên soạn

theo định hướng hình thành và phát triển các năng lực của HS, đổi mới phương

pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập để tăng cường tính chủ động, tích cực,

sáng tạo của HS Trên cơ sở nội dung chương trình môn Ngữ văn lớp 7 hiện hành,

sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 có những đặc điểm sau :

a) Những điểm kế thừa, tiếp nối chương trình và SGK Ngữ văn 7 hiện hành

Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 được biên soạn dựa trên chương trình và

SGK hiện hành Do vậy, về cơ bản sách vẫn đảm bảo nội dung chương trình đã

được thể hiện qua hệ thống các bài học của SGK Ngữ văn 7 Cụ thể :

– Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 đảm bảo chuẩn kiến thức và kĩ năng, dựa

trên chương trình và SGK hiện hành Những bài học chính thức theo chương

trình (CT) và SGK vẫn đảm bảo yêu cầu về các nội dung cơ bản và trọng tâm

kiến thức, bên cạnh đó, theo yêu cầu giảm tải, các bài hướng dẫn tự học, đọc

thêm, nhìn chung được chuyển sang Hoạt động luyện tập hoặc Hoạt động tìm

tòi mở rộng (tuỳ theo độ khó về nội dung yêu cầu của mỗi bài học) Có một số ít

bài đọc thêm được sử dụng như một phần trong bài học chính, nhưng chỉ dùng

như ngữ liệu để dạy tiếng Việt và tập làm văn

Cấu trúc các bài học trong sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 nhìn chung dựa

trên CT và SGK Ngữ văn 7 hiện hành Các nội dung đọc hiểu, tiếng Việt và tập

làm văn vẫn dựa theo CT ; các đơn vị kiến thức trong SGK vẫn được đảm bảo

Tuy nhiên, do một số bài học có sự điều chỉnh theo tinh thần giảm tải như đã nói

ở trên, một số bài học/ tuần học có sự thay đổi so với SGK Ngữ văn 7 hiện hành.

– Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 vẫn đảm bảo tích hợp các phân môn trong

mỗi bài học Nội dung tích hợp các phân môn Đọc hiểu, Tiếng Việt và Tập làm

văn được triển khai trong một bài học (4 tiết) Sự tích hợp này dựa trên 2 trục

năng lực cơ bản là đọc hiểu (tiếp nhận văn bản) và tập làm văn (tạo lập văn bản)

Đây cũng là sự kế thừa tính tích hợp đã có trong CT và SGK Ngữ văn 7 hiện

hành, tuy nhiên, trong mô hình trường học mới, tính tích hợp thể hiện cao hơn,

cụ thể, các đơn vị nội dung của từng phân môn Đọc hiểu, Tiếng Việt và Tập làm

văn không tách rời thành các bài học riêng như SGK hiện hành mà được gắn kết

NXBGDVN

Trang 11

trong từng hoạt động của mỗi bài học Mặt khác, sách cũng tạo điều kiện đảm bảo các yêu cầu riêng, có tính độc lập của mỗi phân môn, với quan niệm tính tích hợp thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả phương diện khái quát lẫn cụ thể Do vậy, trong quá trình hướng dẫn HS học, GV cần linh hoạt trong việc kết nối các nội dung dạy học để sự tích hợp không gượng ép.

b) Những điểm mới của sách “Hướng dẫn học Ngữ văn 7” biên soạn theo mô hình trường học mới

Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 được biên soạn theo tinh thần đổi mới CT giáo dục phổ thông Dựa trên những định hướng đã được nêu trong Đề án đổi

mới chương trình giáo dục phổ thông, sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 thể hiện

một số điểm mới như sau :– Sách thiết kế nội dung các bài học theo các hoạt động học tập, giúp HS nâng cao tính tự chủ, tăng cường chia sẻ, hợp tác trong quá trình học Tất cả các hoạt động chính trong mỗi bài học đều được triển khai theo hệ thống các bài tập hoặc nhiệm vụ học tập, theo các hình thức tổ chức đa dạng (hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả lớp, hoạt động với cộng đồng,…), từng bước nâng cao khả năng tự học và sự chủ động của HS trong học tập, đồng thời tăng cường các hoạt động trải nghiệm, hoạt động thực hành, vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn Trong mỗi bài học, các nội dung đọc hiểu, tiếng Việt, tập làm văn được gắn kết trong từng hoạt động, vừa đảm bảo

sự phối hợp của các kiến thức cơ bản vừa tăng cường hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức vào quá trình giao tiếp và cảm thụ văn học của HS

– Tổ chức các bài học theo định hướng phát triển năng lực cho HS Định hướng này thể hiện thông qua hệ thống mục tiêu bài học được xác định cụ thể Với quan niệm năng lực là sự vận dụng tổng hợp những kiến thức, kĩ năng và thái độ, động cơ,… của người học vào việc giải quyết những tình huống đặt ra trong học tập và trong thực tiễn, năng lực phải được thể hiện qua những chỉ số hành vi (những gì HS thể hiện qua nói, viết, làm, tạo ra), do vậy, trong mỗi bài học, việc xác định mục tiêu cho cả 3 nội dung đọc hiểu, tiếng Việt, tập làm văn đều thể hiện bằng những động từ hành động, cho biết mức độ thực hiện các yêu cầu của từng nội dung, bám sát các yêu cầu và đặc trưng của từng phân môn, từng thể loại văn bản Mặt khác, mục tiêu của các bài học trong nhóm chủ đề cũng được kiểm soát, tạo ra sự kết nối và phát triển Như vậy, theo hệ thống mục

NXBGDVN

Trang 12

tiêu của bài học, HS vừa thể hiện những hoạt động theo các mức độ biểu hiện

của năng lực vừa có sự kết nối để từng bước hình thành, phát triển các năng lực

chung và năng lực đặc thù của môn học

– Coi trọng kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực Đánh giá năng lực

là cách đánh giá dựa trên mức độ hình thành và phát triển năng lực của HS Thay

vì đánh giá kiến thức và kĩ năng như trong dạy học hiện nay, quan điểm đánh giá

theo mô hình trường học mới là xem xét quá trình hình thành và phát triển các

năng lực, phẩm chất của HS trong từng giai đoạn Các năng lực và phẩm chất

cần hình thành, phát triển cho HS qua mỗi bài học đã được xác định trong mục

tiêu và triển khai trong toàn bộ nội dung bài học Đánh giá năng lực là công việc

nhằm xác định mức độ hoàn thành của các mục tiêu đó Để đánh giá năng lực,

cần sử dụng các phương pháp đánh giá có hiệu quả như phỏng vấn, quan sát,

tiểu luận, bài tập tình huống, kiểm tra, dự án, hồ sơ, Khi tiến hành đánh giá

không chỉ căn cứ vào kết quả mà cần chú ý đến quá trình đi đến kết quả ; do vậy

đánh giá quá trình cần được coi trọng Đánh giá quá trình là quan điểm đánh giá

dựa trên toàn bộ quá trình học tập Trong đánh giá quá trình, GV quan tâm đến

sự tiến bộ của từng HS trong học tập bằng các phương pháp và hình thức đánh

giá đa dạng như đã nói ở trên Đặc biệt, cần phối hợp giữa đánh giá của GV và

tự đánh giá của HS, tạo nhiều cơ hội để HS đánh giá chính mình và phản hồi kết

quả của mình để có được sự tự tin, có khả năng phê phán và thái độ tiếp nhận

phê phán, Điểm mới trong đánh giá theo mô hình trường học mới chính là tạo

điều kiện tốt hơn để HS tự đánh giá (cá nhân tự đánh giá, đánh giá nhóm, đánh

giá lẫn nhau) và đưa các thành viên trong gia đình vào quá trình đánh giá

– Nội dung dạy học được thể hiện thông qua các bài học/ chủ đề với thời

lượng mỗi bài học là 4 tiết

Tên bài học đa phần là tên của bài đọc hiểu, do bài đọc hiểu thường là nội

dung học chính của mỗi bài Một số bài học không có nội dung đọc hiểu sẽ lựa

chọn một tên gọi phù hợp theo nội dung chính của bài học

So với SGK hiện hành, sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 có một số điều chỉnh

về cấu trúc nội dung của từng bài học để đảm bảo yêu cầu giảm tải Một số khái

niệm ngôn ngữ học đã được giản lược ; mục Ghi nhớ được lược bỏ hoặc chuyển

thành bài tập củng cố Một số kiến thức trùng lặp với cấp Tiểu học hoặc ít tính

thiết thực cũng được tinh giản

Cấu trúc nội dung của sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 dựa trên trục thể loại,

hệ thống kiến thức tiếng Việt và các kiểu văn bản Các kiến thức tiếng Việt và tập

NXBGDVN

Trang 13

làm văn được dạy tích hợp với đọc hiểu Ngoài ra còn có một số nội dung khác như chương trình địa phương, ôn tập.

Theo yêu cầu chung, chương trình Ngữ văn theo mô hình trường học mới giảm thời lượng năm học xuống còn 33 tuần (dành 2 tuần còn lại cho nhà trường chủ động xử lí những nội dung theo điều kiện của từng trường)

2 Khái quát về cách tổ chức thực hiện

Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 được biên soạn theo tinh thần lấy HS làm

chủ thể trong việc tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng và năng lực ; GV là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học của HS Các bài học được biên soạn theo các hoạt động, thể hiện rõ phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

GV cần hiểu rõ mục tiêu, nội dung và cách thức tổ chức của từng hoạt động để việc hướng dẫn HS đạt hiệu quả Tuy nhiên, GV không nên quá cứng nhắc, lệ thuộc hoàn toàn vào sách mà có thể chủ động trong việc xây dựng kịch bản cho mỗi bài học, đảm bảo sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, nhà trường và năng lực của GV, HS

Trong tiến trình bài học theo mô hình trường học mới, các hoạt động học của

HS chiếm ưu thế và nổi bật Tuy vậy, GV bao giờ cũng giữ vai trò rất quan trọng

GV là người hướng dẫn, tổ chức, là trọng tài, đồng thời là người đồng hành cùng với HS Để HS phát huy vị trí trung tâm trong hoạt động học, GV cần chủ động nắm bắt trình độ, khả năng và các điều kiện học tập khác của mỗi HS trong lớp

để có sự hướng dẫn phù hợp Do vậy, trong giờ học, với mỗi nhiệm vụ/ bài tập,

GV cần làm tốt những công việc sau đây :– Giao bài tập/ nhiệm vụ cho cá nhân/ nhóm HS ; nêu rõ yêu cầu và thời gian thực hiện Nếu cần, GV có thể hướng dẫn, giải thích nhưng không nên lạm dụng thao tác này

– Tổ chức cho HS thực hiện bài tập/ nhiệm vụ Trong thời gian HS làm bài tập hay thực hiện nhiệm vụ, GV cần quan sát từng nhóm, từng cá nhân HS để có thể động viên, hỗ trợ khi cần thiết

– Tổ chức cho HS báo cáo và đánh giá kết quả thực hiện bài tập/ nhiệm vụ Việc báo cáo kết quả và đánh giá có thể được tiến hành tại các nhóm riêng rẽ, cũng có thể được tiến hành chung cả lớp, tuỳ thuộc từng bài tập/ nhiệm vụ cụ thể

Để hoạt động học của HS đạt hiệu quả, GV cần chú ý đến phương pháp tổ chức các hoạt động mang tính đặc thù của môn học Sau đây là đặc điểm, cách thức thực hiện các hoạt động này

NXBGDVN

Trang 14

(1) Hoạt động cá nhân là hoạt động yêu cầu HS thực hiện các bài tập/ nhiệm

vụ một cách độc lập Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng làm việc

độc lập của HS Nó được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là với các bài tập/ nhiệm

vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo hoặc rèn luyện đặc thù GV cần đặc biệt coi

trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của HS sẽ không đạt tới mức

độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kĩ năng sẽ không được rèn

luyện một cách tập trung

Khi tổ chức cho HS hoạt động cá nhân, GV cần : giao bài tập/ nhiệm vụ đến

từng cá nhân ; nêu rõ yêu cầu, điều kiện và thời gian thực hiện ; gợi ý, làm mẫu

(nếu thấy cần thiết)

Lưu ý : GV không giảng giải hoặc làm thay HS.

HS làm bài và báo cáo kết quả với GV (có thể trực tiếp hoặc đại diện)

Trong thực tế, cách tổ chức các hoạt động cá nhân theo mô hình trường học

mới tương tự như cách tổ chức làm bài tập ngữ văn theo SGK hiện hành Tuy

nhiên, vẫn có chỗ khác là : trong mô hình trường học mới, GV quan tâm đến hoạt

động cá nhân ở phương diện hình thành năng lực hơn là phương diện lĩnh hội

kiến thức ; ngoài ra, GV quan tâm đến từng cá nhân HS chứ không phải đến số

đông như phương pháp dạy học hiện hành

(2) Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm là những hoạt động nhằm giúp HS

phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng

Khi tổ chức hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm, GV cần lưu ý xác định rõ

mục đích, nội dung bài tập/ nhiệm vụ có phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt

động nhóm hay không

Thông thường, hình thức hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những

trường hợp các bài tập/ nhiệm vụ cần sự chia sẻ, hợp tác trong nhóm nhỏ gồm

2 HS Ví dụ : kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung nào đó, đổi bài cho

nhau để đánh giá chéo, ; còn hình thức hoạt động nhóm (từ 3 HS trở lên) được

sử dụng trong trường hợp tương tự, nhưng nghiêng về sự hợp tác, thảo luận với

số lượng thành viên nhiều hơn

Tuy nhiên, trong thực tế, rất nhiều nội dung có thể được dạy học trong cả

hình thức nhóm hay cặp đôi

Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 rất quan tâm đến hình thức hoạt động nhóm

vì đó là một trong những hình thức có nhiều lợi thế để phát triển năng lực hợp

NXBGDVN

Trang 15

tác, một trong những năng lực được nhấn mạnh trong mục tiêu dạy học môn Ngữ văn cấp Trung học cơ sở (THCS) theo mô hình trường học mới

Khi tổ chức hoạt động nhóm, GV cần :– Chia lớp thành các nhóm, với số lượng HS thích hợp ; kê bàn theo vị trí phù hợp với không gian lớp học

– Giao bài tập/ nhiệm vụ cho mỗi nhóm ; nêu rõ yêu cầu

Nhóm trưởng chỉ huy, quản lí hoạt động của cả nhóm theo hướng dẫn :– Mỗi cá nhân thực hiện nhiệm vụ độc lập

– Cá nhân trao đổi với bạn trong nhóm, yêu cầu hợp tác (nếu cần)

– Lần lượt từng cá nhân trình bày sản phẩm

– Nhóm góp ý kiến với từng cá nhân

Khi làm việc với GV : Nhóm trưởng trình bày ý kiến chung của cả nhóm GV lắng nghe, tổ chức để nhóm tự đánh giá và đề xuất ý kiến tổng kết hoặc điều chỉnh

Lưu ý : GV cần nghiên cứu thật kĩ các nội dung hoạt động nhóm, sao cho hoạt

động này tạo được hứng thú và bổ ích cho từng cá nhân HS

(3) Hoạt động chung cả lớp là hình thức hoạt động phù hợp với số đông HS

Đây là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thần đoàn kết,

sự chia sẻ Trong môn Ngữ văn, hoạt động chung cả lớp được thực hiện khi HS cần có sự thống nhất chung hoặc rút ra những kết luận cần thiết cho một nội dung học tập

Hoạt động chung cả lớp thường được sử dụng trong các tình huống sau :– HS nghe GV hướng dẫn chung

– HS nghe GV nhắc nhở, tổng kết, rút kinh nghiệm

– HS luyện tập trình bày miệng trước tập thể lớp

Lưu ý : Khi tổ chức hoạt động chung cả lớp, GV tránh biến giờ học thành giờ

thuyết giảng hoặc vấn đáp vì như vậy sẽ làm giảm hiệu quả và sai mục đích của hình thức hoạt động này

(4) Hoạt động với cộng đồng là hình thức hoạt động của HS trong mối tương

tác với xã hội

NXBGDVN

Trang 16

Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơn giản như : kể cho

bé nghe, nói chuyện với bạn bè, hỏi người thân trong gia đình, đến những hình

thức phức tạp hơn như : tham gia bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn

hoá, lịch sử ở địa phương,

Trong sách Hướng dẫn học Ngữ văn THCS theo mô hình trường học mới,

phần lớn các hình thức hoạt động với cộng đồng được áp dụng cho hoạt động

bổ sung, làm việc ở nhà

Bên cạnh các hoạt động chủ đạo đã được trình bày ở trên, GV có thể tổ chức

một số hoạt động bổ trợ nhằm gây hứng thú và tăng hiệu quả học tập cho HS

Đó là các hoạt động sau :

(1) Hoạt động hội thi, câu lạc bộ

− Các hoạt động này bao gồm : thi đọc thơ, ngâm thơ, hát ; thi tìm hiểu kiến

thức, thi thể hiện kĩ năng, thi ứng xử tình huống,

− Trong sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, các hoạt động này được thiết kế khá

thường xuyên

− Khi tổ chức các hoạt động này, GV cũng cần chú ý các bước sao cho phù

hợp với nội dung bài học và gây được hứng thú cho HS

− Thông thường, việc tổ chức các cuộc thi ngắn tại lớp có thể được tiến hành

theo các bước chính :

+ Công bố mục đích, nội dung, yêu cầu của cuộc thi

+ Đề cử một người dẫn chương trình, ban giám khảo, các thành viên/ các đội

dự thi

+ Người dẫn chương trình công bố thể lệ/ thể thức cuộc thi

+ Các thành viên/ các đội tiến hành dự thi theo đúng thể lệ/ thể thức, các hoạt

động cổ vũ của cổ động viên (nếu có)

+ Ban giám khảo chấm điểm, đánh giá

+ Người dẫn chương trình công bố kết quả

Những cuộc thi có quy mô lớn hơn và trong thời gian dài hơn được gọi là hội

thi Câu lạc bộ cũng là hình thức tổ chức học tập có phạm vi rộng

(2) Tổ chức trò chơi học tập

− Trò chơi trong học tập là hình thức hoạt động được thiết kế nhằm làm giảm

căng thẳng, tăng hứng thú cho HS

− Về nguyên tắc, trò chơi có thể được thiết kế trong tất cả các công đoạn của

quá trình dạy học, tuỳ theo nội dung cụ thể của mỗi bài học Tuy nhiên, trong sách

NXBGDVN

Trang 17

Hướng dẫn học Ngữ văn 7 theo mô hình trường học mới, trò chơi học tập thường

được tổ chức trong phần Hoạt động khởi động (phần đầu) và đôi khi trong phần Hoạt động luyện tập

− Cách thức tổ chức trò chơi cũng tương tự như tổ chức các cuộc thi, hội thi Tuỳ theo nội dung, số lượng người tham gia để quyết định có hay không có ban giám khảo và người dẫn chương trình

(3) Tổ chức tham quan, học tại hiện trường

− Các hoạt động tham quan, ngoại khoá từ lâu vẫn rất được quan tâm Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau, các hoạt động này trong những năm gần đây

đã bị giảm thiểu Với mô hình trường học mới, các hoạt động này cần được coi trọng Đặc biệt, không có sự phân biệt nội khoá hay ngoại khoá Các nội dung dạy học chính thức vẫn có thể được dạy tại hiện trường, thậm chí, học tại hiện trường là hình thức tổ chức cần được khuyến khích ; bên cạnh đó, việc mở rộng,

bổ sung kiến thức không còn nằm ngoài CT (ngoại khoá) mà trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi bài học

− Trong sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 theo mô hình trường học mới, một

số nội dung được thiết kế dạy tại hiện trường, chẳng hạn như tìm hiểu văn hoá dân gian, ngôn ngữ, môi trường địa phương, (phần chương trình địa phương)

− Khi dạy học tại hiện trường, GV cần chú ý tổ chức chặt chẽ, an toàn, đưa đón HS cẩn thận, chu đáo ; liên hệ với chính quyền, tổ chức xã hội ở địa phương

để có khách mời đến trao đổi với HS những nội dung cụ thể, hấp dẫn và bổ ích

tiêu chí năng lực Khác với SGK hiện hành, các mục tiêu trong sách Hướng dẫn

học Ngữ văn 7 không chỉ hướng đến kiến thức, kĩ năng, thái độ mà hướng tới năng lực Các năng lực này, như đã xác định, nhằm giải quyết những vấn đề/

nhiệm vụ trong học tập và trong cuộc sống của HS Bài học sẽ là sự cụ thể hoá các năng lực theo những mức độ biểu hiện của các chỉ số hành vi, được thể hiện bằng những động từ hành động, có thể quan sát, đo lường được Mục tiêu của bài học trên hướng đến ba điểm nhấn, tương ứng với ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn

NXBGDVN

Trang 18

Các mục tiêu của bài học sẽ được thể hiện trong tất cả các hoạt động chính,

nói cách khác, các nội dung và nhiệm vụ được triển khai trong 5 hoạt động đều

phải hướng đến mục tiêu của bài học và được kiểm soát trong quá trình hướng

dẫn dạy học của GV Sự nhất quán này giúp GV tập trung vào các nội dung chính

của bài học, tránh quá tải, đồng thời có sự kết nối giữa những nội dung học tập

cùng chủ đề để thấy rõ hơn định hướng hình thành và phát triển năng lực

– Tìm hiểu mục đích, nội dung, cách thức tổ chức các hoạt động cho HS

+ Mỗi bài tập/ nhiệm vụ đều có mục đích riêng, tuỳ theo ý tưởng của người

biên soạn Thông thường, mỗi bài tập hướng đến việc giúp HS nhận biết một đơn

vị tri thức hoặc rèn luyện một kĩ năng

+ Mỗi bài tập/ nhiệm vụ có một nội dung tương thích với mục tiêu, nêu rõ các

yêu cầu và nội dung cần thực hiện Cách thức tiến hành cũng được xác định rõ

trong mỗi bài tập/ nhiệm vụ

+ Khi hướng dẫn HS hoạt động theo 5 bước, ngoài việc nắm vững kĩ thuật

thực hiện các bước, GV vẫn có thể linh hoạt chuyển đổi các bài tập nếu thấy phù

hợp và cần thiết, cũng như linh hoạt trong việc sử dụng các phương tiện dạy học

Nhìn chung, nội dung và cách thức tiến hành mỗi bài tập/ nhiệm vụ đều đã

được thiết kế theo mục tiêu xác định GV cần nghiên cứu để nắm vững, và nếu

có thể, tham gia vào việc sáng tạo các hoạt động (bài tập/ nhiệm vụ) sao cho hấp

dẫn hơn, phù hợp hơn với đối tượng HS của mình

– Trao đổi, nhận xét về kết quả hoạt động của HS

Việc trao đổi, nhận xét được tiến hành cụ thể và trực tiếp, với từng nhóm và

từng cá nhân HS GV cần tạo điều kiện sao cho mỗi HS đều được trả lời và lắng

nghe sự trả lời của từng HS Tránh việc lấy một vài kết quả hoạt động của một

vài cá nhân HS để đại diện cho cả lớp

Trong một số trường hợp, GV vẫn có thể tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm

chung khi thấy đa số HS có chung một ưu điểm hay một loại khuyết điểm

3 Phân phối chi tiết của từng chủ đề

Chương trình được thể hiện thông qua các bài học/ chủ đề trong sách với

thời lượng mỗi bài học là 4 tiết

Khung nội dung bài học trong học kì I và học kì II được sắp xếp như sau :

NXBGDVN

Trang 19

Bài/ tuần Tên bài Số tiết

10 Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê 4

17 Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất 4

18 Tục ngữ về con người và xã hội 4

19 Tinh thần yêu nước của nhân dân ta 4

20 Thêm trạng ngữ cho câu – Câu đặc biệt 4

NXBGDVN

Trang 20

28 Dấu câu – Văn bản đề nghị 4

29 Đọc hiểu văn bản văn học 4

33 Chương trình địa phương 4

Sách gồm hai tập, tương ứng với hai học kì

– Học kì I : 16 bài (từ Bài 1 đến Bài 16), tương ứng với 16 tuần

– Học kì II : 17 bài (từ Bài 17 đến Bài 33), tương ứng với 17 tuần.NXBGDVN

Trang 21

PHẦN THỨ HAI

HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THEO BÀI HỌC

NXBGDVN

Trang 22

Bài 1

CỔNG TRƯỜNG MỞ RA

I – MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần đạt được

– Kiến thức : Hiểu nội dung văn bản Cổng trường mở ra ; nhận biết khái niệm

và cấu tạo của từ ghép ; hiểu về tính liên kết trong văn bản

– Kĩ năng : Chỉ ra được những chi tiết, hình ảnh thể hiện suy nghĩ và tâm

trạng của người mẹ trước ngày khai trường đầu tiên của con, qua đó trình bày

được tình cảm mà cha mẹ dành cho con cái và ý nghĩa lớn lao của nhà trường

đối với cuộc đời mỗi con người ; biết sử dụng các loại từ ghép trong những tình

huống giao tiếp cụ thể ; chỉ ra được tính liên kết trong văn bản, biết tạo tính liên

kết trong văn bản (nói/ viết)

– Thái độ : Trân trọng, giữ gìn những tình cảm tốt đẹp đối với gia đình và nhà

trường ; có ý thức khi dùng từ, tạo tính liên kết trong khi nói, viết

2 Các năng lực có thể hình thành và phát triển cho học sinh

– Năng lực đọc hiểu một văn bản nhật dụng

– Năng lực sử dụng tiếng Việt và giao tiếp (qua việc thực hành sử dụng từ

ghép ; thực hành tạo tính liên kết trong khi nói và viết ; qua trình bày ý kiến, thực

GV cần hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết chung về văn bản nhật dụng để

nhận diện, xác định những thông tin cốt lõi, phát hiện tầm quan trọng và ý nghĩa

của các vấn đề được nêu trong văn bản Cổng trường mở ra như biết tôn trọng,

kính yêu cha mẹ, những người hết lòng quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng các em

lớn khôn ; biết nỗ lực hơn khi tới lớp, tới trường vì việc học tập dưới mái trường

sẽ mở ra cho các em một chân trời mới, một tương lai tốt đẹp

NXBGDVN

Trang 23

HS cần hiểu được nội dung, ý nghĩa của văn bản : Tấm lòng thương yêu, tình

cảm sâu nặng của người mẹ dành cho con được bộc lộ qua dòng tâm trạng của

mẹ trước ngày khai trường của con ; từ đó khẳng định tình mẫu tử thiêng liêng,

cao quý và vai trò to lớn của nhà trường đối với cuộc sống của mỗi con người Bên cạnh đó là những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản : lối viết giàu cảm xúc như những dòng nhật kí tâm tình sâu lắng, chất chứa bao yêu thương ; sử dụng hiệu quả các yếu tố biểu cảm, gợi tả

GV sử dụng những ngữ liệu để hướng dẫn HS tìm hiểu về từ ghép và hiểu

về tính liên kết trong văn bản

Có thể tăng cường tính tích hợp bằng cách tận dụng những ngữ liệu của văn bản đọc hiểu để giải quyết một số nội dung học tập của phần Tiếng Việt và Tập làm văn

Các hoạt động dạy học cần tổ chức phù hợp và linh hoạt để đáp ứng mục tiêu bài học

2 Hướng dẫn cụ thể cho mỗi hoạt động

A Hoạt động khởi động

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để kết nối những kinh nghiệm thực tế của HS

với những nội dung được đề cập trong văn bản, sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7,

tập một gợi ý hoạt động khởi động bằng việc GV hướng dẫn HS trao đổi về một nội dung có liên quan, khơi gợi cho HS nhớ về những điều tốt đẹp từ mái trường

mà bản thân đã gắn bó (Cổng trường mở ra cho em những điều kì diệu gì ?) Từ

đó, GV dẫn dắt đến văn bản Cổng trường mở ra Nhìn chung, hoạt động này sẽ

đánh thức ở các em những tình cảm, cảm xúc đã lắng lại, giúp cho các em trở nên hào hứng hơn trong học tập, nhanh chóng tiếp cận nội dung văn bản

– Nội dung hoạt động : HS trình bày những cảm nhận, suy nghĩ của bản thân

về những điều kì diệu mà mái trường mang lại cho em Câu trả lời của mỗi HS

về “điều kì diệu” có thể khác nhau Ví dụ : mái trường là nơi em học được những điều hay lẽ phải, là nơi chắp cánh ước mơ cho em, là nơi em luôn nhận được sự quan tâm chia sẻ của thầy cô, bạn bè,…

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV hướng dẫn HS nhớ lại, suy ngẫm, đưa

ra các ý tưởng để cùng trao đổi, chia sẻ nhằm huy động những kinh nghiệm mình

có để dẫn dắt tới vấn đề mà văn bản đọc hiểu đặt ra GV khuyến khích HS tham gia tích cực, không hạn chế số lượng, không đánh giá phê phán mà cần khéo léo

NXBGDVN

Trang 24

hướng tới sự đối chiếu với vấn đề đặt ra trong văn bản GV có thể tổ chức hoạt

động này bằng hình thức cá nhân hoặc nhóm đôi Phương án thực hiện trong

sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một là một gợi ý, GV cũng có thể thực hiện

một phương án khác chẳng hạn đề nghị HS hát hoặc ngâm một bài thơ có liên

quan đến nội dung bài học, nhằm tạo tâm thế sẵn sàng cho những hoạt động tiếp

theo và tạo không khí sôi nổi cho giờ học

– Phương tiện dạy học : GV có thể sử dụng một số tranh ảnh hoặc chiếu đoạn

video quay hình ảnh về ngày khai trường để khơi gợi những cảm xúc của HS

(những hình ảnh này nếu có, nên giới thiệu khi đã dẫn dắt vào nội dung đọc hiểu

văn bản và phải kết nối được với nội dung của văn bản)

– Sản phẩm học tập của HS : Các ý kiến trao đổi, thảo luận của cá nhân hoặc

nhóm đôi được ghi lại

1 Tìm hiểu văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Bốn câu hỏi đọc hiểu văn bản được xây dựng

với mục đích : thu thập thông tin, kết nối phân tích thông tin, suy nghĩ mở rộng

thông tin theo quan điểm cá nhân Theo đó ý 1, 2 ở câu (a) yêu cầu HS chỉ ra sự

khác biệt về tâm trạng giữa hai mẹ con và những chi tiết thể hiện tâm trạng của

người mẹ (điểm nhấn để nói về tình yêu con của mẹ) ; câu (b) yêu cầu HS kết nối

và phân tích thông tin để hiểu được ý nghĩa của hình ảnh “thế giới kì diệu” (điểm

nhấn để dẫn tới vai trò của nhà trường được đề cập ở câu (c)) ; câu (d) kết nối

vấn đề đặt ra trong văn bản với thực tiễn của bản thân (khắc sâu tình cảm của

các em với gia đình và nhà trường)

– Nội dung hoạt động : HS đọc hiểu nội dung văn bản Cổng trường mở ra

thông qua việc giải quyết bốn câu hỏi trong sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập

một dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV để hiểu được những tình cảm thiêng

liêng, sâu nặng mà các bậc cha mẹ đã dành cho con cái của mình ; nhận ra được

ý nghĩa lớn lao của nhà trường đối với cuộc đời mỗi con người

Với câu (a), HS cần chỉ ra được tâm trạng khác nhau giữa mẹ và con Người

mẹ thao thức, không ngủ được khi nghĩ về con, về ngày khai trường Đứa con

mặc dù rất háo hức nhưng vẫn ngủ rất ngon Tuỳ vào năng lực của HS, GV có thể

khơi sâu thêm vấn đề để các em lí giải nguyên nhân của sự khác biệt này : người

mẹ từng trải, quan tâm tới mọi việc của con, thể hiện tình yêu dành cho con ;

NXBGDVN

Trang 25

con là một đứa trẻ mới vào lớp 1 nên còn rất hồn nhiên, vô tư Một số chi tiết tiêu biểu thể hiện tâm trạng của người mẹ : “Mẹ đắp mền cho con, buông mùng, ém góc cẩn thận rồi bỗng không biết làm gì nữa” ; “Mẹ lên giường và trằn trọc” ; “Mẹ không lo, nhưng vẫn không ngủ được”… Với câu (b), HS cần xác định được hình ảnh “thế giới kì diệu” được hiểu là thế giới của tri thức, của niềm tin, tình yêu… ở

đó các em sẽ được mở mang hiểu biết để trưởng thành, để hướng tới một tương lai tươi sáng Với câu (c), nội dung trả lời khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nhà trường và việc con người cần phải được học hành để trở thành người hiểu biết, làm chủ bản thân, làm chủ tương lai Với câu (d), nội dung trả lời tuỳ thuộc vào cá nhân HS, nhưng cần phù hợp

– Phương pháp tổ chức dạy học : Trước hết, GV cần hướng dẫn HS đọc văn

bản và những chú thích có trong SGK để hiểu rõ hơn về nội dung văn bản Đánh dấu những từ ngữ chưa hiểu hoặc còn băn khoăn, sau đó sử dụng từ điển để tra cứu hoặc trao đổi với GV để nhận được sự hỗ trợ Hoạt động đọc văn bản nên thực hiện theo hình thức GV đọc mẫu một đoạn sau đó gọi một số HS đọc tiếp từng phần của văn bản Sau khi kết thúc nhiệm vụ này, GV nên nhận xét hoặc yêu cầu các HS khác nhận xét về cách đọc, giọng đọc của bạn nhằm rèn luyện

kĩ năng đọc diễn cảm cho HS Bởi qua cách đọc, nếu HS thể hiện tốt tình cảm, cảm xúc mà tác giả gửi gắm sẽ tác động không nhỏ tới tình cảm, cảm xúc của người nghe, tạo sự cộng hưởng tích cực trong quá trình tiếp nhận giá trị văn bản.Sau đó, GV hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản Với 4 câu hỏi, GV có thể linh hoạt trong cách thức tổ chức các hoạt động cho HS Chẳng hạn, câu (a) có thể tổ chức hoạt động nhóm hoặc cặp đôi Câu (b) có thể tổ chức học cá nhân để rèn kĩ năng viết cho HS Mỗi HS nên viết ra câu trả lời của mình Tuỳ theo năng lực cá nhân, GV quy định số câu cần viết Khi HS đã có câu trả lời, GV mời một số em trình bày và GV chốt lại nội dung cốt lõi Câu (c), GV có thể hướng dẫn HS học cá nhân hay cặp đôi (HS chia sẻ với bạn quan điểm của mình) Cách trình bày quan điểm ở mỗi HS có thể khác nhau nhưng GV cần khái quát được vấn đề, cần có thêm những bình luận để tạo chất cho giờ văn, khơi gợi ở các em tình yêu trường lớp, thầy cô và bè bạn Câu (d) nhằm mục đích kết nối kinh nghiệm của bản thân

HS với vấn đề đặt ra trong văn bản GV khuyến khích các em bày tỏ suy nghĩ của mình Câu hỏi này phù hợp nhất với hình thức học cá nhân

– Phương tiện dạy học : GV sử dụng các phương tiện dạy học một cách linh

hoạt để phù hợp với nội dung hoạt động dạy học và điều kiện thực tế (Phiếu học

tập, tranh ảnh về ngày khai giảng/ nhà trường, )

– Sản phẩm học tập của HS : Câu trả lời của cá nhân, cặp đôi, nhóm (dưới

NXBGDVN

Trang 26

2 Tìm hiểu các loại từ ghép và nghĩa của từ ghép

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Nội dung này được thực hiện qua ba mục

Mục (a) nhằm giúp HS nhận biết và hiểu cấu tạo của từ ghép chính phụ Mục (b)

nhằm giúp HS nhận biết và hiểu được cấu tạo của từ ghép đẳng lập Những câu

hỏi trong mục (a), (b) đi từ diễn dịch đến quy nạp, bắt đầu bằng việc nhận diện

loại từ ghép, sau đó là tìm hiểu nghĩa của loại từ ghép và cuối cùng là khái quát

những kiến thức cần ghi nhớ về hai loại từ ghép và nghĩa của từ ghép Mục (c)

yêu cầu HS ghép từ để nhận diện đúng kiến thức đã hình thành qua ví dụ cụ thể

– Nội dung hoạt động : HS tìm hiểu về hai loại từ ghép và nghĩa của từ ghép

thông qua hoạt động làm bài tập với các hình thức học khác nhau Ở mục (a), câu

hỏi (1) HS cần chỉ ra được trong từ “bà ngoại”, tiếng “bà” có nghĩa khái quát hơn, đó

cũng là tiếng chính Câu hỏi (2), HS cần xác định được trong số 5 tiếng, có 3 tiếng

(nội, mụ, cố) là phù hợp để nối Từ tôi không phù hợp vì “bà tôi” là một cụm từ (có thể

thêm từ sở hữu của giữa hai tiếng này) ; từ Ba chấp nhận được nếu hiểu Ba là tên

gọi người đàn bà ; nhưng nếu hiểu Ba là tên của người cháu thì đây lại là một cụm

từ (Ví dụ : Bà của tôi/ bà của Ba) Với câu (3), HS cần nhận ra : các tiếng đứng sau

tiếng “bà” có vai trò làm rõ nghĩa cho tiếng “bà”, phân biệt nét nghĩa khác nhau của

các từ ghép chính phụ vừa tìm Nếu đổi vị trí các tiếng trong những từ ghép chính

phụ này, ý nghĩa của từ sẽ thay đổi Với câu (4), các từ cần điền để hoàn thiện kiến

thức về từ ghép chính phụ là : phân nghĩa, chính, phụ.

Ở mục (b), HS có thể liệt kê những từ để tạo nên từ ghép đẳng lập : tranh

ảnh, sổ sách, quần áo, giày dép,… Những từ ghép này không phân ra các tiếng

chính phụ, nghĩa của từ ghép là nghĩa chung hợp lại của các tiếng, các tiếng có

nét nghĩa gần nhau (trong trường hợp khác, nét nghĩa của các tiếng trong từ

ghép đẳng lập có thể giống nhau hoặc trái ngược nhau) Từ đó, HS điền các từ

để hình thành kiến thức về từ ghép đẳng lập, lần lượt là : bình đẳng, hợp nghĩa,

khái quát Mục (c), yêu cầu đơn giản, HS có thể tìm các tiếng để tạo từ (Ví dụ :

làm bánh, ăn cơm, trắng ngà, ; núi đồi, ham thích, xinh tươi,…).

– Phương pháp tổ chức dạy học : Ở mục (a), câu hỏi (1) không phức tạp, GV

có thể hướng dẫn HS học cá nhân Câu hỏi (2) khó hơn, GV có thể yêu cầu HS

khi chuẩn bị bài ở nhà nên tra từ điển để có cách giải quyết tốt nhất Thói quen

sử dụng từ điển trong khi học tiếng Việt là một thói quen tốt mà GV nên chú ý

hình thành cho HS Khi xem xét về nghĩa của từ tiếng Việt, nếu xét đứng độc lập

sẽ gặp những tình huống như vậy Đối với HS lớp 7, GV có thể chốt luôn Ba ở

đây là tên của người đàn bà để các em dễ xác định Tuy nhiên, với những HS

giỏi, GV có thể phân tích thêm những khía cạnh này để các em có những hiểu

NXBGDVN

Trang 27

biết sâu hơn về ngôn ngữ tiếng Việt Câu (3) và (4) HS có thể làm việc cặp đôi Với câu (3), GV hướng dẫn HS xem xét ở mỗi từ ghép vừa nối được tiếng nào là tiếng chính mang ý khái quát ; tiếng nào là tiếng phụ bổ sung, làm rõ nghĩa cho tiếng chính Giả sử thay đổi vị trí các tiếng thì ý nghĩa của các từ có giữ nguyên như trước không Với câu (4), GV có thể đưa ra một số từ ngữ mang tính chất gợi

ý để định hướng cho HS trả lời (ví dụ : phân nghĩa, hợp nghĩa, chính, phụ) Sau

câu trả lời, GV nên đề nghị HS minh hoạ qua một vài ví dụ khác để kiểm chứng mức độ hiểu của HS

Ở mục (b), câu (1) GV có thể hướng dẫn cho HS làm việc nhóm Có thể phân loại cho các nhóm thực hiện bằng kĩ thuật mảnh ghép Sau khi các nhóm có kết quả, GV lựa chọn một số từ ghép đẳng lập cho mỗi nhóm để thực hiện nhiệm

vụ nêu ra ở câu (2) Lưu ý các em về đặc điểm của tiếng chính và tiếng phụ để

có nhận xét đúng Ở câu (4), HS có thể làm việc cá nhân hay cặp đôi GV nên

đưa ra một số từ gợi ý để HS định hướng lựa chọn (ví dụ : bình đẳng, phụ thuộc,

phân nghĩa, hợp nghĩa, khái quát, cụ thể), sau khi trả lời cần sử dụng một từ ghép

đẳng lập cụ thể để phân tích minh hoạ cho những kiến thức về từ ghép đẳng lập

đã hình thành

Ở mục (c), HS nên làm việc cá nhân và tiến hành nhận xét theo cặp đôi để hoàn thành yêu cầu của bài tập

– Phương tiện dạy học : GV sử dụng linh hoạt các phương tiện dạy học sao

cho phù hợp với mục đích dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường

– Sản phẩm học tập của HS : Kết quả trả lời hoặc ghi chép của HS khi thực

hiện nhiệm vụ học tập

3 Liên kết trong văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để HS nhận ra được vai trò quan trọng của liên

kết trong văn bản (nếu không có liên kết, nội dung văn bản sẽ mơ hồ, khó hiểu, thậm chí vô nghĩa), từ đó có những lưu ý trong khi viết hoặc nói để tạo lập được những đoạn văn, văn bản đảm bảo tính liên kết, thể hiện một nội dung rõ ràng, thống nhất

– Nội dung hoạt động : HS phân tích ngữ liệu, làm bài tập để chỉ ra các vấn

đề về liên kết trong hai đoạn văn, giải thích cụ thể về những lỗi mà hai đoạn văn mắc phải và nêu cách sửa Qua đó rút ra những kiến thức về liên kết trong văn bản Với nhiệm vụ (a), HS cần chỉ ra được các câu văn chưa có sự liên kết về nội dung Câu 1 nói về những kỉ niệm trong quá khứ cho biết mẹ của nhân vật

“tôi” đã mất (lúc người còn sống) Câu 3 và 4 nói về sự việc trong hiện tại (sáng

NXBGDVN

Trang 28

nay, chiều nay) lại là những việc có sự hiện diện của mẹ Về thời gian và không

gian được đề cập trong đoạn, thoạt nhìn có vẻ lô-gíc nhưng các sự việc diễn ra

chưa phù hợp, các câu không hướng tới thể hiện một nội dung trọn vẹn Nhiệm

vụ (b), nội dung các câu cũng chưa có sự liên kết Câu 1 nói về tương lai, câu 2

và 3 nói về hiện tại Hai sự việc này đối lập với nhau nhưng chưa có từ liên kết

để người đọc thấy được sự lô-gíc Cần phải thêm ở đầu câu thứ 2 cụm từ chỉ

thời gian “còn giờ đây” vừa liên kết 2 chiều quá khứ, hiện tại vừa hàm ý sự trái

ngược được nói tới ở hai câu Nhiệm vụ (c), HS cần nhận ra được một văn bản

được liên kết phải có sự thống nhất về chủ đề (các câu hướng tới thể hiện trọn

vẹn một nội dung) và sự kết nối về hình thức (sử dụng các từ, cụm từ có tác dụng

liên kết giữa các câu)

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV có thể hướng dẫn HS học theo nhóm

để giải quyết ba nhiệm vụ (a), (b), (c) GV hướng dẫn các nhóm đọc kĩ từng câu,

xem có thể khái quát được nội dung của những câu văn đó không, nếu không

thì vì sao, nếu được thì nội dung đó là gì Từ đó nhận xét được về sự chưa hợp

lí và nêu cách sửa Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ (a), (b), các nhóm sẽ có

được những hiểu biết để thực hiện yêu cầu của nhiệm vụ (c) Tuỳ năng lực HS,

GV có thể đưa ra những gợi ý cụ thể hơn nếu cần thiết (Ví dụ : điều kiện về nội

dung, hình thức)

– Phương tiện dạy học : GV sử dụng linh hoạt các phương tiện dạy học sao

cho phù hợp với mục đích dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường

– Sản phẩm học tập của HS : Kết quả trả lời hoặc ghi chép của HS khi thực

hiện nhiệm vụ học tập

1 Luyện tập đọc hiểu

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để HS rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản, thấy được

tầm quan trọng của việc học, thấy được trách nhiệm, bổn phận của người con

đối với mẹ (những nội dung này có đề cập trong văn bản Cổng trường mở ra)

– Nội dung hoạt động : Giải quyết các yêu cầu của bài tập 1 trong sách

Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một bằng cách vận dụng các kiến thức đã học

vào việc thực hành kĩ năng đọc hiểu văn bản Ở câu (a), phần luyện kĩ năng đọc

hiểu, HS cần chỉ ra được nội dung chính của đoạn (1) : Việc học là quan trọng

và mọi người đều phải cố gắng để có được tri thức Về việc đặt nhan đề, HS

NXBGDVN

Trang 29

cần tìm những cụm từ liên quan đến nội dung chính, ví dụ : Hãy vui tới trường/

Để làm chủ tương lai/… Nội dung chính của đoạn (2) nói về tình cảm sâu nặng, tấm lòng vì con của người mẹ Nhan đề có thể đặt cho đoạn này là : Tấm lòng của mẹ/ Mẹ của con… Với câu (b), HS nhận ra những nội dung tương đồng

của các đoạn trích với văn bản đọc hiểu Cổng trường mở ra : vai trò của nhà

trường đối với cuộc sống của con người, tình mẫu tử thiêng liêng Với câu (c),

HS có thể viết thêm vào cuối đoạn 1 một câu khẳng định tầm quan trọng của việc học/ tới trường ; cuối đoạn 2 một câu khẳng định tình cảm, tấm lòng của

mẹ dành cho con

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV có thể hướng dẫn HS thảo luận cặp đôi

hoặc nhóm để giải quyết các ý (a), (b) Sau đó, GV yêu cầu mỗi nhóm một HS báo cáo sản phẩm của mình trước và sau khi thông qua nhóm để đánh giá đồng thời kết quả làm việc của cá nhân và nhóm Với ý (c), HS nên sử dụng hình thức học cá nhân (để viết) kết hợp với cặp đôi (để nhận xét, đánh giá sau khi viết)

– Phương tiện dạy học : GV linh hoạt lựa chọn phương tiện (Phiếu học tập,

giấy A0 ghi kết quả thảo luận, )

– Sản phẩm học tập của HS : Hoàn thành Phiếu học tập, kết quả thực hiện

của cá nhân hoặc nhóm

2 Luyện tập về từ ghép

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để HS rèn kĩ năng nhận biết hai loại từ ghép ;

sử dụng từ ghép trong tạo lập đoạn văn (có tích hợp với nội dung của đọc hiểu văn bản)

– Nội dung hoạt động : Phần luyện tập về từ ghép đẳng lập và chính phụ, HS

cần chỉ ra một số từ ghép chính phụ trong câu (a) : mưa phùn, mùa xuân, lá mạ,

cây sấu, cây bàng, và từ ghép đẳng lập : ốm yếu, nảy lộc Trong câu (b), HS

cần nối đúng : xanh ngắt, nhãn lồng, mùa gặt Câu (c), mỗi HS viết một đoạn văn

và phân loại các từ ghép trong đoạn

– Phương pháp tổ chức dạy học : Các câu (a), (b), HS có thể làm việc cá

nhân kết hợp với cặp đôi Sau khi từng HS hoàn chỉnh bảng từ với sự phân loại

cụ thể, các em sẽ chuyển bài tập cho bạn bên cạnh đọc và nhận xét, cùng trao đổi nếu câu trả lời có sự khác biệt GV theo dõi, hỗ trợ và hướng dẫn HS có được câu trả lời đúng Với câu (b), GV cũng có thể bổ sung thêm một số từ khác để HS tạo lập từ ghép chính phụ, lưu ý chỉnh sửa lệnh hỏi ở câu (b) cho rõ, tránh gây

hiểu lầm : Nối các tiếng sau đây thành các từ ghép chính phụ phù hợp về nghĩa

Với câu (c), GV nên hướng dẫn HS làm việc cá nhân để rèn kĩ năng viết Nếu có

NXBGDVN

Trang 30

điều kiện về thời gian, GV cho các em làm việc nhóm để cùng đọc, nhận xét các

bài tập của bạn và chỉnh sửa cho chính xác

– Phương tiện dạy học : GV linh hoạt lựa chọn phương tiện (Phiếu học tập,

giấy A0 ghi kết quả thảo luận, )

– Sản phẩm học tập của HS : Hoàn thành Phiếu học tập, kết quả thực hiện

của cá nhân hoặc nhóm

3 Luyện tập về liên kết trong văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để HS rèn kĩ năng sắp xếp các câu văn theo

thứ tự đúng để tạo tính liên kết, nhận ra được ngoài việc liên kết về mặt hình

thức, các câu văn còn phải đảm bảo sự liên kết về mặt nội dung (điều này có ý

nghĩa vô cùng quan trọng)

– Nội dung hoạt động : Với câu (a), thứ tự các câu văn được sắp xếp là :

3 – 2 – 1 Với câu (b), HS cần thấy được bề ngoài 2 câu văn tưởng như không

có sự liên kết nhưng thực ra về mặt nội dung chúng có sự liên kết chặt chẽ, đó

là mối quan hệ giữa kết quả và nguyên nhân theo quy luật tâm lí : mẹ không ngủ

được vì nghĩ đến ngày mai – ngày khai trường đầu tiên của con

– Phương pháp tổ chức dạy học : Yêu cầu của câu (a) khá đơn giản, HS có

thể làm việc cá nhân Với những HS khá giỏi, GV có thể điều chỉnh hoặc bổ sung

nhiệm vụ (Ví dụ : HS viết một đoạn văn khoảng 4 câu theo chủ đề tự chọn sau đó

chỉ ra tính liên kết của đoạn văn đó) Với yêu cầu (b), GV hướng dẫn HS nhận ra

sự liên kết về nội dung giữa hai câu văn Từ bài tập này, GV nhấn mạnh bên cạnh

sự liên kết dễ nhận thấy về hình thức, liên kết nội dung có thể không dễ nhận ra

nhưng có vai trò rất quan trọng

– Phương tiện dạy học : GV linh hoạt lựa chọn phương tiện (Phiếu học tập,

giấy A0 ghi kết quả thảo luận, )

– Sản phẩm học tập của HS : Hoàn thành Phiếu học tập, kết quả thực hiện

của cá nhân hoặc nhóm

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để HS kết nối những hiểu biết từ văn bản Cổng

trường mở ra với hiểu biết thực tiễn của HS ; tích hợp nội dung đọc hiểu (tình

mẫu tử) với nhiệm vụ tạo lập đoạn văn đảm bảo tính liên kết

– Nội dung hoạt động : HS có thể thực hiện ba nhiệm vụ (hoặc ít hơn) dựa

trên những gợi ý của sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7 và sự tư vấn của GV.

NXBGDVN

Trang 31

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV hướng dẫn HS xác định rõ yêu cầu của

nhiệm vụ (1), kết nối vấn đề đặt ra trong văn bản (kỉ niệm về ngày khai trường) vào thực tiễn của bản thân dưới hình thức hoạt động cộng đồng (trao đổi với bố

mẹ, người thân) GV có thể khuyến khích HS viết thành một đoạn văn Với nhiệm

vụ (2), GV hướng dẫn HS ghi lại dưới dạng nhật kí hoặc lời tâm sự, có thể gửi

vào hộp thư Điều em muốn nói Với nhiệm vụ (3), hình thức học cá nhân sẽ phù

hợp HS viết đoạn văn với chủ đề về mẹ, GV khuyến khích HS nói lên những lời chân thành nhất Nếu có điều kiện, cho HS chuẩn bị trình bày đoạn văn đã viết trước lớp, với những phương tiện bổ sung như đề cương bằng powerpoint, hình ảnh minh hoạ,… qua đó giúp các em có cơ hội bày tỏ tình cảm với mẹ của mình

– Phương tiện dạy học : thiết bị ghi âm, ghi hình (nếu có) ; bài viết của HS… – Sản phẩm học tập của HS : Những sản phẩm của HS thực hiện các nhiệm

vụ : câu trả lời, clip ghi âm, ghi hình (nếu có), bài viết,…

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Để HS có những hiểu biết sâu hơn về văn bản,

hoạt động này đặt ra nhiệm vụ : HS lựa chọn và ghi lại một số đoạn văn yêu thích

trong văn bản Cổng trường mở ra và lí giải vì sao mình thích Nhiệm vụ này nhằm

hình thành năng lực cảm thụ văn chương ở HS

– Nội dung hoạt động : HS ghi lại 2 – 3 đoạn văn mà mình yêu thích nhất

trong văn bản Cổng trường mở ra và lí giải vì sao mình thích.

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV nên khuyến khích HS làm theo quan

điểm của từng cá nhân, tập trung vào phần lí giải Có thể đưa ra những lí do thuyết phục từ giá trị nội dung hoặc nghệ thuật của đoạn trích

– Phương tiện dạy học : Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một, các tài liệu

tham khảo có liên quan,…

– Sản phẩm học tập của HS : Bài viết của cá nhân HS theo yêu cầu của

nhiệm vụ

3 Hoạt động đánh giá

Với bài học này, có thể đánh giá những năng lực sau của HS :

– Năng lực đọc hiểu văn bản : Kể lại, tóm tắt nội dung ; nhận ra được chủ đề

của văn bản nhật dụng đã đọc ; hiểu được mục đích của tác giả khi tạo lập văn

NXBGDVN

Trang 32

bản ; nêu đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của văn bản ; thu thập được thông

tin ; diễn giải và phân tích văn bản ; nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ thuật

của văn bản

– Năng lực tạo lập văn bản : Tạo lập các văn bản nói/ viết thể hiện cảm xúc,

suy nghĩ của bản thân về nội dung, nghệ thuật của văn bản nhật dụng đã học ;

tạo tính liên kết trong văn bản

– Năng lực cảm thụ thẩm mĩ : Nhận ra được những vẻ đẹp thể hiện qua giá

trị nội dung, nghệ thuật của văn bản nhật dụng đã học, đã đọc

– Năng lực hợp tác : Khả năng phối hợp với các thành viên khác (GV, bạn

bè, người thân) trong việc tổ chức các hoạt động học tập trong và ngoài lớp học

GV có thể sử dụng các hình thức vấn đáp, trắc nghiệm, tự luận, bài thực

hành, ; cần đánh giá thường xuyên ở tất cả các khâu, các công đoạn của quá

trình dạy học như : đánh giá trước bài học (đánh giá kinh nghiệm, vốn kiến thức

đã có của HS), đánh giá trong bài học (đánh giá sau mỗi bài tập/ nhiệm vụ), đánh

giá sau bài học Các câu hỏi/ bài tập có thể theo các dạng sau :

– Trắc nghiệm (cho nội dung đọc hiểu và các loại từ ghép) ; câu hỏi tự luận/

câu hỏi mở (yêu cầu HS lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ

thuật, chủ đề của văn bản ; những lỗi về liên kết, cách sửa )

– Bài nghị luận (yêu cầu HS kể chuyện sáng tạo, trình bày cảm nhận, nêu

quan điểm, suy nghĩ riêng của cá nhân về một vấn đề liên quan đến văn bản nhật

dụng đã đọc)

– Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị của văn bản ;

những loại lỗi liên kết trong văn bản, )

Khi tiến hành đánh giá sau bài học, cần tích hợp đánh giá các nội dung đọc

hiểu, tiếng Việt, tập làm văn

NXBGDVN

Trang 33

Bài 2

CUỘC CHIA TAY CỦA NHỮNG CON BÚP BÊ

I – MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần đạt được

– Kiến thức : Hiểu nội dung, ý nghĩa văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê, hiểu được về quyền trẻ em ; nhận biết được tầm quan trọng của bố cục trong văn bản và những biểu hiện về tính mạch lạc trong văn bản.

– Kĩ năng : Chỉ ra được những chi tiết thể hiện tâm trạng đau đớn và xúc động

của hai anh em trong cuộc chia tay ; trình bày được suy nghĩ về tình cảm anh em khăng khít, gắn bó và ý nghĩa lớn lao của tổ ấm gia đình ; bước đầu xây dựng được văn bản có bố cục hợp lí, có tính mạch lạc

– Thái độ : Trân trọng những tình cảm tốt đẹp của con người, có ý thức vun

đắp mái ấm gia đình, đồng cảm trước nỗi đau khổ của người khác ; có ý thức xây dựng bố cục và đảm bảo tính mạch lạc khi tạo lập văn bản

2 Các năng lực có thể hình thành và phát triển cho học sinh

– Năng lực đọc hiểu văn bản nhật dụng (cốt truyện, nhân vật, sự việc, cách miêu tả tâm trạng nhân vật) ;

– Năng lực tạo lập văn bản qua việc thực hành xây dựng bố cục văn bản ; thực hành tạo lập văn bản đảm bảo tính mạch lạc ;

– Năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp thông qua các hình thức hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm, cả lớp

II – TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH

1 Hướng dẫn chung

Tiếp cận với văn bản, người học cần kết nối được những vấn đề này với thực tiễn, từ đó có những suy nghĩ, hành động đúng đắn GV cần hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết chung về văn bản nhật dụng để nhận diện, xác định những thông tin cốt lõi, phát hiện tầm quan trọng, ý nghĩa của các vấn đề nêu lên trong văn

NXBGDVN

Trang 34

bản như biết đồng cảm trước nỗi đau của các bạn nhỏ nếu chẳng may rơi vào

hoàn cảnh gia đình bất hạnh, biết vươn lên trong khó khăn, biết trân trọng tình

anh em sâu nặng,

HS cần hiểu được nội dung, ý nghĩa của văn bản : Ca ngợi tình cảm sâu nặng

của hai anh em Thành, Thuỷ Cảm nhận được nỗi đau đớn, xót xa của những

bạn nhỏ khi bi kịch gia đình xảy ra Từ đó khẳng định tổ ấm gia đình là vô cùng

quan trọng với mỗi con người Mỗi thành viên trong gia đình cần cố gắng bảo vệ

và gìn giữ Bên cạnh đó là những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản : lối viết

giàu cảm xúc, cách kể chuyện chân thực, chất chứa yêu thương, sử dụng hiệu

quả các yếu tố biểu cảm, miêu tả

GV có thể tích hợp nội dung đọc hiểu cùng với hệ thống bài tập trong sách

giúp HS hiểu và xây dựng được văn bản có bố cục hợp lí, có tính mạch lạc

Các hoạt động dạy học cần tổ chức phù hợp và linh hoạt để đáp ứng mục

tiêu của bài học

2 Hướng dẫn cụ thể cho mỗi hoạt động

A Hoạt động khởi động

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Ở bài trước, HS đã được học về liên kết văn

bản Vì vậy trong hoạt động khởi động của bài này, bên cạnh việc dẫn dắt HS

nhằm giới thiệu văn bản đọc hiểu Cuộc chia tay của những con búp bê, GV tích

hợp với việc kiểm tra bài cũ, tạo cơ hội để HS vừa hình thành tâm thế đón nhận

bài học mới vừa có cơ hội vận dụng kiến thức cũ để giải quyết yêu cầu đặt ra

– Nội dung hoạt động : Yêu cầu HS xây dựng đoạn văn với chủ đề : “Điều

em mong muốn về gia đình mình” Đoạn văn cần đảm bảo tính liên kết cả về nội

dung và hình thức

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV yêu cầu HS thảo luận trong nhóm, cùng

trao đổi, chia sẻ những quan điểm cá nhân ; sau đó nhóm lựa chọn những ý

tưởng tốt nhất để xây dựng đoạn văn Tuỳ thuộc vào năng lực của HS trong lớp,

GV có thể sử dụng gợi ý như sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một hoặc đưa

thêm một số cụm từ gợi ý về chủ đề để đảm bảo thời gian của hoạt động Kết hợp

với việc kiểm tra bài cũ, GV yêu cầu các nhóm chỉ rõ đoạn văn của nhóm mình

đã đảm bảo tính liên kết về nội dung và hình thức như thế nào GV cũng có thể

gợi ý rõ hơn cho HS Ví dụ : Chủ đề được triển khai bằng những nội dung cụ thể

NXBGDVN

Trang 35

gì ở các câu 1, 2, 3, 4… ; có những phương tiện liên kết nào GV tổ chức cho đại diện các nhóm báo cáo kết quả trước lớp, các nhóm khác bổ sung, nhận xét GV nhận xét, khuyến khích các nhóm Từ chủ đề của đoạn văn, GV dẫn dắt HS vào hoạt động hình thành kiến thức, nội dung đọc hiểu văn bản.

1 Tìm hiểu văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Các câu hỏi đọc hiểu văn bản được thiết kế

theo trình tự, đảm bảo kĩ thuật đọc hiểu một văn bản truyện : bắt đầu từ yêu cầu liệt kê những sự việc chính trong truyện ; xác định các nhân vật của truyện, phân biệt nhân vật chính, nhân vật phụ ; lựa chọn những chi tiết tiêu biểu (nhận biết thông tin từ văn bản) ; tiếp theo đến yêu cầu nêu ý nghĩa của câu chuyện (xác định các ý tưởng nội dung quan trọng của văn bản) ; sau đó là yêu cầu tìm hiểu những khía cạnh thuộc giá trị nghệ thuật của văn bản, nhận ra những chi tiết quan trọng thể hiện ý nghĩa tư tưởng của câu chuyện (từng bước khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản) ; và cuối cùng là câu hỏi về vấn đề gợi ra trong tác phẩm – quyền trẻ em (kết nối những hiểu biết từ văn bản tới thực tiễn cuộc sống) Thông qua việc giải quyết các yêu cầu này, HS sẽ được củng cố về cách đọc hiểu một văn bản tự sự, hiểu được nội dung ý nghĩa của văn bản và đồng thời kết nối được những vấn đề đặt ra từ văn bản vào thực tiễn, làm phong phú hơn những hiểu biết của bản thân

– Nội dung hoạt động : Đọc hiểu văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê

để hiểu được nội dung ý nghĩa của câu chuyện Đó là một cuộc chia tay đau đớn và cảm động của hai anh em Thành, Thuỷ khi bố mẹ li hôn Câu chuyện giúp chúng ta hiểu rằng tổ ấm gia đình là vô cùng quý giá và rất cần được trân trọng, gìn giữ Mỗi thành viên trong gia đình cần ý thức sâu sắc điều đó và cùng vun đắp để tạo nên một cuộc sống yên vui, hạnh phúc, để giảm bớt những cảnh ngộ đau lòng như hai anh

em Thành, Thuỷ đang phải chịu đựng Bên cạnh nội dung này, hoạt động còn hướng tới việc khai thác một số nét nổi bật về giá trị nghệ thuật của văn bản

Ở yêu cầu (a), HS cần chỉ ra được : Những sự việc chính của câu chuyện :

Bố mẹ Thành, Thuỷ chia tay nhau ; hai anh em Thành, Thuỷ chia đồ chơi theo yêu cầu của mẹ ; Thành đưa Thuỷ đến trường chào cô giáo và các bạn ; hai anh

em từ biệt nhau, Thành ở lại với bố còn em Thuỷ về quê ngoại với mẹ Truyện

có các nhân vật : mẹ và hai anh em Thành, Thuỷ, cô giáo, các bạn Nhân vật

NXBGDVN

Trang 36

em xúc động nhất ? Vì sao ?”, mỗi nhóm có thể lựa chọn câu trả lời khác nhau,

nhưng đó phải là một chi tiết tạo nên sự xúc động ở người đọc và phần lí giải cần

có sức thuyết phục Ý nghĩa của câu chuyện : Thể hiện tình cảm chân thành, sâu

nặng của hai anh em ; nỗi đau đớn vò xé về tinh thần khi anh em ruột thịt vốn gắn

bó giờ phải xa lìa nhau do gia đình tan vỡ

Ở yêu cầu (b), HS cần xác định vị trí những thông tin cần thiết, tìm đọc đoạn

trích tái hiện hai cảnh tượng này ; gạch chân những từ thể hiện tâm trạng, cảm

xúc của Thuỷ, từ đó nhận xét về điểm giống (buồn, hoảng loạn, đau khổ,…) và

khác nhau trong tâm trạng của Thuỷ (khi ở nhà Thuỷ còn kìm nén cảm xúc của

mình, em lặng lẽ, như mất hồn, thỉnh thoảng khóc nấc lên, ; khi đến lớp cảm

xúc không còn kìm nén được, em cắn chặt môi im lặng, bật khóc thút thít, rồi nức

nở,…) Qua đó thấy được sự đồng cảm, tinh tế của tác giả khi miêu tả tâm trạng

đau khổ của một em nhỏ Ở yêu cầu (c), HS cần xác định được những nhân

vật trong câu chuyện đã có những hành động xoa dịu nỗi đau của Thuỷ (anh

Thành, cô giáo, các bạn) GV hướng dẫn HS tìm những hình ảnh, chi tiết trong

câu chuyện chứng tỏ điều đó Từ câu trả lời, GV khơi gợi ở HS sự đồng cảm,

chia sẻ trước nỗi đau của người khác Ở yêu cầu (d), GV có thể hướng dẫn HS

tìm đọc Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc để thấy được những căn

cứ được đề cập trong câu chuyện (trẻ em có quyền được bảo vệ và chăm sóc ;

quyền được đi học, những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là điều quan tâm hàng

đầu của cha mẹ…) Qua câu chuyện, tác giả gửi gắm mong ước trẻ em cần được

quan tâm, được sống vui vẻ, hạnh phúc

– Phương pháp tổ chức dạy học : Ở bước đọc văn bản, GV có thể tiến hành theo

cách : đọc mẫu một đoạn, sau đó mời 1 – 2 HS đọc tiếp cho đến hết bài Nên

nhận xét cách đọc của HS để rút kinh nghiệm Sau khi HS đọc xong văn bản, GV

hướng dẫn cả lớp đọc phần chú thích ; đánh dấu lại những từ chưa rõ để được

hỗ trợ (yêu cầu này cũng có thể đặt ra khi nghe đọc toàn bài trước lớp) Ở bước

tìm hiểu văn bản, GV có thể linh hoạt trong cách thức tổ chức các hoạt động cho

HS, khuyến khích các em chủ động tìm hiểu nội dung bài học Chẳng hạn, yêu

cầu (a) có thể tổ chức hoạt động nhóm ; hai yêu cầu (b), (c) có thể tổ chức theo

hình thức cá nhân hoặc cặp đôi ; yêu cầu (d) có tính khái quát, liên hệ thực tiễn

nên có thể tổ chức hoạt động chung cả lớp Điều quan trọng là qua hoạt động này

HS hình thành cách đọc hiểu một văn bản truyện : tìm hiểu những yếu tố cốt lõi

của câu chuyện (sự việc, nhân vật, chi tiết tiêu biểu) đến nội dung, ý nghĩa, nghệ

thuật, từ đó khái quát các giá trị của văn bản

– Phương tiện dạy học : Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một, Phiếu học

tập (để HS ghi lại kết quả làm việc cá nhân hoặc nhóm)…

– Sản phẩm học tập của HS : Hoàn thành các Phiếu học tập mà GV yêu cầu.

NXBGDVN

Trang 37

2 Tìm hiểu bố cục và những yêu cầu về bố cục của văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Bắt đầu bằng việc cung cấp khái niệm giúp HS

hiểu được thế nào là bố cục, lí giải được việc cần thiết phải chú ý tới bố cục khi xây dựng văn bản Yêu cầu (b) nhằm đối chiếu những kiến thức mà HS có được

từ yêu cầu (a) để thực hiện, từ đó củng cố những kiến thức về bố cục Yêu cầu (c) thể hiện tính tích hợp giữa hai phân môn : sử dụng văn bản vừa học để đưa

ra những nhận xét về bố cục, một lần nữa củng cố những kiến thức đã hình thành

về bố cục trong văn bản

– Nội dung hoạt động : Thực hiện các yêu cầu (a), (b), (c) để hình thành khái

niệm về bố cục, những yêu cầu để bố cục của văn bản rành mạch và hợp lí

Chẳng hạn với yêu cầu (a), GV hướng dẫn HS đọc khái niệm trong sách Hướng

dẫn học Ngữ văn 7, tập một để hiểu thế nào là bố cục Từ khái niệm này, HS sẽ sử

dụng làm căn cứ để lí giải tại sao khi xây dựng văn bản cần phải quan tâm tới bố cục (giúp cho nội dung của văn bản rành mạch, rõ ràng, hợp lí, có sức thuyết phục ; người đọc, người nghe thuận lợi khi tiếp nhận văn bản) Với yêu cầu (b), cần hướng dẫn HS đọc câu chuyện để hiểu được : Câu chuyện trên chưa rõ bố cục Các phần của câu chuyện chưa đi theo một trình tự nào Cách kể chuyện còn có chỗ bất hợp lí : thời gian diễn ra các sự việc lộn xộn, khiến cho người đọc khó theo

dõi (các trạng ngữ : trước kia, trước đó, cuối cùng) Bố cục câu chuyện nên được

sắp xếp lại theo trình tự : Ếch sống trong đáy giếng, thấy mình thật oai ; một năm trời mưa, nước trong giếng dềnh lên đưa ếch ra ngoài, ếch vẫn giữ thói nghênh ngang, nhâng nháo đi lại khắp nơi ; ếch bị con trâu giẫm bẹp

Với yêu cầu (c), HS cần xác định được bố cục của truyện Cuộc chia tay của

những con búp bê gồm 3 phần Phần 1 : Bố mẹ của Thành và Thuỷ chia tay, mẹ

bắt hai anh em phải mang đồ chơi ra chia đôi (từ đầu đến “khóc nhiều”) Phần 2 : Quá khứ đầy kỉ niệm của hai anh em và hiện tại đầy nước mắt của Thuỷ trong cuộc chia tay với cô giáo, với các bạn (từ “Đêm qua” đến “Anh xin hứa”) Phần 3 : Cảnh chia tay của Thuỷ và anh trai (2 câu cuối)

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV cần linh hoạt tổ chức các hoạt động

phù hợp với đối tượng HS Ví dụ, yêu cầu (a) có thể tổ chức hoạt động cá nhân, hướng dẫn HS sử dụng kĩ thuật đọc tích cực để tìm câu trả lời Với yêu cầu (b), (c), có thể tổ chức hoạt động nhóm hoặc hoạt động chung cả lớp GV hướng dẫn

HS thảo luận, chia sẻ quan điểm cá nhân, thống nhất và ghi lại câu trả lời, mời đại diện một nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét (sử dụng kĩ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực), GV chốt lại vấn đề để giúp HS hiểu rõ và ghi vào vở (nếu cần)

NXBGDVN

Trang 38

– Phương tiện dạy học : Ngoài sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một, GV

có thể dùng thêm giấy A0 để HS tạo lập sơ đồ thể hiện kết quả thảo luận

– Sản phẩm học tập của HS : Kết quả ghi chép của HS về nội dung học tập

(bố cục của văn bản)

3 Tìm hiểu về mạch lạc của văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Hoạt động này bắt đầu từ việc HS dựa trên gợi

ý đã cho để xác định đúng tính mạch lạc trong văn bản, từ đó rút ra những yêu

cầu về mạch lạc trong văn bản (đọc hiểu và tự chiếm lĩnh kiến thức)

– Nội dung hoạt động : Tìm hiểu về mạch lạc của văn bản qua những khái

niệm Yêu cầu (a) đặt ra nhiệm vụ HS đánh giá đúng/ sai với các nhận định để

có cách hiểu đúng về tính mạch lạc của văn bản Các nhận định : 1, 3, 4 đúng ;

2 sai. Tiếp tục sử dụng kết quả của yêu cầu (a) để thực hiện yêu cầu (b) ; khắc

sâu những lưu ý về tính mạch lạc của văn bản

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV hướng dẫn HS sử dụng kĩ thuật đọc tích

cực, kĩ thuật công não để giải quyết yêu cầu (a) GV có thể sử dụng kết hợp các

hình thức hoạt động cá nhân, hoạt động chung cả lớp Sau khi HS suy nghĩ và

có câu trả lời sẽ mời 1 – 2 HS phát biểu ; các HS khác lắng nghe và nhận xét (sử

dụng kĩ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực) ; GV chốt lại vấn đề (nếu cần thiết)

– Phương tiện dạy học : Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một.

– Sản phẩm học tập của HS : Kết quả ghi chép của HS về mạch lạc của văn bản.

1 Luyện tập về bố cục và tính mạch lạc của văn bản

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Mục đích chính của bài tập (1) là thực hành về

bố cục văn bản và mạch lạc trong văn bản Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ có

tính tích hợp của cả hai nội dung được học trong bài : rèn kĩ năng đọc hiểu văn

bản truyện ; kĩ năng thực hành xác định bố cục và tính mạch lạc của văn bản

– Nội dung hoạt động : Với bài tập (1), HS cần chỉ ra được : Văn bản đã đảm bảo

tính mạch lạc, các đoạn văn, câu văn đều tập trung kể về những cuộc thi của rùa

và thỏ với diễn biến, hành động, kết quả, suy nghĩ, tâm trạng của hai nhân vật Các

đoạn văn còn được kết nối với nhau trong mối liên hệ thời gian theo trình tự trước –

sau, vì vậy người đọc rất dễ theo dõi nội dung, diễn biến của câu chuyện

NXBGDVN

Trang 39

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV có thể tổ chức hoạt động học của HS

theo hình thức cá nhân hoặc cặp đôi, hướng dẫn HS đọc và xác định bố cục của văn bản (sử dụng kĩ thuật đọc tích cực) để nhận xét về tính mạch lạc của văn bản

và lí giải về điều đó (yêu cầu 1) GV mời 1 – 2 HS thực hiện yêu cầu này và các

HS khác cùng nhận xét, đánh giá về kết quả của bạn

– Phương tiện dạy học : GV linh hoạt lựa chọn phương tiện (Phiếu học tập,

giấy A0 ghi kết quả thảo luận, )

– Sản phẩm học tập của HS : Những ghi chép của HS về kết quả thực hành.

2 Luyện tập về đọc hiểu

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Bài tập (2) có mục đích thực hành đọc hiểu

văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê song cũng có điểm tương đồng với

bài tập (1) vì hướng tới việc rèn luyện cả hai kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện và thực hành xác định bố cục, tính mạch lạc của văn bản Đồng thời, bài tập còn tạo

cơ hội cho HS được rèn luyện kĩ năng nói (một phần khuyết thiếu khá lớn trong chương trình hiện hành)

– Nội dung hoạt động : Thực hành đọc hiểu văn bản để xác định bố cục, tính

mạch lạc của văn bản và chuẩn bị bài nói với chủ đề “Cảm nhận của nhóm sau

khi đọc xong chuyện Cuộc chia tay của những con búp bê” Mỗi nhóm có thể đưa

ra những cảm nhận, suy nghĩ khác nhau nhưng nội dung cần mạch lạc, rõ ràng,

có sức thuyết phục (Ví dụ : bài trình bày có thể nói về nỗi buồn, những mong ước, hay sự xúc động, cảm thông… được gợi ra từ câu chuyện)

– Phương pháp tổ chức dạy học : GV hướng dẫn HS học theo nhóm (có thể

sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn hoặc các mảnh ghép, tạo sơ đồ tư duy) GV mời đại diện một, hai nhóm trình bày trước lớp (sử dụng kĩ thuật bể cá, lắng nghe và phản hồi tích cực) Khi đại diện một nhóm trình bày, các nhóm còn lại lắng nghe,

nhận xét dựa theo những gợi ý của sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một :

Nội dung có hấp dẫn không ? Bố cục và tính mạch lạc của bài trình bày như thế nào ? Cách nói có thuyết phục không ?

– Phương tiện dạy học : GV linh hoạt lựa chọn phương tiện (Phiếu học tập,

giấy A0 ghi kết quả thảo luận, )

– Sản phẩm học tập của HS : Những ghi chép của HS về kết quả thực hành.

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Nhằm giúp HS kết nối những hiểu biết từ văn

bản đọc hiểu vào thực tiễn cuộc sống ; vận dụng những kiến thức về bố cục của

NXBGDVN

Trang 40

văn bản, mạch lạc của văn bản để tự nhận xét, đánh giá một bài viết văn của bản

thân, góp phần hình thành, phát triển năng lực tạo lập văn bản

– Nội dung hoạt động : Hoạt động này đặt ra hai yêu cầu : (1) Từ tình cảm anh

em thắm thiết trong câu chuyện đã học, HS liên hệ thực tế để kể một câu chuyện

khác cũng nói về tình anh em sâu nặng (2) Tự nhận xét một bài viết của bản thân

dựa trên những kiến thức đã được học về bố cục, mạch lạc của văn bản

– Phương pháp tổ chức dạy học : Ở yêu cầu (1), GV có thể hướng dẫn HS

làm việc theo nhóm ; yêu cầu (2) cần thực hiện theo hình thức cá nhân Để kiểm

soát được kết quả tự học của HS ở hoạt động vận dụng, GV nên yêu cầu HS làm

ra vở GV cần sắp xếp thời gian phù hợp để chia sẻ, đánh giá những sản phẩm

của HS, động viên khuyến khích các em phát triển năng lực tự học Với yêu

cầu (1), HS có thể tham khảo ý kiến của người thân, tìm hiểu và kể lại một câu

chuyện cho thấy tình cảm anh em thắm thiết trong thực tế cuộc sống Mục đích

của nhiệm vụ này là giúp HS kết nối được những vấn đề đặt ra trong văn bản vào

cuộc sống, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về tình anh em Đó là tình cảm cao đẹp

không chỉ có trong sách vở mà đã, đang và sẽ tồn tại trong cuộc sống nhằm khơi

gợi ở HS những cảm xúc tích cực Lưu ý HS cách kể chuyện rõ ràng với bố cục

hợp lí, đảm bảo tính liên kết, tính mạch lạc Với yêu cầu (2), HS cần sử dụng một

bài văn viết gần đây nhất của bản thân để phân tích bố cục và tính liên kết của

bài văn và rút ra nhận xét HS sẽ ý thức được việc “học đi đôi với hành”, sẽ làm

quen với cách tự đánh giá chính sản phẩm của mình Đây cũng là một việc làm

rất cần thiết giúp các em có thể tự điều chỉnh và phát triển kĩ năng viết của mình

– Phương tiện dạy học : Sách Hướng dẫn học Ngữ văn 7, tập một, các tư liệu

từ sách báo địa phương

– Sản phẩm học tập của HS : HS có được một câu chuyện cảm động về tình

anh em ; có bảng tự nhận xét về bài viết văn của mình

– Ý tưởng thiết kế hoạt động : Hoạt động này sẽ giúp cho HS mở rộng kiến

thức đọc hiểu văn bản, nâng cao hiểu biết của bản thân về những vấn đề có liên

quan đến quyền lợi của các em ; thấy được tác dụng của việc đảm bảo tính mạch

lạc của văn bản trong khi nói và viết, từ đó ý thức rõ hơn về tính thiết thực của

việc học môn Ngữ văn trong nhà trường

– Nội dung hoạt động : Thực hiện các yêu cầu để biết thêm về quyền trẻ em ; về

sự cần thiết phải đảm bảo tính mạch lạc trong khi nói và viết Với yêu cầu (1), HS

NXBGDVN

Ngày đăng: 22/09/2020, 22:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w