Hiện nay, với việc sưu tầm được nhiều tư liệu, với những nỗ lực của các nhà nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam cũng như trên thế giới, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã đi tìm những tiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
NGHIÊN CỨU TRUYỀN THUYẾT
CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội -2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS Mai Thị Hồng Hải
Hà Nội -2009
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Bố cục luận văn 16
PHẦN NỘI DUNG Chương1: Một số vấn đề lý luận chung 17
1.1 Một số khái niệm 17
1.1.1 Khái niệm truyện kể dân gian 17
1.1.2 Khái niệm truyền thuyết 20
1.2 Vấn đề phân loại truyền thuyết dân gian 22
1.3 Một vài vấn đề về các nhóm ngôn ngữ - tộc người của Việt Nam và việc lựa chọn nghiên cứu truyền thuyết của một số dân tộc 25
Tiểu kết 30
Chương 2: Truyền thuyết của một số dân tộc ít người ở Việt Nam,
một vài nét về nội dung
Trang 42.1 Truyền thuyết dân gian dân tộc Tày 32
2.2 Truyền thuyết dân gian dân tộc Thái 53
2.3 Truyền thuyết dân gian dân tộc Khơ Me 61
Tiểu kết 66
Chương 3: Truyền thuyết của một số dân tộc ít người ở Việt Nam, một vài nét về nghệ thuật 3.1 Kết cấu, cốt truyện 68
3.2 Nhân vật và mô típ 73
Tiểu kết 81
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Dân tộc Việt Nam là một Quốc gia bao gồm nhiều dân tộc Bên cạnh dân tộc Việt (Kinh), còn có 53 dân tộc ít người khác Vì vậy, cộng đồng dân tộc Việt Nam có nhiều ngữ hệ và văn hóa Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân tộc Việt Nam đã cùng nhau gìn giữ, xây dựng đất nước, xây dựng nên truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam
và chung đúc nên một cộng đồng văn hóa vừa thống nhất vừa đa dạng
1.2 Trong kho tàng văn học dân gian, truyền thuyết là một thể loại có vị
trí quan trọng Xuyên suốt lịch sử của dân tộc Việt Nam, truyền thuyết đã
in sâu vào tâm trí người Việt Nam chúng ta niềm tin rằng chúng ta là “con Lạc, cháu Hồng” Tổ tiên của dân ta là Hùng Vương Hàng năm, người Việt rủ nhau đi giỗ Tổ ở Đền Hùng với tất cả tấm lòng sùng kính và biết ơn sâu sắc Tuy nhiên, trước đây, một thời gian dài, một số nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam không công nhận truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian Hiện nay, với việc sưu tầm được nhiều tư liệu, với những
nỗ lực của các nhà nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam cũng như trên thế giới, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã đi tìm những tiêu chí để xác định những đặc trưng nội dung, nghệ thuật của thể loại này và định vị được vị trí của truyền thuyết trong kho tàng tự sự dân gian Truyền thuyết đã được công nhận là một thể loại văn học dân gian
1.3 Truyền thuyết dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam có những đặc điểm nội dung và nghệ thuật độc đáo, phong phú về mặt chủ đề và đa dạng
Trang 6cách thức thể hiện Nhưng trong thực tế, số lượng truyền thuyết các dân tộc thiểu số (DTTS) sưu tầm được so với các thể loại văn học dân gian (VHDG) khác ít hơn Do tính chất truyền miệng và được truyền khẩu bằng ngôn ngữ của các tộc người nên truyền thuyết dân gian của các DTTS chưa có điều kiện sưu tập được đầy đủ Vì vậy, việc nghiên cứu, sưu tầm biên soạn truyền thuyết các DTTS ở Việt Nam trên một số phương diện chưa được chú ý nhiều Việc giảng dạy, giới thiệu về truyền thuyết các DTTS cũng đang gặp phải nhiều khó khăn Chính vì vậy, việc tìm hiểu truyền thuyết các DTTS ở Việt Nam để hiểu biết thêm về vốn văn hóa dân gian của các dân tộc anh em là một việc có ý nghĩa lớn, góp phần tích cực vào việc tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc anh em và sự nghiệp xây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh
1.4 Văn học dan gian, trong đó có truyền thuyết, với ưu thế về chất liệu ngôn từ trong sự phản ánh thực tại, là sự kết tinh và tích hợp những giá trị ưu tú nhất của văn hoá dân gian, chuyển tải gia tài văn hoá truyền thống của một dân tộc được trải nghiệm qua không gian và thời gian, được bảo lưu và trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Do vậy, việc tìm hiểu những vấn đề mà truyền thuyết của từng dân tộc hướng tới là khai thác những di sản văn học của các dân tộc ít người, có ý nghĩa lâu dài góp phần vào công cuộc xây dựng nền văn hóa nền văn hóa Việt Nam “thống nhất trong đa dạng”
Coi trọng văn hoá truyền thống chính là coi trọng nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc, vì vậy Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ
V khoá VIII đã nêu rõ: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết động đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới
và giao lưu văn hoá Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống.”
Trang 7Với tất cả những lý do đã nêu và trên cơ sở kế thừa những thành tựu
của các nhà nghiên cứu, chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc ít người ở Việt Nam” với mong muốn tìm hiểu thêm về truyền thuyết các dân tộc anh em Từ đó, góp phần nâng cao những hiểu biết của mình về truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung, truyền thuyết các dân tộc ít người nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện kể dân gian bao gồm các thể loại: Thần thoại Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện ngụ ngôn Theo tài liệu mà chúng tôi thu thập được, truyền thuyết dân gian Việt Nam được sưu tầm khá sớm Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rằng, hiện nay, việc sưu tầm và nghiên cứu truyền thuyết vẫn đang được các học giả quan tâm.Việc nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc ít người ở Việt Nam là một đề tài rộng lớn và khó, liên quan đến rất nhiều vấn đề, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn xin chỉ đề cập đến hai vấn đề chính là:
- Một số vấn đề về tình hình nghiên cứu về truyền thuyết dân gian ở Việt Nam
- Một số vấn đề về tình hình nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc ít người ở Việt Nam
Ở tất cả những vấn đề trên, luận văn đều được tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước Chúng tôi xin lược thuật một số
ý kiến liên quan đến hai vấn đề trên như sau:
2.1 Lược thuật một số vấn đề về tình hình nghiên cứu truyền thuyết dân gian ở Việt Nam
Trang 8Trong một thời gian dài các nhà nghiên cứu chưa coi truyền thuyết là một thể loại Truyền thuyết có khi được xếp trong thể loại thần thoại hay truyện cổ tích Về điểm này, chúng tôi xin ghi nhận ý kiến của PGS.TS Trần Thị An “ Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyền thuyết là một thể loại có số phận đặc biệt Có khi truyền thuyết bị loại khỏi văn học dân gian, đề nghị đưa sang sử (dã sử), có khi nó lại được được coi như là một tiểu loại của truyện cổ tích (cổ tích lịch sử) Trong vài chục năm lại đây, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã đi đến thống nhất coi truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian” [4, 1]
Ngược dòng thời gian, chúng ta nhận thấy đến những năm 50 của thế
kỷ XX, thuật ngữ truyền thuyết được ra đời và mới được đề cập nhiều Trước hết về việc phân biệt truyền thuyết với các thể loại khác, có thể kể một số công trình sau:
Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, khi xác định ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết
đã viết: Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra không thì không có gì bảo đảm Như vậy, có những truyền thuyết lịch sử, mà cũng có những truyền thuyết khác hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi vọng Phu…) hoặc
kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện Bánh chưng bánh giầy, Chuyện Trầu cau…), hoặc giải thích phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp và tất cả những chuyện kỳ lạ khác
Bài viết “Tư tưởng chủ yếu của người Việt thời cổ qua những truyện đứng đầu trong thần thoại và truyền thuyết” của GS Trần Văn Giầu
(bút danh Tầm Vu), đã viết: “Truyền thuyết nặng về đề tài lịch sử hơn là thần thoại, một phần vì cuộc đấu tranh trong xã hội gay gắt thu hút sự chú ý của con người, phần khác vì dân số, công cụ và tri thức đã phát triển khá
Trang 9đến mức đối với thiên nhiên con người được ít nhiều bảo vệ Bây giờ, người anh hùng hay nhân dân anh hùng được thần hoá trong truyền thuyết Câu chuyện thường thường không còn giản dị như trong thần thoại, mà trở nên càng ngày càng phức tạp hơn; mặt khác, nhìn chung trí tưởng tượng trong truyền thuyết cũng khhông bay bổng bằng trong thần thoại, càng về sau, thần trong truyền thuyết càng không được phóng khoáng vô tư như thần trong thần thoại có lẽ vì ảnh hưởng của ý thức hệ của giai cấp bóc lột”
[52,18]
Bài viết Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử của nhà
nghiên cứu Phan Trần cho rằng: “Phân biệt thần thoại (mythe) và truyền
thuyết (légende) không phải là dễ dàng Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử Những nhân vật, sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân Yếu tố lịch sử, hư cấu và truyền miệng đã khiến cho truyền thuyết vừa là đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian vừa là tài liệu tham khảo của khoa học lịch sử Phân biệt thần thoại và truyền thuyết không phải là dễ dàng Đại thể thì truyền thuyết
là những sáng tác dân gian, những câu chuyện dân gian có dựa trên cơ sở những sự kiện lịch sử nào đó
Về vấn đề nghiên cứu những đặc trưng của thể loại truyền thuyết, có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:
Công trình Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971) đã tập hợp một số bài viết
có giá trị về truyền thuyết Trong đó, chuyên khảo Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của GS.TS Kiều Thu Hoạch là chuyên khảo khoa
học được coi như một cái mốc đầu tiên trong việc nghiên cứu truyền thuyết
từ góc độ thể loại
Trang 10Năm 1990, một số công trình nghiên cứu tiếp tục đề cập đến nhiều vấn đề về lý thuyết thể loại truyền thuyết Năm 1990 hai bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học Sư phạm hà Nội và
trường Đại học Tổng hợp được viết lại Đó là cuốn Văn học dân gian Việt Nam, tập II, do GS.Hoàng Tiến Tựu viết (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1990) và cuốn Văn học dân gian Việt Nam (Nxb Đại học và Giáo dục chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1990) do GS.TS Lê Chí Quế chủ biên Trong bộ giáo trình này, GS.TS Lê Chí Quế “đã thừa nhận sự tồn tại độc lập của truyền thuyết như là một thể loại trong kho tàng tự sự dân gian” [ 1, 15]
Năm 2000, PGS.TS Trần Thị An với công trình nghien cứu Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hoá truyền thuyết dân gian Việt Nam [ 1] đã có nhiều đóng góp, ghi dấu ấn quan trọng trong tiến
trình nghiên cứu truyên thuyết về mặt thể loại Công trình của PGS.TS Trần Thị An nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyền thuyết, làm sáng tỏ những đặc trưng loại biệt của thể loại truyền thuyết trong sự phân biệt với các thể loại khác trong kho tàng văn học dân gian, xác lập những đặc trưng
về nội dung và hình thức nghệ thuật của thể loại truyền thuyết dân gian Từ việc phân tích một số truyền thuyết cụ thể, công trình đã chỉ ra các lớp lịch
sử của truyền thuyết cùng với việc sử dụng các môtip dân gian, các biểu tượng văn hoá, các cách kể, vv và rất nhiều vấn đề có liên quan đến lý thuyết thể loại truyền thuyết Chúng tôi xem công trình này là những chỉ dẫn, gợi ý bổ ích cho đề tài luận văn
2 2 Lược thuật một số vấn đề về tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Về tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam đã có kết quả khảo sát, nghiên cứu của PGS.TS Trần Thị An
Trang 11trong bài viết Nhận diện truyền thuyết các dân tộc thiểu số Việt Nam [4]
Luận văn xin được kế thừa và lược thuật một số ý kiến như sau:
Nhận định chung về tình hình sưu tầm, biên soạn truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, PGS.TS Trần Thị An viết: “ Trong khi truyền thuyết của người Việt được sưu tầm và văn bản hóa khá sớm về thời gian, phong phú về số lượng thì truyền thuyết các dân tộc thiểu số hầu như chưa được chú ý Thành tựu sưu tầm văn học dân gian các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung vào các thể loại: truyện cổ tích, tục ngữ, dân ca, truyện thơ và
sử thi”[4]
Kết quả tổng hợp sơ lược về thành tựu sưu tầm tài liệu truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của PGS.TS Trần Thị An đã cho thấy: trong các dân tộc thiểu số, dân tộc Chăm là dân tộc có truyền thuyết được ghi chép sớm nhất Dân tộc thứ hai có truyền thuyết được sưu tầm xuất bản tương đối sớm là Khơ Me Dân tộc thứ ba có số lượng truyền thuyết được sưu tầm và công bố tương đối nhiều là dân tộc Tày Dân tộc thứ tư có sô lượng truyền thuyết được sưu tầm khá nhiều là dân tộc Mường Dân tộc thứ năm là dân tộc Thái; Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên là những dân tộc
có số lượng truyền thuyết được sưu tầm khá muộn…[4]
Về tình hình nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc thiểu số::
- “Những người có công đi đầu và dành nhiều tâm huyết trong việc nghiên cứu văn học dân gian các DTTS là Võ Quang Nhơn và Phan Đăng
Nhật Trong bài viết Thần thoại và truyền thuyết các dân tộc ít người, một
bộ phận của nền văn học dân gian Việt Nam thống nhất, đa dạng ( mà người đọc có thể nhận thấy một phần của cuốn Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam), Võ Quang Nhơn đã chỉ ra rằng, về cơ bản, các
truyện kể dân gian của các DTTS là thần thoại, yếu tố truyền thuyết chỉ đan xen thưa thớt trong các câu chuyện cụ thể mà thôi.” [4]
Trang 12Cũng trong bài viết nêu trên, PGS.TS Võ Quang Nhơn đã đưa ra kết luận về ba chủ đề lớn của thần thoại và truyền thuyết các dân tộc thiểu số: Kết luận thứ nhất là: Các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam có cùng nguồn gốc chung và có cùng nền văn hoá chung Kết luận này được rút ra từ thần thoại về việc sinh ra con người Kết luận thứ hai là văn hoá dân gian các dân tộc Việt Nam có một đặc điểm chung là ngợi ca những con người đã có công khai phá thiên nhiên, sáng tạo ra những thành tựu văn hoá có ý nghĩa trên bước đường tiến hoá của dân tộc Kết luận này được rút ra từ sự tích các truyện kể về những vị thần chinh phục thiên nhiên như Ải Lậc Cậc (Thái), Pú Luông - Gỉa Cải (Tày), Prông Pha (ÊĐê) hay những anh hùng sáng tạo văn hoá như Đam San lấy thóc giống từ trên trời cho người Ê Đê, thần Nđu mang thóc cho người Xrê, người Mạ Theo PGS.TS Võ Quang Nhơn, mức độ hiện thực của các nhân vật này khác nhau “thể hiện bình diện xã hội lịch sử” của họ Như vậy, kết luận thứ hai được khái quát lên từ những nhân vật có sự đan xen giữa thần thoại và truyền thuyết Kết luận thứ ba là văn hoá các dân tộc thiểu số đã tập trung ca ngợi những nhân vật kiệt xuất đầy mưu trí và dũng cảm, cùng nhân dân đứng lên chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ những thành quả lao động và thành tựu văn hoá, bảo vệ cuộc sống cộng đồng Kết luận này được khái quát từ sự phân tích các nhân vật dũng sĩ đại diện cho sức mạnh cộng đồng, đó là những nhân vật truyền thuyết của các dân tộc thiểu số
Trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách
mạng tháng Tám), GS.TSKH Phan Đăng Nhật “đã chỉ ra sự đan xen của ba thể loại thần thoại - truyền thuyết - truyện cổ tích” [34] Bên cạnh đó, công trình này còn cho thấy rõ vai trò tính diễn xướng của VHDG các DTTS, mối quan hệ giữa VHDG các DTTS với văn học thành văn
Trang 13GS TSKH Phan Đăng Nhật đã chia văn học dân gian các dân tộc thiểu số ra thành ba loại hình: Văn học nói, văn học kể và văn học hát Trong phần văn học kể, tác giả tập trung viết hai thể loại là truyện cổ tích
và truyện cười Trong phần viết về truyện cổ tích, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ, sự đan xen giữa hai thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích và tập trung viết về ba kiểu truyện: Truyện về người dũng sĩ (tác giả gọi là truyện
cổ tích anh hùng), truyện về người mang lốt và truyện về người mồ côi với một số điểm như:
Kết cấu của nhóm truyện cổ tích dũng sĩ có sự tương đồng khá lớn với kết cấu truyền thuyết; Kết cấu thường gặp của truyện cổ tích dũng sĩ gồm 4 phần: Ra đời thần kỳ, ăn khoẻ, có sức mạnh, có tài; Thử thách gian nan để trưởng thành, tập hợp lực lượng để làm việc nghĩa; Chiến đấu ác liệt, dũng cảm để trừ ác thú, yêu quái; Cứu được nhân dân, đồng đội, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc
Nhìn bề ngoài, kết cấu này có sự tương đồng giữa truyền thuyết và
cổ tích nhưng khi phân tích sâu hơn, GS.TSKH Phan Đăng Nhật đã chỉ ra một đặc điểm tương đối rõ của thể loại truyền thuyết trong nhóm truyện cổ tích dũng sĩ từ phương diện nội dung Loại này cũng như truyền thuyết, thường phản ánh chân thật đến một mức nào đó khiến nó có “một cái lõi lịch sử”- theo lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng “Có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con người yêu thích ”[34, 97]
Ngoài ra, GS.TSKH Phan Đăng Nhật trên Tạp chí Văn học, 1977 số
6 có bài viết Cố gắng phân loại văn học dân gian các dân tộc ít người như
nó vốn tồn tại trong cuộc sống Tác giả Nguyễn Khánh Toàn, trong Tạp chí
Trang 14Văn học, 1970 số 3 đã có bài viết Về văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Thực tế cho thấy là chưa có những công trình đi sâu nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Cho đến năm 2009, Viện Khoa học
Xã hội xuất bản cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 16 với tiêu đề: Truyện cổ tích và truyền thuyết Trong phần Dẫn
luận của thể loại truyền thuyết, PGS.TS Trần Thị An đã nhận diện tổng quan về truyền thuyết các DTTS ở Việt Nam, đã nghiên cứu xác định những đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật truyền thuyết của các DTTS ở Việt Nam Vì khuôn khổ và yêu cầu của bộ Tổng tập chỉ đăng tải truyền thuyết các DTTS ở Việt Nam dưới dạng song ngữ nên phần Truyền thuyết trong Tập 16 chỉ công bố một số truyền thuyết của các dân tộc Ê Đê, Mnông, Tà Ôi, Tày PGS.TS Trần Thị An trong bài viết đã giới thiệu rất kỹ
về tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc ít người ở Việt Nam, cũng như đã khảo sát, phân tích cụ thể sâu sắc 16 truyền thuyết song ngữ được tuyển chọn của các dân tộc nói trên Đặc biệt là bài viết của PGS.TS Trần Thị An đã đưa ra những nhận xét về đặc điểm nội dung, nghệ thuật truyền thuyết của các DTTS nói chung, những nhận xét bước đầu về truyền thuyết của một số dân tộc (ÊĐê, Mơ Nông, Tà ôi, Tày )
Có thể nói, cho đến thời điểm này, người có công trình nghiên cứu về truyền thuyết nói chung và truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
có hệ thống là PGS.TS Trần Thị An với những công trình tiêu biểu: Luận
án về truyền thuyết là Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hoá truyền thuyết dân gian Việt Nam và Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, (Tập 16) Đây là hai công trình đã gợi mở
nhiều điều bổ ích cho việc triển khai thực hiện luận văn và luận văn cũng
đã tiếp thu, kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu từ hai công trình này
Trang 15* Về các luận án, luận văn nghiên cứu, giới thiệu về truyền thuyết các dân tộc ít người ở Việt Nam, còn có các đề tài sau:
Năm 1995, Nguyễn Thị Thu Vân trong luận văn Thạc sĩ Bước đầu khảo sát truyện cổ Chăm (Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) là
công trình đầu tiên hệ thống hoá các mô típ truyện cổ Chăm, trong đó có truyền thuyết dân tộc Chăm
Theo ý kiến của PGS.TS Trần Thị An, về truyền thuyết của người Chăm, hiện nay có hai câu chuyện vẫn đang gây tranh cãi Đó là truyền thuyết về nữ thần Pônaga của người Chăm và Thánh Mẫu Thiên Y A Na của người Việt Hai truyện này xuất hiện trong một số tuyển tập truyện cổ Chăm nên được một số nhà sưu tầm, nghiên cứu mặc nhiên công nhận là truyền thuyết của người Chăm
Luận văn kể trên của Nguyễn Thị Thu Vân đã được phát triển thành
luận án tiến sỹ với đề tài Khảo sát đặc điểm truyện cổ dân tộc Chăm Trong
luận án này, ở mục phân loại truyền thuyết Chăm, Nguyễn Thị Thu Vân đã nêu: số lượng truyền thuyết Chăm sưu tầm được rất ít, nhưng vẫn có thể nhận diện được hai nhóm: nhóm truyền thuyết thần thoại và truyền thuyết lịch sử Việc thừa nhận có một tiểu loại truyền thuyết - thần thoại, đúng như nhận xét của PGS.TS Trần Thị An “ một mặt cho thấy sự lúng túng của tác giả luận án, nhưng mặt khác, nó phản ánh tình trạng đan xen một cách chặt chẽ hai thể loại thần thoại và truyền thuyết như là một hiện tượng phổ biến trong truyền thuyết các DTTS, mà truyền thuyết Chăm là một trường hợp”
Về truyền thuyết của người Khơ Me, năm 2006, luận án tiến sỹ của Phạm Tiết Khánh là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên Công trình này đã chỉ ra sự cần thiết đối với việc thống kê, khảo sát, phân loại, phân tích, so sánh văn học dân gian các DTTS nói chung, truyền thuyết dân gian
Trang 16Khơ Me nói riêng Trong luận án, sau khi thống kê các truyền thuyết dân gian Khơ Me, tác giả đã nêu nhận xét: Truyền thuyết dân gian Khơ Me Nam Bộ chủ yếu tập trung vào các mảng đề tài về giải thích các sự kiện văn hóa, phong tục và lễ hội và giải thích địa danh
Nhìn chung, việc đi sâu nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc ít người
ở Việt Nam có thể nói vẫn là một hướng mở Tiếp thu và kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu về thể loại truyền thuyết nói chung, truyền thuyết các dân tộc ít người nói riêng, đề tài luận văn bước đầu tìm hiểu thêm một vài vấn đề cụ thể của truyền thuyết các dân tộc ít người ở Việt Nam thông qua việc khảo sát truyền thuyết của một số dân tộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bao gồm 53 dân tộc, cư trú đan xen với nhau, trải dài trên một địa bàn rộng lớn từ Bắc vào Nam Truyền thuyết của các dân tộc ít người cũng chưa được sưu tập đầy đủ “ Việc điểm qua lịch
sử sưu tầm và xuất bản truyền thuyết các DTTS như trên cho thấy một thực
tế là: trong tương quan so sánh với các thể loại khác như thần thoại, truyện
cổ tích, tục ngữ, dân ca, truyền thuyết là một thể loại ít thuhút được sự chú
ý của nghệ nhân dân gian các dân tộc thiểu số” [4.] Vì vậy, do điều kiện có hạn về tư liệu, trong phạm vi có thể tổng hợp được tài liệu, luận văn chỉ xin tìm hiểu truyền thuyết của một số dân tộc thiểu số thuộc một vài nhóm ngữ
Trang 17Luận văn sẽ đi vào tìm hiểu truyền thuyết dân gian của một số dân tộc nói trên ở hai phương diện chủ yếu là nội dung và hình thức nghệ thuật
3.2 Giới hạn tư liệu tham khảo
Trong thực tế, truyện kể dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, được chuyển giao từ thế
hệ này sang thế hệ khác Vì vậy, việc sưu tầm, ghi chép lại truyền thuyết của các dân tộc là một việc không dễ dàng Truyền thuyết dân gian của các dân tộc thiểu số lại thường được tập hợp chung với truyện kể dân gian Để đam bảo độ tin cậy về mặt tư liệu, luận văn chỉ khảo sát truyền thuyết của các dân tộc Thái, Tày, Khơ Me đã được sưu tập trong các sách về truyện kể dân gian của một số DTTS đã xuất bản Sau đây là nguồn tư liệu chủ yếu được khảo sát và được trích dẫn trong luận văn:
1 Tổng tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam, Đặng Nghiêm
Vạn chủ biên, Nxb Đà Nẵng, 2002
2 Truyện cổ Khmer Nam Bộ, Huỳnh Ngọc Trảng, Nxb Văn hoá, Hà
Nội, 1983
3 Truyện cổ Bắc Kạn, Vũ Anh Tuấn, Lâm Xuân Đình, Bàn Tuấn Năng,
Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Bắc Kạn, 2000
4 Truyện cổ Việt Bắc, Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa - Viện Văn học, H.1963
5 Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 16:
Phần Truyền thuyết, Trần Thị An (biên soạn) Viện Khoa học xã hội Việt Nam-Viện Nghiên cứu Văn hoá, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2009
Trang 18Ngoài ra, luận văn còn khảo sát thêm các truyền thuyết về các nhân vật như Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Cẩu chúa cheng vua (Chín chúa tranh ngôi vua) và tư liệu truyền thuyết được trích dẫn trong một số tài liệu khác
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận văn thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản sau:
- Khảo sát truyền thuyết của các dân tộc (Thái, Tày, KhơMe), làm sáng
tỏ một giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn
và giữ gìn di sản văn hóa của các dân tộc
- Qua đó tìm hiểu một vài nét về diện nội dung và hình thức thể hiện của truyền thuyết dân gian một số dân tộc thiểu số (Thái, Tày, KhơMe),
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng thuật và miêu tả
- Phương pháp sưu tầm, khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích so sánh
- Phương pháp tổng hợp hệ thống tư liệu
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Phần tài liệu tham khảo, Phần nội dung của luận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung
Chương 2: Truyền thuyết của một số dân tộc ít người ở Việt Nam, một vài nét về nội dung
Chương 3: Truyền thuyết của một số dân tộc ít người ở Việt Nam, một vài nét về nghệ thuật
Trang 19PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1 Một số khái niệm
1.1 Khái niệm truyện kể dân gian
Trong một số công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở
nước ta, đôi khi khái niệm truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian được xem là đồng nhất với khái niệm truyện cổ tích Người ta định nghĩa
truyện cổ tích là truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian Cách hiểu này không sai, nhưng nó sẽ trở nên phức tạp nếu ai đó hiểu theo điều ngược lại, tức cho rằng mọi câu chuyện đời xưa, mọi chuyện cổ dân gian đều là truyện cổ tích Nếu vậy truyền thuyết cũng là truyện đời xưa, là truyện cổ dân gian, suy ra truyền thuyết cũng là cổ tích Một vấn đề khác, trong quá trình vận động nội tại theo trục thời gian, một bộ phận truyền thuyết dần lu
mờ yếu tố lịch sử, bị chuyển hóa chức năng về thể loại, đã trở thành cổ tích Thế nhưng, không ít người sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian vẫn
“giam giữ” chúng trong kho truyền thuyết hiện tượng trên, tuy không phổ biến nhưng vẫn là một khía cạnh phức tạp của vấn đề thể loại Điều này buộc người sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết phải nghiên cứu kỹ hơn mối quan hệ cũng như sự khác biệt giữa hai thể loại này, cũng như việc đồng nhất các truyền thuyết với thần thoại
Trang 20Theo lý thuyết folklore, truyền thuyết và cổ tích là hai loại khác biệt nhau rõ rệt PGS Đỗ Bình Trị khẳng định: “Truyện cổ tích và truyền thuyết lịch sử là hai thể loại có sự khác biệt lớn về chức năng và thi pháp”
Từ điển văn học cũng định nghĩa cụ thể từng khái niệm Hầu hết giáo
trình văn học dân gian đều có phần mục riêng về đặc điểm thi pháp của từng thể loại Tuy vậy, ngay trong lý thuyết, vẫn còn vài điểm chưa minh bạch về mối quan hệ và ranh giới giữa hai thể loại này GS.Chu Xuân Diên nhận định “ Ở Việt Nam, đã từng có xu hướng không phân biệt truyện cổ tích và truyền thuyết về phương diện thể loại: hoặc hai loại truyện kể đó chỉ chỉ có sự khác biệt về trình độ phát triển, hoặc cho rằng không có thể loại truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn xuôi dân gian, do đó trong phân loại cũng như trong nghiên cứu đã gộp chung cả hai nhóm truyện đó làm một”.[5,75]
Thực tế nhiều khi việc xác định một truyện cổ dân gian nào đó là truyền thuyết hay cổ tích thật không đơn giản Xin nêu vài dẫn chứng như
sau: Theo PGS Đỗ Bình Trị, trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi, toàn bộ các truyện thuộc mục II (Sự thật đất nước Việt) và mục V (Sự tích anh hùng nông dân) được soạn giả đưa vào thể loại
cổ tích, nhưng thực ra, tất cả “ đều là những truyền thuyết lịch sử” Cho nên, PGS Đỗ Bình Trị đòi hỏi “ phải trả những truyện này về cho thể loại của nó”
GS Chu Xuân Diên cũng đồng quan điểm như vậy: “ Nguyễn Đổng Chi tuy có phân biệt với truyện cổ tích về mặt lý thuyết, song “ khi sưu tập”, ông vẫn “xếp chung truyền thuyết với cổ tích và coi như là những truyện cổ tích”
Hoặc theo khảo sát của PGS.TS Nguyễn Xuân Đức, trường hợp
truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cũng nhiều bất ổn: Sách Văn 10 (Nguyễn Đình
Trang 21Chú chủ biên) xếp nó vào thần thoại, sách Truyện đọc 2 ( Trương Chính – Trịnh Mạnh biên soạn ) cho là cổ tích, còn sách Ngữ văn 6 ( Nguyễn Khắc Phi tổng biên ) thì gọi là truyền thuyết Một trường hợp khác, truyện Bánh chưng bánh giày thì gọi là truyền thuyết hay cổ tích? Thêm nữa, trường hợp truyện Chử Đồng Tử, do sự chuyển hóa về mặt thể loại mà đã có một Chử Đồng Tử - truyền thuyết lịch sử, ca ngợi người anh hùng chinh phục đầm lầy, nhưng cũng có một Chử Đồng Tử - cổ tích thần kỳ, với kiểu nhân
vật chàng trai nghèo bất hạnh cưới công chúa Có điều, đâu là văn bản
truyền thuyết Chử Đồng Tử.?Truyền thuyết là thể loại được quyền hư cấu
nhưng bản thân câu chuyện luôn tạo được niềm tin, luôn gắn với niềm tin:
“Cốt lõi của truyền thuyết thực sự là một đức tin”
Truyền thuyết các DTTS còn có nhiều khó khăn vì khi sưu tầm, biên soạn, ngoài sự không phân biệt rõ thể loại , các nhà biên soạn thường không chú thích rõ truyện này của dân tộc nào.Truyền thuyết xuất hiện trong vùng có đồng bào các DTTS sinh sống không có nghĩa là truyền thuyết của dân tộc đó Vì vậy trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc phân định đâu là truyền thuyết các DTTS và truyền thuyết này là của dân tộc nào? Truyền thuyết của các DTTS cũng thường được sưu tập trong các tập Truyện cổ Vì vậy,
để , khảo sát các truyền thuyết, chúng tôi đã lựa chọn các truyền thuyết, nhặt từng truyện trong các cuốn truyện cổ, truyện cổ tích của các DTTS đã xuất bản và ở một số công trình nghiên cứu về các dân tộc Đặc biệt chúng tôi tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu, khảo sát, thống kê của PGS.TS Trần Thị An về các truyền thuyết DTTS được công bố gần đây ( năm
2009) trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 16: Cổ tích và truyền thuyết
Trang 22Như vậy, truyện kể dân gian là một khái niệm rộng, được sử dụng bao hàm hầu hết các thể loại nằm trong loại hình tự sự dân gian, là những câu chuyện thuộc các thể loại: Thần thoại, Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện cười, Truyện ngụ ngôn, Giai thoại…
1.1.2 Khái niệm truyền thuyết
Vấn đề thể loại truyền thuyết đã được bàn khá nhiều trong khoa nghiên sứu văn học dân gian ở nhiều nước Trên thế giới, khoa học về truyền thuyết dân gian hay gọi tắt là truyền thuyết học, vốn là một thuật
ngữ khoa học được dịch từ tiếng Đức: Volksagenkunde Volki có nghĩa là dân gian; sagen có nghĩa là truyền thuyết; kunde có nghĩa là môn khoa học
Đây là một thuật ngữ đã khá thông dụng trong folklrore học quốc tế thời
cận đại Tương đương với từ sage trong tiếng Đức, tiếng Anh có légend, tiếng Pháp có légende Trước khi truyền thuyết được sưu tầm và ghi lại
bằng văn tự, nó là một thể loại của văn học truyền miệng
Ở Việt Nam, trong những thập kỷ vừa qua, việc nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý thuyết về truyền thuyết cũng đã đạt được những thành tựu vai trò và vị trí của thể loại này đang ngày càng đựơc quan tâm và khẳng định trong loại hình tự sự dân gian Đã có nhiều công trình đưa ra khái niệm về truyền thuyết:
Ở mục “Truyền thuyết” trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (Lại
Nguyên Ân biên soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) thì tại những truyền thống văn hóa khác nhau về loại hình, khái niệm truyền thuyết có thể được
mô tả những hiện tượng không hoàn toàn gống nhau, và liên hệ một cách khác nhau với thể loại dân gian khác, kể cả thần thoại Về tổng thể, so với thần thoại thì truyền thuyết kém linh thiêng hơn và thường mô tả những sự kiện xảy ra muộn hơn sự lệ thuộc về nguồn gốc (biến sinh) của truyền thuyết với thần thoại có thể được xác định, tuy không phải thần thoại là
Trang 23nguồn cốt truyện duy nhất của truyền thuyết Truyền thuyết nằm ranh giới giữa thần thoại và các ghi chép mô tả lịch sử
GS Nguyễn Đổng Chi trong lời tựa “ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam’ cho rằng: truyền thuyết thường dùng để chỉ những câu chuyện cũ,
những sự việc lịch sử còn được quần chúng truyền lại nhưng không đảm bảo về mặt chính xác ( có thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do sự tưởng tượng của quần chúng phụ hoạ thêu dệt mà càng sai lạc hơn Và truyền thuyết phần nhiều chưa được xây dựng thành truyện Nó mới chỉ là những mẩu chuyện Nếu nó phát triển tới mức hoàn chỉnh thì tuỳ theo nội dung, nó có thể trở thành cổ tích hay thần thoại Còn xét về nghệ thuật và ý nghĩa hoàn toàn giống cổ tích hay thần thoại Hiện nay, truyền thuyết Việt Nam tìm được rất ít ỏi, đượm vị cổ tích nhiều hơn thần thoại Vì vậy khi sưu tầm thì xen lẫn vào cổ tích và coi như truyện cố tích” [9, 9-22]
Nhà nghiên cứu Phan Trần trong bài nghiên cứu “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử” đã nêu lên định nghiã về truyền thuyết :
“Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử Những nhân vật và sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân”
GS Đỗ Bình Trị trong cuốn giáo trình văn học dân gian, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, xuất bản năm 1970, khi viết về truyền thuyết cũng nêu định nghĩa : “ Truyền thuyết là những truyện có dính líu đếnn lịch sử
mà lại có sự kỳ diệu – là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [46,73 ]
Trong nhận xét của cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng, tuy không nhằm mục đích định nghĩa truyền thuyết, nhưng đã nêu khái quát về giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng thẩm mỹ của truyền thuyết: Những truyền thuyết
Trang 24dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế
hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên tác phẩm mà đời đời con cháu ưa thích”
GS.TS Lê Chí Quế, trong bài nghiên cứu “Truyền thuyết, một thể loại văn học dân gian Việt Nam”, sau khi nêu lên bản chất thể loại của
truyền thuyết, đã định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là một thể loại trong loạihình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch
sử danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [42, 114]
Theo chúng tôi nghĩ, một hệ thống lý luận công phu nhằm nêu lên định nghĩa về truyền thuyết là các nghiên cứu của GS.TS Kiều Thu Hoạch:
“ Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình
tự sự dân gian Nội dung cốt truyện kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân Biện pháp nghệ thuật chủ yếu là khoa trương phóng đại - đồng thời nó cũng
sử dụng những yếu tố hư ảo thần kỳ như cổ tích và thần thoại Nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà nó phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn Nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ
sở sự thật lịch sử cụ thể không hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [20,145]
1.2 Vấn đề phân loại truyền thuyết dân gian
Có thể nói trong một thời gian khá dài, thể loại truyền thuyết có nhiều vấn đề tranh luận Cho đến nay, những kết quả nghiên cứu về thể loại truyền thuyết đã được khẳng định Không ai còn bàn cãi xem truyến thuyết
có phải là một thể loại văn học hay không? Những đặc trưng thể loại truyền
Trang 25thuyết đã được nghiên cứu làm sáng tỏ (trong công trình luận án Tiến sỹ
của PGS.TS Trần Thị An: Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hoá truyền thuyết dân gian Việt Nam )
Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cứu truyền thuyết gặp khó khăn khi phân chia ranh giới giữa truyền thuyết và các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và cổ tích Có ý kiến cho rằng truyền thuyết như chiếc cầu nối giữ hai thể loại thần thoại và truyện cổ tích Việc phân loại truyền thuyết cũng có nhiều kiến giải Trên thế giới, giới folkore khi phân loại truyền thuyết cũng có nhiều khuynh
hướng khác nhau Trong bài viết Thể loại truyền thuyết dưới mắt các nhà nghiên cứu folklore Nhật Bản và Trung Quốc, GS.TS Kiều Thu Hoạch đã
nêu ra một số cách phân loại truyền thuyết của các nhà folklore Trung Quốc và Nhật Bản:
Một số nhà folklore Nhật Bản đã phân loại truyền thuyết thành các loại như: Loại cây cối; Loại hang động, đá núi; Loại nước; Loại mồ mả; Loại sườn đèo, dốc núi; Loại nhà thờ
Có nhà nghiên cứu phân loại truyền thuyết thành ba loại là: Truyền thuyết thuyết minh ( giải thích nguồn gốc các sự vật); Truyền thuyết lịch sử ( về các nhân vật và sự kiện lịch sử); truyền thuyết tín ngưỡng
Có người lại phân loại truyền thuyết thành sáu loại gồm: Truyền thuyết thần tiên; Truyền thuyết thị tộc; Truyền thuyết nữ giới; Truyền thuyết động thực vật; Truyền thuyết địa lý, thiên văn; Truyền thuyết tôn giáo
Có người chia truyền thuyết thành các loại: Truyền thuyết thần thoại; Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết văn nghệ
Trang 26Giới folklore Trung Quốc cũng có tình trạng phân loại tương tự; cho đến nay vẫn chưa có được tiếng nói chung Có người chia truyền thuyết thành sáu loại: Truyền thuyết nhân vật (danh nhân lịch sử); Truyền thuyết sản vật; Truyền thuyết phong tục; Truyền thuyết thời sự) Có tài liệu phân loại truyền thuyết gồm ba loại là Truyền thuyết nhân vật; Truyền thuyết sự kiện lịch sử; Truyền thuyết phong vật địa phương
Một số nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam cũng đã tiến hành phân loại truyền thuyết như sau:
GS.TS Lê Chí Quế đã chia truyền thuyết thành bốn loại [42.]
- Truyền thuyết về các sự kiện lịch sử
- Truyền thuyết về các nhân vật anh hùng
- Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa
- Truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo
GS Hoàng Tiến Tựu trong sách Văn học dân gian tập II đã chia
truyền thuyết thành bốn nhóm là: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời
kỳ Văn Lang; Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc
PGS.TS Lê Trường Phát trong cuốn Thi pháp văn học dân gian (
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000) cho biết, GS Đỗ Bình Trị đưa ra hai cách phân loại truyền thuyết Cách thứ nhất là phân loại những truyền thuyết về thời các vua Hùng và những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng Cách phân loại thứ hai, chia truyền thuyết thành ba biến thể là truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ và truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử
Trong bài viết Xác định thể loại truyền thuyết, GS.TS Kiều Thu
Hoạch phân loại truyền thuyết thành ba loại lớn là:
- Truyền thuyết nhân vật
Trang 27- Truyền thuyết địa danh
- Truyền thuyết phong - vật
Trong mỗi loại lớn, tùy theo từng đề tài, chức năng của nội dung truyện kể mà GS.TS Kiều Thu Hoạch phân chia tiếp thành các biến thể loại hoặc tiểu loại như: truyền thuyết giải thích tên gọi, tức là nói về nguồn gốc tên gọi của các địa danh ở các địa phương có gắn với các sự kiện, nhân vật lịch sử có liên quan, chẳng hạn sự tích núi Mục, núi Voi, núi Dầu trong chùm truyền thuyết về Lê Lợi- Lam Sơn GS.TS Kiều Thu Hoạch cũng lưu
ý, đã là truyền thuyết địa danh thì nhất thiết nội dung truyện kể phải được gắn với nhân vật hay sự kiện lịch sử đặc biệt nào đó, nếu không thì đó chỉ
có thể đơn thuần coi là một câu chuyện giải thích theo từ nguyên học dân gian hoặc từ nguyên học thông tục mà thôi
Còn về truyền thuyết phong vật, theo GS.TS Kiều Thu Hoạch, thực
ra đây chỉ là cách gọi ước lệ của tác giả để chỉ loại truyền thuyết về các phong tục sản vật Biến thể của truyền thuyết phong vật cũng chủ yếu chỉ những câu chuyện kể về nguồn gốc các phong tục, kỵ, hèm, hội hè trò diễn, diễn xướng dân gian hoặc các sản vật có gắn với các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử
Theo chúng tôi nghĩ, phân tích một cách công phu để nêu ra sự phân loại truyền thuyết được nhiều sự đồng thuận là cách phân loại truyền thuyết của GS.TS Kiều Thu Hoạch
1.3 Một vài vấn đề về các nhóm ngôn ngữ - tộc người ở Việt Nam
và việc lựa chọn để nghiên cứu truyền thuyết của một số dân tộc
Việt Nam là một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc (54 dân tộc), trong đó người Kinh (người Việt) chiếm đa số với tỷ lệ khoảng 87% dân
số, 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13% dân số Về phương diện ngôn
Trang 28ngữ, các dân tộc sinh sống trên đất Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ cảu các
hệ Nam Á Tren cái nhìn tổng thể, người Kinh là dân tộc đa số, sinh sống tập trung ở các vùng đồng bằng, châu thổ, các đô thị Các dân tộc thiểu số tình trạng phổ biến là sống xen kẽ Mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, có sắc thái văn hóa riêng, nhưng do cư trú đan xen và cùng chung sống lâu đời trên một địa bản trong quá trình gìn giữ và xây dựng quê hương đất nước, nên quan hệ giao lưu ảnh hưởng văn hóa diễn ra thường xuyên Trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Việt Nam, bên cạnh nền văn học dân gian người Việt, văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam hết sức phong phú và có vai trò hết sức quan trọng trong nền văn hoá truyền thống Mỗi dân tộc đều có một bề dày lịch sử và nhiều biến động Một số dân tộc chưa có chữ viết, thể loại truyền thuyết chưa có điều kiện để sưu tập và chưa có điều kiện công bố dưới dạng song ngữ, vì vậy trong phạm vi giới hạn của luận văn, (như đã trình bày ở phần giới hạn phạm vi nghiên cứu), chúng tôi không đặt vấn đề nghiên cứu truyền thuyết của tất cả các dân tộc ít người ở Việt Nam, mà chỉ lựa chọn truyền thuyết của một số dân tộc Theo đó, chúng tôi dựa vào sự phân chia các nhóm ngôn ngữ - tộc người, để đi vào tìm hiểu truyền thuyết của một vài dân tộc
Các nhà dân tộc học đã nghiên cứu, xác định các thành phần dân tộc
ở Việt Nam và dựa vào những đặc trưng về sinh hoạt văn hóa, về ngôn ngữ,
đã chia các dân tộc ở Việt Nam thành bảy nhóm cơ nhiều nét quan hệ gần gũi nhau như sau:
Nhóm Việt – Mường
Gồm nguời Việt, người Mường và các dân tộc cùng nhóm như Thổ
và Chứt Đây là nhóm có dân số đông nhất ở Việt Nam ( trên 85% dân số
cả nước) Các tộc người này có nguồn gốc chung từ cộng đồng người tiền Việt Mường ( Việt cổ) thời văn hoá Đông Sơn cách ngày nay khoảng gần
Trang 293000 năm Theo các nhà nghiên cứu, trong suốt thời Bắc thuộc ( thế kỷ X) đã diễn ra quá trình phân hoá giữa người Việt và Mường, sau đó là các cộng đồng nhỏ hơn chư Chứt, Thổ tách khỏi người Việt vào khoảng thế kỷ
I-XV
Cư dân nhóm Việt – Mường chủ yếu canh tác nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, Nam Bộ và rẻo đồng bằng hẹp ven biển miền Trung Sự tương đồng văn hoá giữa các tộc người này thể hiện chủ yếu ở trình độ phát triển, trong đó tộc người Việt phát triển cao, còn các nhóm Thổ, Chứt thì sống biệt lập và có phần thoái hoá
Nhóm Môn- Khơme
Gồm hai mốt tộc người như: Khơme, Bân, Xơ đăng, Cơho, Hrê, Co, Mnông, Mạ, Xtiêng, Bru, Tà ôi, Cơ tu, Giê-Triêng, Btrâu, Rrâu, Rơmăm, Chơro, Khơmú, Kháng, Xinh mun, Mảng, Ơđu, là các tộc người ở bản địa Việt Nam và các nước Đông Dương Hiện họ sinh sống ở các miền rẻo giữa vùng núi cao nguyên, làm nương rẫy canh tác lúa khô, cơ cấu xã hội truyền
thống là làng (buôn, bon, play)
Nhóm Hmông – Dao
Trang 30Gồm các tộc người: Hmông(Mèo), Dao và Pà Thẻn, sinh sống chủ yếu ở vùng rẻo núi cao miền núi phía bắc Việt Nam Họ canh tác nương rẫy trồng ngô và lúa khô Các tộc người này từ Trung Quốc di cư vào Việt Nam từ các thời kỳ lịch sử khác nhau, sớm nhất từ thế kỷ XIII ( người Dao)
và thế kỷ XVIII- XIX (người Hmông)
Nhóm tạng – Miến
Gồm các tộc người: Hà Nhì, Lô Lô (Di), La Hủ, Cống, Phù Lá, Si La sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc, tương tự điều kiện sinh thái của nhóm Hmông – Dao Họ canh tác nương rẫy, trồng lúa và ngô.Các tộc người này về lịch sử văn hoá, gắn bó mật thiết với các tộc người ở vùng tây nam Trung Quốc Các tộc này di cư vào Việt Nam vào các thời kỳ lịch sử khác nhau
Nhóm ngôn ngữ Hán
Gồm tộc người Hoa, Ngái và Sán Dìu, trong đó người Hoa thường
sinh sống ở các đô thị, còn người Ngái, Sán Dìu thì tụ cư xen cài với các tộc khác ở miền núi phía bắc Việt Nam Các tộc người này đều từ Trung Quốc di cư vào Việt Nam, trong đó người Hoa là tộc người góp phần nhiều nhất trong việc truyền bá văn hoá Hán vào Việt Nam
PGS.TS Võ Quang Nhơn đã nêu một số nhận xét về thành phần các dân tộc ít người ở Việt Nam như sau: Các dân tộc ít người ở Việt Nam bao gồm nhiều thành phần dân tộc, cư trú đan xen với nhau, trải dài trên một địa bàn rộng lớn suốt từ Bắc vào Nam Điều đó một mặt cho thấy rõ tính chất phong phú, nhiều vẻ giữa các dân tộc anh em, thể hiện ở nhiều bình diện: dân số, nguồn gốc, địa bàn cư trú, văn hóa vật chất và tinh thần … Nhưng đồng thời, xét về nhiều mặt, như nhân chủng và sinh hoạt văn hóa và ngay cả về ngôn ngữ nữa, các dân tộc ở Việt Nam có nhiều nét
Trang 31đồng nhất, thể hiện ở sự gần gũi giữa các dân tộc vốn thuộc một cộng đồng văn hóa - lịch sử, mà ngày nay người ta thường gọi là văn hóa Nam Á [37, 538]
Về mặt ngôn ngữ - văn tự thì ngôn ngữ - văn tự của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thực tiễn được phát huy khác nhau trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử và kinh tế của mỗi dân tộc Nhận xét về vị trí ngôn ngữ và văn tự các dân tộc ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Nông Quốc Chấn và Huỳnh Khái đã nêu: “ Ngôn ngữ văn tự riêng của các dân tộc thiểu số vẫn có giá trị và tác dụng trong mỗi vùng Ví dụ: Ngôn ngữ - văn
tự của dân tộc Chăm (Chiêm, Chăm) có vai trò không nhỏ trong đời sống
xã hội ở miền Nam Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và miền Tây Nam
Bộ Dân tộc Chăm có số dân không đông (xếp thứ 14/54 dân tộc), cư trú không tập trung mà sống thành hai vùng, theo hai tôn giáo Ngưòi Chăm ở
An Giang theo đạo Hồi Người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh theo cả đạo Hồi và đạo Bà La Môn Dẫu ở các vùng khác nhau, dân tộc Chăm vẫn
có chung một nền văn hóa nghệ thuật rực rỡ, có ngôn ngữ - văn tự lâu đời…
Ngôn ngữ - văn tự dân tộc Khơ me ở đồng bằng sông Cửu Long Theo sự nghiên cứu của các nhà văn hóa Khơ me, thì tiếng Khơ me sản sinh ra từ bản địa được từng bước bổ sung bởi các ngữ ngôn đã du nhập… Các ngôn ngữ - văn tự Tày, Nùng, Thái chung một nhóm ngữ hệ, phân bố trên địa bàn rộng từ Việt Bắc sang Tây Bắc…
Ở Tây Nguyên, các dân tộc Giarai, ÊĐê, Bana, Mơnông, Cơ Ho… là những dân tộc có số dân từ 20 vạn đến nửa triệu người, đã có chữ viết theo chữ cái Latinh từ những năm 20 của thế kỷ XX…Cũng còn hơn mười dân tộc với số lượng từ hai vạn người đã có chữ viết nhưng chưa được sử dụng tốt Đó là các dân tộc Xơ đăng, Hơrê, Raglai, Xtiêng, Bru – Vân Kiều, Cơ
Trang 32Tu, Churu… ngoài những ngôn ngữ kể trên, ở nước ta còn khoảng 27 ngữ ngôn, hầu hết ở miền Bắc, chưa có văn tự riêng Đó là các ngôn ngữ Mường, Sán Dìu, Thổ, Khơmú, Giáy, Hà nhì, Xinhmun, La Chí, Phù Lá,
La Hủ, Kháng, Pà Thẻn, riêng người Dao có chữ Nôm nhưng chỉ được dùng trong một số người cao tuổi [7, 161-164]
Dựa vào sự phân chia các nhóm dân tộc ít người, vị trí ngôn ngữ- văn tự và tình hình sưu tập truyền thuyết của các dan tộc ít người như đã trình bày ở những phần trên, luận văn lựa chọn hai nhóm dân tộc ít người,
mà trong một chừng mực nào đó có thể mang tính đại diện cho một số vùng địa bàn cư trú của các dân tộc ít người ở Việt Nam ở khu vực phú Bắc và phía Nam; trong mỗi nhóm chỉ chọn một đến hai dân tộc mà luận văn có điều kiện tập hợp được truyền thuyết trên cơ sở các sách đã xuất bản và kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu đi trước.Cụ thể là các nhóm dân tộc sau:
Nhóm Tày – Nùng – Thái: Tìm hiểu truyền thuyết của dân tộc Tày,
Đặc biệt chúng tôi chú ý tới việc xác định và nhận biết nhóm văn hóa – tộc người theo sự phân chia của các nhà nghiên cứu trước nay, bao gồm các nhóm như: Việt- Mường, Tày- Nùng - Thái, Nam Đảo, Hmông - Dao,
Trang 33Tạng - Miến và ngôn ngữ Hán Từ đó chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu truyền thuyết dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam trên cơ sở nền văn hoá dân gian của 54 dân tộc nói chung và đồng thời trên cơ sở sự phân chia các nhóm văn hoá – tộc người nói trên
Có thể nói, văn hoá dân gian và đặc biệt là văn học dân gian – một thành tố của văn hoá dân gian đã tồn tại và vận hành song song với sự vận hành quá trình tộc người Việt Nam Văn hoá dân gian trong đó có truyền thuyết đã trở thành một kho tư liệu quý cho các nghiên cứu dân tộc học về văn hoá tộc người Việt Nam Truyền thuyết đã phản ánh, lưu giữ và tích hợp được nhiều giá trị văn hoá tộc người Về điều này, Bùi Quang Thành
đã noi: “ Xét các đặc tính của thể tài truyền thuyết ở Việt Nam chúng ta dễ nhận thấy tính lịch sử là đặc tính trung tâm là cơ sở để sản sinh ra các đặc tính khác Có thể nói rằng, không có thể tài nao trong văn học dân gian lại
có tính lịch sử đậm đà và sắc nét như ở trong truyền thuyết Nhờ vậy mà truyền thuyết Việt Nam đã trình bày được một cách đầy đủ bức tranh sinh động về lịch sử dân tộc ta Và đến một lúc nào đấy, người ta sẽ nghe truyền thuyết như nghe lịch sử qua ngôn ngữ văn học một cách tự nhiên và tin cậy”
Trang 34Chương 2
TRUYỀN THUYẾT CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
Ở VIỆT NAM, MỘT VÀI NÉT VỀ NỘI DUNG
Truyền thuyết dân gian của các dân tộc ít người ở Việt Nam từ lâu đã trở thành tài sản chung của các dân tộc Việt Nam cùng cộng cư sinh sống lâu dài trên một địa bàn sinh tụ Cũng vì lẽ đó, truyền thuyết các dân tộc vừa có những nét tương đồng vừa có nét khác biệt Trên đại thể, truyền thuyết của mỗi dân tộc được nảy sinh, hình thành và lưu truyền do những điều kiện địa – văn hóa và địa - lịch sử của địa phương và của tộc người mình Do vậy, mặc dù với một lượng tư liệu khảo sát rất có hạn, khi đọc truyền thuyết của các dân tộc, ta có thể cảm nhận thấy những nét riêng trong nội dung và cách thức phản ánh của truyền thuyết mỗi dân tộc Sau đây là một vài nét về nội dung truyền thuyết của các dân tộc mà luận văn
đề cập tới (dân tộc Tày, dân tộc Thái, dân tộc Khơ Me)
2.1 Truyền thuyết dân gian dân tộc Tày
Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái ở Việt Nam bao gồm tám dân tộc (chiếm 5,08% đan số cả nước) sống chủ yếu ở khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An, trong đó đông nhất là người Tày, người Thái và người Nùng Người Tày sống chủ yếu tập trung ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Ninh Là cư dân sinh sống lâu đời ở vùng đất đai như hiện nay thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, người Tày còn lưu lại nhiều truyện cổ về nguồn gốc dân tộc mình như: Nạn hồng thuỷ, Báo luông Slao Cải, hay là Pú Lương Quân, Cẩu Chủ Cheng Vua (Chín chúa tranh vua), Nùng Trí
Trang 35Cao….Hầu hết các truyền thuyết rất phổ biến của người Tày còn để lại những dấu ấn về quê hương xứ sở của họ Truyền thuyết “Chín chúa tranh vua’ nói tới nhiều địa danh không phải chỉ ở Việt Nam như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Thái mà còn nói đến cả Thin Tẳng (Trịnh Tây), Thái Ninh (Thái Bình phủ)…thuộc tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc ngày nay Truyền thuyêt
“Pú Lương Quân” cũng gắn chặt với địa danh Cao Bằng, như “lốc Phiêng Pha, đăm nà Tống Chúp” (nhổ mạ Phiêng Pa, cấy lúa Tống Chúp) – Phiêng
Pa thuộc huyện Nguyên Bình, Tống Chúp thuộc xã Bế Triều, huyện Hoà
An, đều ở Cao Bằng Còn truyền thuyết Va Thái Hoà chinh phục hồ Ba Bể thì kể: nhà vua đã có công đục đá Bó Lù hạ thuỷ cho vùng Nhu Viễn có đất làm ruộng (Bó Lù ở ven hồ Ba Bể, Nhu Viễn thuộc huyện Chợ Đồng, Bắc Thái), vv…Như vậy, có thể thấy rằng, trên cái nhìn tổng thể, truyền thuyết dân tộc Tày nổi lên với chủ đề truyền thuyết địa danh, truyền thuyết về nhân vật sáng tạo văn hóa và truyền thuyết về nhân vật lịch sử
* Truyền thuyết địa danh
chuyện kể về phai nước Phiêng Liềng, con mương bản Loàn (Chợ Đồn), mỏ nước Bó Khiếu (Ngân Sơn), cánh đồng Tổng Quảng - Định Hóa hay Vực Rùa (Chợ Mới), với những địa danh: Thôm Chẩu, Thôm Nàng, Thôm Toóng, Vằng Soong, Vằng Kheo, Vằng Cuồng, Dẻ Doóng, Sum Lốm Cái đẹp trong truyền thuyết Tày là cái chân thực
có tính chất dân gian của truyền thuyết Tày đã tạo ra trong truyền thuyết, khiến người ta phải nghĩ dường như truyện đã xảy ra ở đâu đó trong địa phương của mình Chính vì thế cũng có thể nói truyền thuyết Tày về chủ đề địa danh, hay về chủ đề nhân vật sáng tạo văn hóa đã kết tinh đậm nét tâm lý dân tộc, nhất là tâm lý người dân miền núi
Trang 36Việt Bắc Vì vậy, khi nhận xét về truyền thuyết của người Tày ở Bắc Kạn, PGS.TS Vũ Anh Tuấn đã viết : Cái đậm đà bản sắc Bắc Kạn được lắng kết chủ yếu trong hệ thống truyền thuyết Đó là một chuỗi huyền thoại nảy sinh trên nền văn minh nông nghiệp ruộng nước: huyền thoại về một phai nước Phiềng Liềng, một con mương Bản Loàn (chợ Đồn) mó nước Bó Khiêu (Ngân Sơn) đầy thơ và mộng, huyền thoại về Miếu Nữ Tướng (Chợ Mới) Đền Cô Thắm ( Chợ Mới) Miếu Nà To (Na Rì) nơi mà ở đó từ một bụi tre đằng ngà, một bàn cờ tiên đến con ngựa chiến hóa đá, đuôi ngoắc về Nam đầu ngoảnh Bắc…đều thấm đẫm cái chất hùng tâm tráng khí của người miền núi đánh giặc cứu nước và vẫn còn đấy cả trang đời và trên trang giấy những địa danh Thôm Chấu, Thôm Nàng, Thôm Toòng, Vằng Soong, Vằng Kheo, Vằng Cuồng, Khau Cà, Sum Lốm Ở địa danh nào cũng gợi lên những chiến công của cha ông - những người đi mở đất và giữ đất Trong truyền thuyết Bắc Kạn, chúng ta sẽ nhận ra hai hướng phát triển: một hướng trong đó các nghệ nhân dân gian đã thần thánh hóa con người để ngợi ca tuyệt đỉnh các anh hùng địa phương giữ nước; một hướng khắc cũng theo cách đó (thi pháp truyền thuyết) để kể truyền đời công tích các thế hệ cha ông cần cù làm lụng và say sưa sáng tạo trong lao động nương rẫy và một bộ phận truyền thuyết như thế ở hướng thứ hai đã được cổ tích hoá Đó là những truyện ở vùng giáp ranh giữa hai thể loại đang vận động theo xu thế phổ quát hoá các truyền thuyết anh hùng sáng tạo văn hóa” [47, 13]
Truyền thuyết địa danh dân tộc Tày chủ yếu phản ánh quá trình chinh phục thiên nhiên, khai phá rừng rú, núi sông thuở ban đầu của ngưòi Tày Những truyền thuyết này đã để lại những dấu ấn sâu sắc, khắc hoạ nên những hình tượng có dấu ấn riêng trong kho tàng văn học các dân tộc
Trang 37Truyền thuyết của người Tày Bắc Cạn có những bản kể tiêu biểu với chủ
đề địa danh như:
Truyền thuyết “ Sự tích mỏ nước Bó Khiếu”: “Ngày xưa, ở vùng
Thượng Ân, thuộc huyện Ngân Sơn bây giờ chưa có mỏ nước thiêng Bó
Khiếu Lúc bấy giờ trong vùng có một số ông già sống bằng nghề đánh cá
Một hôm ông đánh cá mãi từ sáng đến quá trưa mà chỉ được có một con bống nhỏ
Chiều về, ông đem con cá bống đó cho xuống chảo rán Kỳ lạ thay, càng gặp mỡ nóng, cá càng nhảy nhót trong chảo mạnh hơn chứ không chết Thấy lạ, biết không phải là con cá thường nên ông đem thả vào một
vũng nước nhỏ, ông cho cá ở đó và bảo cá phải làm cho nguồn nước to ra
Hôm sau, ông già ra thăm thì thấy nơi ấy đã có mọt lỗ đá lớn bằng cái chậu to đang phun nước ra xối xả Nước ở trong đó ngon và mát lắm Thấy vậy, ông đặt tên cho con cá là thằng Đuống và dặn nó ở đây coi giữ, không cho người khác đến dùng nước ấy Ông dặn:
- Nếu thấy ai ra đó đi guốc thì thôi, nếu thấy ai ra đó mà không mang guốc thì kéo xuống nước mà dìm cho chết
Nghe ông già dặn, thằng Đuống ở lại trông coi mỏ nước rất cẩn thận Ngày nọ, vì muốn thử xem Đuống có coi giữ cẩn thận hay không, ông già liền đi chân không ra đó Đúng lời, Đuống kéo ông già xuống dìm chết luôn, ở nhà chờ mãi không thấy bố về, người con trai liền ra lỗ đá gọi:
- Có phải Đuống kéo bố xuống đó thì thả lên
Vừa gọi xong thì xác ông già nổi lên mặt nước, biết mình giết nhân chủ, Đuống liền bảo người con trai mời thầy làm ma và nhà táng ngay tại một bãi đất gần đó Làm ma xong, lúc chuẩn bị mai táng, Đuống liền ngầm bảo cho việc mình sắp làm Thấy vậy, ông thầy hô mọi người kéo hết đồ dùng ra thật xa nơi mai táng họ vừa dọn dẹp xong thì nơi ấy sụp xuống
Trang 38thành một cái hố lớn Ấy chính là do Đuống đã hóa phép để chôn chủ gần
mỏ nước nơi minh đang coi giữ Chỗ đất ấy gọi là Xum Lốm” [47, 69]
Truyền thuyết “Sự tích con mương Tà Loòng”: “Ngày xửa, ngày
xưa, vùng đất Đồng Phúc heo hút lắm chứ không nhiều nhà cửa như bây giờ Cả vùng chỉ có hai, ba bản nhỏ, mỗi bản cũng chỉ có bốn năm nóc nhà
mà thôi Khi ấy, chẳng biết từ đâu, ngày nào cũng có một ông cụ họ Ma tới câu cá ở dòng suối Tà Loòng Một hôm, đương lúc ông cụ đang câu cá thì trời nổi sấm sét đùng đùng Giữa lúc ấy từ trong rừng sâu xuất hiện hai con trâu rất to, một con đen, một con trắng lao vào đánh nhau vô cũng dữ dội Chúng đánh nhau từ sớm đến chiều, vẫn không phân thắng bại Trong khi trời mưa mỗi lúc một to khiến xung quanh tảng đá lớn chỗ ông cụ ngồi câu
cá chẳng mấy chốc đã đầy nước trắng xóa Tuy vậy, cả hai con trâu vẫn mải mê đánh nhau, không chú ý gì đến dòng nước dâng cao Đến lúc ấy, ông cụ mới chợt nghĩ ra đây có thể là hai con thuồng luồng đang hóa phép Chờ đến lúc hai con trâu quần nhau đến chân tảng đá hai ông cụ ngồi, ông bèn vốc một vốc nước mưa cho vào mồm xúc miệng rồi phun xuống Thấy hơi lạ, hai con trâu bèn lặn xuống nước và biến mất Lát sau, trời tạnh mưa
và quang đãng, ông cụ đang định khăn gói trở về thì thấy từ dưới nước bỗng hiện lên một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, ở cổ có một chiếc vòng đỏ
và những chiếc vẩy nhỏ đủ màu ngũ sắc Chàng trai kính cẩn tiến lại gần ông cụ, chắp tay lễ bái và hỏi:
- Thưa cụ! Cụ có thấy hai con trâu vừa đánh nhau không?
- Có! – Ông cụ đáp lời
- Con trâu đen chính là cháu, còn con trâu trắng ở nơi khác đến định cướp nhà của cháu Ngày kia, cụ nhớ đem theo nỏ và tên độc đến đây ngồi chờ, khi nào thấy hai con trâu đánh nhau thì cụ hãy nhằm con trâu trắng mà
Trang 39bắn Giết được con trâu trắng rồi cháu sẽ đền ơn cụ xứng đáng – Chàng trai nói
Y như lời hẹn của chàng trai, ngày hôm sau nữa ông cụ quay lại với chiếc nỏ và mũi tên tẩm thuốc độc Chờ một lát thấy sóng nước dưới chân mình sủi lên ùng ục rồi hai con trâu trắng, trâu đen hôm trước lại kéo nhau lên bờ quần thảo Ông cụ lặng lẽ lên nỏ, đặt mũi tên độc nhất rồi nhằm vào con trâu trắng bóp lẫy Trúng tên độc trâu trắng lăn ra giãy giụa rồi hộc máu mồm ra chết Máu con trâu trắng cuồn cuộn nhuộm đỏ cả một khúc sông dài Xong cụ lẳng lặng vác nỏ đi về nhưng cũng chẳng giám cho dân làng biết Đêm đó, trâu đen hiện về hỏi ông cụ:
- Thưa cụ! Cụ đã giúp cháu giết chết kẻ thù, giờ cụ muốn gì xin cứ nói cháu sẽ giúp đỡ
Ông cụ nói:
- Bao nhiêu năm nay đất này thiếu nước nên chẳng trồng cấy được thứ gì Nay nếu thương ta, thương dân bản thì hãy hóa phép cho một dòng nước mát về tưới khắp vùng đất này đi
Sớm hôm sau khi tỉnh dậy cả bản kinh ngạc nhìn thấy một dòng nước mát chảy về uốn lượn dưới thung lũng, tưới nước cho cả một vùng đất bằng phẳng rộng lớn Ngày nay, người dân ở đây vẫn quen gọi nó là mương Tà Loòng Ấy chính là con mương ngày xưa con thuồng luồng cảm cái ơn cứu mạng của ông cụ họ Ma mà làm nên, giúp dân bản cầy trồng được thuận lợi, no ấm.[ 47, 66]
Truyền thuyết “Sự tích Vực Rùa’” kể rằng: Ở xã Thanh Bình (thuộc
huyện Chợ mới) có một cái vực hình bầu dục, rất sâu, nước trong xanh khác thường Nhân dân địa phương gọi vực này là vực Rùa (tiếng Tày gọi
là Vằng Tấu) Cạnh vực có con rùa bằng đá, mai có màu sắc nổi vân rất
Trang 40đẹp tương truyền đấy là nơi Pựt đã đẩy đứa con gái thứ chín vốn có tinh tình phóng khoáng ương ngạnh làm kiếp rùa để đội đá ở trần gian
Năm nọ ở trần gian đại hạn, khắp nơi không co một giọt nước Cả sông Cầu cũng không có nước để ướt đá nữa Thấy vậy, con rùa (nàng tiên thứ chín) mới ra sức lấy mai nậy nước, lấy móng đào đất, đào mãi xuống lòng đất gặp mạch nước Nước từ lòng đất phun lên, muôn vật tưởng chết đến nơi lại được nước của rùa cứu sống tất cả
Như vậy, rùa đã phạm lệnh “phong toả” nước ở hạ giới, cho nên Pựt
đã hoá kiếp cho đứa con thứ chín của mình thành đá ở Vực Rùa và mãi mãi đắm mình trong dòng sông Ngày nay, nhân dân trong vùng vào ngày lễ, ngày tết vẫn giữ tục lấy nước ở Vực Rùa, lấy nước ở Vực Rùa nấu cơm, luộc bánh nhất định ngon hơn nước ở nhiều nơi khác ’’[47, 90]
Truyền thuyết “Sự tích phai nước Phiềng Liềng”: Đời xưa, ở bản
Lác có một gia đình sinh được hai người con, một trai, một gái Khi trường thành người con gái làm dâu ở bản Phiềng liềng, người con trai lấy vợ ở Bằng Viễn Một hôm ông bố đi thăm con gái và định chia bạc cho Đến nhà con giá thấy cái chõ trên bếp, ông liền hỏi thì con gái bảo là đồ chăn bông
để phơi Ông lừa con gái đi ra ngoài để xem chõ biết là xôi, thấy lòng dạ con không thật, ông không chia bạc cho nữa và đi sang nhà người con trai Thấy bố đến người con dâu vội đi nấu cơm Ông từ chối nhưng người con dâu cố mời, cả nhà ăn một bữa cơm vui vẻ, sau đó ông già giả chết để thử lòng con gái và càng biết rõ sự giả dối của cô Lúc trở về qua phai nước Phiềng Liềng, ông lấy gậy chọc ba lần và có lời nguyền: Cứ tháng tư hàng năm, muốn đắp phai lấy nước vào ruộng phải giết ba con trâu Từ đó, mỗi khi muốn có nước làm ruộng, người dân ở đây lại phải cúng tế như vậy
“[47, 71]