Đứng trước yêu cầu tồn tại và phát triển các doanh nghiệp, các nền kinh tế đều tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, trong các phương cách đó việc đổi mới công nghệ nhằm tăng năn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀNG ANH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀNG ANH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
( Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ)
Trang 3Phần hai NỘI DUNG LUẬN VĂN Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI
MỚI CÔNG NGHỆ
1 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1.1 Công nghệ, năng lực công nghệ, đổi mới công nghệ và các
khái niệm liên quan
19
1.1.3.1 Đánh giá
Trang 41.1.3.2 Đánh giá năng lực 26
1.1.4 Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong sản xuất
2 CÁC QUAN HỆ TRONG ĐÁNH GIÁ NLĐMCN CỦA DN
2.2 Quan hệ giữa trình độ công nghệ và năng lực công nghệ 28 2.3 Quan hệ giữa năng lực công nghệ và đổi mới công nghệ 29
2.7 Quan hệ giữa đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp và của sản phẩm
31
2.8 Tính tất yếu của đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp 33
Chương 2 TÌNH HÌNH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
CÔNG NGHỆP TRÊN ĐỊA BÀN PHÚ THỌ
35
2.1 Tình hình đổi mới công nghệ giai đoạn 2005 – 2008 35
2.1.2 Nhận xét tình hình đổi mới công nghệ giai đoạn 2005 – 2008 36
2.2 Tình hình đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ
41
Trang 52.2.2 Nhận xét tình hình đánh giá năng lực công nghệ của doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ
41
2.3.1 Khái quát tình hình về chỉ tiêu, nội dung đánh giá năng lực đổi
mới công nghệ
45
2.3.2 Thực trạng, nguyên nhân và hướng tháo gỡ khó khăn về đánh
giá năng lực đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp:
47
2.3.2.3 Hướng tháo gỡ khó khăn trong đánh giá năng lực đổi mới
công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
50
Chương 3: HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
CÔNG NGHIỆP
3.1 Lựa chọn các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
52
3.2 Lý do lựa chọn các yếu tố để xây dựng tiêu chí ĐGNLĐMCN 53
3.3.3 Hệ thống tiêu chí ( mười hai tiêu chí và tiêu chí thành phần): 61
- Tiêu chí về ý tưởng đổi mới và các tiêu chí thành phần
- Tiêu chí về năng lực của nhân lực và các tiêu chí thành phần
- Tiêu chí về năng lực vốn cho đổi mới và các tiêu chí thành phần
- Tiêu chí về năng lực nghiên cứu và triển khai và các tiêu chí
Trang 63.1 Xác định điểm và các khung điểm ( mức điểm) cho các tiêu chí
(để tính độ đo của năng lực đổi mới công nghệ)
Phần ba: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 7- Phụ lục 3: Phiếu điều tra, khảo sát hoạt động đánh giá năng lực đổi mới
công nghệ tại doanh nghiệp;
- Phụ lục 4: Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát hoạt động đáng giá năng lực
ĐMCN của các doanh nghiệp;
- Phụ lục 5: Phiếu trưng cầu ý kiến về hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực
ĐMCN của doanh nghiệp;
- Phụ lục 6: Phiếu điều tra, áp dụng thử hệ thống tiêu chí để đánh giá
NLĐMCN của doanh nghiệp;
- Phụ lục 7: Danh sách các doanh nghiệp đã tiến hành điều tra, khảo sát về
hoạt động ĐMCN;
- Phụ lục 8: Danh sách các doanh nghiệp đã tiến hành điều tra, khảo sát về
hoạt động đánh năng lực ĐMCN;
- Phụ lục 9: Danh sách các doanh nghiệp đã áp dụng thử hệ thống tiêu chí để
đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐGNLĐMCN: Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
KH&CN : Khoa học và công nghệ
NC&TK: Nghiên cứu và triển khai
APCTT: Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – TháiBình
Dương UNESCO: United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organisations ( Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá,
của Liên hiệp quốc )
OECD: Organisations for Economic Co-operation and Development
( Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế)
ESCAP: Uỷ ban KT&XH khu vực châu Á -Thái Bình Dương
Trang 9Phần một
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu:
Nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá ngày diễn ra đầy đủ, sâu, rộng, nhất là
sự phát triển vô cùng mạnh mẽ khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều công nghệ mới, sản phẩm mới, cùng với mạng thông tin toàn cầu, sự hợp tác quốc tế và xu hướng của nền kinh tế tri thức trở thành tất yếu thì sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và các quốc gia ngày một gia tăng, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học và công nghệ đặt ra nhiều yêu cầu mới cho công tác quản lý khoa học và công nghệ Bởi sự phát triển không chỉ đem đến những những thành tựu lớn lao, mà bên cạnh đó còn có các yếu tố tiêu cực, như tác động xấu đến môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, cạnh tranh không lành mạnh, phân hoá giàu nghèo, dịch bệnh và rất nhiều rủi ro khác Bởi khoa học và công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển, nguồn lực khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất Để công nghệ phát huy được năng lực tạo ra của cải và hạn chế các tác động tiêu cực, thì cần phải nhận thấy và thực hiện tốt quản lý công nghệ cả
cấp vĩ mô và vi mô “Năng lực tạo ra của cải của quốc gia, cũng như của công ty
không chỉ phụ thuộc và việc có được công nghệ, mà quan trọng hơn là khả năng quả
lý các nguồn lực và tài sản công nghệ Chỉ khi nào công nghệ vươn ra được thị trường, được người dùng chấp nhận thì lúc đó nó mới tạo ra của cải Đây là vấn đề cốt lõi của công tác quản lý công nghệ đối với từng quốc gia và doanh nghiệp”[23]
Đứng trước yêu cầu tồn tại và phát triển các doanh nghiệp, các nền kinh tế đều tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, trong các phương cách đó việc đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh bằng cách sử dụng công nghệ tiêu hao ít vật tư, nguyên, nhiên liệu, năng lượng; tạo ra sản phẩm mới có giá thành thấp, có chất lượng cao…luôn là lựa chọn số một của các doanh nghiệp, các quốc gia Bởi chỉ có
Trang 10đổi mới công nghệ mới tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lực công nghệ không chỉ là yếu tố đảm bảo thành công việc đổi mới công nghệ mà còn là yếu tố mang tính quyết định việc tăng trưởng của nền kinh tế,“NLCN là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, các nghiên cứu cho thấy 9/10 tăng trưởng kinh tế Hoa Kì giai đoạn 1909 - 1949 là do năng lực tiếp thu công nghệ tiên tiến mang lại Nếu tính cho nửa cuối thế kỉ 20 thì tỉ lệ tăng trưởng do NLCN mang lại cho nền kinh tế Hoa Kì là 50%, kinh tế Pháp là 76%, kinh tế Tây Đức là 78% và kinh tế Nhật Bản là 55%
Đối với các nước đang phát triển, NLCN là động lực phát triển đất nước NLCN là kết quả của quá trình chuyển giao, du nhập công nghệ nước ngoài cộng với nỗ lực tiếp thu công nghệ của chính nước đang phát triển Nói chung, công nghệ có hàm lượng trí tuệ cao, đôi khi kèm theo các bí quyết đặc thù, do đó, nếu không có nỗ lực tiếp thu công nghệ (thông qua giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ) thì không thể lĩnh hội, thích nghi, cải tiến và làm chủ công nghệ được ” [48]
Qua kết quả điều tra, đánh giá công nghệ của một số tỉnh, thành cho thấy trình
độ công nghệ của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ
và vừa rất thấp Các giải pháp đưa ra cho vấn đề này đều đề cập và khuyến nghị phải tập trung vào đầu tư đổi mới công nghệ Việc đổi mới công nghệ đang trở thành nhu cầu cấp thiết ở phạm vi, quy mô doanh nghiệp, địa phương, ngành và quốc gia
Trước yêu cầu cấp thiết đó Bộ chính trị, Chính phủ, Bộ KH&CN, các bộ ngành, địa phương đã ban hành nhiều văn bản, chương trình để chỉ đạo và thực hiện việc đổi mới công nghệ, như:
- Thông báo Kết luận số 234 – TB/TW ngày 01/4/2009 của Ban Chấp Hành Trung Ương Về thông báo kết luận của Bộ chính trị về Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 ( khoá VIII) về khoa học và công nghệ và nhiệm
vụ giải pháp phát triển khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2020 Phần nhiệm vụ
Trang 11đã xác định “…đẩy nhanh tốc độ đầu tư đổi mới công nghệ trong tất cả các
ngành…”[1];
- Nghị quyết số 22/2008/NQ- CP ngày 28/5/2009 của Chính Phủ, Ban hành Chương trình hành động của thực hiện Nghị quết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng, đã đề ra nhiều chương
trình, kế hoạch đẩy mạnh đổi mới công nghệ “ khuyến kích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi
mới công nghệ… nâng cao khả năng cnạh tranh của sản phẩm… xây dựng các Chương trình về đổi mới công nghệ quốc gia”[6];
- Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư“ Chính phủ khuyến khích việc
chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn và công nghệ để tạo
ra sản phẩm mới…; khuyến kích việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và sử dụng công nghệ”[7]
- Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg, ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ
Về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến 2010 Trong nhiệm vụ về KH&CN đã xác định tập trung đổi mới, hiện đại hoá công nghệ trong các ngành công nghiệp khai
khoáng, bảo quản, chế biến nông lâm sản …”[36]
- Quyết định số 159/2008/QĐ-TTg, ngày 04/12/2008 Thủ tướng Chính phủ Về
việc phê duyệt đề án “Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ ngành công nghiệp khai
thác và chế biến khoáng sản đến năm 2015, tầm nhìn 2025…” [35]
- Trong Quyết định số 1434/QĐ-BKHCN ngày 30/7/2009 của Bộ KH&CN, Quyết định ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 234-TB/KL của
Bộ chính trị và Nghị quyết số 22/NQ-CP của Chính phủ Bộ KH&CN cũng đã xãc định đẩy mạnh đổi mới công nghệ, đồng thời Bộ KH&CN đang xây dựng trình Chính
Phủ phê duyệt “Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia”, “Quỹ đổi mới công nghệ
Trang 12quốc gia”, “Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia”[2] , nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và thúc đẩy các hoạt động đổi mới công nghệ
Tỉnh Uỷ Phú Thọ ban hành Nghị quyết số 06/NQ-TU ngày 21/10/2001 của Ban thường vụ tỉnh uỷ về phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2006 -2010[37]
và Nghị quyết số số 19-NQ/TU ngày 31/8/2007 Về “Chương trình nâng cao trình độ
công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2007 -2010, định hướng đến năm 2015”[38] đều đặt ra chỉ tiêu đạt tốc độ đổi mới công nghệ 20%/năm;
Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Phú Thọ ra Nghị quyết số 127/2007 ngày 12/12/2007
Về “Chương trình nâng cao trình độ công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh các sản
phẩm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2007 -2010, định hướng đến năm 2015”, đặt ra mục tiêu “ Đạt tốc độ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp đạt 20%/năm ” [17]
Đổi mới công nghệ đang thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của cả
doanh nghiệp và các cấp, các ngành Cần phải nói thêm rằng, với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của khoa học thì các công nghệ mới ra đời và thay thế nhau diễn ra rất nhanh chóng Trong bối cảnh đó việc đổi mới công nghệ bằng cách cải tiến và nâng cấp công nghệ hiện có sẽ làm tăng hiệu quả và giảm sức ép về nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp của Việt Nam, bởi:
- Một dây chuyền công nghệ sử dụng nhiều thiết bị công nghệ khác nhau và một loại thiết bị có thể được sử dụng trong nhiều dây chuyền công nghệ khác nhau;
- Vòng đời công nghệ và vòng đời thiết bị không trùng nhau;
- Với cùng một nguyên lý song nhiều Hãng, doanh nghiệp lại có và sử dụng công nghệ dựa trên nguyên lý ấy có tính ưu việt hơn hẳn các hãng, doanh nghiệp khác, sản phẩm của họ có năng lực cạnh tranh cao hơn nhiều đối thủ cùng cạnh tranh;
- Các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất hạn chế
về năng lực vốn;
Trang 13Việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Năng lực ấy hiện như thế nào? dựa vào đâu để đánh giá, thì đây là còn là vấn đề cần phải thực hiện các nghiên cứu, vì chưa có phương pháp luận và hệ thống tiêu chí đánh giá chung, nhất là chuẩn so sánh và định lượng các yếu tố đánh giá Và đánh giá năng lực đổi mới công nghệ không chỉ dừng ở chỗ biết năng lực ấy thế nào, mà quan trọng là để có giải pháp nâng cao năng lực công nghệ đảm bảo cho đổi mới công nghệ thành công, yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế Đây là lý do tác giả nghiên cứu đề tài này
Ý nghĩa của đề tài:
Về lý luận Góp phần vào việc bổ sung lý luận ( phương pháp và tiêu chí) cho
việc đánh giá năng lực công nghệ;
Về thực tiễn Đưa ra hệ thống tiêu chí (công cụ) để doanh nghiệp có thể xem
xét, tham khảo vận dụng kết quả của đề tài này vào việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mình, để biết được thực trạng về năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mạnh, yếu thế nào? cần phải ưu tiên mặt nào? có đảm bảo cho việc đổi mới công nghệ hay không? để điều chỉnh, bổ sung hoặc tìm ra giải pháp cho việc xây dựng kế hoạch và thực hiện việc đổi mới công nghệ đem lại hiệu quả
Cung cấp một số luận cứ cho việc tham mưu, đề xuất việc ban hành các chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đổi mới và hiện đại hoá công nghệ; nâng cao hiệu
quả hoạt động quản lý công nghệ thông qua một số giải pháp rút ra từ kết quả nghiên cứu của đề tài Bản thân tác giải có thêm kiến thức để vận dụng vào công tác quản lý KH&CN tại địa phương
Trang 14Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương ( APCTTT), đề
cập một số yếu tố đánh gía năng lực công nghệ của các ngành công nghệp)[39],
các nghiên cứu trên không đi vào nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá
Trong nước, một số nhà khoa học như: Vũ Cao Đàm, Đặng Mộng Lân, Đặng Ngọc Dinh, Mai Hà, Trần Ngọc Ca…đã có một số nghiên cứu về công nghệ và năng lực công nghệ;
Trần Ngọc Ca, đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xậy
dựng một số chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và NC&TK trong các
cơ sở sản xuất ở Việt Nam”(năm 2000)[8], đề tài đi sâu vào nghiên cứu các chính sách
và tác động của chính sách đến hoạt động đổi mới công nghệ, hoạt động nghiên cứu
và triểm khai tại các cơ sở sản xuất, đề tài không đi vào nghiên cứu việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp;
Nguyễn Hoài Giang, Trần văn Bình, Phạm Minh Việt (2007): Mô hình dữ liệu
trong quản lý, đánh giá công nghệ cho các doanh nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân [16], các tác giả đi vào nghiên cứu đề xuất, cụ thể hoá phương pháp luận Atlat
công nghệ, không xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ;
Tạ Doãn Trịnh “ Xác định các chỉ tiêu thống kê để đánh giá chỉ số chung về
năng lực công nghệ” [41], trong bài này tác giả Tạ Doãn Trịnh chỉ đi vào giới thiệu và
đề xuất việc lựa chọn các chỉ tiêu thống kê cá biệt về công nghệ, chứ không đi sâu vào nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
Sở khoa học và Công nghệ Phú Thọ, 2008, Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài “
Điều tra, đánh giá hiện trạng công nghệ của các ngành công nghiệp và đề xuất các giải pháp để nâng cao trình độ công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ”[30]
, đềtài điều tra đánh giá hiện trạng, không nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá;
Sở khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương, 2005, đề tài “Đánh giá trình độ và
năng lực công nghệ của các lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương”[31], ở đề tài này tác gải đi vào một số nội dung như: hiện trạng công nghệ,
Trang 15hiện trạng năng lực công nghệ, cơ sở hạ tầng công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp tỉnh Hải Dương, không đi sâu vào xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mặt khác đề tài này nghiên cứu trường hợp Hải Dương;
Nguyễn Võ Hưng với đề tài “Nghiên cứu cơ chế, chính sách khoa học và công
nghệ khuyến kích đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có vốn nhà nước”[18],đề tài này cũng đi vào nghiên cứu chính sách khuyến kích đổi mới công nghệ đối với loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có sử dụng vốn của nhà nước, đề tài không đi vào nghiên cứu việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp;
Nguyễn Thanh Duy với đề tài “ Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả
nghiên cứu và triển khai trong hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Bình Định ”[14]
, đề tài này đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt
động nghiên cứu và triển khai với hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu việc ứng dụng kết qủa hoạt động nghiên cứu và triển khai vào đổi mới công nghệ, chứ không đi vào xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Một số bài báo khoa học có nói đến vấn đề đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, như thực trạng, nguyên nhân, chính sách hỗ trợ cho hoạt động đổi mới công nghệ Thực tế ở Phú Thọ cũng chưa có nghiên cứu nào về xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
Bản thân tác giả đang làm việc tại cơ quan quản lý KH&CN của địa phương
Từ thực tiễn cho thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
Vì vậy đây là vấn đề mới cần được nghiên cứu có hệ thống và toàn diện để có thể đưa ra được hệ thống tiêu chí đánh gía năng lực đổi mới CN, phục vụ cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, phục vụ cho việc tham mưu ban hành chính sách thúc đẩy việc đổi mới và hiện đại hoá công nghệ, nâng cao hiệu lực, hiệu
Trang 16quả quản lý công nghệ của cơ quan quản lý KH&CN, góp phần vào phát triển và tăng trưởng kinh tế Tác giả mong muốn được góp một phần nhỏ bé vào mục tiêu ấy
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng và đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp;
Giúp doanh nghiệp sử dụng công cụ này để đánh giá năng lực và thực hiện đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mình mang lại hiệu quả;
Cung cấp thêm luận cứ trong việc hoạch định chính sách hỗ trợ doanh nghiệp năng cao năng lực và phát triển công nghệ, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công
Quan điểm về đánh giá công nghệ;
Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực đổi mới công nghệ, vai trò của năng lực đổi mới công nghệ công nghệ với đổi mới công nghệ; công nghệ với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; tính tất yếu của đổi mới công nghệ;
Thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ và hoạt động đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiêp trên địa bàn Phú Thọ, những
Trang 17khó khăn trong việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiêp trên địa bàn và hướng tháo gỡ khó khăn này;
Cơ sở, quản điểm, lý do đề xuất lựa chọn và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp;
Phương pháp đánh giá;
Tính toán và trình bày kết quả;
Áp dụng thử hệ thống tiêu chí vào đánh giá năng lực đổi mới công nghệ tại một
số doanh nghiệp;
Đưa ra các khuyến nghị, đề xuất trong việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá Vai trò của đánh giá năng lực đổi mới công nghệ và vai trò của cơ quan quản lý đối với hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Trang 187 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động đánh giá năng lực công nghệ trong thời gian vừa qua chưa được thực hiện vì một số lý do, như: quan điểm đánh giá, chuẩn so sánh chưa thống nhất, đặc biệt là chưa có phương pháp luận và hệ thống tiêu chí có khả năng đánh giá chung về năng lực công nghệ và về năng lực đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất công nghiệp, đây là lý do và là một trở ngại lớn nhất
Cơ sở xây dựng là:
- Quan điểm về đánh giá công nghệ (trình độ hay năng lực công nghệ);
- Dựa vào các yếu tố tác động và liên quan mật thiết đến đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp;
- Thực tiễn của hoạt động đổi mới và đánh gía năng lực đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp;
- Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới công nghệ với đổi mới công nghệ, mối quan hệ giữa hoạt động đánh giá NLĐM với hoạt động đổi mới công nghệ;
- Tính khoa học trong hoạt động đổi mới công nghệ;
- Dựa vào cơ sở lý luận về công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ, đổi mới công nghệ, thành phần công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ, đánh giá năng lực công nghệ, trong đó có đánh gía năng lực đổi mới công nghệ;
- Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu về năng lực công nghệ và đổi mới công nghệ về đánh giá năng lực công nghệ;
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
Cách tiếp cận:
Tiếp cận hệ thống Xem xét, nghiên cứu các yếu tố, các mặt có liên quan đến công nghệ, đổi mới công nghệ, đến đánh giá năng lực công nghệ và năng lực đổi mới công nghệ, đến vai trò của năng lực công nghệ đối với đổi mới công nghệ, đến tính tất yếu của đổi mới công nghệ
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu cơ sở lý luận từ các lý thuyết có
liên quan, như: phương pháp luận nghiên cứu khoa học…[11], đánh gía nghiên cứu
Trang 19khoa học, lý thuyết hệ thống, quản lý công nghệ, điều tra xã hội học…,[12]
trên cơ sở
kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin, số liệu từ các báo cáo điều tra, khảo sát, thống kê KH&CN, các bài báo khoa học, các kết quả hoạt động KH&CN, các văn bản về chính sách liên quan đến công nghệ
và đổi mới công nghệ, các tài liệu về sản xuất và đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp
Phương pháp quan sát: quan sát từ thực tiễn hoạt động sản xuất công nghiệp
và hoạt động đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý về cơ sở
xây dựng hệ thống tiêu chí, về các yếu tố xây dựng tiêu chí, về nội dung bảng hỏi cho điều tra, phỏng vấn, về phương pháp đánh giá năng lực đổi mới công nghệ, về các khuyến nghị, đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực và đổi mới công nghệ
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Thiết kế các phiếu điều tra theo hình thức
bảng hỏi để thu thập các thông tin định tính, định lượng phục vụ cho nội dung nghiên cứu của Luận văn
Phỏng vấn Để giúp cho qúa trình nghiên cứu, tác giả thực hiện một số cuộc
phỏng vấn đối với các nhà doanh nghiệp, các cán bộ quản lý trong lĩnh vực quản lý KH&CN, Công thương, Xây dựng, Kế hoạch và đầu tư, Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cán bộ liên quan đến hoạch định chính sách của địa phương
Phương pháp định lượng: Để đảm bảo yêu cầu của việc đánh giá, tác giả
lượng hoá các tiêu chí bằng cách đưa ra thang điểm và số điểm cho các tiêu chí và tiêu chí thành phần, để đưa các yếu tố về một bằng chung và so sánh với mức đưa ra Thông tin về các yêu tố hiện tại của đối tượng đánh giá ứng với các điểm số trong thang điểm cho trước để có được các chỉ số của từng tiêu chí thành phần, chỉ số của các tiêu chí thành phần tạo nên chỉ số của tiêu chí Các chỉ số này sẽ nói lên năng lực
về đổi mới công nghệ của từng doanh nghiệp
Trang 20Phương pháp tổng hợp, phân tích Trên cơ sở số liệu điều tra, khảo sát ( kết
quả ) sẽ được lượng hoá để tính toán và trình bày kết quả dưới dạng biểu đồ mạng,
biểu đồ cột nhằm phản ánh hiện trạng về các yếu tố của vấn đề, mà ở đây là về năng
lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Từ đó để phân tích đánh giá mặt mạnh, yếu giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh, bổ sung các yếu tố năng lực công nghệ phục vụ
cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
9 Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày theo các phần sau:
- Phần một Mở đầu
- Phần hai Nội dung Luận văn:
+ Chương 1 Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực đổi mới công nghệ;
+ Chương 2 Tình hình đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trên địa bàn Phú Thọ;
+ Chương 3 Hệ thống tiêu chí đánh gía năng lực đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
- Phần ba Kết luận và khuyến nghị
Trang 21Phần hai
NỘI DUNG LUẬN VĂN
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
1 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1 1 Công nghệ, năng lực công nghệ, đổi mới công nghệ và các khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm năng lực công nghệ;
a Công nghệ
Theo các cách tiếp cận, nhu cầu sử dụng và quan điểm khác nhau nên có rất nhiều khái niệm về công nghệ
Nguyên gốc “thuật ngữ công nghệ xuất phát từ hai thuật ngữ Hy Lạp Techne +
Logos, Techne có nghĩa là kỹ năng hoặc cách thức cần thiết để làm một cái gì đó; Logos có nghĩa là kiến thức về một điều gì đó Do vậy Technology có nghĩa là kiến thức về một cái gì đó được làm như thế nào”[3];
+ Theo F.R.Root, “ Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc
sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới” [10,tr.01], định nghĩa này nói lên bản chất của công nghệ là kiến thức, mục tiêu là để áp dụng vào sản xuất tạo
ra các sản phẩm mới;
+ Theo R Jone ( 1970) “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực
được chuyển thành hàng hoá”[10, tr.01], định nghĩa này nói lên bản chất của công nghệ
là kiến thức ( cách thức);
+ Ngân hàng thế giới World Bank (1985) định nghĩa “Công nghệ là phương
pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 03 yếu tố: thông tin về phương pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá; sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”[10, tr 2]
Trang 22+ Theo Sharif (1986), “ Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và
lựa chọn nhưng kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm vật chất, xã hội và văn hoá Công nghệ tập hợp cả phần cứng và phần mềm, thể hiện ở 04 dạng cơ bản sau:
*Vật thể (vật liệu, công cụ, sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh);
* Con người ( kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm);
* Dạng ghi chép ( bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu … được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…);
* Dạng thiết chế tổ chức ( dịch vụ, truyền bá, cơ cấu quản lý )
Về bản chất:
Vật thể ( thiết bị máy móc), còn gọi là phần kỹ thuât ( technoware);
Con người ( Humanware);
Ghi chép, thông tin ( Infoware);
Thiết chế,tổ chức (Orgaware)[10, tr.4];
Theo Luật khoa học và công nghệ năm (2000)[26], thì “Công nghệ là tập hợp
các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm”;
Luật chuyển giao công nghệ định nghĩa công nghệ là: “giải pháp, quy trình, bí
quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[27]
Trang 23 Công nghệ là một cơ thể (hệ thống) tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất và/ hoặc thông tin[14]
Có nhiều khái niệm về công nghệ, nhưng có thể thấy khái niệm công nghệ được định nghĩa theo hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất, công nghệ là kiến thức (phần mền), tức là các quy trình,
giải pháp, bí quyết ( tri thức);
Quan điểm thứ hai, công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm, trong đó
các quy trình, giải pháp, bí quyết là phần mềm và thiết bị công nghệ là phần cứng
Trong các khái niệm này tác giả sử dụng khái niệm theo quan điểm thứ hai (công nghệ bao gồm cả phần cứng và phầm mềm), khái niệm được ghi trong Luật khoa học và công nghệ, năm 2000
Mặc dù định nghĩa theo hai quan điểm khác nhau nhưng có thể thấy có những điểm chung, như:
+ Là kiến thức, mà kiến thức thì không phải ai cũng tạo ra được và ai cũng có thể sử dụng nó có hiểu quả như nhau, là kiến thức nên nó có kiến thức về nguyên lý chung và kiến thức về lĩnh vực cụ thể (vận dụng nguyên lý chung) Trong thực tế phần nguyên lý chung có nhiều người hiểu, biết, song phần kiến thức của lĩnh vực cụ thể là các bí quyết công nghệ, là công nghệ của hãng, đơn vị, cá nhân ( tổ chức, cá nhân) nào đó
+ Đều dùng để chế biến (biến đổi) nguồn lực thành sản phẩm, có nghĩa là nó được con người sử dụng để sản xuất ra sản phẩm, mà đã là sản phẩm thì mục tiêu là
để phục vụ cho nhu cầu của con người, nhu cầu của con người thì luôn thay đổi theo chiều hướng ngày một cao Vậy để đáp ứng nhu cầu của con người thì việc đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm mới luôn được phải quan tâm trong chiến lược phát
triển của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, địa phương, ngành và quốc gia
b Năng lực
Trang 24Khái niệm năng lực được sử dụng trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội,
Từ điển tiếng Việt “ năng lực là sức làm ra, phát ra của con người, con vật, máy
móc, v.v…”[42] Vậy có thể hiểu năng lực là sức, khả năng biết ý tưởng thành hiện thực trên cơ sở sử dụng các nguồn lực
Ví dụ: năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý, năng lực tổ chức, năng lực sáng tạo, năng lực đổi mới, năng lực đổi mới công nghệ… Ở đây tác giả sử dụng khái niệm năng lực đổi mới công nghệ cho việc nghiên cứu đề tài này
c Năng lực công nghệ
Đã có một số nhà khoa học và tổ chức quốc tế, nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm năng lực công nghệ Dưới đây là một số khái niệm được đề cập trong
Phương pháp lập kế hoạch phát triển năng lực công nghệ, tập 5 “Đánh giá năng lực
công nghệ”, do Trung tâm Chuyển giao công nghệ Chấu Á – Thái Bình Dương (
APCTT) thực hiện khi thực thi dự án Atlat công nghệ do Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương giao Như:
+ Theo R Dore “ Năng lực công nghệ là sự kết hợp ba loại khả năng độc lập,
đó là: khả năng lĩnh hội công nghệ độc lập, khả năng sáng tạo công nghệ độc lập, khả năng thăm dò công nghệ của thế giới một cách độc lập”[39, tr 17];
+ Theo Desai “Năng lực công nghệ là khả năng mua được công nghệ, vận
hành công nghệ, sao chép, phát triển và đổi mới công nghệ”[ 39, tr.18];
+ Theo Ngân hàng thế giới “Năng lực công nghệ là năng lực của ba loại năng
lực: năng lực sản xuất, gồm ( quản lý sản xuất, kỹ thuật sản xuất, bảo trì tư liệu sản xuất và tiếp thị sản phẩm), năng lực đầu tư, gồm ( quản lý dự án, thực hiện dự án, năng lực mua sắm và đào tạo nhân công), năng lực đổi mới gồm
( sáng tạo và đưa các kỹ thuật mới vào hoạt động kinh tế)”[39, tr.18]
Theo Vũ Cao Đàm “ Năng lực công nghệ là sức tồn tại, phát triển và thể hiện
tác động thực hiện chức năng của công nghệ”[14]
Cũng theo Vũ Cao Đàm:
Trang 25- Có một số loại năng lực công nghệ, như: năng lực vận hành, năng lực làm chủ, năng lực sao chép, năng lực cải tiến, năng lực đổi mới
- Các yếu tố cấu thành năng lực công nghệ gồm: Năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D), hạ tầng thông tin, hạ tầng công nghiệp, năng lực dịch vụ kỹ thuật[14];
Trong bài: Khoa học và công nghệ Việt Nam hướng tới Hội nhập, Tiến sỹ Mai
Hà, đã nêu ra định nghĩa: Năng lực công nghệ là thước đo khả năng làm chủ công nghệ của một công ty, một ngành công nghiệp hay của một nước từ mức đơn giản nhất là có thể vận hành công nghệ hiện có đến mức cao nhất là có khả năng tạo ra một công nghệ mới từ R&D và thương mại hoá nó như một sản phẩm hoặc một quá trình
dù phức tạp song cần phải nâng cao năng lực công nghệ bới nó không chỉ phục vụ cho đổi mới công nghệ mà còn đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế Theo tính toán sự tác động của năng lực công nghệ đến phát triển kinh tế còn cao hơn sự tác
động của chất lượng lao động “ Kết quả trên cho thấy cả 2 nhân tố chất lượng lao
động và năng lực công nghệ đều tác động đáng kể đến phát triển kinh tế, trong đó năng lực công nghệ tác động mạnh hơn, biểu hiện ở chỗ có hệ số hồi quy (β ) lớn hơn 0,4790 > 0,3807 (47% >38%)”[21]
1.1 2 Khái niệm đổi mới công nghệ
a Đổi mới
Trang 26Trong cuộc sống có nhiều khái niệm đổi mới được gắn với các hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau, ví dụ như: đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương pháp quản lý, đổi mới cách làm, đổi mới tư duy, đổi mới sảm phẩm, đổi mới công nghệ…
ở đây tác giả sử dụng khái niệm đổi mới công nghệ phục vụ cho đề tài này
b Đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ là việc thay thế một phần hoặc toàn bộ công nghệ đang sử
dụng bằng công nghệ khác “Đổi mới công nghệ là sự chủ động thay thế một phần
đáng kể (cốt lõi, cơ bản) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác”[44, tr 141];
Nhu cầu của con người ngày một cao, mặt khác nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá tạo ra sức ép cạnh tranh ngày một lớn Việc đổi mới công nghệ
để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng về chủng loại (có khả năng cạnh tranh) luôn là yêu cầu tất yếu của doanh nghiệp, ngành, của các quốc gia
Về nguyên lý đổi mới, theo Vũ Cao Đàm nguyên lý đổi mới, gồm: “đổi mới
phần tử, gồm (đổi mới chi tiết, đổi mới mô đun, đổi mới trên cả công đoạn, đổi mới toàn khâu); đổi mới chức năng, gồm (đổi mới công dụng, đổi mới chức năng, đổi mới nguyên lý); đổi mới chất liệu, gồm (đổi mới vật liệu, đổi mới công nghệ chế tạo”[14];
Dù công nghệ nào thì vòng đời của nó cũng qua các giai đoạn: ra đời, tăng trưởng, bão hoà, suy vong Việc suy vong đó xuất phát từ lý do khách quan đó là nhu cầu luôn thay đổi và ngày một yêu cầu cao, đó là chất lượng sản phẩm được tạo ra từ công nghệ ngày một phải tốt lên, đa dụng, tiện ích, tiêu tốn ít năng lượng, mẫu mã đẹp…, nhưng quan trọng là hiệu quả luôn là mục tiêu của các doanh nghiệp, do vậy việc đổi mới công nghệ là tất yếu khách quan theo quy luật phát triển Đối với doanh nghiệp muốn tồn tại và kinh doanh có hiệu quả thì việc đổi mới công nghệ là một yêu cầu thường xuyên, liên tục mà nhà doanh nghiệp cần phải nghĩ tới và có kế hoạch cho
nó “Sự thành công của đổi mới công nghệ gắn liền năng lực công nghệ”[45, tr 363];
Nói như vậy, muốn đổi mới công nghệ thì năng lực công nghệ của một Quốc
Trang 27tướng ứng thì mới thực hiện được Bởi đổi mới công nghệ là mức cao nhất của thay đổi công nghệ
Cơ sở của việc đổi mới công nghệ là từ hoạt động sáng tạo có mục đích của con người Càng ngày con người càng phát minh ra nhiều quy luật của tự nhiên, sáng chế ra nhiều công nghệ Các nhà sử dụng công nghệ luôn mong muốn sản phẩm của mình có khả năng cạnh tranh cao để kinh doanh có hiệu quả và doanh nghiệp mình luôn phát trển
c Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, là khả năng của doanh trong việc hiện thực hoá các yếu tố mang tính nguồn lực để thay thế công nghệ này bằng công nghệ khác, hoặc công đoạn này bằng công đoạn khác hoặc sử dụng nguyên liệu này thay cho nguyên liệu khác trong quy trình công nghệ Mặt khác việc đổi mới công nghệ là cả một qúa trình với nhiều công việc mang tính phức tạp, ít có doanh
nghiệp có thể thực hiện được tất cả các khâu “… thúc đẩy đổi mới công nghệ đối với
khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ là một qúa trình khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải
có sự kết hợp chặt chẽ của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia quản lý và giới doanh nghiệp”[35]
1.1.3 Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
a Đánh giá
Đánh giá là một hoạt động được sử dụng ở rất nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học và công nghệ, anh ninh, quốc phòng…đánh giá được thực hiện trong các hoạt động kiểm tra, xác định, nhận xét… Mục tiêu của đánh giá, tùy thuộc vào tính chất, đối tượng mà xác định các mục tiêu khác nhau, như: đánh giá sự tác động, đánh giá kết quả, đánh giá hiệu quả của chương trình, dự án hoặc chính sách nào đó; đánh giá hiện trạng, đánh giá năng lực… việc đánh giá các đối tượng khác nhau được xác định theo những tiêu chí, phương pháp, không gian, thời gian khác nhau
Trang 28Đánh giá là công cụ của quản lý được các Quốc gia, chính quyền, tổ chức và cả nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách sử dụng trong hoạt động của mình, đánh giá
là việc xem xét một cách có hệ thống và khách quan về hiện trạng một vấn đề, hay một chương trình, dự án nào đó
Mục đích của đánh giá là nhằm xác định tính hợp lý và tính hiện thực của các mục tiêu, tính hiệu quả và khả năng phát triển bền vững của chương trình hoặc dự án Qua đánh giá sẽ cung cấp các thông tin tin cậy, hữu ích và cho phép sử dụng kết quả đánh giá vào việc ra quyết định của các nhà quản lý (đầu vào của một qúa trình ra
quyết định), nhà hoạch định chính sách "Đánh giá không chỉ cung cấp các bằng
chứng về hiện trạng về một vấn đề nào đó, mà còn về các mục tiêu của chương trình,
dự án có đạt được hay không và tại sao? Đánh giá đi sâu và giải quyết vấn đề theo logic nhân - quả” [5]
b Đánh giá năng lực
Đánh giá năng lực là đánh giá sức, đánh giá sự tác động, sự ảnh hưởng của yếu
tố nào đó đến đối tượng mà nó tác động, hay đối tượng mà nó thể hiện Hay nói cách khác đánh giá năng lực là đánh gía khả năng hiện thực hoá mục tiêu
c Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
Là đánh giá sức tác động, đánh giá khả năng của các yếu tố liên quan đến đổi mới công nghệ, mức độ khả thi (hiện thực hoá) khả năng của doanh nghiệp nào đó trong việc thực hiện đổi mới công nghệ, tức đánh giá khả năng sử dụng các nguồn lực thông qua hoạt động nghiên cứu và triển khai để tạo ra công nghệ mới, nâng cấp công nghệ hiện có, hoặc thông các nguồn lực để đầu tư đổi mới công nghệ Việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ phải được thông qua hệ thống tiêu chí có liên quan hữu
cơ đến đổi mới công nghệ và phương pháp đánh giá phù hợp ( công cụ đánh giá)
1.1.4 Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp
a Tiêu chí:
Theo từ điển tiếng việt thì tiêu chí là “ dấu hiệu, tính chất để dựa vào mà phân
biệt một vật, một khái niệm, để phê phán nhằm đánh giá”[44]
Trang 29Trong bất cứ hoạt động đánh gía nào đều phải dựa vào công cụ để đánh giá, đó
là tiêu chí Vậy nếu không có tiêu chí thì việc đánh giá sẽ rất khó khăn vì không có cơ
sở, không có cái để dựa vào nó mà đánh giá
Như vậy tiêu chí có vai trò hết sức quan trọng trong việc đánh giá, nhưng để có được tiêu chí đánh giá thì vệc xác định và xây dựng nó đòi hỏi phải dựa trên những nguyên tắc, cơ sở mang tính khoa học và thực tiễn
b Tiêu chí về năng lực đổi mới công nghệ
Là hệ thống các dấu hiệu, qua đó thể hiện tính chất của các giá trị hiện tại về các yếu tố mang tính nguồn lực có liên quan mang tính quyết định đến đổi mới công nghệ Các giá trị hiện tại chính là các dấu hiệu được thể hiện thông qua điểm số mà
nó được áp vào và để tạo nên các chỉ số Các chỉ số này phản ánh năng lực hiện thực hoá việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
c.Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Là việc đánh giá thông qua các dấu hiệu Nói cách khác là sử dụng các chỉ số phản ánh về các giá trị hiện tại của các yếu tố ( tiêu chí) mang tính nguồn lực có được
từ kết quả điều tra, khảo sát, xem chúng có khả năng hiện thực hoá việc đổi mới công nghệ hay không? và ở mức nào? Có thể hiểu tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ là tiêu chí để dựa vào đó (dựa vào giá trị mà nó biểu đạt) để thực hiện việc đánh giá, thông qua việc so sánh với chuẩn được định ra trước đó
d Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Là năng lực của doanh nghiệp trong việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện việc đầu tư đổi mới công nghệ hoặc dựa vào các nguồn lực thông qua hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có hoặc tạo ra công
nghệ mới, sản phẩm mới
1 2 CÁC QUAN HỆ TRONG VIỆC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐMCN CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Trang 301.2.1 Quan hệ giữa tiêu chí và đánh giá
Đánh giá là hoạt động chủ động của chủ thể quản lý, nhằm một mục tiêu nào
đó Việc đánh giá bao giờ cũng được thực hiện thông qua công cụ đánh giá, công cụ
đó là các tiêu chí, nếu thiếu các tiêu chí thì sẽ không thực hiện được việc đánh giá Như vậy quan hệ giữa tiêu chí và đánh giá là quan hệ hữu cơ Căn cứ vào mục tiêu, tính chất, đối tượng đánh giá để xác định tiêu chí, nếu không có tiêu chí thì không thực hiện được việc đánh giá, như vậy tiêu chí không chỉ là công cụ, phương tiện để thực hiện việc đánh giá mà nó còn mang ý nghĩa quyết định
1.2.2 Quan hệ giữa trình độ công nghệ và năng lực công nghệ
Trình độ công nghệ là mức có được của công nghệ (thứ bậc công nghệ) Các mức này thường được chia thành lạc hậu, trung bình, khá, hiện đại, tiên tiến Các mức này là để so sánh với doanh nghiệp, địa phương, ngành hay quốc gia khác, tuỳ theo đối tượng đánh giá do chủ thể đánh giá đặt ra
Năng lực công nghệ Có rất nhiều định nghĩa về năng lực công nghệ, nhưng tựu chung đều cho rằng năng lực công nghệ là sự tác động (sức) của công nghệ Theo Vũ
Cao Đàm “năng lực công nghệ nghệ là sức tồn tại, phát triển và thể hiện tác động
thực hiện chức năng của công nghệ”[14]
Trình độ công nghệ khác năng lực công nghệ ở chỗ trình độ công nghệ là thứ bậc, còn năng lực công nghệ là khả năng để đạt được thứ bậc
Do vậy có thể hiểu trình độ công nghệ là mục tiêu, còn năng lực công nghệ là phương tiện để đạt được mục tiêu Nếu xem xét ở góc độ mục tiêu và phương tiện thì theo logic nếu không có phương tiện sẽ không đi đến mục tiêu, hay không thể đạt được mục tiêu nếu không có phương tiện Cũng cần nói thêm rằng không có loại phương tiện nào có thể đi trên mọi loại đường, nên cần phải căn cứ vào loại đường và phương tiện mình có để xác định mục tiêu gần hay xa, cao hay thấp… cách này phù hợp với mô hình công nghệ đẩy
Nhưng cũng còn có cả cách xác định trước mục tiêu, căn cứ vào loại đường mà chọn (chuẩn bị) phương tiện, cách này theo mô hình công nghệ kéo Tức là do nhu
Trang 31cầu của thị trường, nhu cầu của thị trường là đầu kéo cho đổi mới công nghệ Trong việc đổi mới công nghệ cần phải căn cứ vào năng lực công nghệ để lựa chọn, xác định việc đổi mới công nghệ, hoặc căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu đổi mới mà xây dựng và nâng cao năng lực công nghệ để thực hiện đổi mới Việc chọn cách nào thì tuỳ thuộc vào vào chủ thể của đổi mới Vấn đề ở đây là phải hiểu mục tiêu và phương tiện là mối quan hệ hữu cơ, không thể chỉ quan tâm mặt này mà không quan tâm mặt kia
1.2.3 Quan hệ giữa năng lực đổi mới công nghệ và đổi mới công nghệ
Người ta đã chỉ ra rằng đổi mới công nghệ sẽ không thành công nếu không có năng lực đổi mới công nghệ Trong khi đó việc đổi mới công nghệ là một yêu cầu thường xuyên, liên tục mang tính sống còn đối với doanh nghiệp vậy việc phải xây dựng, tạo ra và nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu Ở phạm vi quốc gia, ngành, địa phương việc xây dựng và nâng cao năng lực công nghệ cũng là một yêu cầu tất yếu đảm bảo thành công trong việc đổi mới công nghệ, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, địa phương, ngành, quốc gia (nền kinh tê) Trong mối quan hệ này năng lực công nghệ là phương tiện để thực hiện mục tiêu đổi mới công nghệ
1.2.4 Quan hệ giữa đánh giá năng lực đổi mới công nghệ với hoạt động đổi mới
công nghệ
Trong phần 1.1.3 ở trên đã đề cập đến đánh giá (hoạt động đánh giá), qua đánh giá sẽ cung cấp các thông tin tin cậy, hữu ích và cho phép sử dụng kết quả đánh giá vào việc ra quyết định của các nhà quản lý
Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ sẽ chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu, xem xét các mục tiêu đổi mới công nghệ có đạt được hay không và tại sao? giúp cho nhà doanh nghiệp xem xét lại mục tiêu, điều chỉnh, bổ sung các mặt hạn chế, đưa ra các giải pháp và cách thức tiến hành đổi mới công nghệ Đối với các nước phát triển họ rất quan tâm đến hoạt động đánh giá, từ thập niên 80 đánh giá công nghệ đã được thể chế hoá, thập niêm 90 là giai đoạn hoàn thiện, sau đó hoạt động này đã mang tính lập pháp[42, tr 169]. Như vậy nếu muốn đổi mới công nghệ thì phải đánh giá năng lực đổi
Trang 32mới công nghệ Đây là việc làm khoa học, tránh được sự thụ động, tránh được việc làm mò mẫm, lãng phí không cần thiết làm giảm hiệu quả đầu tư và cả nguy cơ dủi do dẫn đến đổi mới công nghệ không thành công Trong quan hệ này năng lực đổi mới công nghệ là cơ sở để quyết định đổi mới công nghệ
1.2.5 Quan hệ giữa doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với công nghệ;
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động của nó là để sản xuất ra các sản phẩm là hành hoá ở qui mô công nghiệp Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam, định
nghĩa “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[28]
. Sản xuất công nghiệp là hoạt động của con người sử dụng công nghệ (công nghệ nói trong trường hợp này là quy trình và trang thiết bị công nghệ, không xét theo thành phần công nghệ) để biến đổi các nguồn lực đầu vào và đầu ra là các sản phẩm, hàng hoá ở quy mô công nghiệp
Nói đến doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì bao giờ cũng gắn với tổ chức sản xuất (nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy cùng với công nghệ để chế biến các nguyên, vật liệu tạo ra sản phẩm) Không có doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nào
mà không gắn với một hoặc một số công nghệ nào đó Không có công nghệ thì không tạo ra được sản phẩm Để tạo ra sản phẩm doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều công nghệ, nhiều thế hệ công nghệ khác nhau, nhiều loại thiết bị khác nhau Trong quan hệ này công nghệ là công cụ để doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình Nếu không
có công nghệ doanh nghiệp không hoạt động sản xuất được Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và công nghệ là quan hệ hữu cơ, về thành phần công nghệ khi khi nói doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, nó đã bao hàm cả công nghệ về lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp
1.2.6 Quan hệ giữa công nghệ và sản phẩm của công nghệ
Trong hoạt động sản xuất công nghiệp bao giờ công nghệ cũng mang tính quyết định đối với sản phẩm, sản phẩm bao giời cũng do công nghệ nào đó tạo ra
Trang 33(sản phẩm của công nghệ) Thông qua sản phẩm người ta biết được công nghệ tạo ra sản phẩm đó đang ở mức nào
Việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường sẽ giúp cho doanh biết được thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm của họ, sản phẩm của họ sẽ tiếp tục chiếm lĩnh thị trường hay đã đi vào suy giảm từ đó điều tiết kế hoạch sản xuất và xây dựng kế hoạch đổi mới công nghệ
Như vậy công nghệ và sản phẩm của công nghệ có mối quan hệ hữu cơ với nhau Công nghệ quyết định sản phẩm, còn sản phẩm lại là sự thể hiện của công nghệ, thông qua sản phẩm để biết rằng công nghệ ấy sẽ tồn tại và phát triển thế nào?
1.2.7 Mối qua hệ giữa đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp và của sản phẩm
Có nhiều định nghĩa về cạnh tranh, như:
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic and
Development - OECD), định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất tạo ra thu
nhập tưng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các đia phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế[33, tr 32]
Hội đồng về Sức cạnh tranh của Mỹ đề nghị định nghĩa: “sức cạnh tranh là
năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thủ thách trên thị trường trên thế giới, trong khi mức sống của dân chúng có thể nâng cao một cách vững chắc và lâu dài”[34, tr 32]
Nói chung cạnh tranh là sự phấn đấu vương lên không ngừng để dành lấy vị trí hàng đầu, hoặc vị trí cao trong một lĩnh vực nào đó bằng việc tạo ra nhiều lợi thế, bằng việc tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, gía thành hạ…hệ thống dịch vụ tốt… nhằm mục tiêu và đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh
Từ điển Thuật ngữ chính sách thương mại định nghĩa: “Sức cạnh tranh là năng
lực của một doanh nghệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”[34, tr 32]
;
Trang 34Theo Lê Đăng Doanh, “Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hay dịch vụ được
đo bằng thị phần của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường”[11]
;
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được các lợi thế cạnh tranh, nghĩa là có khả năng tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn, giá sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Bởi vậy các doanh nghiệp luôn tìm cho mình một công nghệ thích hợp hay hiện đại nhằm tạo ra năng lực cạnh tranh và hiệu quả cao trong kinh doanh Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có được công nghệ phù hợp hoặc hiện đại…, mà dù có được thì sau một thời gian hoạt động đều trở nên lạc hậu, bởi bản thân công nghệ cũng là một sản phẩm, mà đã là sản phẩm thì không có sản phẩm nào tồn tại vĩnh viễn (quy luật vòng đời của sản phẩm, của công nghệ) Vậy việc đổi mới công nghệ là một yếu tố mang tính quyết định đến việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Bởi chỉ
có đổi mới công nghệ mới tạo ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự thể hiện các ưu thế của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại trên cùng thị trường, người ta thường đánh giá năng lực cạnh tranh ở hai giai đoạn:
- Giai đoạn thiết kế, là công việc chuẩn bị thị trường cho sản phẩm, người ta tiến hành, điều tra, đánh giá để biết được cần phải đưa ra thị trường sản phẩm gì, có đặc tính công dụng, mẫu mã thế nào để chiếm lĩnh được thị trường;
- Giai đoạn thứ hai là sản phẩm đã thâm nhập thị trường, việc điều tra đánh giá
là để tìm hiểu tình hình tiêu thụ, tìm ra giải pháp nâng cao thị phần hoặc tìm kiếm thị trường mới
Như trên đã nói sản phẩm được quyết định bởi công nghệ, do vậy để có được sản phẩm được mới có nhiều ưu điểm, tạo ra năng lực cạnh tranh cao cần phải đổi mới công nghệ Trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh việc đầu tư đổi mới công nghệ
là nhằm mục tiêu tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường
1.2.8 Tính tất yếu của đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp
Trang 35Khi nói đến sản xuất, con người nói chung, doanh nghiệp nói riêng luôn mong muốn năng suất, chất lượng sản phẩm ngày một cao, chi phí sản xuất, giá thành ngày một thấp (giảm đi) Vậy nó không chỉ được xem xét ở khía cạnh tạo ra sản phẩm mà quan trọng là phải xem xét đến yếu tố hiệu quả kinh tế Để đạt được hai mục tiêu ấy người ta không ngừng tìm tòi, khám phá tự nhiên, nâng cao sự hiểu biết (tri thức), tích luỹ kiến thức để vận dụng nó tạo ra các công nghệ mới, tiên tiến áp dụng vào sản xuất
ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp
Công nghệ cũng là một loại hàng hoá, có đủ các đặc tính (có giá trị, được mua bán, được sử dụng và cũng được sở hữu, tuân theo quy luật cung cầu, quy luật sinh ra
và tiêu vong…), do vậy đổi mới công nghệ là một tất yếu trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Để đổi mới công nghệ (thay thế công nghệ này bằng công nghệ khác), mức cao nhất của thay đổi công nghệ, doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều công việc, đòi hỏi nhiều điều kiện Do vậy cần phải xem doanh nghiệp có đủ năng lực không, cần điều chỉnh, bổ sung gì để đạt được mục tiêu?
Kết luận chương một
1, Đổi mới công nghệ để tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, giúp doanh nghiệp, ngành, địa phương và nền kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển đã được nhiều quốc gia lựa chọn đã đem đạt thành tựu to lớn;
2, Đổi mơí công nghệ không chỉ là một tất yếu mà còn hết sức cấp thiết đối với các doanh nghiệp và cả nền kinh tế Việt Nam khi mà sức ép cạnh tranh của nền kinh
tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới ngày một gia tăng, trong khi đó kết quả điều tra của một số tỉnh, thành cho thấy phần lớn công nghệ của các doanh nghiệp thuộc loại trung bình và lạc hậu thì yêu cầu đổi mới công nghệ càng trở nên cấp thiết;
3, Sự thành công của đổi mới công nghệ lại phụ thuộc vào năng lực công nghệ, năng lực công nghệ không chỉ quyết định thành công của đổi mới công nghệ mà còn
Trang 36cả sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Công nghệ được coi là một yếu tố cấu thành của sự phát triển, vậy phải trả lời năng lực công nghệ như thế nào?
4, Đánh giá năng lực công nghệ phục vụ cho đổi mới công nghệ là việc làm mang tính khoa học để thực hiện việc đánh giá thì phải có tiêu chí đánh giá, nếu thiếu công cụ này sẽ không thực hiện được việc đánh giá;
5, Cần sự thay đổi cách làm trong hoạt động đổi mới công nghệ, mà ở đây là không chỉ quan tâm đến mục tiêu (đổi mới công nghệ) mà cần phải quan tâm đến năng lực đổi mới công nghệ ( phương tiện để thực hiện mục tiêu), điều kiện đảm bảo
sự thành công của đổi mới công nghệ
6, Cần phải thay đổi quan điểm trong đánh giá công nghệ (chuyển từ quan điểm đánh giá năng lực thay cho quan điểm đánh giá trình độ công nghệ), vì đánh giá năng lực có tính bao quát hơn, toàn diện hơn, các chỉ số đánh giá sẽ rõ ràng hơn, thuận lợi hơn trong việc định lượng các yếu tố
Trang 37Chương 2
TÌNH HÌNH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
TRONG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN PHÚ THỌ
2.1 Tình hình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ;
2.1.1 Kết quả khảo sát hoạt động đổi mới công nghệ tại 12 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ
Qua điều tra cho thấy:
Có 12/12 doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ
Mức độ đổi mới, cải tiến công nghệ tại doanh nghiệp:
+ Đổi mới quy trình công nghệ Có 05 doanh nghiệp, gồm:
Công ty Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao;
Công ty hoá chất Việt Trì;
Công ty giấy Việt Trì;
Công ty CP xi măng Phú Thọ;
Công ty CP Pin Ắc qui Vĩnh
+ Đổi mới công đoạn, bộ phận ( công đoạn), có 08 doanh nghiệp:
+ Đổi mới công dụng của sản phẩm
Chưa có
+ Đổi mới vật liệu, nguyên liệu
Công ty giấy Việt Trì;
- Lý do để doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ:
+ 6/12 = 50% doanh nghiệp đổi mới công nghệ do doanh nghiệp tái cấu trúc;
+ 6/12 = 50% doanh nghiệp đổi mới công nghệ do sản phẩm không còn đáp ứng yêu cầu của thị trường ( cũng có thể coi là do tái cấu trúc);
- Nguồn công nghệ: nước ngoài 50%, trong nước 50%;
Kết quả cụ thể về hoạt động đổi mới công nghệ của 12 doanh nghiệp đã tiến hành khảo sát được thể hiện trong Phụ lục số 2
Trang 382.1.2 Nhận xét về hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã tiến hành khảo sát
Hoạt động đổi mới công nghệ thời gian qua vẫn được các doanh nghiệp thực hiện, nhưng quy mô, tính chất, hình thức khác nhau
50% doanh nghiệp tự đầu tư đổi mới, 33% doanh nghiệp được đầu tư từ phía nhà nước, 17% doanh nghệp hợp tác với đối tác trong nước (góp cổ phần) để đổi mới công nghệ;
Lý do để đổi mới công nghệ chủ yếu do doanh nghiệp tái cấu trúc;
Có 2/3 doanh nghiệp hài lòng và cho rằng công nghệ mà doanh nghiệp đã đầu
tư đổi mới thuộc loại khá và tiên tiến Nhưng theo kết quả đề tài “ Điều tra, đánh giá
hiện trạng công nghệ của các ngành công nghiệp và đề xuất các giải pháp để nâng cao trình độ công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ”[34]
, đã nghiệm thu tháng 6/2008, do Sở Khoa học và Công nghệ Phú
Thọ chủ trì và phối hợp Trung tâm công nghệ Việt Hàn, Viện Ứng dụng và phát triển công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho thấy trình độ công nghệ của 20 doanh nghiệp đã được điều tra thì 30% trình độ công nghệ thuộc loại khá, 30%, trình độ công nghệ loại trung bình khá; 40% trình độ công nghệ thuộc loại trung bình”[34]
, (
đề tài chỉ đưa ra 03 mức về trình độ công nghệ: khá, trung bình khá, trung bình) Trong Luận văn này đã chọn 12 doanh nghiệp trong số 20 doanh nghiệp trên Điều này cần phải xem xét, bởi nếu đề tài trên đưa ra cả mức lạc hậu thì chênh lệch về thứ bậc công nghệ trong nhận xét và đánh giá sẽ rất cao, bởi các doanh nghiệp được điều tra, khảo sát đều là doanh nghiệp hàng đầu trên địa bàn tỉnh Vấn đề ở đây là có phải các nhà doanh nghiệp, cán bộ phụ trách kỹ thuật, điều hành sản xuất của doanh nghiệp thiếu thông tin về công nghệ, nhất là về các công nghệ hiện đại và tiên tiến đang được các doanh nghiệp khác trong nước và trên thế giới sử dụng?
Dưới đây là một số nhận xét chung;
Trang 39- Việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong những năm qua diễn ra ở tất cả các lĩnh vực, các loại hình doanh nghiệp, từ các doanh nghiệp nhỏ, vừa đến doanh nghiệp lớn Nhìn chung tốc độ đổi mới công nghệ diễn ra rất chậm Nhưng vì chưa có nghiên cứu, đánh giá toàn diện ở tất cả các loại hình nên không có số liệu mang tính tổng thể
- Về quy mô, hình thức đổi mới công nghệ, qua điều tra cho thấy việc đổi mới công nghệ diễn ra theo nhiều loại hình, quy mô, tính chất, như: đổi mới toàn bộ công nghệ, công đoạn, quy trình, thiết bị, công dụng của sản phẩm, vật liệu chế tạo và cả quy trình quản lý Tự tiến hành đổi mới, kết hợp bên bán và chuyển giao công nghệ…
- Việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong những năm qua có một số hoạt động đổi mới công nghệ tương đối nổi bật sau:
+ Trong lĩnh vực chế biến lương thực và thực phẩm nổi bật là đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất bia của Cộng Hoà Liên Bang Đức, công nghệ sản xuất mì chính
từ acids Glutamic bằng phương pháp lên mem của Hàn Quốc, công nghệ chế biến chè của Bỉ (belgen), Ấn độ (India), Trung Quốc thay thế cho công nghệ chế biến chè trước đây của Liên Xô cũ, Trung Quốc (thay thế công nghệ CTC cho công nghệ OTD);
+ Trong lĩnh vực sản xuất giấy nổi bật là đầu tư đổi mới áp dụng công nghệ sản xuất của Nhật Bản, Cộng Hoà Liên Bang Đức; thay đổi công nghệ tẩy (áp dụng công nghệ Peroxit thay cho tẩy bằng Clo), rửa ngược bột giấy, thu hồi bột giấy, thu hồi dịch den
+ Trong lĩnh vực sản xuất hoá chất cơ bản và phân bón
Về sản xuất hoá chất nổi bật là đầu tư công nghệ của Trung Quốc để sản xuất xút Về sản xuất acids đã đầu tư đổi mới công nghệ đốt lưu huỳnh thay cho đốt quặng apatit; ứng dụng công nghệ tiếp xúc (hấp thụ) kép thay cho hấp thụ (tiếp xúc đơn) để tăng hiệu quả thu hồi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Công nghệ sản xuất ắc qui chì kín khí (khô) thay công nghệ sản xuất ắc qui truyền thống;
Trang 40Về sản xuất phân bón chủ yếu tập trung đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất phân bón NPK;
+ Trong lĩnh dệt- may đã đầu tư công nghệ sợi, dệt của Bỉ, Hàn quốc; công nghệ cắt quần áo, cắt da giấy, ép dày của Nhật bản, Hàn Quốc;
+ Trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng nổi bật là công nghệ sản xuất gạch Ceramic của Italia, công nghệ lò quay và lò quay phương pháp khô trong sản xuất xi măng;
+ Trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ còn ít được quan tâm và qua kết quả điều tra của đề tài do Sở KH&CN thực hiện đã nghiệm thu tháng 6/2008, cho thấy trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong lĩnh vực này đều thuộc loại lạc hậu, gần đây có 01 doanh nghiệp xem xét đầu tư tuyển Fenspat theo công nghệ tuyển nổi Vì thế nên chưa phát huy được tiềm năng thế mạnh của địa phương về tài nguyên, khoáng sản,
mà còn gây lãng phí nguồn tài nguyên, khoáng sản và gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu vực khai thác và chế biến khoáng sản Đây là vấn đề rất cần được quan tâm giải quyết
- Việc đổi mới công nghệ cũng còn một số hạn chế sau:
+ Việc đổi mới công nghệ ở Phú Thọ cũng như nhều tỉnh, thành khác còn nhiều hạn chế, như: trình độ công nghệ thấp, tốc độ đổi mới chậm, năng lực công nghệ nội sinh còn rất hạn chế, cơ cấu công nghệ chế biến còn chưa hợp lý[31]+ Trên địa bàn tỉnh chưa có doanh nghiệp nào có công nghệ thuộc loại hiện đại, hoặc tiến tiến; chưa có doanh nghiệp nào là doanh nghiệp công nghệ cao;
+ Thiếu các doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn do vậy giá trị gia tăng của các sản phẩm công nghiệp còn rất hạn chế, hoạt động và giá trị sản xuất công nghiệp chưa tạo ra được sự đột biến, Phú Thọ vẫn là tỉnh hàng năm trung ương phải hỗ trợ, cân đối ngân sách; môi trường ở nhiều khu vực sản xuất công nghiệp vẫn trong tình trạng ô nhiễm