1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học

134 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau thời gian tìm hiểu nghiên cứu, cùng với những kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tập tại trường, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Hoàn thiện tiê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-HOÀNG THỊ VÂN

HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM VÀ LOGIC

CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60340412

Người hướng dẫn: TS TS Trịnh Ngọc Thạch

Hà Nội - 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Mẫu khảo sát 7

6 Câu hỏi nghiên cứu 7

7 Giả thuyết nghiên cứu 7

8 Phương pháp nghiên cứu 8

10 Kết cấu của Luận văn 10

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 11

1.1 Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học 11

1.1.1 Khoa học 11

1.1.2 Nghiên cứu khoa học 15

1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học 15

1.3 Logic của nghiên cứu khoa học 20

1.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 25

1.5 Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 36

2.1 Khái quát về Học viện Tài chính 36

2.2 Khái quát về hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 40

Trang 4

2.2.1 Các nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện

Tài chính 40

2.2.2 Tình hình triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 43

2.3 Thực trạng công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 46

2.3.1 Thực trạng về tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 46

2.3.2 Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu 52

2.3.3 Đội ngũ đánh giá 56

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (TRƯỜNG HỢP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH) 63

3.1 Căn cứ để hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu tại Học viện Tài chính 63

3.2 Hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 70

3.3 Khảo nghiệm hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 77

KẾT LUẬN 82

KHUYẾN NGHỊ 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 89

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1.1 Một số loại phán đoán thông dụng

2 Bảng 2.1: Các tạp chí, tập san và ấn phẩm do Học viện Tài chính

xuất bản

3 Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức Học Viện Tài chính

4 Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn của nhân lực khoa học Học viện Tài

chính

5 Bảng 2.4: Nguồn lực tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học

của Học viện Tài chính giai đoạn 2010-2014

6 Bảng 2.5: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ,

giảngviên, nghiên cứu viên Học viện Tài chính năm 2010-2014

7 Bảng 2.6: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên

Học viện Tài chính năm 2010-2014

8 Bảng 2.7: Thang điểm đánh giá đề tài nghiên cứu khoa họcsinh viên

9 Sơ đồ 2.8: Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của

cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tại Học viện Tài chính

10 Sơ đồ 2.9: Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

sinh viên tại Học viện Tài chính

11 Bảng 2.10: Trình độ chuyên môn của người tham gia đánh giá kết

quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính

12 Bảng 2.11: Số lần các cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tham gia

Trang 6

đánh giá kết quả nghiên cứu tại Học viện Tài chính

13 Bảng 2.12: Cấp đề tài cao nhất mà các cán bộ, giảng viên, nghiên

cứu viên đã tham gia đánh giá kết quả nghiên cứu

14 Bảng 3.1: Bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu mới đề xuất

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian tìm hiểu nghiên cứu, cùng với những kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tập tại trường, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ

với đề tài: “Hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc

điểm và logic của nghiên cứu khoa học” Để có được kết quả này, tôi xin gửi

lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể các thầy giáo, cô giáo thuộc chuyên ngành Quản

lý Khoa học và Công nghệ, Khoa khoa học Quản lý trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họp tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS.Trịnh Ngọc Thạch, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, thầy là người trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và cho tôi những định hướng, những góp ý rất quý báu trong quá trình thực hiện nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Luận văn cũng nhận được nhiều thông tin, ý kiến đánh giá, góp ý và sự giúp đỡ từ các giảng viên, các chuyên gia, các đồng nghiệp, các học viên cao học trong quá trình nghiên cứu Bạn bè và tập thể lớp Cao học Quản lý KH&CN K12, đã chia sẻ kinh nghiệm và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và làm luận văn Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc trước sự giúp đỡ đó

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với Viện Kinh tế – Tài chính, Học viện Tài chính đã hỗ trợ và tạo điều kiện về thời gian và tài chính cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu Tuy nhiên, tôi còn gặp nhiều khó khăn về sức khỏe,

Trang 8

thời gian, và trình độ nên kết quả nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Rất mong nhận đƣợc sự quan tâm, góp ý chân thành của Quý thầy/cô giáo và các anh/chị học viên để giúp tôi hoàn thiện Luận văn của mình

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Hoàng Thị Vân

Trang 9

“Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học là một công việc hết sức cần thiết trong tổ chức nghiên cứu khoa học Điều quan trọng trước hết là cần phải đánh giá đề hiểu được giá trị khoa học đích thực của kết quả nghiên cứu” [4;tr.3] Đối với mỗi tổ chức nghiên cứu, đơn vị giáo dục - đào tạo, hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu góp phần nhận dạng đúng chất lượng của các công trình khoa học, chọn lựa được đúng những nhà nghiên cứu xứng đáng được vinh danh và từ đó, góp phần quan trọng phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức, đóng góp những kết quả nghiên cứu chất lượng có ích cho xã hội

Tuy nhiên, hoạt động đánh giá nghiên cứu khoa học ở nước ta chưa thực sự phản ánh đúng chất lượng của các kết quả nghiên cứu Hiện nay, việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học vẫn còn mang nặng cảm tính, phụ thuộc vào chủ quan của người đánh giá Một trong những nguyên nhân chính

là do hệ thống tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học chưa phù hợp Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học chưa phản ánh được đầy đủ yêu cầu về tính mới, tính logic và giá trị khoa học của một nghiên cứu khoa học hay nhiều tiêu chí đánh giá còn rất chung chung, không rõ ràng dẫn đến hậu quả là xếp loại chất lượng các kết quả nghiên cứu khoa học chưa chuẩn xác

Với ý nghĩa đó, đề tài “Hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa

học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học” phân tích những bất

Trang 10

bố trên các tạp chí, ấn phẩm trong thời gian qua Theo tìm hiểu của tác giả, có thể kể đến một số tác phẩm như sau:

Trên thế giới, chúng ta có thể kể đến tác phẩm “Evaluation of Research and development” (1983) tập hợp bài viết của rất nhiều tác giả về các phương pháp đánh giá nghiên cứu và triển khai ở các nước thành viên Cộng đồng châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản trong đó, tiêu biểu là một số quan điểm của các tác giả như:

- Tác giả P Fasella, với bài viết “The evaluation of the European Community‟s Research and Development Programmes” [24;tr.3-13] (Đánh giá các chương trình nghiên cứu và triển khai của Cộng đồng Châu Âu) đã nêu ra một số nguyên tắc chung trong việc đánh giá R&D: Quá trình đánh giá cần tiến hành trong mối liên hệ đến việc hình thành và triển khai các giai đoạn của nghiên cứu; có thể có đánh giá trong và đánh giá ngoài Đánh giá trong thường được thực hiện bởi các nhà quản lý dự án, tham gia trong quá trình thực hiện đề tài Còn đánh giá ngoài là đánh giá của các chuyên gia bên ngoài không tham gia vào chương trình nghiên cứu Tuy nhiên theo ông, việc đánh giá nên được tiến hành với các chuyên gia ngoài, những người không tham gia vào thực hiện chương trình đó Tác giả nhấn mạnh cần có cơ chế phản hồi thường xuyên Đồng thời, tác giả còn đưa ra đề xuất hội đồng đánh giá cần

Trang 11

3

dừng lại ở mức tương đối nhỏ (từ 6- 8 người) Thời gian dành cho việc đánh giá tối đa là 6 tháng cho đánh giá bằng phương pháp “chuyên gia” và 3 tháng cho đánh giá bằng phương pháp “hội đồng”

- Tác giả A.M.T Rouban, trong bài viết “Evaluation of R&D Programmes in France” [24;tr.14-21] (Đánh giá các chương trình R&D của Pháp) cho rằng mặc dù có thể đưa ra hệ thống chỉ báo rõ ràng, tuy nhiên khi tiến hành đánh giá và sử dụng công trình khoa học thì sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các nhà khoa học, các nhà quản lý, các cơ quan giám sát Do vậy, việc đưa ra một hệ thống chỉ báo có thể áp dụng cho mọi đánh giá vẫn là vấn đề đang được bàn cãi

Các quan niệm của các tác giả kể trên mới chỉ dừng lại ở việc đề ra một

số nguyên tắc, phương pháp chung cho việc đánh giá nghiên cứu và triển khai

Ở Việt Nam, bàn về đánh giá nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học có nhiều nhà khoa học có công trình nghiên cứu về đánh giá nghiên cứu khoa học như tác giả Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn An, Hồ Tú Bảo,…Trong đó, đặc biệt là tác giả Vũ Cao Đàm với tác phẩm “Đánh giá nghiên cứu khoa học”, (2005) Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Tác giả đã trình bày hệ thống phương pháp luận về đánh giá nghiên cứu khoa học, bao gồm đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học

Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết khác trên các tạp chí bàn về vấn đề này:

- “Một số vấn đề trong đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học, số 4/2005 của tác giả Nguyễn Văn An Qua việc làm rõ vai trò và thực trạng của hoạt động đánh giá và nghiệm thu nghiên cứu khoa học Việt Nam hiện nay, tác giả đề xuất một số

Trang 12

- “Đánh giá nghiên cứu khoa học?” đăng trên trang web http://tiasang.com.vn, ngày 13/04/2012, đã nêu những trường hợp sử dụng đánh giá nghiên cứu khoa học; các thang đánh giá nghiên cứu khoa học hiện có; phân loại đánh giá nghiên cứu khoa học và đề nghị xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá khoa học phù hợp để đánh giá khách quan các công trình khoa học

Vấn đề này cũng đã được một số học viên chuyên ngành Quản lý Khoa học và công nghệ quan tâm lựa chọn nghiên cứu:

- Nguyễn Xuân Quang (2008), “Xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả đã tìm hiểu về đánh giá nghiên cứu khoa học và xây dựng tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học áp dụng cho địa chỉ cụ thể là trường Cao đẳng nghề Hải Dương

- Lê Ngọc Sơn (2010), “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của cán bộ trường Đại học sư phạm Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học dựa theo 3 bước:

Trang 13

5

+ Bước 1: Tập trung xem xét tính mới dựa trên sự kiện khoa học, vấn

đề khoa học và luận điểm khoa học theo các chỉ tiêu chuẩn mực (40 điểm)

+ Bước 2: Xem xét tính logic của 5 bộ phận: sự kiện khoa học, vấn đề khoa học, luận điểm khoa học, luận cứ khoa học và phương pháp nghiên cứu (35 điểm)

+ Bước 3: Xem xét tổng thể các tiêu chí còn lại như tiêu chí và mức độ

rõ ràng, tính logic và khoa học của việc luận giải về sự cần thiết nghiên cứu

đề tài; mức độ rõ ràng và khả thi của mục tiêu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; tính khoa học, độc đáo, phù hợp của cách tiếp cận; kết cấu , hình thức theo cấu trúc logic của kết quả nghiên cứu (35 điểm)

- Trần Thị Hồng (2013) “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả đã nghiên cứu thực trạng đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và xây dựng mới một hệ thống tiêu chí cho việc đánh giá kết quả nghiên cứu ngành khoa học xã hội của trường này

Các nghiên cứu trên đã tiếp cận chủ đề đánh giá nghiên cứu khoa học ở những khía cạnh khác nhau Nhìn chung, các tác giả đã đề cập đến phương pháp, chỉ báo trong đánh giá nghiên cứu khoa học cũng như chỉ ra những bất cập còn tồn tại Đề tài sẽ kế thừa những luận điểm đã được trình bày trong các nghiên cứu trên và vận dụng nghiên cứu giải pháp hoàn bộ tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu: hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa

học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 14

6

+ Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài: thao tác một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu (khái niệm khoa học, nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, tiêu chí đánh giá…); trình bày các đặc điểm và logic nghiên cứu khoa học; nội dung đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học…

+ Làm rõ thực trạng hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học Nhận diện những hạn chế trong hệ thống tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học (trên cơ sở khảo sát trường hợp Học viện Tài chính)

+ Hoàn thiện các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm của nghiên cứu khoa học và logic của nghiên cứu khoa học

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Do khách thể nghiên cứu của đề tài rất rộng và

do hạn chế về thời gian thực hiện đề tài cũng như năng lực của học viên còn hạn chế nên tác giả giới hạn phạm vi không gian, chỉ tiến hành khảo sát tại Học viện Tài chính

- Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu

về hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học với các vấn đề sau:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

+ Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính

+ Nhận diện những hạn chế trong bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa họccủa Học viện Tài chính

+ Đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học (trường hợp Học viện Tài chính)

- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 – 2014

Trang 15

7

5 Mẫu khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát:

- Các văn bản quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học; Văn bản quy định tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học;

- Các công trình nghiên cứu khoa học; Các luận văn thạc sĩ;

- Giảng viên và nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp tại Học viện Tài chính;

- Các chuyên gia; Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính

6 Câu hỏi nghiên cứu

Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học cần hoàn thiện như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học cần được hoàn thiện theo hướng sau:

+ Xây dựng và bổ xung các tiêu chí dựa trên đặc điểm của nghiên cứu khoa học: tính mới; tính tin cậy; tính khách quan; tính rủi ro; tính kế thừa; tính cá nhân, tính trễ trong áp dụng để đề xuất hoàn thiện các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học (Trong đó đặc biệt nhấn mạnh rằng kết quả nghiên cứu khoa học có tính mới mới tiếp tục đánh giá theo các tiêu chí khác)

+ Xây dựng và bổ xung các tiêu chí dựa trên tính logic của nghiên cứu

khoa học thể hiện qua chuỗi logic gồm các bộ phận: Tên đề tài, mục tiêu

nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và luận cứu để đề xuất hoàn thiện các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên

cứu khoa học

Trang 16

8

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tác giả tiến hành nghiên cứu các tài liệu sẵn có như các văn bản quy định, chính sách, các báo cáo về hoạt động nghiên cứu khoa học; Các công trình nghiên cứu khoa học, sách báo, tạp chí, bài giảng, giáo trình của các thầy cô và đồng nghiệp…để có thể cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu, tìm kiếm các thông tin liên quan và kế thừa những kết quả nghiên cứu đó để hoàn thiện nội dung của luận văn

+ Phương pháp điều tra bảng hỏi

Tác giả tiến hành phát 70 phiếu bảng hỏi cho các 14 cán bộ, 50 giảng viên và 6 nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, tham gia hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của Học viện Tài chính để lấy ý kiến nhận xét về hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học mà Học viện Tài chính đang thực hiện; quan điểm của họ về những hạn chế, thiếu sót trong các tiêu chí đánh giá các kết quả nghiên cứu khoa học hiện nay và hướng bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí này

Thông tin thu thập được từ việc phát phiếu điều tra có cả thông tin định tính và thông tin định lượng Các thông tin định tính được tiến hành xử lý logic để thấy được bản chất của vấn đề Các thông tin định lượng được xử lý theo phương pháp toán học và hệ thống bằng các bảng số liệu

Sau khi đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, tác giả tiếp tục gửi đi 10 phiếu trưng cầu ý kiến về bộ tiêu chí đánh giá mới này

+ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Có những thông tin, quan điểm có thể không được thể hiện qua phiếu điều tra bảng hỏi, do đó, tác giả tiếp tục tiến hành phỏng vấn sâu với mục đích

Trang 17

9

nhằm thu thập được những thông tin sâu hơn liên quan đến vấn đề nghiên cứu Tác giả tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giảng viên và nghiên cứu viên với tư cách là người tham gia hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học, chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học, cụ thể như sau:

- Phỏng vấn 02 cán bộ (01 Phó Ban Quản lý Khoa học và 01 chuyên viên trong Ban quản lý Khoa học)

- Phỏng vấn 03 nghiên cứu viên và 02 giảng viên là chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các cấp như cấp Khoa; cấp Viện, cấp Học viện

và cấp Bộ

- Phỏng vấn 05 cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên đã tham gia chấm

đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính)

+ Phương pháp quan sát

Tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát để quan sát quy trình nghiệm thu một đề tài nghiên cứu khoa học; quan sát cách thức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính; quan sát quá trình làm việc của hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học để có được cái nhìn tổng quát về thực trạng đánh giá kết quả nghiên cứu và nhận diện những hạn chế trong tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

Trang 18

10 Kết cấu của Luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

Chương 2: Thực trạng tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học Tại Học viện Tài chính

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học (trường hợp Học viện Tài chính)

Trang 19

11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.1 Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học

1.1.1 Khoa học

Khái niệm “khoa học” từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực của cuộc sống Tuy nhiên để trả lời cho câu hỏi “khoa học là gì?” vẫn còn rất nhiều cách hiểu về khái niệm này xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau

Trong Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm,

tác giả đưa ra 4 định nghĩa về khoa học từ các góc độ: (1) Khoa học là một hệ thống tri thức; (2) Khoa học là một hoạt động xã hội; (3) Khoa học là một hình thái ý thức xã hội; (4) Khoa học là một thiết chế xã hội

1.1.1.1 Khoa học là một hệ thống tri thức

Theo định nghĩa của UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của liên

hợp quốc) khoa học là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và

sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”

Ở đây, hệ thống tri thức được hiểu là hệ thống tri thức khoa học “Khoa học, trong trường hợp này, được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ trong hoat động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại.” [6; tr.12] Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Cần phân biệt tri thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm:

Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động

sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Từ khi được sinh ra cho đến trưởng thành và mất đi, con người luôn cảm nhận thế giới xung quanh và chịu những tác động trở lại

Trang 20

12

từ môi trường sống Các tình huống xảy ra trong tự nhiên, trong lao động và trong các hoạt động khác buộc con người phải xử lý Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan

hệ giữa những con người trong xã hội, từ đó, những hiểu biết và kinh nghiệm được tích lũy hàng ngày Mới đầu, chỉ là những nhận thức, hiểu biết về từng

sự vật riêng lẻ, sau đó sẽ kết nối với nhay hình thành nên mối liên hệ mang tính hệ thống về các sự vật trong thế giới xung quanh.Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế

Nó giúp con người có thế giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống , từ

đó thích nghi để tồn tại và phát triển

Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật

và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học

Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ

thống và được khái quát hóa nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng một hệ thống phương pháp khoa học Không phải là sự kế tục đơn giản của những tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học là sự tổng kết dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên, khái quát hóa thành những cơ sở lý thuyết Đó là những kết luận đã được kiểm chứng Các tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các bộ môn khoa học

1.1.1.2 Khoa học là một hoạt động xã hội

Ở thời kỳ đầu, khoa học chỉ là sự quan tâm cá nhân của các nhà thiên tài lỗi lạc Sau đó, khoa học dần trở thành một hoạt động phổ biến hơn và

Trang 21

13

khoa học ngày nay đã trở nên một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp với mức độ xã hội hóa cao Đây là hoạt động sản xuất tinh thần rất đặc biệt, đầy gian khổ và rủi ro Sản phẩm của hoạt động khoa học ngày càng tham gia mạnh mẽ vào mọi mặt của đời sống

Hoạt động khoa học diễn ra với mục tiêu nhận thức về thế giới để thích nghi với môi trường sống và cải tạo thế giới nhằm tồn tại và phát triển thông qua việc:

- Tìm tòi, khám phá, phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức

về thế giới

- Dựa vào những hiểu biết về quy luật của các sự vật để đưa ra những

dự báo về quá trình phát triển của sự vật, lựa chọn các cách ứng xử, hướng đi đúng đắn, tránh hoặc giảm thiểu rủi ro

- Sáng tạo ra các phương pháp kỹ thuật, sự vật mới phục vụ cho cuộc sống

1.1.1.3 Khoa học là một hình thái ý thức xã hội

Dưới tiếp cận Triết học, theo quan điểm triết học Mác, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thức ý thức xã hội khác Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt Đây là nhận thức quan trọng trong việc

xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác Trong lịch sử khoa học, mối một phát hiện mới về bản chất sự vật, quy luật hay sáng tạo giải pháp mới đều có thể dẫn đến những tranh luận, bất đồng quan điểm hoặc va chạm với các hình thái ý thức xã hội khác do cách nhìn, quan điểm khoa học khác biệt Chính vì vậy việc xem xét kỹ những kết luận

Trang 22

bộ khoa học vào đời sống và sản xuất Song, khoa học vẫn tồn tại và phát triển một cách độc lập, không phụ thuộc vào các hình thái ý thức xã hội này

1.1.1.4 Khoa học là một thiết chế xã hội

Dưới tiếp cận xã hội học, khoa học được hiểu là một thiết chế xã hội

“Thiết chế xã hội là một hệ thống các quy tắc, các giá trị và cấu trúc, một hệ thống các quan hệ ổn định và tạo nên các khuôn mẫu xã hội biểu thị sự thống nhất, được xã hội công khai thừa nhận, nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của xã hội” [4;7]

Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học điều chỉnh hành vi của con người, chi phối mọi quyết định trong đời sống kinh tế, xã hội Nó định ra khuôn mẫu hành vi, lấy tính khoa học làm thước đó; xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định trong sản xuất, kinh doanh; trở thành phương tiện biến đổi mọi mặt của cuộc sống

Nhận thức khoa học là một thiết chế xã hội có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ trong việc định hướng nghiên cứu, triển khai quá trình nghiên cứu của người nghiên cứu mà còn quan trọng đối với vấn đề hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển khoa học

Trong khuôn khổ nội dung của Luận văn, khái niệm “khoa học” được hiểu theo góc độ khoa học là một hệ thống tri thức

Trang 23

15

1.1.2 Nghiên cứu khoa học

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: Nghiên cứu khoa học là quá trình hoạt động nhằm thu nhận tri thức khoa học

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nghiên cứu khoa học là hoạt động chủ động, tích cực và có hệ thống của con người nhằm khám phá, giải thích thế giới xung quanh

Tuy nhiên, các định nghĩa trên nói đến nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở khía cạnh khám phá và giải thích, hay nói khác đi là nhận thức thế giới, chứ chưa đề cập đến khía cạnh sáng tạo, cải tạo thế giới

Có thể hiểu nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn

Như vậy “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng Nói cho cùng, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới”[8; tr.19]

Trong khuôn khổ nội dung của luận văn, khái niệm nghiên cứu khoa học được hiểu là quá trình tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật nhằm biến đổi sự vật phục vụ mục tiêu hoạt động của con người

1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học

Đặc điểm là nét riêng biệt, dùng để phân biệt sự vật, hiện tượng này với

sự vật, hiện tượng khác

Nghiên cứu khoa học là loại hoạt động mang tính đặc thù rất cao so với các loại hoạt động khác Các đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học như sau:

Trang 24

16

1.2.1 Tính mới

“Mới” là chưa được biết đến, chưa được bộc lộ công khai Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi những điều chưa biết Đây chính là điều làm nên tính chất rất đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học Mọi nghiên cứu lặp lại như cũ những phát hiện, sáng tạo của các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện là không có giá trị khoa học Chính vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học Nó phản ánh năng lực và sự sáng tạo của người nghiên cứu

Nhận thức được tính mới là đặc điểm quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học, tạo nên giá trị khoa học của mỗi công trình nghiên cứu sẽ giúp người tham gia đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học có sự chú trọng vào tính mới của kết quả nghiên cứu khi tiến hành đánh giá Đây đồng thời cũng là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của các tác giả có đóng góp mới cho khoa học

1.2.2 Tính tin cậy của kết quả

“Tính tin cậy của kết quả nghiên cứu thể hiện ở chỗ phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau” [8; tr.20]

Như vậy, một kết quả ngẫu nhiên thu được hay do suy nghĩ chủ quan của người nghiên cứu dù phù hợp với giả thuyết đặt ra trước đó cũng không thể vội vàng kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng Đặc điểm này đòi hỏi người nghiên cứu phải thận trọng trong việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp và trung thực với kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu

1.2.3 Tính thông tin

Sản phẩm nghiên cứu khoa học được thể hiện trên nhiều hình thức khác nhau: một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, những giải pháp mới

Trang 25

Đặc điểm này đã phân biệt sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học với sản phẩm của các hoạt động lao động khác Hiểu được đặc điểm này cũng giúp người đánh giá kết quả nghiên cứu có sự xem xét, nhận định, đánh giá một cách tỷ mỷ, kỹ lưỡng đối với lượng thông tin mà mỗi kết quả nghiên cứu tạo ra thể hiện trên mỗi trang báo cáo, mỗi mô hình, mỗi chi tiết của sản phẩm…

1.2.4 Tính khách quan

Tính khách quan vừa là một đặc tính của hoạt động khoa học, vừa là một phẩm chất của người làm khoa học Mọi nhận định, kết luận dựa trên cảm tính, thiếu xác nhận bằng những kiểm chứng từ các phương pháp khoa học đều được xem là chưa khách quan, hay chưa thể là một phản ánh khách quan

về bản chất của sự vật, hiện tượng

Để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động nghiên cứu khoa học, người làm khoa học cần giữ chuẩn mực “hoài nghi” – một trong những chuẩn mực đạo đức của cộng đồng khoa học Khi đứng trước một kết luận, người nghiên cứu cần đặt các loại câu hỏi ngược lại:

- Kết quả đó có là duy nhất hay không?

- Còn phương pháp nào khác để cho ra kết quả đó hay không?

- Kết quả đó đúng trong điều kiện nào khác nữa hay không?

Và từ đó, vấn đề được nghiên cứu, “lật dở” nhiều chiều, nhiều khía cạnh

Trang 26

18

Đặc điểm này đòi hỏi người nghiên cứu kiên quyết loại bỏ những nhận định, quan điểm chủ quan, áp đặt chủ quan trong sản phẩm nghiên cứu của mình

1.2.5 Tính rủi ro của quá trình

Tính mới của hoạt động nghiên cứu khoa học đồng thời cũng quy định một đặc điểm quan trọng khác của hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là tính rủi ro của quá trình Quá trình khám phá bản chất sự vật, sáng tạo giải pháp/sự vật hoàn toàn mới có thể thành công hoặc thất bại Sự thất bại trong hoạt động nghiên cứu khoa học có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:

- Thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu

- Trình độ kỹ thuật của trang thiết bị phục vụ quá trình nghiên cứu

- Năng lực của người nghiên cứu còn hạn chế…

Tuy nhiên, thất bại đó vẫn được xem là một kết quả trong nghiên cứu khoa học Nó chứng minh rằng không tồn tại quy luật bản chất của sự vật hoặc giải pháp như đã dự kiến ban đầu Điều này giúp cho các nghiên cứu sau tránh khỏi sự lãng phí nguồn lực cho việc nghiên cứu những vấn đề đó

1.2.6 Tính kế thừa

Để tiến hành một nghiên cứu, người nghiên cứu buộc phải sử dụng những kiến thức cơ bản sẵn có, những kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học gần hoặc xa Đó là tính kế thừa trong hoạt động khoa học

Trong quá trình nghiên cứu, người ta không lãng phí nguồn lực để nghiên cứu những vấn đề đã được nghiên cứu, chứng minh mà sử dụng lại kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước làm nền tảng phát triển tiếp những nhận định, giải pháp, hướng nghiên cứu mới Tính kế thừa trong nghiên cứu khoa học là yếu tố quan trọng trong sự ra đời của các bộ môn khoa học, các ngành khoa học mới cho nhân loại

Trang 27

19

Nắm rõ đặc điểm này của nghiên cứu khoa học, người đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học cần phân biệt được giữa kế thừa và sao chép, đạo văn nhằm đưa ra được những nhận định khách quan, công bằng tránh thiệt thòi cho người nghiên cứu

1.2.7 Tính cá nhân

Bên cạnh đặc tính kế thừa, một sản phẩm khoa học còn phải mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả sáng tạo ra nó Tính cá nhân thể hiện ở tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của mỗi cá nhân trong nghiên cứu khoa học Ngay cả khi sản phẩm khoa học được tạo ra do một tập thể thì tư tưởng khoa học, quan điểm, chủ kiến của mỗi cá nhân thể hiện trong mỗi phần việc được giao của

cá nhân đó

1.2.8 Tính trễ trong áp dụng

Một kết quả nghiên cứu, dù là có giá trị khoa học cao và ý nghĩa thực tế cũng không thể áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được mà cần một thời gian, vì nhiều lý do như: điều kiện kinh tế, văn hóa, yếu tố chính trị, tâm lý xã hội, cân nhắc các hệ lụy mà việc áp dụng kết quả nghiên cứu có thể tạo ra Tính chất này được gọi là “tính trễ” trong nghiên cứu khoa học Do vậy, với đặc điểm này thì trong đánh giá kết quả nghiên cứu, người đánh giá không nên nặng nề về tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu

Hiểu được đặc điểm này của nghiên cứu khoa học, trong khi đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, người đánh giá sẽ không dựa trên căn cứ đã được chuyển giao, đã được áp dụng để đánh giá chất lượng của kết quả nghiên cứu

1.2.9 Tính phi kinh tế

Tính phi kinh tế trong hoạt động nghiên cứu khoa học thể hiện ở một số điểm sau:

Trang 28

độ hao mòn vô hình luôn vượt xa so với tốc độ hao mòn hữu hình

- Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định do tính rủi ro và tính bất định trong nghiên cứu khoa học Một kết quả nghiên cứu rất có giá trị khoa học nhưng lại không thể áp dụng trong thực tiễn sản xuất do một lý do xã hội nào đó và như vậy, hiệu quả kinh tế của kết quả

đó không trở thành hiện thực

Hiểu được đặc điểm này của nghiên cứu khoa học, trong khi đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, người đánh giá sẽ không dựa trên căn cứ về hiệu quả kinh tế đem lại từ kết quả nghiên cứu để đánh giá chất lượng của kết quả nghiên cứu đó

Trên đây là những đặc điểm cơ bản, đặc thù của nghiên cứu khoa học Hiểu được những đặc điểm này giúp cho việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học được khách quan, trung thực và công bằng

1.3 Logic của nghiên cứu khoa học

Logic có thể hiểu là trật tự chặt chẽ, sự gắn bó, liên kết chặt chẽ tất yếu giữa các ý, bộ phận, sự vật, hiện tượng

Logic của nghiên cứu khoa học là quy trình các bước/các giai đoạn trong nghiên cứu khoa học Mọi nghiên cứu khoa học, dù thuộc lĩnh vực nghiên cứu nào, cũng đều tuân theo một trật tự logic xác định của quá trình nghiên cứu

Logic của nghiên cứu khoa học bao gồm các bước như sau:

(1) Lựa chọn chủ đề nghiên cứu và đặt tên đề tài

Trang 29

Sau khi lựa chọn được chủ đề nghiên cứu thì công việc tiếp theo là đặt tên cho đề tài nghiên cứu Việc đặt tên cho đề tài thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với chính đề tài đó, bởi tên đề tài sẽ thể hiện cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài Tên đề tài chỉ được hiểu theo một nghĩa thực của vấn

đề nghiên cứu, hoàn toàn không thể hiểu theo hai nghĩa hay nhiều nghĩa Chính vì vậy, việc sử dụng ngôn ngữ trong đặt tên cho đề tài phải mang nghĩa thực, không sử dụng lối ẩn dụ hay chơi chữ

(2) Xác định mục tiêu nghiên cứu

Đứng trước một đề tài nghiên cứu, để bắt đầu thực hiện, câu hỏi đặt ra

là nghiên cứu cái gì ở đề tài này? Trả lời cho câu hỏi này tức là người nghiên

cứu đã xác định được mục tiêu nghiên cứu của đề tài Vậy mục tiêu nghiên cứu chính là những nội dung cần nghiên cứu trong đề tài

Một đề tài nghiên cứu thường có mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể Mục tiêu chung này giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt đề tài, nó mang tính chủ đạo Mục tiêu cụ thể sẽ chi tiết các nội dung về mục tiêu chung

(3) Đặt câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu hay vấn đề nghiên cứu được đặt ra khi có mâu thuẫn giữa lý thuyết vốn tồn tại và thực tế mới phát sinh, phản ánh sự hạn chế

Trang 30

- Nhận dạng những bất đồng tranh luận trong khoa học;

- Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường;

- Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thưc tế;

- Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu;

- Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp;

- Những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào

(4) Đưa ra giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết là những mệnh đề về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,

xã hội chưa được kiểm chứng hoặc chưa thể kiểm chứng với những lý thuyết khoa học hiện có

Theo tác giả Vũ Cao Đàm, giả thuyết nghiên cứu là một “kết luận giả định về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ” [6;tr.60]

Giả thuyết nghiên cứu chính là câu trả lời sơ bộ cho câu hỏi nghiên cứu đặt ra trước đó và người nghiên cứu sẽ tiến hành xem xét, phân tích và kiểm chứng nó trong suốt quá trình nghiên cứu của mình để chứng minh giả thuyết đặt ra là đúng hoặc bắc bỏ nó

Như vậy, giả thuyết nghiên cứu có vai trò rất quan trọng đối với một nghiên cứu khoa học Khi một giả thuyết khoa học được chứng minh sẽ là cơ

sở lý luận giúp con người nhận thức sâu hơn về bản chất của sự vật, về thế giưới khách quan Ngay cả khi giả thuyết nghiên cứu bị bác bỏ, nó cũng có ý nghĩa, giúp người nghiên cứu nói riêng và xã hội nói chung có thêm những hiểu biết, kinh nghiệm trong quá trình nhận thức thế giới

Trang 31

23

Căn cứ vào phân loại nghiên cứu mà người nghiên cứu đưa ra những giả thuyết nghiên cứu phù hợp: giả thuyết môt tả; giả thuyết giải thích: giả thuyết giải pháp và giả thuyết giải pháp

Về mặt logic học, giả thuyết nghiên cứu là một phán đoán Có thể hiểu

phán đoán là tìm mối liên hệ giữa các khái niệm Phán đoán có cấu trúc chung

là “S là P”, trong đó S là chủ từ của phán đoán, P là vị từ của phấn đoán

Về các loại phán đoán có thể sử dụng để viết giả thuyết, ta có thể tham khảo bảng liệt kê một số loại phán đoán thông dụng [6;tr.62] sau đây:

Bảng 1.1 Một số loại phán đoán thông dụng

Phán đoán đơn nhất Duy có S là P

Phán đoán liên kết (phép hội) S vừa là P1 vừa là P2

Phán đoán lựa chọn (phép tuyển) S hoặc là P1 hoặc là P2

Phán đoán có điều kiện Nếu S thì P

Phán đoán tương đương S khi và chỉ khi P

(5) Nêu các luận cứ để chứng minh giả thuyết

Muốn chứng minh giả thuyết, người nghiên phải sử dụng các luận cứu làm bằng chứng chứng minh Trong logic, một luận cứ là một cố gắng để thể

Trang 32

24

hiện tính đúng đắn của một khẳng định được gọi là kết luận, dựa trên tính đúng đắn của một tập hợp các khẳng định được gọi là tiền đề1

Luận cứ là những phán đoán đã được chứng minh trước khi sử dụng để chứng minh giải thuyết nghiên cứu Luận cứ là những bằng chứng đưa ra để chứng minh giả thuyết nghiên cứu Luận cứ được xây dựng từ các thông tin thu được qua đọc tài liệu và quan sát bằng thực nghiệm Luận cứ sẽ trả lời cho

câu hỏi “chứng minh bằng cái gì?” trong nghiên cứu khoa học

Các luận cứ này có vai trò quan trọng, hoặc là khẳng định giả thuyết nghiên cứu nêu ra trước đó là đúng hoặc là bác bỏ giả thuyết đã nêu đó

Có hai loại luận cứ được các nhà nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu khoa học:

- Luận cứ lý thuyết là các luận điểm khoa học đã được chứng minh

Luận cứ lý thuyết bao gồm các khái niệm, các tiên đề, các định lý, các định luật, các quy luật đã được khoa học chứng minh là đúng

Người nghiên cứu có thể tìm được các luận cứ lý thuyết từ việc khai thác những tài tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học của các đồng nghiệp đi trước

- Luận cứ thực tiễn là các sự kiện được nhà nghiên cứu thu thập từ

trong thực tế bằng cách quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn, điều tra hoặc khai thác thông tin từ các nghiên cứu của đồng nghiệp

(6) Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết

Phương pháp là cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận cứ chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu Phương pháp bao gồm việc tìm kiếm các luận cứ, chứng minh tính chân xác của các luận cứ và sử dụng (lựa chọn và sắp xếp) các luận cứ đó để chứng minh giả thuyết nghiên cứu được nêu ra trong nghiên cứu khoa học Để làm được việc đó cần phải trả lời

câu hỏi: “Chứng minh bằng cách nào?”

1

http://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%E1%BA%ADn_c%E1%BB%A9_logic

Trang 33

25

1.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

1.4.1 Khái niệm Kết quả nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu khoa học là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu khoa học được thể hiện trên nhiều hình thức khác nhau: một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, những giải pháp mới trong công nghệ, mô hình tổ chức và quản lý, những vật mẫu mới sau quá trình thực nghiệm,

Bản chất của kết quả nghiên cứu khoa học là thông tin Và thông tin đó được truyền tải qua các vật mang thông tin khác nhau như: các báo cáo khoa học; bản mô tả quy trình, công thức; băng đĩa ghi âm, ghi hình; vật mẫu

1.4.2 Khái niệm Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

Để hiểu được “Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học” là gì, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm “đánh giá” Một số định nghĩa về khái niệm “đánh giá” như sau:

Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), “Đánh giá” được hiểu là: Nhận định giá trị

Đánh giá (Evaluation) là sự xem xét, so sánh về mặt lượng và chất của một sự vật so với một sự vật khác được chọn làm chuẩn [4;tr.152]

Đánh giá là một sự so sánh, dựa trên một chuẩn mực nào đó, để xem xét một sự vật là tốt hơn hoặc xấu hơn một sự vật được chọn làm chuẩn, trong

Trang 34

1.4.3 Mục đích đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học nhằm một số mục đích sau:

- Làm cơ sở để đánh giá tầm quan trọng của kết quả nghiên cứu khoa học đó trong hệ thống tri thức khoa học

- Là cơ sở để đánh giá năng lực nghiên cứu của cá nhân nghiên cứu, nhóm nghiên cứu

- Là cơ sở để đánh giá hiệu quả đầu tư vào nghiên cứu

- Là cơ sở để trả công cho người nghiên cứu, nhóm nghiên cứu

- Là cơ sở để vinh danh nhà nghiên cứu, nhóm nghiên cứu

- Là cơ sở để đưa ra quyết định có tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu

đó hay không và hướng áp dụng kết quả nghiên cứu đó vào thực tiễn

1.4.4 Quan điểm đánh giá

- “Kết quả nghiên cứu khoa học phải được đánh giá trước hết ở những

tri thức khoa học mới được chứa đựng trong kết quả” [7;tr.123] Bản chất của

nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá những điều chưa biết để làm phong phú thêm nhận thức của nhân loại về thế giới khách quan và sáng tạo ra những giải pháp phục vụ cho đời sống và sản xuất Chính vì vậy, giá trị của một kết quả nghiên cứu trước tiên được thể hiện ở những cái mới về thông tin chứa đựng trong kết quả nghiên cứu đó Đây cũng chính là đặc điểm cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học

Trang 35

27

Đồng thời, không thể dựa trên số lượng trang viết báo cáo hay số „bít” thông tin, cũng không thể hoàn toàn dựa vào số lần trích dẫn để đánh giá tính mới trong tri thức khoa học của một kết quả nghiên cứu

- Không nhất thiết lấy tiêu chuẩn “ đã được áp dụng” để đánh giá kết

quả nghiên cứu “Đánh giá kết quả nghiên cứu không thể đánh giá bằng việc

nó có được áp dụng ngay sau khi kết thúc đề tài hay không, nhất là trong nghiên cứu cơ bản”[7;tr.124] Việc đánh giá chất lượng của một kết quả

nghiên cứu khoa học không thể dựa trên một tiêu chuẩn cứng là kết quả nghiên cứu đó có được áp dụng ngay sau khi kết thúc nghiên cứu hay không Điều này lại thực sự khó khăn đối với nghiên cứu cơ bản Bởi có những kết quả nghiên cứu chưa được áp dụng ngay ở thời điểm hiện lại, nhưng trong tương lai lại có thể có giá trị rất quan trọng trong hệ thống tri thức Một đề tài

có giá trị khoa học lớn chưa chắc đã là một đề tài được áp dụng ngay và mang lại giá trị kinh tế cao Đây cũng là một đặc điểm cơ bản nữa của hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là “tính trễ” như đã phân tích ở phần (1.2) đặc điểm của nghiên cứu khoa học

- Không đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên “cấp bậc hành

chính” của nghiên cứu khoa học đó “Dựa theo cấp bậc hành chính để đánh

giá giá trị khoa học” là một dạng lệch chuẩn trong đánh giá nghiên cứu khoa

học2

Đây là một quan điểm rất đúng đắn trong đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học Quan điểm này giúp loại bỏ tư tưởng “hành chính hóa” nghiên cứu khoa học, dễ dẫn đến những sai lầm “méo mó” trong cộng đồng khoa học

- Việc đánh giá một kết quả nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở việc xem xét chất lượng của bản thân kết quả nghiên cứu khoa học đó chứ chưa xem xét đến hiệu quả sau khi áp dụng của kết quả nghiên cứu khoa học đó

2

Vũ Cao Đàm (2011) Đánh giá nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr.108

Trang 36

28

Từ trước đến nay, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học là một công việc rất khó khăn Mặc dù các nhà nghiên cứu vẫn luôn nỗ lực trong việc nghiên cứu và xây dựng những phương pháp đánh giá nhưng việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học vẫn rất khó định lượng mà phần lớn vẫn mang tính định tính Do đó, công việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều vào người đánh giá và rất cần ở họ không chỉ trình độ chuyên môn cao mà còn cần một tâm thế khách quan, công bằng và trung thực trong khi đánh giá

1.4.6 Các phương pháp tiếp cận đánh giá kết quả

Trong tác phẩm “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, PGS Vũ Cao Đàm đã trình bày rõ về phương pháp tiếp cận đánh giá kết quả nghiên cứu là tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp, tác giả xin được liệt kê lại như sau:

1.4.3.1 Tiếp cận phân tích

Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học theo cấu trúc logic của nghiên cứu:

(1) Sự kiện khoa học

Trang 37

29

Sự kiện khoa học là một sự kiện chứa đựng mâu thuẫn giữa lý thuyết khoa học đang tồn tại với thực tế mới phát sinh, là sự kiện được quan tâm về mặt khoa học, là cơ sở cho việc lựa chọn một chủ đề nghiên cứu Sự kiện có thực sự mang tính khoa học hay không, có mang một giá trị khoa học hay không là yếu tố rất quan trọng quyết định chất lượng của nghiên cứu

(2) Vấn đề nghiên cứu

Vấn đề khoa học là câu hỏi đặt ra liên quan đến sự kiện khoa học, hơn nữa là câu hỏi buộc người nghiên cứu phải trả lời trong nghiên cứu khoa học,

là yếu tố quyết định ý nghĩa của toàn bộ công trình nghiên cứu, là cơ sở để đặt

ra các giả thuyết khoa học

(3) Luận điểm khoa học

Luận điểm khoa học là kết quả chứng minh giả thuyết khoa học của tác giả, là câu trả lời của các tác giả vào vấn đề khoa học được đặt ra ở trên

Luận điểm khoa học là yếu tố cốt lõi nhất nói lên giá trị tri thức của công trình, là phần đóng góp trí tuệ quyết định nhất để đặt tác giả vào vị trí riêng biệt trong khoa học

(4) Luận cứ

Luận cứ là kết quả nghiên cứu, là bằng chứng để chứng minh luận điểm Luận cứu gồm hai loại: những lý thuyết được trích dẫn để chứng minh luận điểm; và kết quả quan sát hoặc thực nghiệm được trích dẫn của người khác, hoặc do chính tác giả thực hiện để chứng minh luận điểm

(5) Phương pháp chứng minh luận điểm

Phương pháp chứng minh luận điểm bao gồm:

- Phương pháp tiếp cận để tìm kiếm luận cứ (lịch sử/logic; phân

tích/tổng hợp; cá biệt/sánh; hệ thống/cấu trúc;…);

- Phương pháp suy luận để chứng minh luân cứ (diễn dịch/quy nạp/loại

suy);

Trang 38

30

- Phương pháp thu thập thông tin để xây dựng luận cứ Có 4 phương

pháp thu thập thông tin:

+ Nghiên cứu và tổng kết tài liệu;

+ Quan sát trực tiếp, quan sát bằng các phương tiện ghi âm, ghi hình; phỏng vấn, phỏng vấn sâu, điều tra dùng bảng hỏi;

+ Thực nghiệm;

+ Trắc nghiệm (trong nghiên cứu kỹ thuật được gọi là thử nghiệm Trên đây là 5 bộ phận trong cấu trúc logic của một đề tài nghiên cứu Mỗi yếu tố có một vai trò, chức năng riêng trong quá trình nghiên cứu nhưng lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Yếu tố này là tiền đề cho yếu tố sau,

và yếu tố sau tiếp tục quay trở lại giải quyết yếu tố trước nó Chính vì vậy mà một kết quả nghiên cứu sẽ mất đi giá trị khoa học của nó nếu thiếu một bộ phận nào đó cấu thành nên câu trúc logic này Tất cả 5 bộ phân trên phải logic

và thống nhất với nhau trong việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Chỉ báo đánh giá theo tiếp cận phân tích:

- Sự kiện khoa học: Có dựa trên quan sát khách quan hay không?

- Vấn đề khoa học: Có thực sự bức thiết hay và có tồn tại mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế hay không?

- Giả thuyết: Có dẫn đến một luận điểm khoa học mới mẻ hay không?

Có ăn cắp của đồng nghiệp hay không?

- Luận cứ: Có thực sự khách quan và đủ chứng minh giả thuyết hay không? Có ăn cắp của đồng nghiệp hay không? Cần lưu ý rằng, trong trường hợp sử dụng kết quả của đồng nghiệp mà ghi đầy đủ trích dẫn, xuất xứ thì không bị xem là ăn cắp Có gian lận trong luận cứ hay không, tức là có bịa đặt hoặc nhào nặn số liệu hay không?

- Phương pháp: Các phương pháp sử dụng có đủ đảm bảo cho luận cứ đáng tin cậy hay không?

Trang 39

31

Về chỉ báo cụ thể, có thể chỉ đưa ra câu trả lời có hoặc không, song cũng có thể tìm cách đánh giá tầm quan trọng bằng cách cho điểm để phân loại, ví dụ cho điểm tăng dần 0,1,2,3,4,5 để đánh giá

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng , cách tính điểm này vẫn mang nặng tính chủ quan của người đương thời, bởi vì một thành tựu khoa học thường không đánh giá được hết giá trị trong thời đại mà nó ra đời

1.4.3.2 Tiếp cận tổng hợp

(1) Tiếp cận tổng hợp trong đánh giá kết quả thành công

Một số chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá:

+ Luận điểm khoa học

Đây là 3 chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét tính mới Một kết quả nghiên cứu vẫn được xem là mới khi tác giả vẫn sử dụng những luận cứ cũ của các tác giả khác, nhưng đề chứng minh cho một luận điểm mới của mình

- Tính tin cậy

Có thể kiểm tra qua hai chỉ tiêu:

+ Luận cứ đã được chứng minh là đủ tin cậy hay không?

+ Phương pháp có đảm bảo rằng những luận cứ đưa ra là đúng đắn về mặt khoa học hay không?

Liệu kết quả thu được có đủ đảm bảo lặp lại thành công đúng như kết quả đã công bố hay không, hay chỉ thu được ngẫu nhiên

- Tính khách quan

Tính khách quan được kiểm tra bởi:

Trang 40

32

+ Luận cứ có được tạo lập một cách đáng tin cậy hay hay không?

+ Các phương pháp tác giả đưa ra có đủ đảm bảo cho tính khách quan của các luận cứ hay không?

- Tính trung thực:

Tính trung thực được kiểm tra bởi:

+ Tính đúng đắn trong các việc trích dẫn các luân cứ lý thuyết, hoặc có

sự cắt xén, hoặc bóp méo, hoặc là bỏ qua trích dẫn

+ Tính đúng đắn của các luận cứ thực tiễn, đó là tính trung thực trong khi công bố các kết quả quan sát và thực nghiệm, nhất là kiểm tra xem có sự gian lận trong kết quả hay không

+ Tính đúng đắn trong các phép suy luận được sử dụng trong nghiên cứu (2) Tiếp cận tổng hợp trong đánh giá những kết quả thất bại

Một kết quả nghiên cứu được xem là thất bại trong các trường hợp sau:

- Tác giả không chứng minh được giả thuyết của mình là đúng

- Giả thuyết của tác giả bị chính tác giả đánh đổ hoặc bị các đồng nghiệp đánh đổ

- Có một số lý do (khách quan hoặc chủ quan) khiến đề tài không thể triển khai được

- Trong nghiênc cứu khoa học, thất bại cũng là một kết quả Cái đó

thuộc về tính rủi ro của nghiên cứu khoa học

Khi kết luận một kết quả nghiên cứu là thất bại, cần phải là rõ các yếu

tố sau:

- Do thiếu thông tin;

- Do phương pháp không thích hợp;

- Do phương pháp sai;

- Do thiếu phương tiện kỹ thuật;

- Do trình độ của phương tiện kỹ thuật không đủ đáp ứng nhu cầu

nghiên cứu;

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w