Tác giả cũng xin được cảm các bạn bè và đồng nghiệp ở Vụ Quản lý công trìnhthủy lợi và an toàn đập, và các cơ quan quản lý vận hành hồ chứa tại các tỉnhBắc Trung Bộ đã giúp đỡ và tạo điề
Trang 1i 1
LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên.Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không saochép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo cácnguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúngquy định
Tác giả luận văn
Trần Công Định
Trang 2i 2
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và thực hiện với sự nỗ lực của bản thân,
tác giả đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài: Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá nhanh mức độ an toàn hồ chứa vừa và nhỏ Bắc Trung Bộ
nhằm nghiên cứu, đưa ra phương pháp đánh giá nhanh bằng quan sát qua bềmặt công trình Với tiêu chí là: đơn giản, thực hiện nhanh, lượng hóa mức độ
hư hỏng (tương đối) và dễ thực hiện, giúp cho việc kiểm tra hiện trạng côngtrình trước mùa mưa lũ hàng năm của các đơn vị quản lý hồ chứa, nhất là đốivới các hồ chứa nhỏ do cấp huyện, xã quản lý vận hành, phục vụ công tácphòng chống lụt, bão bảo đảm an toàn cho công trình
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong trường Đại họcThủy lợi đã tận tình giảng dạy, đào tạo và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trìnhhọc tập sau đại học Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm ViệtHòa đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này
Tác giả cũng xin được cảm các bạn bè và đồng nghiệp ở Vụ Quản lý công trìnhthủy lợi và an toàn đập, và các cơ quan quản lý vận hành hồ chứa tại các tỉnhBắc Trung Bộ đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành Luận văn này.Với trình độ hiểu biết và kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực nghiên cứu an toànđập còn nhiều hạn chế, đồng thời với nhiệm vụ nghiên cứu đưa ra phương phápđánh giá nhanh an toàn đập bằng sự phỏng chừng các giới hạn mức độ an toàn
là một vấn đề phức tạp, do vậy, nội dung của Luận văn không tránh khỏi nhữngthiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của cácthầy cô giáo và của các Quý vị quan tâm./
Tác giả luận văn
Trần Công Định
Trang 33 3
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i
ƠN ii MỤC LỤC iii
vi MỞ ĐẦU 1
1.1.3 Hệ thống Văn bản pháp luật về quản lý an toàn đập 10
1.1.4 Tình hình thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập 11
Trang 44 4
1.3.2 Hiện trạng an toàn an toàn hồ chứa vừa và nhỏ vùng Bắc Trung Bộ 17
1.4 Tổng quan về nghiên cứu đánh giá an toàn đập 199
hậu 37
2.1.2 Đặc trưng mưa gây lũ trong khu vực nghiên cứu 41
Trang 55 5
2.2 Đánh giá ảnh hưởng trong việc xây dựng đến an toàn đập
Trang 66 6
CHƯƠNG 4 ÁP DỤNG ĐÁNH GIÁ AN TOÀN ĐẬP CHO HỒ CHỨA NƯỚC KHE SÂN TỈNH NGHỆ
AN 76
4.1 Thông tin hiện trạng của công trình 76
4.2 Dùng bộ tiêu chí để đánh giá 80
4.3 Tổng hợp đánh giá giá an toàn đập: 86
4.4 Đề xuất giải pháp: 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
1 Những kết quả đã đạt được 87
2 Những tồn tại trong quá trình thực hiện Luận văn 88
3 Kiến nghị về hướng nghiên cứu tiếp theo 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC: Mẫu Phiếu kiểm tra đánh giá hiện trạng an toàn hồ chứa nước tại hiện trường 92
Trang 77 7
Trang 88 8
Hình 2.12: Nứt dọc đập, nguy cơ vỡ đập cao
Trang 99 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại các hồ chứa thủy lợi:
6 Bảng 1.2: Phân loại các hồ chứa thủy điện:
6 Bảng 1.3: Phân loại các hồ chứa thủy lợi khu vực Bắc Trung Bộ:
7 Bảng 1.4: Kết quả thực hiện các quy định về quản lý an toàn
đập 12 Bảng 1.5: Thống kê số lượng hồ chứa lớn bị hư hỏng xuống cấp
14 Bảng 1.6: Thống kê số lượng công trình bị hư hỏng xuống cấp
15 Bảng 1.7 Các doanh nghiệp, Tổ chức tham gia quản lý hồ chứa ở địa phương
17 Bảng 1.8 Bảng đánh giá theo chỉ số rủi ro hồ chứa (Dự án
WB8) 22 Bảng 1.9 Bảng đánh giá chất lượng công trình trong TCVN 11669:2016
26 Bảng 2.1 Một số trị số dự báo theo kịch bản về phát thải KNK (SRES), kinh tế, xã
hội, khí hậu và nước biển dâng 38
Bảng 3.1 Thang điểm đánh giá và phân cấp nguy cơ sự
cố 46 Bảng 3.2 Các tiêu chuẩn thẩm định rò rỉ ở thân đập theo Sổ tay kiểm tra định kỳ Nhật
Bản 53 Bảng 3.3 Các tiêu chuẩn thẩm định rò rỉ ở mái đập theo Sổ tay kiểm tra định kỳ Nhật
Bản 54
Bảng 3.4 Thang điểm và tiêu chí đánh giá an toàn thấm ở đập
đất 55 Bảng 3.5 Thang điểm và tiêu chí đánh giá an toàn biến dạng mái đập
59 Bảng 3.6 Thang điểm và tiêu chí đánh giá an toàn nứt bề mặt đỉnh
đập 63
Trang 1010 10
Bảng 3.7 Thang điểm và tiêu chí đánh giá an toàn cống lấy
nước 65 Bảng 3.8 Thang điểm và tiêu chí đánh giá an toàn tràn xả
lũ 68 Bảng 4.1 Bảng thông số kỹ thuật hồ chứa nước Khe
Sân 80
Trang 111 1
2020, đặt ra nhiệm vụ cho hồ chứa nước không chỉ phục vụ sản xuất nôngnghiệp mà cần phải phục vụ đa mục tiêu cho các ngành kinh tế quốc dân, ổnđịnh phát triển bền vững tài nguyên nước
Theo số liệu thống kê năm 2015 của Tổng cục Thủy lợi, cả nước đã đầu tư xâydựng được 6858 hồ chứa nước trong đó có 6648 hồ chứa thủy lợi (chiếm96,5%) và 210 hồ chứa thủy điện (chiếm 3,5%) với tổng dung tích khoảng 65
tỷ m3 nước
Bên cạnh mặt ưu điểm và lợi ích, hồ chứa nước cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ sự
cố, có khi dẫn đến thảm hoạ như đã từng xảy ra ở một số nước trên thế giới(năm 1975 vỡ đập Bản Kiều ở Trung Quốc, năm 1977 vỡ đập Kelly Barnes ở
vỡ đập hồ Khe Mơ, hồ Vàng Anh (Hà Tĩnh), hồ Phước Trung, (Ninh Thuận),năm 2011 vỡ hồ Khe Làng, hồ 271 (Nghệ An), sự cố sạt lở mái hạ lưu gâynguy cơ vỡ đập, tại hồ Vưng (Hoà Bình), sự cố trong quá trình thi công hai hồ
Trang 122 2
Lanh Ra và hồ Bà Râu (Ninh Thuận), năm 2012 vỡ đập hồ Tây Nguyên khimới sửa chữa xong, hồ Lim bị thấm mạnh mang cống đe dọa vỡ đập (Nghệ
Trang 13An), năm 2013 sự cố sụt lún tại thân đập hồ Bản Muông (Sơn La), sự cố vỡtràn xả lũ hồ Hoàng Tân (Tuyên Quang), vỡ đập dâng Phân Lân (Vĩnh Phúc).
Hình ảnh vỡ đập Z20, Hà Tĩnh ngày 5/6/2009 Hình ảnh vỡ đập Tây Nguyên, Nghệ An
ngày 11/9/2012
Trong các nguyên nhân dẫn đến sự cố an toàn đập nêu trên, yếu tố ảnh hưởngcủa biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ngày càng hiện hữu, sự phân bố lại lượngnước mưa theo không gian và thời gian có nhiều thay đổi so với thiết kế banđầu Theo kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên vàMôi trường công bố: “xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm lượng mưamùa mưa tăng” và “có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấpđôi so với kỷ lục hiện nay”, những thay đổi này đang tác động tiêu cực đến antoàn hồ chứa nước, như: dòng chảy đến các hồ chứa thay đổi một cách bất lợi,dòng chảy kiệt giảm, trong khi dòng chảy lũ đến hồ tăng lên đột biến làm tănglưu lượng đỉnh lũ, nhiều khi vượt quá thông số thiết kế làm ảnh hưởng nghiêmtrọng tới an toàn của các hồ chứa nước
Công tác quản lý các hồ chứa thủy lợi hiện chủ yếu được giao cho một số tổchức quản lý (chủ đập) gồm: các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi(KTCTTL), ủy ban nhân dân xã, các tổ chức hợp tác dùng nước và một số tổchức khác Theo thống kê, các doanh nghiệp KTCTTL hiện được giao quản lý
980 hồ chứa có dung tích từ 1,0 triệu m3 nước trở lên Các doanh nghiệp này
có kinh nghiệm, năng lực cán bộ, công nhân đáp ứng yêu cầu, công tác duy tu,bảo dưỡng công trình được các chủ đập này quan tâm thường xuyên Còn lại,
do các đơn vị cấp xã quản lý (hợp tác xã, ban quản lý xã, ) Việc quản lý hồ
Trang 14chứa của các tổ chức quản lý cấp xã thường không tốt do thiếu cán bộ chuyênmôn và việc duy tu, bảo dưỡng cũng không được quan tâm đầy đủ.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, các Bộ ngành, nhiều
hồ chứa nước bị hư hỏng nặng đã được đầu tư sửa chữa kịp thời nhằm bảo đảm
an toàn công trình và dân cư hạ du Chương trình bảo đảm an toàn hồ chứanước được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện tại văn bản số 1749/CP-NNngày 30/10/2003 và 1734/TTg-KTN ngày 21/9/2009 Đến nay, Chương trình
đã thực hiện được hơn 10 năm, Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng các địa phương
đã đầu tư gần 12.000 tỷ đồng để sửa chữa 633 hồ chứa các loại
Tại Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 14/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việctăng cường công tác quản lý, đảm bảo an toàn hồ chứa nước đã yêu cầu các Bộ,ngành, UBND các tỉnh thực hiện nhiều biện pháp đảm bảo an toàn hồ chứatrong đó yêu cầu việc “Củng cố lực lượng quản lý hồ chứa có đủ năng lực,chuyên môn; tổ chức tốt việc theo dõi, kiểm tra hồ đập trước, trong và sau mùamưa lũ nhằm phát hiện sớm những nguy cơ gây mất an toàn công trình và cóbiện pháp xử lý kịp thời, tránh để xảy ra sự cố” Vào mùa mưa, lũ hàng năm,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có các văn bản chỉ đạo, yêu cầu cácđịa phương tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn củacác hồ chứa thủy lợi
Công tác kiểm tra đánh giá hiện trạng an toàn đập của các đơn vị quản lý hồchứa hiện nay gặp nhiều khó khăn, cụ thể như sau:
- Việc đánh giá đòi hỏi người đánh giá phải am hiểu chuyên môn và có kinhnghiệm về hồ chứa nước, trong khi nguồn nhân lực, cán bộ kỹ thuật có chuyênmôn về hồ chứa tại các đơn vị quản lý cấp huyện, xã còn thiếu, không có kinhphí thuê đơn vị tư vấn để kiểm tra, kiểm định v.v đặc biệt khó khăn đối vớicác đơn vị quản lý hồ chứa ở cấp huyện, xã
- Về tiêu chuẩn đánh giá an toàn đập hiện hành là TCVN 11669:2016 Côngtrình thủy lợi - Đánh giá an toàn đập Các đánh giá thông qua chấm điểm vàphân loại chất lượng công trình, gồm: Tốt, trung bình, kém Tiêu chuẩn này chỉthực sự phù hợp cho các đơn vị tư vấn hoặc các cơ quan chuyên môn áp dụngtrong nhiệm vụ thực hiện kiểm định an toàn đập Các đánh giá phân loại theo
Trang 15chuẩn so sánh là các chỉ tiêu thiết kế, các giới hạn thiết kế Thực tế thì các hồchứa ở Việt Nam nói chung, khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng phần lớn đượcxây dựng từ những thập niên 1970 – 1980 không còn lưu giữ được tài liệu thiết
kế, do vậy không thể có các số liệu thiết kế để so sánh đánh giá chất lượng theoTiêu chuẩn TCVN 11669:2016
Khu vực Bắc Trung Bộ hiện có 1920 hồ chứa thủy lợi các loại, trong đó có 120
hồ chứa lớn (hồ có dung tích ≥3 triệu m3, chiều cao đập ≥15 m), còn lại 1800
hồ chứa vừa và nhỏ chiếm 94% tổng số hồ ở khu vực Theo kết quả thống kê từcác báo cáo đánh giá hiện trạng của các địa phương khu vực Bắc Trung Bộ,hiện có khoảng 495 hồ chứa bị hư hỏng xuống cấp Với việc phân loại theoTiêu chuẩn TCVN 11669:2016 chỉ có ba loại: Chất lượng công trình tốt; chấtlượng công trình trung bình; chất lượng công trình kém thì 495 hồ chứa này sẽđược phân loại chất lượng công trình kém và việc vận hành sẽ phải hạn chế(dưới thiết kế) Việc sửa chữa, nâng cấp cho 495 hồ chứa này sẽ rất tốn kémkinh phí khó thực hiện trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, thực tế chỉ mộtphần số lượng hồ chứa phải tích nước hạn chế, còn lại cần tăng cường giám sátkhi có mưa lũ trên lưu vực và vẫn được vận hành bình thường
Các tỉnh Bắc Trung Bộ có điều kiện tự nhiên tương đối bất lợi về an toàn chocác công trình so với cả nước Với đặc điểm địa hình chung của vùng có bềngang hẹp, chia cắt phức tạp, các sông, suối ngắn, dốc, thảm phủ lưu vực kémnên dòng chảy kiệt rất nhỏ, về mùa mưa, lũ tập trung nhanh, dòng chảy siết nên
có sức phá hoại lớn đối với các công trình thủy lợi, đê điều Chế độ khí hậu,thuỷ văn khắc nghiệt, hàng năm xảy ra mọi loại hình thiên tai: úng, hạn, lũ,bão, xâm nhập mặn Từ năm 2009 đến nay đã xảy ra 21 vụ sự cố vỡ đập trong
đó khu vực Bắc Trung Bộ đã xảy ra 13 vụ chiếm 62 % cả nước
Từ các vấn đề khó khăn trong đánh giá an toàn đập và trong bối cảnh hiện trạng
hồ chứa nước xuống cấp như hiện nay, rất cần có một bộ công cụ đánh giánhanh cho các hồ chứa vừa và nhỏ giúp việc đánh giá phân loại hồ chứa sát vớithực tế, nhất là đối với các hồ chứa hư hỏng có nguy cơ mất an toàn cao
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí
đánh giá nhanh mức độ an toàn hồ chứa nước vừa và nhỏ Bắc Trung Bộ sẽ có
Trang 16ý nghĩa thực tiễn và cần thiết đáp ứng các nhiệm vụ cấp bách trong quản lý khaithác hồ chứa nước hiện nay.
2 Mục tiêu nghiên
cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích đánh giá nguyên nhân và ảnh hưởng đến antoàn đập, hồ chứa nước loại vừa và nhỏ, và các yếu tố tác động bên ngoài côngtrình đến an toàn đập, hồ chứa, từ đó xây dựng các “Tiêu chí đánh giá nhanh”,tổng hợp xây dựng các mức đánh giá phân theo cấp độ đảm bảo an toàn đập đểcảnh báo và hỗ trợ quản lý vận hành
3 Đối tượng và phạm vi nghiên
- Địa điểm nghiên cứu: Khu vực Bắc Trung Bộ
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên
cứu
* Cách tiếp cận:
- Tiếp cận kế thừa: Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các tác giả
đi trước có liên quan đến đề tài để phục vụ cho đề tài;
- Tiếp cận thực tiễn: Điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa hiện trường một số
hồ chứa ở khu vực Bắc Trung Bộ để làm cơ sở xây dựng Tiêu chí của đánh giá
an toàn đập
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, hệ thốngcác vấn đề trong công tác bảo đảm an toàn đập, hồ chứa loại vừa và nhỏ
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về xây dựngcác tiêu chí đánh giá an toàn đập
Trang 17CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về hồ chứa nước và hệ thống tổ chức quản lý, vận hành khai thác
1.1.1 Quá trình đầu tư và xây dựng hồ chứa nước
Với điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, nhiều hồ chứa nước được Nhà nước vànhân dân xây dựng từ khoảng những năm 1940-1950 và phát triển xây dựngmạnh vào những năm 1970-1980 đã góp phần rất lớn vào thành công trong pháttriển kinh tế nông nghiệp của đất nước
Hiện cả nước có tổng số 6.871 hồ chứa đã tích nước với tổng dung tích chứakhoảng 65 tỷ m3 nước, trong đó hồ chứa thủy điện khoảng 51 tỷ m3 (chiếm79%), hồ chứa thủy lợi khoảng 14 tỷ m3 (chiếm 21%) cụ thể như sau:
a) Hồ chứa thủy lợi:
Có 6.648 hồ chứa (chiếm 96,9%) phân bố tại 45/63 địa phương trên cả nước.Các địa phương có nhiều hồ chứa là: Nghệ An 629 hồ, Thanh Hóa 610 hồ, ĐắkLắk 543 hồ, Hòa Bình 513 hồ, Tuyên Quang 346 hồ, Thái Nguyên 285 hồ, ĐăkNông 195 hồ
Bảng 1.1: Phân loại các hồ chứa thủy lợi:
b) Hồ chứa thủy điện:
Có 223 hồ (chiếm 3,1%), phân bố tại 30/63 địa phương trên cả nước Các địaphương có nhiều công trình thủy điện như: Sơn La 22 hồ, Hà Giang (11 hồ),Lào Cai 19 hồ, Quảng Nam14 hồ, Gia Lai 29 hồ, Kon Tum 16 hồ, Lâm Đồng
Trang 18Thống kê theo kết cấu công trình: Ở Việt Nam có đến 98% đập có kết cấu làđập đất, 2% đập có kết cấu là đập bê tông, đập đá đổ bê tông bản mặt, chủ yếu
là các đập, hồ chứa thủy điện và một số hồ chứa thủy lợi (hồ Định Bình, hồ TânGiang, hồ Sông Lòng Sông kết cấu bê tông trọng lực; hồ Cửa Đạt đập đá đổ bêtông bản mặt)
Bằng nguồn vốn ngân sách trung ương, và đóng góp của địa phương, vốn tráiphiếu Chính Phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quản lý đầu tưxây dựng nhiều hồ chứa có quy mô lớn ở khu vực Bắc Trung Bộ, như: giaiđoạn 1960-1975: đã xây dựng các hồ chứa nước Thượng Tuy (Hà Tĩnh); RàoNan, Cẩm Ly (Quảng Bình) Giai đoạn 1975-2000: Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh); SôngMực (Thanh Hóa) Từ năm 2000 đến nay: Cửa Đạt (Thanh Hóa), Tả Trạch(Thừa Thiên Huế), Đá Hàn (Hà Tĩnh), Rào Đá, Thác Chuối (Quảng Bình)
Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Thủy lợi, hiện nay tổng số hồchứa nước khu vực Bắc Trung Bộ đang được khai thác sử dụng là 1920 hồchứa nước (thống kê hồ có dung tích từ 50.000 m3 trở lên) trong đó, ThanhHóa 610 hồ, Nghệ An 629 hồ, Hà Tĩnh 345 hồ, Quảng Bình 151 hồ, Quảng Trị
130 hồ, Thừa Thiên Huế 55 hồ
Bảng 1.3: Phân loại các hồ chứa thủy lợi khu vực Bắc Trung Bộ:
1.1.2.1 Tổ chức quản lý nhà nước về an toàn hồ chứa nước:
Theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành phân công, phân cấp quản lýNhà nước về an toàn đập tại Trung ương và địa phương như sau:
- Ở Trung ương: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chịu tráchnhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập các hồ chứathủy lợi - Tổng cục thủy lợi là cơ quan tham mưu trực tiếp Bộ Công Thương là
Trang 19cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về antoàn đập các hồ chứa thủy điện Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệmxây dựng, trình Chính phủ phê duyệt quy trình vận hành liên hồ trên các lưuvực sông.
- Ở địa phương: UBND tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất chịu tráchnhiệm bảo đảm an toàn đập trên địa bàn quản lý, Sở Nông nghiệp và PTNT là
cơ quan tham mưu trực tiếp là Chi cục thủy lợi Tuy nhiên, chưa có bộ phậnchuyên trách đảm nhiệm công tác quản lý an toàn hồ chứa, hiện nay nhiệm vụnày được lồng ghép trong nhiệm vụ của các đơn vị thuộc các Sở chuyên ngànhtại địa phương
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về an toàn hồ đập
1.1.2.2 Tổ chức quản lý vận hành khai thác
a) Bộ máy tổ chức quản lý vận hành:
Trang 20Tổ chức quản lý hồ chứa thủy lợi bao gồm: Các doanh nghiệp khai thác côngtrình thủy lợi (KTCTTL), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, các tổ chức hợptác dùng nước và một số tổ chức khác, việc phân cấp quản lý như sau:
- Chủ đập là các doanh nghiệp KTCTTL thường quản lý các hồ chứa có dungtích từ 1,0 triệu m3 nước trở lên (khoảng 900hồ, chiếm 13%)
- Đối với các hồ nhỏ do UBND xã, Hợp tác xã/Tổ chức hợp tác dùng nướcquản lý các hồ chứa nhỏ dưới 1 triệu m3 nước
Tổ chức quản lý hồ chứa thủy điện: do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vàcác tổ chức, cá nhân đầu tư theo hình thức B.O.O Các chủ đầu tư tự xây dựng
và quản lý
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức các đơn vị quản lý khai thác hồ chứa nước
b) Đánh giá thực trạng năng lực của các đơn vị quản lý:
Nhìn chung các Công ty KTCTTL có đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân vậnhành hồ chứa có trình độ, chuyên môn quản lý phù hợp, tập trung được kinhphí để duy tu, bảo dưỡng công trình; công tác quản lý an toàn đập được quantâm nên ít xảy ra sự cố
Trang 21Các hồ chứa nhỏ được phân cấp cho huyện, xã, hợp tác xã/tổ chức hợp tác dùngnước hoặc thôn bản, có xã khoán cho cá nhân trực tiếp quản lý thường thiếucán bộ kỹ thuật, công nhân có chuyên môn quản lý, thiếu kinh phí duy tu bảodưỡng nên công trình xuống cấp nhanh, khi hồ chứa xảy ra sự cố không có biệnpháp xử lý kịp thời.
1.1.3 Hệ thống Văn bản pháp luật về quản lý an toàn đập
Văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý an toàn đập đã được banhành, cụ thể như sau:
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13; Luật Xây dựng số 50/2014/QH13;Luật phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13; Luật Bảo vệ môi trường số55/2014/QH13; Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi số32/2001/PLUBTVQH;
- Các Nghị định của Chính phủ: Số 72/2007/NĐ-CP ngày 07/5/2007 về quản lý
an toàn đập; số 143/2003/NĐ- CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiêt một sốđiều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi; số 43/2015/NĐ-
CP, ngày 06/5/2015 quy định về lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước
- Các Thông tư hướng dẫn: Số 33/2008/TT-BNN ngày 04/02/2008 hướng dẫnthực hiện một số điều của Nghị định số 72/2007/NĐ-CP; số 34/2010/TT-BCTngày 07/10/2010 quy định về quản lý an toàn đập của công trình thủy điện; số65/2009/TT-BNN ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấpkhai thác công trình thủy lợi; số 45/2009/TT-BNN ngày 24/07/2009 hướng dẫnlập và phê duyệt phương án bảo vệ công trình thủy lợi; số 40/TT-BNN ngày27/5/2011 quy định năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, khaithác công trình thủy lợi
- Một số quy định về kiểm tra an toàn đập được quy định trong Nghị định số72/2007/NĐ-CP:
1 Đo đạc quan trắc đập và các yếu tố khí tượng thủy văn (Điều 12): Đối với hồchứa lớn và hồ nhỏ
2 Kiểm tra đập (Điều 14): Yêu cầu kiểm tra trước mùa lũ, sau mùa lũ và kiểmtra đột xuất khi có động đất hoặc hư hỏng đột xuất
Trang 223 Báo cáo hiện trạng an toàn đập (Điều 16): Báo cáo hàng năm (thủy văn hồchứa, các hư hỏng của công trình và công tác sửa chữa, khắc phục).
4 Phương án bảo vệ đập (Điều 19): Bảo vệ chống xâm hại đập, kiểm soátngười và phương tiện đi lại, giải pháp đối phó trong tình huống đặc biệt
5 Bảo vệ an toàn đập trong mùa mưa lũ (Điều 20): Tóm tắt đặc điểm của hồchứa và đặc điểm mưa lũ trên lưu vực; Đánh giá chất lượng đập và thiết bị vậnhành đập; Dự kiến các tình huống mất an toàn đập; Công tác chuẩn bị về nhânlực, vật tư, vật liệu dự phòng; dụng cụ, thiết bị, xe máy; thông tin liên lạc, ánhsáng; Danh sách ban chỉ huy PCLB
6 Phòng chống lũ lụt cho vùng hạ du (Điều 22): Có phương án báo động, thôngbáo trước để bảo đảm an toàn cho người và tài sản vùng hạ du khi xả lũ
Nhìn chung các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý an toàn đậptrong quá trình khai thác, vận hành công trình cơ bản là đủ Tuy nhiên, trongquá trình thi hành các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý an toàn đập đãphát sinh một số bất cập, như: Vấn đề biến đổi khí hậu chưa được đề cập; chưa
có quy định về huy động nguồn lực của xã hội để phát triển thủy lợi; chưa quyđịnh rõ quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia quản lý an toàn đập;chưa có quy định về thẩm quyền quyết định cho phép tích nước hồ chứa đảmbảo an toàn đập; chưa quy định rõ việc xây dựng bản đồ ngập lụt hạ du của các
hồ chứa trên cùng một lưu vực sông làm cơ sở xây dựng phương án phòngchống lũ, lụt cho vùng hạ du đập; ngoài ra việc quy định cứng các nội dung vềquản lý an toàn đập cho tất cả các đập, hồ chứa có quy mô khác nhau nên việcthực hiện còn nhiều bất cập và thiếu khả thi
Để khắc phục các bất cập trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã dựthảo trình Chính phủ, Quốc Hội: Luật Thủy lợi và Nghị định thay thế Nghị định
số 72/2007/NĐ-CP
1.1.4 Tình hình thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập
Việc đánh giá tình hình thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập sẽ giúplàm rõ nét hơn tổng quan về công tác quản lý an toàn đập
Theo các quy định tại Nghị định số 72/2007/NĐ-CP ngày 07/5/2007 của Chínhphủ về quản lý an toàn đập (Nghị định 72/CP) và các văn bản khác có liên
Trang 23quan, chủ đập phải thực hiện một số công việc chính để bảo đảm an toàn hồchứa nước Kết quả thực hiện tại các hồ chứa thủy lợi được tổng hợp cho cảnước như sau:
Bảng 1.4: Kết quả thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập
>
1
5
5 m
<
H T
có các mức chuẩn so sánh để đánh giá, vì vậy việc đánh giá chưa cụ thể, điềunày cũng gây khó khăn trong việc tổng hợp và phân loại đập
Đối với nội dung xây dựng phương án phòng, chống lũ, lụt cho vùng hạ du hồchứa và kiểm định an toàn đập chưa được các chủ đập thực hiện nhiều, nguyênnhân do kinh phí thực hiện lớn, vượt quá khả năng chi trả của các chủ đập
Trang 241.1.5 Công tác duy tu sửa chữa
Tại Điểm 2 Điều 13 Nghị định số 72/2007/NĐ-CP về quản lý an toàn đập quyđịnh về việc duy tu, bảo dưỡng đập: “Việc duy tu, bảo dưỡng đập và các trangthiết bị phải được tiến hành định kỳ, thường xuyên theo quy định để bảo đảmcông trình vận hành tin cậy, an toàn, dễ dàng kiểm tra, phát hiện các hư hỏng
để khôi phục, sửa chữa kịp thời và bảo đảm về mặt mỹ quan công trình” Thực
tế việc duy tu, sữa chữa, chỉ được thực hiện ở một số ít hồ chứa nước do cácdoanh nghiệp quản lý vận hành Còn lại hầu hết các hồ đập do các Tổ chức hợptác dùng nước quản lý vận hành không được thực hiện Khó khăn trong việccác đơn vị quản lý vận hành không nghiêm túc thực hiện quy định này là kinhphí để thực hiện, hiện kinh phí để thực hiện việc duy tu, bảo dưỡng tại một số
hồ chứa nước được lấy từ nguồn cấp bù thủy lợi phí rất hạn chế Ngoài ra, vẫncòn sự chủ quan, chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của việc duy tu sửachữa để duy trì sự ổn định và an toàn cho công trình
1.2 Đánh giá chung thực trạng an toàn hồ chứa
nước
Trong 6.648 hồ chứa thủy lợi, phần lớn là các hồ chứa nhỏ được xây dựng từnhững năm 70-80 của thế kỷ trước, trong thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn,trình độ kỹ thuật còn thấp, các nhu cầu dùng nước chưa cao, các nguồn vốn đầu
tư thủy lợi còn eo hẹp, năng lực khảo sát thiết kế thi công, quản lý còn nhiềuhạn chế, bất cập nên công trình không tránh khỏi các nhược điểm như: Chưađồng bộ, chất lượng thấp, thiếu mỹ quan, mức bảo đảm an toàn thấp Trải quathời gian dài khai thác, hầu hết các công trình bị hư hỏng, xuống cấp tiềm ẩnnhiều nguy cơ mất an toàn Các đập được xây dựng chủ yếu với hình thức kếtcấu như sau:
- Đối với đập đất: Không được gia cố bảo vệ mái đập, mặt đập, đa số không có
hệ thống thoát nước mái đập, tiêu nước thân đập;
- Cống lấy nước được đặt trong thân đập kết cấu thường bằng gạch xây hoặccác ống bi, cửa van đóng mở thượng lưu;
- Tràn xả lũ xây dựng trên nền đất tự nhiên phần lớn không có lớp gia
cố;
Trang 25- Công tác xử lý nền móng các hạng mục công trình chưa bảo đảm, dẫn đếntình trạng thấm qua nền đập, thân đập hoặc lún, nứt công trình;
Trang 26- Không có các công trình phụ hỗ trợ quản lý như: Không có thiết bị theo dõithấm thân đập, theo dõi lún; không có hệ thống quan trắc đo mưa, đo mựcnước, các công cụ dự báo, cảnh báo lũ.
Có khoảng 930 hồ chứa được xây dựng sau năm 2000 và 633 hồ chứa các loạiđược sửa chữa nâng cấp theo Chương trình bảo đảm an toàn hồ chứa đã cơ bảnnâng cao được mức an toàn cho công trình, tuy nhiên việc xây dựng các côngtrình phụ hỗ trợ quản lý cũng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức nên cầntiếp tục hoàn thiện đồng bộ
Hiện nay, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chế độ dòng chảy đến hồ thay đổi(tập trung nhanh, lưu lượng vượt thiết kế ) là yếu tố tiềm ẩn gây mất an toànđập, hồ chứa, như: gia tăng mức độ thấm qua thân đập, nền đập, nước tràn quađỉnh đập, xói lở tràn xả lũ,
Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng an toàn đập, hồ chứa hiện nay cụ thể như sau:
* Đối với các hồ chứa lớn (hồ có V≥3 triệu m3 hoặc đập có H≥15m) đượcthống kê số lượng bị hư hỏng xuống cấp như sau:
Bảng 1.5: Thống kê số lượng hồ chứa lớn bị hư hỏng xuống cấp
(Nguồn: Tổng cục Thủy lợi)
* Đối với các hồ chứa nhỏ: Các hồ chứa nước nhỏ có chiều cao đập từ 5m đến15m và dung tích trữ từ 50.000 m3 đến dưới 3.000.000 m3 có 5946/6648 hồ
Trang 27đang khai thác sử dụng (chiếm 89,4%) Các hư hỏng được thống kê đánh giánhư sau:
Bảng 1.6: Thống kê số lượng công trình bị hư hỏng xuống cấp
(Nguồn: Tổng cục Thủy lợi)
Đây cũng là những hư hỏng phổ biến xảy ra đối với các hồ chứa nước khu vựcBắc Trung Bộ Trong các hư hỏng trên, các hiện tượng thấm do thân cống bị hưhỏng, mục gẫy tại các vị trí khớp nối gây thấm, xói ngầm thân đập phần tiếpgiáp với cống làm sụt, trượt đập là tác nhân có nguy cơ gây vỡ đập cao
Theo số liệu thống kê những sự cố về đập trong những năm gần đây đã cótrên
30 vụ sự cố, cụ thể:
* Hồ chứa thủy lợi:
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của mưa lũ kéo dài, lượng mưa vớicường độ lớn, cả nước đã xảy ra sự cố của 21 hồ chứa, cụ thể như sau:
- Năm 2009: Xảy ra sự cố vỡ đập hồ Z20 tỉnh Hà Tĩnh (đây là hồ mới thi côngxong chưa đưa vào khai thác sử dụng)
- Năm 2010: Vỡ đập hồ Khe Mơ, hồ Vàng Anh tỉnh Hà Tĩnh, hồ Phước Trungtỉnh Ninh Thuận (vỡ khi đang thi công); hồ Đội 4, hồ 36, tỉnh Đắk Lắk (mái hạlưu bị sạt lở nặng, có nguy cơ vỡ)
- Năm 2011: Xảy ra vỡ đập hồ Khe Làng, hồ 271 tỉnh Nghệ An, hồ Đồi Vưng,tỉnh Hoà Bình (đe doạ vỡ đập khi đang thi công cống lấy nước, địa phương đã
hạ cao trình ngưỡng tràn tránh vỡ đập)
- Năm 2012: Vỡ đập Tây Nguyên (mới sửa chữa xong chưa bàn giao khaithác sử dung), thấm mạnh qua mang cống hồ Lim đe doạ vỡ đập (Nghệ An)
Trang 28- Năm 2013: Vỡ đập hồ Tây Nguyên (Lâm Đồng), Thung Cối, Khe Luồng, ÔngGià, Đồng Đáng (Thanh Hóa), Phân Lân (Vĩnh Phúc) Sự cố hồ Bản Muông(Sơn La) bị thấm mang cống tạo hố sụt dọc theo cống đe dọa vỡ đập, hồ ĐồngSằng 2, hồ Vực Mấu đặt ở tình trạng báo động do lưu lượng nước về hồ lớn bấtthường (Nghệ An).
- Năm 2014: Xảy ra sự cố vỡ đập phụ hồ chứa Đầm Hà Động, tỉnh QuảngNinh; nguyên nhân do nước tràn qua đỉnh đập gây vỡ đập
* Hồ chứa thủy điện:
- Năm 2010: Sự cố nước tràn đỉnh đập thủy điện Hố Hô, do mất nguồn điện mởcửa van tràn xả lũ (Quảng Bình)
- Năm 2011: Vỡ đường ống dẫn nước nhà máy thủy điện Đambol Đạ Te’h(Lâm Đồng)
- Năm 2012: Vỡ tường ngăn nước trong quá trình thi công hồ thủy điệnĐắkrông3 (Quảng Trị); sự cố thấm thân đập thủy điện Sông Tranh (QuảngNam); Đổ tường thượng lưu thủy điện Đăkmeek 3 (Kon Tum)
- Năm 2013: Vỡ đập chính thủy điện Ia Krel 2 (Gia Lai) khi bắt đầu tích nước;
sự cố vỡ cục bộ vách ngăn nước phím tràn số 4 thủy điện Đắkrông3 (QuảngTrị);
- Năm 2014: Sự cố vỡ đường ống áp lực thủy điện Thoong Cót II (Cao Bằng);
sự cố sập hầm dẫn nước thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng);
- Năm 2016: Sự cố cửa van hầm dẫn dòng thi công thủy điện Sông Bung 2(Quảng Nam), do lũ tràn về làm bục cửa van số 2 gây tràn nước hầm dẫn dòng
1.3 Hiện trạng quản lý an toàn hồ chứa vừa và nhỏ ở khu vực Bắc Trung Bộ.
1.3.1 Công tác quản lý
Mô hình quản lý vận hành các hồ chứa nước của các tỉnh Bắc Trung Bộ tươngđối giống nhau và là mô hình điển hình của cả nước về bộ máy, tổ chức hiệnnay Như đã nêu ở phần Tổng quan, các hồ chứa lớn và một số hồ chứa vừađược giao cho các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi quản lý vận hành.Các hồ chứa còn lại giao cho cấp huyện, xã quản lý vận hành
Trang 29Bảng 1.7 Các doanh nghiệp, Tổ chức tham gia quản lý hồ chứa ở địa phương
T ê n c
6
9 11
C ô n g t y T N
4
914, 2
C ô n g ty T
1
8 12
C ô n g 5
1
511, 6
C ô n
C ô H
h C
ộ 1. 1. 88 2111,
Thống kê trên cho thấy số lượng hồ chứa do các cấp huyện, xã quản lý là rấtnhiều, với trình độ, năng lực của cán bộ quản lý vận hành cấp huyện, xã hiệnnay là rất cần quan tâm đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, đồng thời cần cung cấpcho họ những tài liệu hướng dẫn phù hợp dễ hiểu dễ ứng dụng trong thực tế
1.3.2 Hiện trạng an toàn an toàn hồ chứa vừa và nhỏ vùng Bắc Trung Bộ
Với đặc điểm địa hình vùng Bắc Trung Bộ có địa hình chủ yếu là đồi núi và cácthung lũng, sông suối nhỏ hẹp, độ dốc lớn, khi xảy ra mưa lớn tạo dòng chảytập trung luôn tiềm ẩn nguy cơ gây sự cố công trình trên các sông, suối, như hồchứa, đập dâng,
Trang 30Theo kết quả đánh giá hiện trạng công trình năm 2016, hiện các tỉnh Bắc Trung
Bộ có Tổng số 495 hồ chứa vừa và nhỏ trong tình trạng hư hỏng, mức bảo đảm
an toàn không cao (Thanh Hóa: 180 cái, Nghệ An: 116 cái, Hà Tĩnh 88 cái,Quảng Bình: 50 cái, Quảng Trị 47 cái, Thừa Thiên Huế: 14 cái- Nguồn SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ) thể hiện ở các mặtsau:
- Thiếu năng lực xả lũ: 230 cái, chiếm tỷ lệ 46% tổng số hồ bị xuống cấp
- Đập phải xử lý thấm: 189 cái, chiếm tỷ lệ 38% tổng số hồ bị xuống cấp
- Hồ chứa có cống lấy nươc bị hư hỏng: 225 cái, chiếm 45% tổng số hồ
- Sạt, lở mái đập có 310 đập, chiếm 62% tổng số hồ bị xuống cấp
Ngoài ra, có khoảng 450 hồ chứa dung tích nhỏ khác chưa đủ điều kiện đánhgiá an toàn Như vậy nếu kể cả số lượng hồ này, khu vực Bắc Trung Bộ cókhoảng 945 hồ có những tiềm ẩn mất an toàn, chiếm trên 48% tổng số lượng hồtoàn khu vực
Kết quả thống kê các sự cố hồ chứa nước từ năm 2009 đến nay nêu trên, trong
số 21 vụ sự cố có đến 13 vụ xảy ra ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, nhiều nhất là cáctỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
Từ các số liệu trên cho thấy để đánh giá an toàn hồ chứa khu vực Bắc Trung Bộcần có những lưu ý về khả năng xảy ra sự cố do mưa lũ cao hơn nhiều so vớicác vùng khác của Việt Nam Việc phận loại đánh giá hồ chứa cũng cần phântheo các cấp có thể phản ánh phù hợp Hướng nghiên cứu phân loại trong Đề tài
là phân thành 5 cấp: 1) Nguy cơ sự cố mất an toàn thấp – tương ứng công trình
có chất lượng tốt, vận hành bình thường theo thiết kế, nguy cơ sự cố thấp; 2)Nguy cơ sự cố mất an toàn trung bình – tương ứng công trình tồn tại một số hưhỏng nhưng vẫn có thể vận hành theo thiết kế, nguy cơ sự cố trung bình; 3)Nguy cơ sự cố mất an toàn cao – tương ứng công trình bị hư hỏng xuống cấpcần có kế hoạch nâng cấp, nguy cơ sự cố cao, việc vận hành cần có nhữngkhống chế tích nước; 4) Nguy cơ sự cố mất an toàn rất cao - tương ứng côngtrình bị hư hỏng xuống cấp nặng, nguy cơ sự cố rất cao, việc vận hành hạn chếhoặc không tích nước; 5) Nguy cơ sự cố mất an toàn đặc biệt cao - tương ứngcông trình bị hư hỏng xuống cấp nặng, nguy cơ sự cố đặc biệt cao, không đượcphép tích nước và cần được sửa chữa khẩn cấp
Trang 311.4 Tổng quan về nghiên cứu đánh giá an toàn
đập
1.4.1 Trên thế giới
An toàn hồ chứa nước được quan tâm trên thế giới từ công tác quản lý vận hànhđến chất lượng công trình bảo đảm an toàn của đập bởi những tổn thất lớn vềkinh tế và con người khi các sự cố vỡ đập xảy ra Phần lớn các nước quy định
cơ quan chuyên trách về An toàn đập điển hình như các quốc gia: Mỹ, Chile,Mehico, Ấn độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thẩm quyền chủ yếu của các cơ quan
an toàn đập (trong đánh giá an toàn đập) bao gồm: Giám sát việc kiểm tra antoàn đập, chấp nhận hoặc từ chối báo cáo về An toàn đập của chủ sở hữu đập;trực tiếp kiểm tra An toàn đập; chấp nhận tổ chức, cá nhân được phép kiểm tra
an toàn đập; đăng ký an toàn đập; cố vấn cho chủ sở hữu đập về an toàn đập;quy định điều kiện năng lực tối thiểu của đơn vị vận hành đập và báo cáo về antoàn đập
Một số nước có quy định phân cấp quản lý an toàn đập giữa trung ương và địaphương dựa trên quy mô của đập Ở Mỹ chính quyền liên bang có quy địnhriêng về an toàn đập trong đó có những tiêu chuẩn cho an toàn đập của cácbang Quy định của các bang bắt buộc phải tuân theo tiêu chuẩn của liên bang,nếu không chính quyền liên bang sẽ từ chối yêu cầu trợ giúp trong việc quản lý
an toàn đập
Thời gian kiểm tra an toàn đập: Được quy định chi tiết dựa theo sự phân loạirủi ro của đập Nhiều nước quy định tăng cường công tác kiểm tra đối với đậplần đầu tích nước Nhật Bản quy định kiểm tra định kỳ tất cả các đập với tầnsuất từ 3 đến 5 năm một lần Bang Washington quy định chủ sở hữu đập kiểmtra đập hàng năm, cơ quan quản lý an toàn đập kiểm tra 6 năm một lần Thụy
Sỹ có quy định chủ sở hữu đập phải kiểm tra việc hoạt động của các thiết bịquan trắc đập hàng tháng Pháp yêu cầu chủ sở hữu đập (tổ chức quản lý vậnhành công trình) kiểm tra đập bằng mắt 2 tuần 1 lần, đo đạc các thông số cơbản hàng tháng và tiến hành đo đạc tổng hợp hàng năm
Công tác đánh giá toàn đập phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của các cán bộkiểm tra và được đánh giá cụ thể cho từng hồ chứa
Trang 32Tại Nhật Bản từ năm 1986, Bộ quản lý đất đai, Hạ tầng giao thông và du lịchNhật Bản đã phát hành “Sổ tay kiểm tra đập định kỳ” và chỉnh sửa vào năm
2002 Các nội dung kiểm tra định kỳ của đập bao gồm: (i) Thể chế quản lý đập
và tình trạng quản lý (kiểm tra các vị trí chuyên gia, kỹ thuật, tổ chức thông tinliên lạc, tình trạng vận hành – trong các tình huống, tu sửa, quan trắc,.); (ii)Tình trạng lập và bảo quản sổ sách ghi chép và tài liệu (các tài liệu dùng làm cơ
sở cho công tác quản lý – quy trình vận hành, sử dụng nước, dữ liệu lịch sửcông trình); (iii) Tình trạng của công trình và trang thiết bị (được thẩm địnhbằng ba cấp: a- Cần phải giải quyết sớm và nhanh chóng, b- có các biểu hiệnkhác thường đang xảy ra và cần theo dõi tiếp tục, c- không có vấn đề cần đốisách gì cả) Trong mục kiểm tra tình trạng của công trình và trang thiết bị cóxây dựng một số chỉ tiêu thẩm định, trình bày các nguyên nhân của hiện tượng,ảnh hưởng khi hiện tượng tiếp tục phát triển, các điểm cần lưu ý khi quan sátbằng mắt thường, các tiêu chuẩn được “phỏng chừng” để thẩm định cấp của cáchạng mục trong phiếu kiểm tra từng hạng mục chi tiết, người kiểm tra tùy theotình hình thực tế mà thẩm định
Ở Mỹ, Cơ quan Công binh lục quân Hoa Kỳ phát hành cuốn “How to oganize adam safety program” nêu khá đầy đủ về tổng quan, các nguyên tắc và hướngdẫn quản lý thực hiện về an toàn đập, bao gồm đánh giá toàn diện về rủi ro củađập
1.4.2 Ở Việt Nam
Những nghiên cứu về an toàn đập cũng được nhiều nhà khoa học trong nướcquan tâm thực hiện, một số vấn đề đã được nêu trong các đề tài nghiên cứuhoặc trong các hội thảo khoa học, như:
- Tác giả Vũ Đình Hùng đã thống kê, đánh giá sự cố về đập ở nước ta, các sự
cố vỡ đập do sự cố tràn xả lũ chiếm 25,4 %, chưa kể do khẩu diện tràn xả lũkhông đủ năng lực xả lũ thực tế dẫn đến mực nước trong hồ dâng cao gây lêncác sự cố cho đập; tính toán thiết kế chưa chính xác, chất lượng thi công đậpkhông bảo đảm là những nguyên nhân khác gây các sự cố vỡ đập Tác giả nêumột số nhận xét: Đối với các hồ chứa đã xây dựng (trước năm 2000) phần lớncác tài liệu thủy văn dùng thiết kế không đủ dài về thời gian, thường phải sử
Trang 33dụng lưu vực tương tự; Tiêu chuẩn TCVN 5060-90 chỉ quy định theo một chỉ
số tần suất nhưng lại quy định nếu sự cố xảy ra có thể gây hậu quả nghiêm
Trang 34trọng thì được phép nâng 1 cấp và khi tài liệu tính toán không đủ độ tin cậy thìnhất định phải bố trí thêm tràn sự cố Theo nhận xét của nhiều tác giả, cơ quanchuyên ngành thì tần suất lũ thiết kế của nước ta thiên nhỏ, do đó khả năng antoàn đập không cao.
- Tác giả Nguyễn Chiến trong bài viết tháng 10/2013 “An toàn của các hồ, đậptrong điều kiện mưa lũ lớn” có nêu đặc tính dễ bị tổn thương trong mưa lũ lớncủa các hồ đập thủy lợi bao gồm:
+ Hiện tượng mưa lũ vượt ra ngoài các quy luật thông thường, các hiện tượng
lũ chồng lên lũ, đợt lũ trước chưa rút hết thì đợt lũ sau đã đổ về với cường suấtcủa lũ sau rất lớn (điển hình như đợt mưa lũ lịch sử năm 2013 trong cơn bão số
10 ngày 30/9/2013 mạnh cấp 13, giật cấp 14 đã đổ bộ vào miền Trung, trực tiếp
là các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế, lượng mưa từ400÷580 mm, bão số 11 ngày 15/11/2013 lượng mưa tại hai tỉnh Hà Tĩnh,Quảng Bình từ 430÷530 mm)
+ Hơn 90% số đập ở nước ta là đập đất: dễ bị xói mòn, moi sâu vào thân, khicường suất mưa lớn và kéo dài, đất thân đập bị bão hòa nước làm giảm sự ổnđịnh, dẫn đến trượt mái và hư hỏng đập
+ Trong thiết kế và xây dựng đập ở nước ta, tiêu chuẩn phòng lũ được xác địnhtheo cấp công trình nên các đập cấp III-V có tần suất lũ thiết kế thấp nên khảnăng chống lũ thấp, khả năng nước tràn dẫn đến vỡ đập là lớn
- Tác giả Phạm Ngọc Quý và nnc trong Đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu tácđộng của biến đổi khí hậu đến sự làm việc an toàn đập đất của hồ chứa nước và
đề xuất bộ tiêu chí đánh giá an toàn đập” đã xây dựng 5 nhóm tiêu chí gồm:Tiêu chí lũ; nhóm tiêu chí địa chất, địa chấn (thấm nền, lún và chênh lún donền, động đất); nhóm tiêu chí thấm (đường bão hòa trên, đường bão hòadưới, độ cao thoát nước, chiều dài thoát nước, lưu lượng thấm, độ đục của nướcthấm); nhóm tiêu chí kết cấu ổn định (hệ số an toàn ổn định mái đập, chuyển vịthẳng đứng, chuyển vị ngang, ứng suất hiệu quả, các hư hỏng khác) và nhómtiếu chí quản lý Các tiêu chí này đi theo hướng xây dựng phương pháp đánhgiá thông qua các tính toán, kiểm tra các đặc trưng của từng hồ cụ thể
Trang 35- Trong Dự án “Sửa chữa và nâng cao an toàn đập” (WB8) do Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện (2016-2022) sửa chữa cho khoảng 450
hồ chứa thủy lợi trong số 1150 hồ chứa hư hỏng hiện nay Để lựa chọn đầu tư,
dự án đã xây dựng khung sàng lọc để đánh giá mức độ rủi ro của các đập từ đólựa chọn ưu tiên sửa chữa cho 450 hồ chứa có mức độ rủi ro cao Đánh giá rủi
ro được xây dựng theo quy mô công trình, rủi ro về kết cấu, rủi ro ở hạ lưu đập,rủi ro do vận hành bảo dưỡng và các trọng số tương ứng với các mô tả côngtrình
Bảng 1.8 Bảng đánh giá theo chỉ số rủi ro hồ chứa (Dự án WB8)
Trang 36ủi 5 0
Trang 38Thiệt hại hạ tầng, công trình, đất sản xuất
sốThiết bị dự báo, quan trắc, giám sát1,
i) Không có trạm đo mưa; ii) không trang bị quan trắc, giám sát tại
đập; iii) không cảnh báo hạ lưu 4i) Không có trạm đo mưa; ii) được trang bị thiết bị quan trắc, giám
sát tại đập; iii) không cảnh báo hạ lưu 3,6i) Có trạm đo mưa; ii) được trang bị thiết bị quan trắc, giám sát tại
đập; iii) không cảnh báo hạ lưu 3,2i) Có trạm đo mưa; ii) được trang bị thiết bị quan trắc, giám sát tại
đập; iii) được cảnh báo hạ lưu 2,4i) Có trạm đo mưa và trang bị phần mềm dự báo lũ; ii) được trang
bị thiết bị quan trắc, giám sát tại đập; iii) được cảnh báo hạ lưu 0,8
Trang 39Các cấp độ của trọng số được chấm phỏng chừng theo các điều kiện mô tả Chỉ
số rủi ro đánh giá tổng hợp công trình đầu mối và vùng hạ du nhằm phục vụ lựachọn ưu tiên giữa các hồ chứa trong phạm vi dự án
Nhận xét chung:
Trên thế giới, công tác đánh giá an toàn đập của một số nước tiên tiến trên thếgiới được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm và chuyên môn sâutrong lĩnh vực an toàn đập Kết luận đánh giá thông qua rất nhiều các hạng mụcnghiên cứu đánh giá khác nhau nhằm xác định mức độ an toàn của đập cũngnhư mức độ rủi ro cho từng công trình cụ thể
Ở Việt Nam có số lượng các hồ chứa tương đối lớn (riêng khu vực Bắc Trung
Bộ đã có 1920 hồ), phần lớn các hồ chứa vừa và nhỏ được xây dựng từ lâu, hệthống các công trình xây dựng chưa đồng bộ, hiện tồn tại những hư hỏng chưađược sửa chữa, mức độ bảo đảm an toàn thấp, thiếu đội ngũ cán bộ có chuyênmôn về hồ chứa trực tiếp quản lý vận hành tại các địa phương, vv Với cácđiều kiện, đặc thù của hồ chứa ở Việt Nam như vậy, việc tổ chức đánh giá antoàn đập (như cách đánh giá của các nước tiên tiến trên thế giới thực chất làkiểm định an toàn đập) cần nguồn kinh phí rất lớn Do vậy, công tác kiểm trađánh giá nhanh là hết sức quan trọng, đồng thời để có các phương án sẵn sàngứng phó với sự cố của đập được thực hiện hàng năm
1.5 Tài liệu tiêu chuẩn trong đánh giá an toàn
đập
Theo Tiêu chuẩn TCVN 11699:2016 Công trình thủy lợi – Đánh giá an toànđập với các nội dung đánh giá an toàn bao gồm: Đánh giá chất lượng hiện tạicủa đập, các công trình liên quan và hệ thống vận hành; Đánh giá an toànchống lũ; Đánh giá an toàn thấm; Đánh giá an toàn kết cấu Đồng thời đưa racác điều kiện công trình để phân ra các loại chất lượng công trình tốt, trungbình, kém Nội dung đánh giá an toàn có thể thay đổi tùy thuộc vào quy mô củađập, tài liệu kỹ thuật hiện có và tình trạng đập
Tóm tắt một số nội dung về phân mức độ an toàn và các điều kiện đánh giátrong Tiêu chuẩn như sau:
- Đánh giá chất lượng đập và các công trình liên quan được phân theo các mức
độ sau:
+ Mức A: Đập và các công trình liên quan có chất lượng tốt;
25
Trang 40+ Mức B: Đập và các công trình liên quan có chất lượng trung bình; cần theodõi diễn biến của các hư hỏng, đề xuất biện pháp và kế hoạch điều tra, khảo sát,đánh giá nguyên nhân để đưa ra các giải pháp sửa chữa, khắc phục các hưhỏng, tồn tại;
+ Mức C: Đập và các công trình liên quan có chất lượng kém; cần thực hiệnngay các biện pháp chủ động bảo đảm an toàn đồng thời tiến hành công táckhảo sát, điều tra, khảo sát chi tiết để xác định nguyên nhân, mức độ, phạm vi
hư hỏng
- Đánh giá mức độ an toàn đập được phân loại:
+ Loại 1: Đập đảm bảo an toàn, được vận hành theo thiết kế - Tất cả đập và cáccông trình liên quan đạt mức A;
+ Loại 2: Đập cơ bản an toàn, được phép vận hành nhưng phải tăng cườnggiám sát - Tất cả đập và các công trình liên quan đạt mức A và B;
+ Loại 3: Đập có nguy cơ mất an toàn, không được phép tích nước hoặc phảikhống chế mức độ tích nước; cần tăng cường giám sát, kiểm tra, sửa chữa, nângcấp – Tất cả đập và các công trình liên quan được đánh giá cho các trường hợpcòn lại
- Các điều kiện đánh giá chất lượng đập đất đá trong Tiêu chuẩn:
Bảng 1.9 Bảng đánh giá chất lượng công trình trong TCVN 11699:2016