Với nhận thức đúngđắn, con người biết được sự cần thiết của việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp,những hành vi, việc làm được khuyến khích, nhận được sự đồng tình của nhữngngười xung q
Trang 1ĐẠO ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐẠO ĐỨC
PHẦN 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC, ĐẠO ĐỨC HỌC
1.Một số vấn đề cơ bản về đạo đức
1.1 Khái niệm đạo đức:
Một trong những đặc trưng của loài người là con người sống trong cộngđồng, xã hội với những mối quan hệ rất đa dạng với những người xung quanh Để
xã hội tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân trong xã hội cần thực hiện những hành vi,thể hiện thái độ phù hợp trên cơ sở lợi ích của cộng đồng, xã hội, lợi ích của ngườikhác và của bản thân mình Những cách cư xử thích hợp được sự tán đồng của đa
số thành viên trong cộng đồng, xã hội và được nhiều người khác noi theo Dầndần, chúng sẽ trở thành những quy tắc ứng xử chung của những cá nhân trongcộng đồng xã hội đó Những hành vi cử xử theo các quy tắc này được coi là thiện,
là đạo đức Những hành động ngược lại – có hại cho lợi ích cộng đồng, xã hội, củangười khác, bị coi là ác, vô đạo đức và do đó, bị lên án, phê phán
Khi nói đến giá trị đạo đức, chỉ có thể là tích cực hoặc tiêu cực, không cógiá trị trung hòa Có thể chia ra 4 loại hành động: hành động đạo đức, không thựchiện hành động đạo đức, hành động vô đạo đức và không thực hiện hành động vôđạo đức Trong thực tế cuộc sống, khó có thể nói một con người là hoàn toàn đạođức hay vô đạo đức Vì vậy, đánh giá một con người là đạo đức hay vô đạo đức làviệc rất khó, phức tạp Nói chính xác hơn, đánh giá một hành động là đạo đức haykhông, dễ hơn là đánh giá đạo đức của con người nói chung
Đạo đức của con người biểu hiện ở năng lực hành động tự giác vì lợi íchcủa người khác và lợi ích của cộng đồng, xã hội, phù hợp với những quy định,những chuẩn mực đạo đức xã hội Đạo đức xã hội là tổng hợp những nguyên tắc,quy tắc, chuẩn mực được xã hội thừa nhận và đòi hỏi các thành viên thực hiện saocho phù hợp với lợi ích của xã hội, cộng đồng, bản thân, nhằm đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa conngười với cộng đồng, xã hội
Trang 2Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có tác dụng điều chỉnhhành vi của con người trên cơ sở sự đối lập thiện và ác Đặc trưng của đạo đức là
nó phản ánh tồn tại xã hội bằng các quy tắc, chuẩn mực về lối ứng xử giữa conngười với các thành viên trong xã hội và xã hội nói chung liên quan đến lợi củacon người, cộng đồng, xã hội
Đạo đức của con người còn mang tính tự giác Sự đánh giá của cá nhân vềmối quan hệ giữa lợi ích của mình với lợi ích của những người xung quanh, củacộng đồng, xã hội có tác dụng định hướng cho con người hành động
Sự đánh giá biểu hiện qua thái độ của chủ thể liên quan đến một quan hệxác định – tích cực hay tiêu cực, tán thành hay phản đối, chấp nhận hay phủ nhận
Đạo đức của con người thể hiện qua hành vi đạo đức Hành vi đạo đức do ýthức đạo đức quy định, khi có sự thống nhất giữa hành vi và ý thức Trong thực tế,không phải điều đó luôn luôn xảy ra, đặc biệt là trong trường hợp có sự xung độtgiữa lợi ích cá nhân với lợi ích người khác và với lợi ích cộng đồng, xã hội
1.2 Chức năng của đạo đức:
1.2.1 Chức năng nhận thức:
Đạo đức giúp con người nhận thức về thế giới xung quanh liên quan đếncách ứng xử của mình với người khác, với cộng đồng, xã hội Với nhận thức đúngđắn, con người biết được sự cần thiết của việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp,những hành vi, việc làm được khuyến khích, nhận được sự đồng tình của nhữngngười xung quanh, của cộng đồng, xã hội; những hành vi bị lên án…
Đạo đức giúp con người hiểu được vai trò của đạo đức trong sự phát triển
xã hội, trong việc mang lại hạnh phúc cho cá nhân, cho gia đình và cả xã hội nóichung; những phẩm chất đạo đức mà mỗi con người chân chính cần rèn luyện
Các cá nhân trong xã hội nhận thức không như nhau Nói cách khác, chứcnăng nhận thức của đạo đức được thực hiện qua quá trình giáo dục và tự giáo dục,trải nghiệm cuộc sống của từng cá nhân
Trang 3Nhận thức đúng đắn có tác dụng định hướng, điều chỉnh hành vi và giúpcon người đánh giá hành vi của người khác và hành vi của bản thân một cáchkhách quan.
1.2.2 Chức năng định hướng, điều chỉnh hành vi của đạo đức:
Đạo đức giúp con người hành động đúng trong các tình huống khác nhautrong cuộc sống hằng ngày của mình sao cho không làm tổn lợi ích của nhữngngười xung quanh, của cộng đồng, xã hội
Khi mình làm điều chưa phù hợp với các quy tắc đạo đức, con người tựđiều chỉnh hành vi của mình
Khi làm được việc tốt, con người tiếp tục thực hiện hành vi tương tự
Sự định hướng hành vi của đạo đức phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, sựđiều chỉnh phụ thuộc vào sự đánh giá của nó (từ xã hội và từ bản thân )
1.2.3 Chức năng đánh giá của đạo đức:
“Thước đo” cơ bản của sự đánh giá này là những quy tắc, chuẩn mực đạođức, xã hội
Đánh giá từ xã hội có thể là khen ngợi, đồng tình, hay ngược lại, lên án, phêphán
Đánh giá từ phía bản thân là “tòa án lương tâm”
Đạo đức còn giúp con người đánh giá hành vi của những người khác
2 Đạo đức học là một khoa học
2.1 Đối tượng của đạo đức học:
Vào thế kỉ thứ III trước Công nguyên, Aristote dùng èthica để chỉ ngành Đạođức học, tên gọi này được dùng đến ngày nay
Đạo đức học nghiên cứu những nguyên tắc, chuẩn mực, quy tắc về cách ứng
xử, những tập quán, tục lệ thể hiện mối tương quan giữa con người với nhau, giữacon người với xã hội, xác định những quy luật nảy sinh, tồn tại, phát triển, chúnglàm rõ bản chất đạo đức trong xã hội loài người Nói cách khác, Đạo đức học làkhoa học nghiên cứu về đạo đức Do đó, tất cả những gì liên quan đến đạo đứcđiều là đối tượng nghiên cứu của Đạo đức học
Trang 4Cụ thể Đạo đức học nghiên cứu:
- Các học thuyết về đạo đức của các nhà lí luận về đạo đức, trong đó, coitrọng việc nghiên cứu các khái niệm, các quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩnmực đạo đức…
- Sự khác nhau cơ bản giữa đạo đức về ý thức, quan hệ, thực tiễn đạo đức ởcác hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, từ đó, xác định tính quy luật của sự xuấthiện, thay đổi, phát triển đạo đức, đặc biệt về sự tác động qua lại giữa tồn tại xãhội và đạo đức
- Dự báo sự phát triển đạo đức xã hội tương lai – đạo đức trong nền kinh tếthị trường, trong nền kinh tế tri thức, trong xu thế toàn cầu hóa…
2.2 Một số phạm trù đạo đức học cơ bản:
2.2.1 Thiện và ác:
Cái thiện là cái tốt lành, cái có lợi, có ích, mang lại những điều tốt đẹp cho
xã hội, cộng đồng, con người, vì sự tiến bộ của phụ nữ Nó phù hợp với chuẩnmực đạo đức xã hội, được bộc lộ qua hành động, việc làm trong thực tiễn cuộcsống
Cái ác là cái xấu, cái có hại, mang lại nhiều điều đau khổ cho con người, cókhi còn gây ra sự bất ổn trong cộng đồng, xã hội, chống lại sự tiến bộ xã hội,chống lại loài người nên bị lên án, phê phán Nó được biểu hiện không chỉ quahành vi cụ thể, mà có khi được thể hiện qua suy nghĩ, ý nghĩ, động cơ xấu xa, ích
kỉ, hèn hạ…
Cái thiện và cái ác luôn biến đổi theo sự phát triển của xã hội loài người, vàmỗi một dân tộc, một giai cấp, xã hội…đều có quan niệm của mình về cái thiện vàcái ác
Ở nước ta, theo các giai đoạn lịch sử, quan niệm về cái thiện và cái ác cũngthay đổi: Cái thiện ngày càng được hiểu một cách “cởi mở” hơn, biểu hiện đa dạnghơn Cái thiện lớn nhất của đất nước ta hiện nay là biết đặt quyền lợi, lợi ích củadân tộc, của nhân dân lên trên hết Ngược lại, những gì gây cản trở, bất lợi, có hạicho quá trình đạt mục tiêu trên điều được coi là ác
Trang 5Việc đánh giá một hành vi của con người là thiện hay ác không chỉ phụthuộc vào kết quả mà còn liên quan đến mục đích, động cơ, phương tiện, điều kiệnthực hiện…Hành vi được đánh giá là thiện hay ác cụ thể như sau:
- Động cơ tốt, kết quả tốt – được coi là thiện
- Động cơ tốt, kết quả xấu – không được coi là ác
- Động cơ xấu, kết quả tốt – không được coi là thiện
- Động cơ xấu, kết quả xấu – được coi là ác
Trong thực tiễn cuộc sống, việc xác định một hành vi là thiện hay ác hoàntoàn không dễ dàng vì rất khó nhận ra động cơ, mục đích ẩn sau mỗi hành vi Hơnnữa, ngoài động cơ, mục đích tốt còn cần điều kiện, phương tiện thực hiện
Lí tưởng cao đẹp của loài người là xây dựng một xã hội văn minh mà trong
đó cái thiện ngự trị tuyệt đối
Nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lí có mối quan hệ khăng khít với nhau –đều đóng góp vào việc giữ gìn kỉ cương và phát triển xã hội Nghĩa vụ đạo đứcthúc đẩy con người thực hiện nghĩa vụ pháp lí… Nghĩa vụ pháp lí là biểu hiện củaviệc thực hiện nghĩa vụ đạo đức… Xã hội càng văn minh, tiến bộ thì nghĩa vụpháp lí càng được chuyển hóa thành nghĩa vụ đạo đức
Trang 62.2.3 Lương tâm:
- Lương tâm là gì? Lương tâm là tiếng nói bên trong chỉ dẫn, thôi thúc conngười làm những điều thiện, theo nghĩa vụ của mình và phê phán, ngăn cản conngười làm điều ác
- Khi con người thực hiện hành vi mà do sợ bị trừng phạt hay xấu hổ trước dưluận xã hội tức là đã ý thức được việc mình làm có phù hợp với chuẩn mực đạođức xã hội hay không và lường trước được những hình phạt, búa rìu dư luận đốivới mình Thật vậy, đó chưa phải là hành vi có lương tâm nhưng rất có thể là cơ sởban đầu để con người hình thành nên lương tâm
- Xấu hổ với bản thân hay tự xấu hổ là trạng thái tâm lí khi con người khônghài lòng với chính mình về việc mình đã không làm theo lẽ phải hay đã làm điều
ác Rất có thể việc đó sẽ không có ai biết nhưng con người vẫn thấy ân hận, daydứt và thầm hứa sẽ không tái phạm những hành vi tương tự Đây là bước đầu củalương tâm
- Lương tâm, theo đúng nghĩa của từ này, xuất hiện trong suốt toàn bộ quátrình thực hiện hành vi của con người - từ khởi đầu cho đến khi kết thúc: anh tathực hiện được hành vi theo lương tâm mách bảo cùng kết quả tốt đẹp và cắn rứtlương tâm khi hành vi mong muốn không thực hiện được hay kết quả hành vi đókhông được như dự kiến
- Lương tâm có ý nghĩa to lớn trong đời sống đạo đức của con người vì nó giúpcon người tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cácchuẩn mực đạo đức xã hội, làm tròn nghĩa vụ đạo đức của mình Lương tâm giúpcon người vượt qua khó khăn, đặc biệt là vượt qua chính mình để làm điều thiện,không làm những điều ác, giữ gìn được nhân cách cao thượng, dù ở hoàn cảnhnào
- Người không có lương tâm thường làm những việc bất nhân, bất nghĩa, vôđạo đức miễn là mang lại lợi ích, dục vọng thấp hèn của mình Họ còn sống giảdối, giả nhân , giả nghĩa, có khi rất nguy hiểm cho xã hội
Trang 72.2.4 Hạnh phúc:
Hạnh phúc là gì?
- Theo quan niệm truyền thống, hạnh phúc con người gắn liền với cuộc sốnggia đình – có một gia đình êm ấm, vợ chồng yêu thương nhau, con cái khỏe mạnh,ngoan ngoãn, học giỏi, kinh tế sung túc,… Khi đó, con người có cảm giác vuisướng, phấn chấn, thỏa mãn về những điều mình mong muốn đã đạt được
- Theo nghĩa rộng, hạnh phúc là cảm giác về sự khoan khoái của tồn tại, khinhững nhu cầu cơ bản của mình được thỏa mãn
- Những nhu cầu cơ bản của con người gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinhthần:
+ Nhu cầu vật chất: thức ăn, nước uống, quần áo,… Nhu cầu vật chất là cógiới hạn, nếu vượt quá giới hạn, con người có thể không còn cảm thấy sung sướng
mà còn cảm thấy khó chịu, thậm chí nguy hiểm: ăn quá no gây bội thực, gây bệnh,
…Vật chất chưa hẳn mang lại hạnh phúc cho con người, chẳng hạn: nhiều người
có cuộc sống giàu sang, đầy đủ,… là nhờ những cách làm giàu phi pháp, điều ácthì lại càng không có hạnh phúc, vì họ không có một tinh thần lành mạnh, không
có sự thanh thản lương tâm
+ Nhu cầu tinh thần: hiểu biết về thế giới xung quanh, thưởng thức và sángtạo ra cái đẹp,… Nhu cầu tinh thần của con người là không có giới hạn, khát vọng
về chân lí, đạo đức, thẩm mĩ là vô cùng và chúng chỉ mang lại những xúc cảm tíchcực mà thôi Hạnh phúc thật sự là phải biết sẵn sàng hi sinh nhu cầu vật chất đểthỏa mãn nhu cầu tinh thần; nhu cầu tinh thần là yếu tố cơ bản tạo nên hạnh phúccủa con người, trong đó, nhu cầu đạo đức chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Vìtrong cuộc sống của mình không ai thoát được mối quan hệ đạo đức: với ngườixung quanh, với công việc, với xã hội,… Hạnh phúc thật sự chỉ đến với nhữngngười có đạo đức: làm việc thiện, điều tốt,…
- Hạnh phúc của con người vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính kháchquan:
Trang 8+ Tính chủ quan: mỗi một con người có quan niệm riêng của mình về hạnhphúc, có điều kiện và khả năng của mình để đạt được những nguyện vọng nhu cầu
cá nhân Chẳng hạn: đối với người này hạnh phúc là có gia đình yên ấm, con cáitiến bộ, việc làm ổn định,… Nhưng đối với người khác thì các yếu tố trên chưalàm thỏa mãn, phải có xe ô tô đắc tiền, vợ đẹp, con cái học giỏi, du lịch nướcngoài,… Để thỏa mãn nhu cầu của mình, có người rất nỗ lực, có ý chí vươn lênquyết tâm “đấu tranh”, có kẻ thì sống theo kiểu “há miệng chờ sung”,…
+ Tính khách quan: những nhu cầu của con người và việc đáp ứng chứng phụthuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội và quan niệm về hạnh phúc cũng thay đổitheo sự phát triển kinh tế - xã hội; sự đánh giá của xã hội về hạnh phúc của các cánhân Chẳng hạn: khó có thể cho rằng gia đình một người mà phải suốt ngày phải
đi làm thuê, cuốc mướn, không đủ ăn, đủ mặc,… là hạnh phúc và cũng không thểnói một người con gái bất hạnh vì mơ ước lấy chồng triệu phú mà không thành,…
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC
1 Vị trí, mục tiêu, đặc điểm môn Đạo đức:
- Là một môn học có chức năng riêng biệt là giáo dục đạo đức cho học sinhtiểu học, môn Đạo đức với nét đặc thù về mục tiêu, nội dung, phương pháp vàhình thù tổ chức hướng dẫn có khả năng to lớn góp phần thực hiện quá trình giáodục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.1.2 Môn Đạo đức là một môn học trong hệ thống các môn học ở Tiểu học, có tác dụng định hướng cho các môn học khác về giáo dục đạo đức:
- Bất kì môn học cũng phải được thực hiện cả nhiệm vụ giáo dục
Trang 9- Môn Đạo đức với những nét đặc thù của mình sẽ định hướng giáo dục giáodục cho các môn học khác.
- Giáo dục đạo đức qua các môn học khác nhau làm cho quá trình giáo dục đạođức cho học sinh tiểu học liên tục, luôn được củng cố, nên càng có hiệu quả
1.1.3 Môn học có mối quan hệ mật thiết với con đường giáo dục qua hoạt động ngoài giờ lên lớp:
- Môn Đạo đức định hướng cho việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Nhờ có những tri thức, kĩ năng, thái độ được hình thành qua môn Đạo đức,học sinh có khả năng thực hiện được các hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp có tác dụng củng cố, khắc sâu, mởrộng kết quả dạy học môn Đạo đức
1.1.4 Môn Đạo đức ở tiểu học tạo tiền đề và cơ sở cho học sinh học tiếp nối môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở:
- Môn Đạo đức ở tiểu học giúp cho học sinh dần dần nắm được những tri thức
sơ đẳng ngày càng có tính khái quát về những chuẩn mực hành vi đạo đức Đếncuối bậc học, ở các em đã hình thành được những khái quát sơ đẳng cần thiết
- Những khái quát sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi này tạo nên tiền đề vàđiều kiện để các em học tiếp môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở với nộidung bao gồm những khái niệm về những phẩm chất đạo đức và những bổn phậnđạo đức và pháp luật
1.2 Mục tiêu môn Đạo đức:
Những điểm cần chú ý:
- Đây là kết quả mong muốn cần đạt được ở học sinh qua quá trình dạy họcmôn Đạo đức (mà không phải ở giáo viên, chương trình hay tài liệu dạy học mônĐạo đức,…)
- Những mục tiêu này có tác dụng định hướng cho việc tổ chức quá trình dạyhọc môn Đạo đức để đạt được những kết quả trên
- Chúng là một căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả dạy môn Đạo đức
Trang 10- Những mục tiêu này phản ánh các khía cạnh khác nhau của những chuẩn mựchành vi đạo đực – hiểu biết về chuẩn mực, thái độ liên quan và việc thực hiệnchuẩn mực đó.
1.2.1 Mục tiêu về tri thức:
Sau khi học môn học môn Đạo đức, học sinh nêu được những tri thức cơ bản,cần thiết về các chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp lứa tuổi, phản ánh các mốiquan hệ hằng ngày thường gặp của các em, từ đó, bước đầu, các em có niềm tinđạo đức đúng đắn
Tri thức đạo đức là cơ sở của việc hình thành niềm tin, nhờ đó học sinh mới cóđược ý thức đạo đức tự giác
Những tri thức có thể bao gồm:
- Yêu cầu của chuẩn mực hành vi
- Sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi:
+ Ý nghĩa: mối quan hệ giữa học sinh và đối tượng liên quan đến chuẩnmực
+ Tác dụng: những lợi ích, điều tốt đẹp mang lại cho đối tượng, nhữngngười xung quanh, bản thân học sinh
+ Tác hại của việc làm trái chuẩn mực hành vi: những cái ác, điều xấumang lại cho đối tượng, những người xung quanh, bản thân học sinh
- Cách thực hiện chuẩn mực đó theo các tình huống liên quan:
+ Những việc cần làm
+ Những việc cần tránh theo chuẩn mực quy định
1.2.2 Mục tiêu về kĩ năng, hành vi:
Sau khi học môn Đạo đức, học sinh có những kĩ năng vận dụng bài học đạođức, lựa chọn và thực hiện được các hành vi phù hợp với những chuẩn mực hành
vi quy định và trên cơ sở đó, các em rèn luyện được thói quen đạo đức tích cực
Kĩ năng, hành vi được coi là kết quả quan trọng nhất của việc dạy học mônĐạo đức (nhưng đồng thời cũng là khó khăn nhất) vì đạo đức của con người nói
Trang 11chung và học sinh tiểu học nói riêng được đánh giá chủ yếu qua hành động, việclàm mà không phải chỉ qua lời nói.
Những kĩ năng, hành vi này bao gồm:
- Biết tự nhận xét hành vi của bản thân
- Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác
- Biết xử lí những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống
- Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu, qua trò chơi,hoạt cảnh,…
- Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài đạo đức
- Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày củamình phù hợp với các chuẩn mực hành vi,…
1.2.3 Mục tiêu về thái độ:
Sau khi học môn Đạo đức, học sinh bày tỏ được những xúc cảm, thái độ phùhợp liên quan đến những chuẩn mực hành vi đạo đức và từ đó, có tình cảm đạođức bền vững
Thái độ, tình cảm đạo đức đóng vai trò quan trọng trong đời sống vì thái độ,tình cảm đúng đắn được coi là “chất men kích thích” từ bên trong nội tâm, giúpcon người vượt qua những khó khăn trở ngại, làm điều thiện, làm cho cuộc sốngtrở nên nhân ái hơn, giàu tình người hơn
Những thái độ, tình cảm này bao gồm:
- Thái độ tự giác, tích cực thực hiện hành vi theo chuẩn mực quy định
- Thái độ đồng tình với hành động tích cực; thái độ phê phán đối với hànhđộng tiêu cực
- Tình cảm đối với những đối tượng khác nhau do các bài đạo đức quy định
1.3 Đặc điểm môn Đạo đức:
1.3.1 Dạy học môn Đạo đức là một hoạt động giáo dục đạo đức:
- Học sinh thực sự tham gia hoạt động giáo dục như được nói, được trao đổivới bạn, được thực hành, vận dụng tri thức và kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống củamình,…
Trang 12- Khi tham gia hoạt đông, học sinh có thể hình thành cho mình cả 3 mặt: trithức, kĩ năng, hành vi và thái độ.
- Hạn chế của việc giáo dục học sinh chỉ qua sách vở: tri thức nông cạn, kĩnăng kém bền vững, hành vi không được thực hiện, thái độ và tình cảm hời hợt,…
1.3.2 Tính cụ thể của các chuẩn mực hành vi đạo đức:
- Những nguyên nhân cơ bản của việc đưa chuẩn mực đạo đức dưới dạngchuẩn mực hành vi cụ thể: tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, khả năng nhận thứchạn chế, kinh nghiệm sống nghèo nàn, tính bắt chước,…
- Tính cụ thể của chuẩn mực hành vi phù hợp với những tình huống thườnggặp trong cuộc sống của các em
- So với lớp 1, 2, 3 thì ở lớp 4, 5, các chuẩn mực hành vi đã có tính khái quátcao hơn
1.3.3 Tính đồng tâm của các chuẩn mực hành vi đạo đức:
- Sự cần thiết xây dựng các chuẩn mực hành vi theo cấu trúc đồng tâm – khảnăng nhận thức, kinh nghiệm sống còn hạn chế, mối liên hệ, ràng buộc giữa cácchuẩn mực hành vi và đạo đức,…
- Biểu hiện của tính đồng tâm:
+ Các chuẩn mực cùng chủ đề lặp đi, lặp lại từ lớp dưới lên lớp trên
+ Mức độ khái quát của chúng càng được nâng cao
- Tính đồng tâm thể hiện không đồng đều theo các chủ đề, các mối quan hệ,…
1.3.4 Logic quá trình hình thành một chuẩn mực hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học:
- Quy định nhận thức chung quy định logic hình thành chuẩn mực hành vi đạođức – từ trực quan sinh động đến tư duy từu tượng, và từ tư duy trừu tượng đếnthực tiễn
- Các giai đoạn hình thành chuẩn mực hành vi đạo đức:
+ Hình thành mẫu hành vi đạo đức
+ Tổ chức phát hiện bản chất hành vi đạo dức
+ Tổ chức luyện tập, thực hành
Trang 13- Sơ đồ logic trên: M B T
1.3.5 Thời gian 2 tiết dành cho mỗi bài đạo đức:
- Mỗi bài đạo đức được thực hiện trong 2 tiết
- Nhiệm vụ cơ bản của tiết 1: giúp học sinh nắm được những tri thức về chuẩnmực hành vi, đồng thời bước đầu góp phần hình thành thái độ, kĩ năng và hành vitương ứng
- Nhiệm vụ cơ bản của tiết 2: tổ chức cho học sinh hình thành kĩ năng, rènluyện hành vi, qua đó, củng cố tri thức, và giáo dục thái độ tương ứng
- Mối quan hệ giữa hai tiết đạo đức: tiết 1 chuẩn bị cho tiết 2; tiết 2 củng cố vàkhẳng định kết quả tiết 1
2 Nội dung môn Đạo đức
2.1 Định hướng xây dựng chương trình môn Đạo đức:
2.1.1 Bảo đảm phù hợp và phục vụ việc thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học là “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở banđầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mĩ vàcác kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” (theo Điều 27 củaLuật giáo dục, 2005)
Như vậy, theo mục tiêu này thì chương trình môn Đạo đức phải:
- Tạo được những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đứccho học sinh tiểu học: Điều này các chuẩn mực hành vi trong chương trình phải lànhững chuẩn mực cơ bản, vừa sức, phản ánh các mối quan hệ thường gặp của các
em Đồng thời, chúng cũng tạo điều kiện cho học sinh tiểu học phát triển đạo đứccủa mình qua việc mở rộng các mối quan hệ khác nhau
- Chuẩn bị thiết thực cho học sinh tiểu học học tiếp trung học cơ sở: Tức là, việcgiáo dục đạo đức ở tiểu học phải có kết quả tốt để các em có đủ tư cách và tráchnhiệm thực hiện tốt việc học tập và rèn luyện ở bậc học mới; ngoài ra, môn Đạođức còn có nhiệm vụ chuẩn bị cho học sinh học tốt môn Giáo dục công dân ởTrung học cơ sở Vì vậy, các chuẩn mực hành vi đạo đức ở tiểu học phải góp phầnhình thành ở các em hệ thống tri thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản, thái độ
Trang 14học tập tích cực, kĩ năng và thói quen hoạt động tập thể, cư xử đúng đắn vớinhững người xung quanh, tính năng động, sáng tạo trong các công việc khácnhau…
2.1.2 Bảo đảm tính cơ bản, hiện đại, thiết thực, gắn với thực tiễn Việt Nam
Theo định hướng này, nội dung chương trình môn Đạo đức cần phải:
- Phản ánh được các mối quan hệ thường gặp của học sinh tiểu học như :
+ Quan hệ với bản thân ( tự trọng, ngăn nắp, ý chí, trung thực…).
+ Quan hệ với gia đình (yêu quý, quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em,
là các công việc khác nhau để giúp đỡ…)
+ Quan hệ với nhà trường (yêu quý, vâng lời, kính trọng thầy cô giáo, yêu mến,
giúp đỡ, chia sẻ với bạn bè, giữ gìn vệ sinh, thực hiện nội quy trường lớp, chămchỉ học tập…)
+ Quan hệ với cộng đồng, xã hội (yêu quê hương, đất nước, tôn trọng những nội
quy, quy định nơi công cộng, tôn trọng, giúp đỡ, cư xử lịch sự với những ngườixung quanh…)
+ Quan hệ với môi trường tự nhiên (yêu quý, bảo vệ cây trồng, vật nuôi, thiên
nhiên, môi trường…)
- Giúp học sinh tiểu học hòa nhập với cuộc sống văn minh, hiện đại trong bối cảnhđất nước đổi mới toàn diện, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, hòa nhậpquốc tế Vì vậy, trong chương trình, cần có những chuẩn mực hành vi liên quanđến tôn trọng, thực hiện những quy định, luật lệ của nhà nước, xã hội, ứng xửđúng đắn với người nước ngoài, thiếu nhi quốc tế, hiểu biết và tôn trọng các tổchức quốc tế…
2.1.3 Góp phần đổi mới phương pháp dạy học tiểu học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học của chương trình tiểu học mới đượcthể hiện trong chương trình môn đạo đức ở chỗ:
- Chương trình tiểu học nêu định hướng là, phương pháp phải tập trung vào việcdạy cách học, trong đó, giúp học sinh biết cách học và từ đó, có nhu cầu tự học,thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống
Trang 15- Chương trình coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở tổ chức hoạt độnghọc tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, từ đó tạo điều kiện cho các emphát hiện tri thức mới, tự giải quyết các vấn đề của bài học.
- Chương trình mới đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức phải songsong với đổi mới phương tiện, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh giá kết quả dạyhọc…
2.2 Đặc điểm sách giáo khoa, Vở bài tập môn Đạo đức:
2.2.1 Sách giáo khoa
Sách giáo khoa môn Đạo đức có ở lớp 4 và 5 (các lớp 1, 2, 3 không có sáchgiáo khoa) giúp giáo viên và học sinh dạy và học các bài đạo đức theo quy địnhcủa chương trình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra
Sách giáo khoa Đạo đức gồm 14 bài theo chương trình bắt buộc Mỗi bài đạođức trong sách giáo khoa có cấu trúc gồm những phần sau:
a) Giới thiệu mẫu hành vi đạo đức
Mẫu hành vi đạo đức như một biểu tượng cụ thể liên quan đến chuẩn mựchành vi đạo đức được đưa ra để học sinh tiểu học làm theo, bắt chước (đối với biểutượng tích cực) hoặc tránh (đối với biểu tượng tiêu cực) Nó được giới thiệu quanhiều hình thức khác nhau như:
- Truyện kể đạo đức: Thường là câu chuyện trọn vẹn - có mở đầu, diễn biến, kếtthúc Trong truyện kể, một tình huống đạo đức được nêu ra để nhân vật giải quyết,ứng xử theo cách của mình Từ đó, dẫn đến kết quả hay hậu quả nào đó - nếu hành
vi ứng xử là đúng thì cho kết quả tích cực và ngược lại Từ kết quả hay hậu quảnày, học sinh sẽ rút ra kết luận tương ứng (bắt chước hay tránh) về chuẩn mực cầnthực hiện
Ví dụ: Bài “Tôn trọng khách nước ngoài” có truyện kể “Cậu bé tốt bụng” (Lớp 3) Mỗi truyện kể đạo đức thường được minh họa bằng tranh nhằm giúp học sinhnắm được nội dung truyện một cách trực quan, sinh động, từ đó khắc sâu đượcmẫu hành vi này
Trang 16Cuối mỗi truyện kể, có một số câu hỏi nhằm giúp học sinh phân tích truyện vàrút ra kết luận phù hợp
- Tình huống đạo đức: Một tình huống liên quan đến bài đạo đức được đưa ra,trong đó, các nhân vật chưa thực hiện hành vi ứng xử của mình Khi đó, giáo viênđặt học sinh vào tình huống để các em đoán cách giải quyết của nhân vật, nêu cáchriêng của mình và sau đó, cân nhắc, lựa chọn cách phù hợp nhất Cách ứng xửđược học sinh lựa chọn đúng chính là bài học đạo đức cần thực hiện
Ở mỗi tình huống, thường có tranh minh họa để nội dung của nó dễ hiểu hơnđối với học sinh
Ví dụ: Bài “Giúp đỡ người khuyết tật” (Lớp 2) yêu cầu học sinh giải quyết tìnhhuống sau:
Đi học về đến đầu làng thì Thủy và Quân gặp 1 người bị hỏng mắt Thủychào: “Chúng cháu chào chú ạ!” Người đó bảo “Chú chào các cháu Nhờ các cháuđưa giúp chú đến nhà ông Tuấn” Quân liền bảo Thủy: “Về nhà nhanh để xemphim, cậu ạ!
Sau tình huống, sách giáo khoa đưa ra câu hỏi để yêu cầu học sinh giải quyết.Câu hỏi nêu ra là: Nếu em là bạn Thủy trong tình huống trên em sẽ làm gì? Vìsao?
- Thông tin, sự kiện, tư liệu: Là những thông tin, tư liệu, sự kiện liên quan chặt chẽvới chuẩn mực hành vi được giáo dục cho học sinh Chúng được nêu ra để các emphân tích và rút ra kết luận cần thiết Từ kết luận này, học sinh có được bài họcđạo đức tương ứng
Tiếp sau là một số câu hỏi phân tích những thông tin, tư liệu, sự kiện trên
- Tranh, ảnh: Có một số bài đưa ra tranh, ảnh liên quan đến bài đạođức để học sinh phân tích và từ đó, rút ra kết luận và bài học đạo đức cần thiết.Sau những tranh, ảnh này là các câu hỏi phân tích
Trang 17b) Ghi nhớ
Phần ghi nhớ này phản ánh nội dung cơ bản nhất của chuẩn mực hành vi đạođức Nội dung ghi nhớ thường được diễn đạt một cách ngắn gọn để học sinh dễnhớ, dễ vận dụng và dễ thực hiện
c) Bài tập
- Những bài tập đạo đức này nhằm giúp học sinh phát hiện ra tri thức mới, bày tỏthái độ và vận dụng bài học để hình thành kĩ năng, hành vi tương ứng Nhờ đó, các
em sẽ đạt được mục tiêu bài học
- Ở mỗi bài đạo đức trong sách giáo khoa, thường có khoảng 4-6 bài tập Chúng cóthể gồm những dạng về tri thức, kĩ năng, hành vi và thái độ
d) Thực hành
Phần này hướng dẫn học sinh thực hiện những công việc sau giờ học, chủ yếunhằm giúp các em củng cố tri thức, thí độ và hình thành hành vi đạo đức Nhữngnội dung thực hành có thể là: thực hiện hành vi trong cuộc sống, vẽ tranh, điềutra…
2.2.2 Vở bài tập
- Vở bài tập đạo đức là một tài liệu học tập dành cho học sinh Theo xu thế chung,
ở các lớp 1, 2, 3 không có sách giáo khoa đạo đức mà thay vào là vở bài tập nhưngkhông bắt buộc sử dụng Ngoài ra, lớp 4, 5 có sách giáo khoa đạo đức nhưngngười ta cũng biên soạn vở bài tập để hỗ trợ môn này
- Theo đổi mới dạy học môn Đạo đức hiện nay, môn Đạo đức được coi là hoạtđộng giáo dục Trong trường hợp này, vở bài tập được coi là phương tiện giúp họcsinh thực hiện các hoạt động do giáo viên tổ chức Như vậy, vở bài tập giúp họcsinh phát hiện tri thức đạo đức, hình thành kĩ năng, hành vi và bày tỏ thái độ củamình liên quan đến bài đạo đức
- Tuy nhiên, giáo viên phải thật tỉnh táo khi sử dụng vở bài tập Bởi lẽ, nếu lạmdụng nó thì có thể không đạt được mục tiêu bài học đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu
về hành vi
- Mỗi bài đạo đức trong vở bài tập thường có hai phần:
Trang 18+ Các bài tập: Thường rất đa dạng với số lượng khoảng 4 đến 6 bài đạo đức.Chúng được nêu ra qua nhiều hình thức khác nhau, ví như: điền đúng sai vào ôtrống, nối nội dung với hình vẽ, xác định hành vi trong tranh là đúng hay sai…+ Ghi nhớ: Cũng được nêu ra tương tự như sách giáo khoa.
2.3 Vấn đề xây bài tập trong dạy học môn Đạo đức.
2.3.1 Bài tập về tri thức
a) Bài tập đúng (Đ)- sai (S)
Tính chất của dạng bài tập này là, trước một câu dẫn, một phát biểu nào đó, HScần xác định – câu đó là đúng hay sai hoặc đánh dấu + hay tương ứng
VD1: Bài “Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”
Em hãy ghi vào ô là Đ thể hiện việc làm đúng, ghi S nếu việc làm sai
Chỉ cần bảo vệ hoa và cây nơi công cộng khi có người yêu cầu
Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng là trách nhiệm của học sinh
Khi không có ai, chúng ta có thể hái hoa nơi công cộng
Chỉ cần bảo vệ hoa và cây ở nhà và trường học
Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng là bảo vệ môi trường
Chúng ta cần chăm sóc và giữ gìn cây xanh làm cho môi trường xanh đẹp.VD2: Bài “Giữ gìn trường lớp sạch đẹp
Hãy đánh dấu + vào ô trước các ý kiến mà em tán thành
Trường lớp sạch đẹp có lợi cho sức khỏe
Trường lớp sạch đẹp giúp em học tập tốt hơn
Giữ gìn trường lớp sạch đẹp là trách nhiệm của mỗi học sinh
Giữ gìn trường lớp sạch đẹp thể hiện lòng yêu trường, yêu lớp
Vệ sinh trường lớp chỉ là trách nhiệm của các bác lao công
Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này là:
- Nội dung phát biểu phải vừa sức với HS tiểu học
- Không nên trích nguyên văn nội dung trong sách giáo khoa ở phần ghi nhớ, bàihọc để hỏi HS
Trang 19- Tính chất đúng hay sai của phát biểu phải chắc chắn, được mọi HS hiểu nhưnhau.
- Nội dung của các ý trong một câu, hay nội dung của các câu phải độc lập vớinhau; tránh những trường hợp chúng độc lập nhau, mâu thuẫn nhau, gợi ý chonhau
Ví dụ: Hai nội dung sau là mâu thuẫn nhau, chúng gợi ý cho nhau, nên không cùnghỏi chúng:
Cần giữ gìn trường lớp sạch đẹp
Cần giữ gìn trường lớp và môi trường sạch đẹp
Chỉ cần hỏi một trong hai ý trên là đủ
- Vị trí câu đúng (hay sai) phải được sắp xếp ngẫu nhiên
b) Bài tập nhiều lựa chọn
Tính chất của dạng bài tập này là, một câu hỏi thường có 3 đến 5 câu trả lời sẵn,trong đó chỉ có một câu trả lời phù hợp, còn các câu trả lời khác được xem là câu
“gây nhiễu”
Loại bài tập này có thể kích thích HS suy nghĩ, động não nhiều hơn so với câu hỏiđúng - sai, nhưng việc biên soạn lại khó hơn, đòi hỏi người biên soạn có chuyênmôn sâu sắc
VD1: Bài “Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”
Hãy chọn câu trả lời đúng nhất
Việc làm bảo vệ hoa và cây nơi công cộng làm cho:
a) Môi trường luôn xanh sạch đẹp
b) Có nhiều loài hoa và cây trồng đẹp
c) Có nhiều bóng mát
d) Cả 3 ý trên
VD2: Bài “Lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo”
Hãy đánh dấu + vào một ô trước ý đúng nhất
Lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo để:
Thầy giáo, cô giáo yêu thương
Trang 20 Bạn bè yêu mến
Là học sinh ngoan; cô thầy yêu thương, mọi người thương mến
Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này là:
- Số phương án trả lời tối ưu cho một câu là 3-5 câu, không nên có quá ít, hayngược lại quá nhiều làm cho việc xác định câu trả lời trở nên rắc rối
- Trong một câu hỏi, phương án trả lời đúng nhất phải rõ, chắc chắn; tránh nhữngtrường hợp không thể phân biệt, xác định được câu trả lời đúng nhất
- Tránh sắp xếp phương án trả lời đúng nhất giống như nhau ở tất cả các câu hỏiđược nêu ra
c) Bài tập ghép đôi
Tính chất của dạng bài tập này là, cho hai dãy (cột) thông tin, trong đó, một dãy(cột) là những câu hỏi (hay câu dẫn), còn dãy kia là những câu trả lời (hay câu lựachọn) Yêu cầu đối với HS là, cần lựa chọn sự tương ứng từng nội dung giữa haidãy thông tin sao cho đúng, cho phù hợp, rồi nối chúng lại với nhau
Ví dụ: Bài “Giữ gìn trường lớp sạch đẹp”
Hãy nối các ý nêu tình huống (ở cột A) với cách ứng xử hoặc hậu quả (ghi ở cộtB) sao cho phù hợp
Nếu em lỡ tay làm đổ mực ra bàn Thì em sẽ lấy khăn (hoặc giấy lau sạch.Nếu tổ em dọn vệ sinh lớp học Thì môi trường lớp học sẽ bị ô nhiễm,
có hại cho sức khỏe
Nếu em và các bạn không biết giữ gìn
vệ sinh lớp học
Thì em sẽ nhắc bạn nhặt rác bỏ vào nơiqui định
Nếu em thấy bạn mình ăn quà xong vứt
rác ra sân trường
Thì tổ em sẽ quét lớp, quét mạng nhện,xóa các quét bẩn trên tường và bàn ghế
Bài “Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”
Trang 21Hãy nối việc nên làm và không nên sao cho phù hợp:
- Không cần phải bảo vệ cây xanh
- Tưới nước, tỉa cành
- Tham gia trồng cây ở đường làng, ngõ xómNhững yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
-Những thông tin nêu ra ở từng cột không nên quá dài, vì nó dễ làm cho việc nốinội dung ở hai cột bị “rối”, HS dễ bị lẫn
- Những thông tin ở mỗi cột phải đơn tính (cùng phản ánh một tính chất nào đócủa nội dung); tránh những thông tin không thuộc cùng một loại, đa tính ở từngcột
- Thứ tự các câu hỏi và thứ tự các câu trả lời nên được sắp xếp lẫn lộn; tránh thứ tựtương ứng, vì như vậy thì làm giảm tính khách quan việc lựa chọn của HS
d Bài tập điền khuyết:
* Tính chất:
- Trong câu dẫn có một vài chỗ khuyết (thường được biểu diễn bằng dãy dấuchấm) và yêu cầu đặt ra là học sinh phải điền những từ thích hợp vào những chỗkhuyết đó
- Các từ cần điền là những từ “cốt yếu”, phản ánh nội dung tri thức đạo đức màhọc sinh cần phát hiện, cần biết Chúng có thể được cho trước hoặc không
VD1: Bài “ Giữ gìn trường, lớp sạch đẹp” (lớp 2)
Trang 22VD2: Bài “biết ơn thương binh, liệt sĩ” (lớp 3)
Điền vào chỗ chấm những từ sau sao cho thích hợp: hòa bình, độc lập, thânthể, tự do
Chúng ta cần biết ơn thương binh, liệt sĩ và họ là những người hi sinh
……….của mình cho ………của dân tộc ………… Nhờ đó, các emmới được sống, học tập, vui chơi dưới bầu trời ………….như ngày hôm nay
* Yêu cầu sư phạm:
- Những từ cần điền phải là quan trọng nhất, phản ánh nội dung bài học mà họcsinh cần lĩnh hội; tránh việc yêu cầu HS tìm điền những từ không phản ánh đượcnội dung của bài học
VD: Bài “Có chí thì nên” (lớp 5)
Không nên đưa ra câu như sau để yêu cầu HS điền vào chỗ chấm:
Trong cuộc sống, ai cũng ……… gặp khó khăn, …………có niềm tin và cố gắng
- Số từ cần điền không nên quá nhiều
- Những từ các em cần điền, phải được học sinh hiểu rõ nội dung; tránh việcyêu cầu các em tìm những từ mà chúng không hiểu rõ, đặc biệt là, những từ nàykhông được GV cho trước để lựa chọn
VD: Bài “Em tìm hiểu về Liên Hợp Quốc” (lớp 5)
Điền vào chỗ chấm cho thích hợp:
Chúng ta cần tôn trọng tổ chức Liên Hợp Quốc vì đây là một tổ chức quốc tế
………., có nhiệm vụ ……… trên thế giới Việc chúng
ta tôn trọng tổ chức Liên hợp quốc là một hành động ………dân tộc
Trang 23Bài tập này không vừa sức đối với đa số HS tiểu học, vì tổ chức LHQ còn khá
xa lạ đối với HS Ở đây, nên đưa ra những từ cần điền và yêu cầu các em lựa chọn,như cách cho như sau:
Điền vào chỗ chấm những từ sau sao cho thích hợp: quốc tế, tự tôn, hòa bình, hợptác, tiến bộ
Chúng ta cần tôn trọng tổ chức Liên Hợp Quốc vì đây là một tổ chức ……… lớn nhất, có nhiệm vụ …………, …………., thúc đẩy ……….trên thế giới.Việc chúng ta tôn trọng tổ chức Liên hợp quốc là một hành động ……… dântộc
- Những từ cần điền phải phù hợp với bài đạo đức đang học; tránh các từ xa lạ,không liên quan đến chuẩn mực hành vi liên quan
e Bài tập trả lời ngắn:
* Đặc điểm:
- HS cần trả lời ngắn gọn, như việc ra một số từ, một vài câu,…
- Vận dụng cho nội dung thực hiện chuẩn mực hành vi (những việc cần làm,những hành động cần tránh,…)
VD: Bài “Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” (lớp 5)
Hãy ghi ra 3 việc cần làm để bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và 3 việccần tránh
Những việc cần làm: ………
………Những việc cần tránh: ………
………
* Yêu cầu sư phạm:
- Bài tập phải rõ ràng, HS sẽ biết phải làm gì, trả lời bằng cách viết ra một số từhay câu,…; tránh nêu lệnh chung chung, không rõ ràng
VD: Theo bài “Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”, nếu nêu ra yêu cầu “Các em phảibảo vệ tài nguyên thiên nhiên như thế nào?” là không hợp lí, vì khi đó câu hỏi nàykhông là dạng câu trả lời ngắn nữa
Trang 24- Chỉ vận dụng với những bài đạo đức mà đối tượng khá quen thuộc với họcsinh tiểu học vì chỉ trong những trường hợp đó, HS mới có những kinh nghiệmnhất để trả lời được.
VD: Bài “Em tìm hiểu về Liên Hợp Quốc” (lớp 5)
Hãy ghi ra 4 việc thể hiện sự tôn trọng tổ chức LHQ và 4 hành động cần tránh đốivới tổ chức này
Những việc cần làm: ………
……… Những việc cần tránh: ………
……… Bài tập này không vừa sức đối với đa số HS tiểu học, vì tổ chức LHQ còn khá xa
lạ đối với HS
- Cần phân biệt rõ nội dung học sinh cần trả lời – nên tách nội dung cần thựchiện thành hai nội dung – những công việc cần làm và những hành động cần tránh.VD: Nếu nêu ra bài tập sau (bài “Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”) là không hợp lí.Hãy ghi ra 6 việc, việc làm liên quan đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
………
………
2.3.2 Bài tập về thái độ
Để thăm dò và đánh giá thái độ của học sinh, giáo viên yêu cầu các em bày
tỏ thái độ đối với một số quan niệm, phát biểu liên quan đến chuẩn mực hành viđạo đức Khi đó, thái độ này có thể ở 3 mức độ:
Đồng ý (hay tán thành)
Phân vân (hay lưỡng lự)
Không đồng ý (hay không tán thành)
Tuy nhiên, khi dạy đạo đức, giáo viên muốn học sinh tỏ thái độ một cách rõràng, nên chỉ có thể nêu 2 thái độ là đồng ý và không đồng ý cũng được
Ví dụ: Bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước” (lớp 3)
Trang 25Hãy điền vào ô trống dấu + trước những ý kiến mà em đồng ý , dấu – trướcnhững ý kiến mà em không đồng ý:
Nước được dùng để ăn uống, sinh hoạt
Tắm rửa cho lợn, trâu, bò, chó ở cạnh giếng nước ăn, bể nước ăn
Để nước chảy tràn bể
Dùng nước xong khoá ngay vòi lại
Nước thảy ở nhà máy, bệnh viện cần được xử lý
Tận dụng nước sinh hoạt để sản xuất, tưới cây
* Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
- Nội dung của các quan niệm phát biểu phải sát, liên quan đến bài đạo đức,tránh đưa ra những nội dung xa với tính chất của chuẩn mực hành vi
Ví dụ: Bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước” (lớp 3) rèn thái độ quý trọngnguồn nước; có ý tức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; tán thành, học tậpnhững người biết tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; không đồng ý với những ngườilãng phí và làm ô nhiễm nguồn nước
- Câu phát biểu cần diễn đạt một cách rõ ràng, chúng phải được mọi học sinhhiểu như nhau, được hiểu một nghĩa
Ví dụ: Bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước” (lớp 3) yêu cầu học sinh:thực hành tiết kiệm nước, vệ sinh nguồn nước; tham gia vào các hoạt động, phongtrào tiết kiệm nước ở địa phương
- Nội dung câu phát biểu cần độc lập tương đối với nhau tránh đưa ra nhữngnội dung bao hàm nhau, tương tự nhau hay phủ nhận lẫn nhau
Ví dụ: Bài “Giữ lời hứa” (lớp 3) dạy cho học sinh kiến thức: Giữ lời hứavới mọi người chính là tôn trong mọi người và bản thân mình Nếu ta hứa màkhông giữ lời sẽ làm mất niềm tin của mọi người và làm lỡ việc của người khác
- Nên đưa ra cả những nội dung được phát biểu dưới dạng tích cực lẫn tiêucực; tránh trường hợp các câu được nêu ra chỉ theo một hướng đều là dạng tíchcực, hoặc ngược lại
Ví dụ: Bài ‘Biết ơn thương binh , liệt sĩ” (lớp 3)
Trang 26Hãy viết chữ Đ vào ô trống trước hành vi đúng, chữ S vào ô trống trướchành vi sai:
Ngày nghỉ cuối tuần, các bạn lớp 3A đến nhà chú Thanh-thương binhnặng giúp con chú học bài
Trêu đùa chú thương binh đang đi trên đường
Ngày 27/7/2010 các bạn lớp 3B đi viếng nghĩa trang liệt sĩ
Thăm mẹ của 1 chú liệt sĩ, giúp bà quét nhà, quét sân
Xa lánh các chú thương binh vì trông các chú xấu xí, khác lạ
Cần nêu những nội dung mà thái độ theo đáp án phải đa chiều; tránh diễnđạt tất cả nội dung mà đáp án chỉ một chiều - hoặc toàn đồng ý, hay chỉ khôngđồng ý
Ví dụ: Bài “Đoàn kết với thiếu nhi Quốc tế” (lớp 3)
Hãy đánh dấu vào cột phù hợp với thái độ của em
1 Không tò mò đi theo, trêu chọc
bạn nhỏ nước khác
2 Ủng hộ quần áo, sách vở giúp
các bạn nhỏ nghèo Cuba
3 Giới thiệu về đất nước với các
bạn nước ngoài đến thăm Việt
Ví dụ: Điền dầu vào ô trống em mà đồng ý với phát biểu đó:
Chăm sóc bảo vệ cây trồng, vật nuôi là góp phần bảo vệ môi trường
Cây trồng vật nuôi giúp cuộc sống con người sung túc hơn
Trang 27 Chỉ cần chăm sóc, bảo vệ những con vật do con người nuôi.
Chỉ cần chăm sóc, bảo vệ cây trồng, vật nuôi của nhà mình là đủ
- Trong nội dung đưa ra cần mang tính trung lập giữa mọi người với nhau,tránh đưa ra những nội dung liên quan đến các nhân vật nhất định
Ví dụ: Bài “Biết ơn thương binh, liệt sĩ” không nên đưa ra nội dung như:Lan, Hoa, Mai đến nhà chú Thanh giúp đỡ việc nhà
2.3.3 Bài tập về kỹ năng hành vi:
a Bài tập tự nhận xét, đánh giá hành vi bản thân:
Theo dạng bài tập này, học sinh được yêu cầu đánh giá về việc bản thân đãthực hiện hành vi đạo đức liên quan đến chuẩn mưc được học
Dạng bài tập này có một số phương án như sau: Theo phương án thứ nhất,học sinh cần tự xác định mức độ thực hiện hành vi của mình – thường xuyên, ítkhi, chưa bao giờ hoặc khẳng định mình đã thực hiện hành vi đó hay chưa
Ví dụ: Bài “Tích cực tham gia việc lớp, việc trường”
Hãy cho biết việc thực hiện việc lớp, việc trường của em bằng cách đánhdấu vào những cột dưới đây cho thích hợp:
Trang 28Nội dung hành vi, việc làm mà học sinh tự nhận xét phải phù hợp với cuộcsống thực của các em; tránh hiện tượng yêu cầu học sinh tự đánh giá những hành
vi mà trong cuộc sống các em không có điều kiện thực hiện
Ví dụ: Tự đánh giá hành vi của em trong việc thực hiện việc trường, việclớp
Cần có biện pháp kiểm tra để bảo đảm tính xác thực của hành vi học sinh;tránh hiện tượng thiếu sự kiểm tra nhưng lại thừa nhận chúng một cách dễ dàng(cần đề phòng hiện tượng đối phó của học sinh; nếu giáo viên khen thì điều đó sẽ
có tác dụng phản giáo dục vì đã vô tình khuyến khích trẻ nói dối)
Ví dụ: GV hỏi HS
Tổ em thường trực nhật vào ngày nào?
Em thường làm những việc gì?
Em thường lao động cùng ai?
Cần xem xét không chỉ việc thực hiện mà cả điều kiện, tình huống mà họcsinh thể hiện hành vi
Ví dụ: những trường ở thành phố không có vườn trường, các em không thểtrồng cây, làm cỏ,…
Cần yêu cầu học sinh làm rõ kết quả tích cực hay hậu quả tiêu cực của hành
vi mà mình thực hiện để rút kinh nghiệm, bài học cho bản thân, cho người khác
Ví dụ: trong bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước: (lớp 3) Nếu học sinh nói
em có 1 lần xả vòi nước rồi bỏ quên (do lúc đó bị cúp nước) tới khi phát hiện thìnước đã chảy lan ra ngoài đường lúc này giáo viên không vội chê cười mà phảidặn dò học sinh sau này cẩn thận hơn
Tránh biến việc tự nhận xét hành vi thành việc tự kiểm điểm nặng nề, gâycăng thẳng cho học sinh, có khi vô tình “tạo điều kiện” cho các em nói ra nhữngviệc mà mình chưa từng thực hiện (để đối phó, làm vừa lòng học sinh, để đượckhen,…)
Để tránh điều này, có một số cách khắc phục như lồng việc tự nhận xéthành vi vào một quá trình khác (xử lý tình huống đạo đức, nhận xét trò chơi…) chỉ
Trang 29hỏi đến một số em “đặc biệt” mà giáo viên phải quan tâm, kiểm tra cả lớp bằngphiếu bài tập.
b Bài tập nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của người khác
Một số hành vi liên quan đến bài đạo đức được đưa ra và yêu cầu học sinhnhận xét, đánh giá: hành vi đó là đúng hay sai, vì sao?
Hành vi này có thể là:
- Tích cực (tốt, thiện, có lợi) hay tiêu cực (xấu, ác, có hại)
- Lấy từ thực tiễn xung quanh hay do giáo viên tự xây dựng
- Một chiều (tức là điều tốt, hay ngược lại) hoặc gồm hai hành động tráingược (thường là của hai nhân vật) được thực hiện trong cùng một tình huống
Ví dụ: Bài: “Giữ gìn các công trình công cộng”
Hãy nhận xét về hành vi, việc làm trong các tình huống sau:
1 Đi tham quan, bắt chước các anh chị lớn, Quân và Dũng rủ nhau khắc tên lên thân cây.
Hai bạn làm như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
2 Gần đến Tết, Lan cùng các cô chú trong xóm dọn cỏ và quét sạch con đường trong xóm.
Việc làm của Lan và mọi người có lợi ích gì?
3 Trên đường đi học về, Minh và Quốc phát hiện một thanh niên đang tháo ốc
ở đường ray xe lửa Minh quyết định sẽ báo ngay cho các chú công an để ngăn chặn hành vi đó Nhưng Quốc bảo:” Có liên quan gì đến chúng ta đâu mà phải lo
Theo em, Minh và Quốc, bạn nào đúng, bạn nào sai? Vì sao?
Ở những ví dụ trên:
- Hành vi của Quân và Dũng là sai trái việc làm đó vừa ảnh hưởng đến môi trường(nhiều người khắc tên lên sẽ làm cây chết) và ảnh hưởng thẩm mỹ chung, có thểlấy từ thực tiễn xung quanh
- Hành vi của Lan và mọi người trong xóm là tích cực, làm cho con đường sạch,đẹp hơn vì đó là lối đi chung của mọi người, ai cũng có ý thức và trách nhiệm giữgìn Bài tập này có thể tự xây dựng
Trang 30- Hành vi của Quân và Dũng là trái ngược nhau Minh đúng vì Minh đã có ý thứcbảo vệ của công, ngăn chặn được các hành vi xấu, phá hoại của công kịp thời Bàitập này có thể lấy từ thực tiễn.
* Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
- Hành vi được nêu phải bám sát bài đạo đức; tránh hiện tượng bài đạo đứcmột đằng nhưng hành vi được nêu ra lại không liên quan
Ví dụ: Trong bài: “Giữ gìn các công trình công cộng” nếu giáo viên đưa ra
hành vi sau cho học sinh đánh giá, nhận xét là không phù hợp: “Trên đường đi học
về, An ăn bánh vứt rác giữa đường” Nội dung này không nên nằm ở bài này, mà
nên đưa vào bài: “Giữ gìn trật tự, vệ sinh nơi công cộng”
- Hành vi được đưa ra cần thường gặp, gần gũi với các em; tránh nhữnghành vi xa lạ, ít gặp đối với học sinh, không phù hợp với cuộc sống thường nhậtcủa các em
Ví dụ: Ở bài: “Chăm sóc cây trồng, vật nuôi” (lớp 3)
Nếu đưa tình huống: “Nhà Dũng nuôi mấy chú gà trống choai Chúng hay vào vườn cải kiếm ăn và nhổ mấy luống cải Nếu em là Dũng em sẽ làm gì? Vì sao?”.
Tình huống này không phù hợp với học sinh thành thị vì nhà các em không cóvườn cải, thậm chí các em cũng chưa từng thấy những luống cải hay một gà trốngchoai
- Tránh việc mô tả các chi tiết của nội dung hành vi mang tính chất đứnghay sai một cách quá “lộ liễu” (làm cho học sinh dễ dàng nhận biết mà không cầnđộng não nhiều)
Ví dụ: Bài: “Chăm sóc cây trồng, vật nuôi” (lớp 3)
Không nên đưa ra hành vi sao cho học sinh đánh giá:”Bạn Tuấn thường xuyên đánh đập chú chó nuôi trong nhà” vì các em dễ dàng nhận ra cái sai của hành vi.
Cách khắc phục ở đây là cần dùng những từ “gây nhiễu” để “bao che” cho cái sai(như “khi nó tha đồ” hay “khi nó sủa người lạ”…) về hành vi của bạn Tuấn nêutrên
Trang 31- Hành vi được đưa ra cần rõ ràng đúng hoặc sai; không nên yêu cầu họcsinh nhận xét những hành vi khó xác định tính chất đúng – sai của nó.
Ví dụ: Bài: “Quan tâm, giúp đỡ hàng xóm láng giềng” không nên đưa hành vi
sao cho các em đánh giá: Bác Tư hàng xóm nhờ Hiền làm giúp một việc, nghe xong Hiền lắc đầu từ chối Những chi tiết không rõ ràng ở đây: Bạn Hiền thấy việc
khó không làm được nên không giúp hay không muốn giúp Do đó trong trườnghợp này không xác định được, hành vi của Hiền là đúng hay sai Ở đây có thể sửa
lại: Bác Tư nhờ Hiền làm giúp một việc nhưng vì muốn đi chơi nên Hiền lắc đầu
từ chối.
c Bài tập về xử lí tình huống đạo đức:
Một tình huống liên quan đến chuẩn mực hành vi được nêu ra để học sinhnêu cách xử lí, giải quyết và lí giải cách ứng xử của mình
Nhân vật phải gặp một trường hợp, hoàn cảnh khác thường cần phải ứng
xử, giải quyết nhưng nhân vật còn băn khoăn, do dự vì chưa biết nên làm như thếnào…Khi đó, giáo viên đặt học sinh vào tình huống (“Nếu em là bạn đó, em sẽlàm gì khi đó?”, “Nếu em có mặt ở đó thì em sẽ khuyên bạn như thế nào?”, hay
“Theo em, bạn phải làm gì khi đó cho đúng?”…) và ra quyết định thay cho nhânvật
Tình huống đưa ra có thể là “đóng” hoặc “mở” Ở tình huống “đóng”, giáoviên cho sẵn một số cách ứng xử và yêu cầu học sinh chọn cách ứng xử đúng hoặcđúng nhất
Ví dụ: Bài:”Tiết kiệm tiền của”
Hãy xử lí các tình huống đạo đức sau bằng cách đánh dấu +vào ô tương ứng vớicác cách ứng xử em chọn:
- Bằng rủ Tuấn xé sách vở lấy giấy gấp đồ chơi Tuấn sẽ xử sự như thế nào?
Tuấn không làm và để mình Bằng làm
Tuấn đồng ý với ý kiến của Bằng
Không xé sách và khuyên Bằng chơi trò khác
Chỉ xé những sách vở cũ
Trang 32- Em của Tâm đòi mẹ mua cho đồ chơi mới khi chưa chơi hết những đồ chơi đã
có Theo em, Tâm nên nói gì với em?
Chỉ mua lần này nữa thôi, mai mốt chơi khi nào hết mới mua nữa
Đồng ý cho em mua
Tâm dỗ cho em chơi các trò chơi đã có như thế mới đúng là bé ngoan
Không mua gì hết, em không chơi những đồ chơi đã có thì thôi
Ở tình huống “mở”, giáo viên không cho sẵn các cách ứng xử, nên học sinhphải tự nghĩ ra, tự đề xuất cách ứng xử của mình
Ví dụ: Cũng bài: “Tiết kiệm tiền của”
Hãy xử lí tình huống sau: Cường thấy Hùng dùng vở mới trong khi vở cũ còn nhiều trang giấy trắng Theo em, bạn Cường sẽ nói gì với Hùng?
- Nếu bạn của Hương muốn mua một quyển sách mới và định cho Hương quyển sách đó vì bạn ấy thấy quyển sách đó không còn mới Em sẽ nói gì với bạn? Vì
sao?
Nói chung, ở các tình huống đạo đức, học sinh phải nêu cách giải quyết.Trong một số trường hợp, nhân vật hành động rồi yêu cầu học sinh trả lời – nếu lànhân vật đó, em có làm như vậy không? vì sao?
- Sang năm học mới, Hoa vẫn dùng hộp bút cũ đã mua từ năm rồi vì hộp bút vẫn còn sử dụng được Nếu em là Hoa, em có làm vậy không? Vì sao?
- Ngọc thì để tập sách, đồ dùng ngăn nắp còn em của Ngọc thì vứt sách vở, đồ dùng bừa bãi Nếu em là một trong hai người thì em sẽ làm theo người nào?
* Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
- Tình huống đạo đức nêu ra phải thường gặp đối với học sinh; tránh nhữngtình huống xa lạ với cuộc sống thực hằng ngày của các em
Ví dụ: Bài “Chia sẻ vui buồn cùng bạn” mặc dù học sinh chưa trải qua tình
huống này nhưng giáo viên đưa ra tình huống: Mẹ em bị ốm phải nằm viện Các bạn vào viện thăm mẹ và động viên em Em có cảm giác như thế nào?
Trong trường hợp này, giáo viên nên nêu những tình huống liên quan mà học sinh
có thể gặp, thường xảy ra ở địa phương
Trang 33- Tình huống nêu ra phải vừa sức giải quyết của các em; tránh những tìnhhuống quá đơn giản mà học sinh không cần động não cũng có thể trả lời được.Hay tình huống quá phức tạp mà học sinh không đủ kinh nghiệm, khả năng để giảiquyết.
Ví dụ 1: Bài: “Tôn trọng đám tang”, giáo viên đưa ra tình huống cho hoc sinh
xử lí:
Nhà bạn An có đám tang, bạn ấy vào lớp rất buồn và khóc trước mặt em Em cần
làm gì khi đó? Vì sao?
Ở đây, tình huống quá đơn giản nên các em có thể trả lời ngay được là, em sẽ đến
an ủi bạn bớt đau buồn Chúng ta có thể tin rằng, ít có học sinh nào lại đưa ra cáchúng xử khác (ví dụ: bỏ mặc An khóc một mình)
Ví dụ 2: Bài “Biết ơn thương binh, liệt sĩ” nếu đưa ra nội dung sau để học sinh
xử lí thì có thể thì quá sức:
Ngày cuối tuần, Long đến thăm chú Hà, thương binh nặng Long thấy chú đang vất vả để khiêng mấy bao cát vào nhà Nếu em là Long, em sẽ làm gì để giúp đỡ chú Hà?
Vấn đề lưu ý ở đây, Long còn nhỏ, không đủ sức khỏe để có thể giúp chú Hà.Chúng ta không thể khuyên Long làm một việc quá sức
- Đáp án về cách xử lí tình huống được nêu ra phù hợp với cuộc sống thực
tế mà không nên một cách máy móc “theo bài học đạo đức”
Ví dụ: Khi học bài “Yêu lao động” học sinh phải giải quyết tình huống sau:
Hà vừa đi học về vội chạy xuống bếp khoe điểm 10 với mẹ Vừa xuống bếp, Hà đã thấy ấm nước điện đang sôi và mẹ thi không có ở đó Hà biết cần phải tắt điện của
ấm nước.
Theo em, bạn Hà nên làm gì khi đó? Vì sao?
Nếu vận dụng một cách máy móc thì đáp án sẽ là “Hà cần giúp mẹ rút chui điệncủa ấm nước” Tuy nhiên, ta phải tính đến thực tế, trẻ em mà làm việc này thì rấtnguy hiểm, nên đáp án trên là không hợp lí Đáp án đúng ở đây là: bạn Hà cầnchạy tìm người lớn đến giúp đỡ
Trang 34d Bài tập về thực hiện các thao tác, hành động theo mẫu hành vi đạo đức
Đối với một số mẫu hành vi, giáo viên tập cho học sinh thực hiện nhữngthao tác, hành động cụ thể tương ứng với mẫu đó Những mẫu này thường đượcphân tích thành các thao tác, hành động cụ thể liên quan đến các bộ phận cơ thể
Ví dụ: Bài “Nghiêm trang khi chào cờ” (lớp 1)
Những thao tác của hành vi nghiêm trang chào cờ mà học sinh cần thực hiện là:
- Bỏ mũ, nón (nếu có)
- Đứng thẳng, nghiêm
- Mắt nhìn thẳng quốc kì
- Nét mặt tươi, trang nghiêm
- Hát đúng, to, rõ bài quốc ca
* Những yêu cầu sư phạm:
- Học sinh cần biết mẫu hành vi đạo đức rồi mới thực hiện thao tác, hành độngtheo mẫu Trong trường hợp ngược lại, học sinh sẽ thực hiện mò mẫm, theo kinhnghiệm của mình, cho nên rất dễ sai sót
- Các thao tác, hành động không nên đưa ra theo mẫu một cách máy móc màcần phải thích hợp với những hành vi, tình huống thường gặp trong cuộc sống củacác em
- Cần yêu cầu học sinh thực hiện các thao tác, hành động trong tình huống xácđịnh
- Mẫu hành vi do chuẩn mực hành vi quy định cần phân tích thành các thao tác
cụ thể
* Bài tập thực hiện trò chơi
Trong dạy học môn Đạo đức, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiệnnhiều trò chơi khác nhau như trò chơi đố vui, trò chơi vận động, trò chơi sắmvai…
Ví dụ: Khi dạy bài “ Giữ gìn trường lớp sạch đẹp” (lớp 2) có thể đưa ra tròchơi sau:
- Tên trò chơi: Lô tô nhận biết hành vi đúng
Trang 35- Nội dung: Những hành vi đúng và sai để giữ gìn trường lớp sạch đẹp Hành vi:Lau bàn ghế, vẽ bậy lên tường, vẽ lên bàn, vứt rác xuống sàn lớp (sân trường),quét lớp, trồng cây trồng hoa trong sân trường, dọn vệ sinh phòng học…
- Cách chơi: Mỗi lần chơi có 2 đội tham gia, mỗi đội có 3 – 4 em Mỗi đội chơiđược phát một bộ hình (4 hình mặt cười, 4 hình mặt mếu) Khi giáo viên hô “Bắtđầu” thì lần lượt từng thành viên của mỗi đội sẽ dán hình mặt cười vào hình vẽ thểhiện hành vi đúng và dán mặt mếu vào hình vẽ thể hiện hành vi sai vào phần tranhcủa đội mình
- Cách phân thắng bại:
+ Đội nào dán xong sớm nhất được 10 điểm
+ Dán đúng mỗi hình được 10 điểm
Đội nào có tổng số điểm cao hơn là đội chiến thắng
* Những yêu cầu sư phạm:
- Nội dung phải phù hợp với đạo đức
- Nội dung phải vừa sức đối với học sinh
- Nội dung cần phù hợp với cuộc sống thực tế của học sinh, giúp các em dễ vậndụng vào thực tiễn
- Trò chơi phải có tính khả thi
* Bài tập về điều tra
Dạng bài tập này đòi hỏi học sinh tìm hiểu thực trạng một số vấn đề có liênquan đến bài đạo đức, phân tích nguyên nhân, đề ra biện pháp giải quyết Đây làloại bài quan trọng vì nó gúp học sinh gắn bài đạo đức với cuộc sống xung quanh
Ví dụ: Bài “Giữ gìn các công trình công cộng” (lớp 4)
Giáo viên tổ chức cho học sinh điều tra một số nơi công cộng mà các em thườngqua lại (trường học, khu vực xung quanh trường, đường làng, công viên, ) Khiđiều tra, các em có thể xác định tình trạng, chỉ ra nguyên nhân, biện pháp giảiquyết và từ đó định hướng cho các em thực hiện những việc phù hợp để giữ gìn 1vài công trình công cộng
Kết quả điều tra có thể ghi lại theo mẫu sau
Trang 36STT Nơi công cộng Tình trạng hiện nay Nguyên nhân Biện pháp bảo vệ1
* Những yêu cầu sư phạm
- Công việc điều tra phải có tính giáo dục rõ ràng
- Nội dung điều tra cần vừa sức đối với học sinh
- Nội dung điều tra có thể đánh giá được và cần được đánh giá khách quan
- Nội dung điều tra phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương
g Bài tập về rèn luyện hành vi:
Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia thực hiện các hành vi, hoạt động theoyêu cầu của bài học đạo đức Học sinh không thực hiện nó trên sách vở bằng bút,lời nói mà qua thực tiễn ở gia đình, nhà trường, cộng đồng ngoài xã hội bằng dụng
cụ lao động, việc làm cụ thể với sức lực của chính mình Từ đó kết quả của bài tậpnày không phải là những dòng chữ mà là những hành vi đạo đức và thói quentương ứng Đây là loại bài tập có khả năng tốt nhất, quan trong nhất trong việchình thành hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học
Ví dụ: Bài “Chăm sóc cây trồng, vật nuôi” (lớp 3)
Khi dạy bài này giáo viên cho học sinh về nhà quan sát và thực hành chăm sóccây trồng vật nuôi Nhờ đó, học sinh hình thành được hành vi đạo đức tương ứng.Sau khi đã quan sát và thực hành, giáo viên yêu cầu học sinh ghi chép lại nhữngviệc đã làm với những nội dung sau:
- Những việc đã làm
- Thời gian thực hiện
- Đối tượng thực hiện
- Người thực hiện
Trang 37Thứ, ngày Nhà em có vật nuôi (cây
trồng)
Những việc em/gia đình đã làm đểchăm sóc vật nuôi (cây trồng) đó
Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
- Công việc, hoạt động được tổ chức phải vừa sức với học sinh
Ví dụ: Học bài: “Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo” (lớp 4) , có thể tổchức cho học sinh quyên góp tập sách, quần áo cũ gây quỹ giúp đỡ những bạn cóhoàn cảnh khó khăn Nhưng không thể yêu cầu học sinh làm những việc chưa phùhợp với sức các em như đi hiến máu nhân đạo, quyên góp tiền xây dựng các côngtrình công cộng…
- Công việc rèn luyện phải phù hợp với thực tế địa phương
- Hoạt động phải mang tính khả thi cao
Ví dụ: Bài “Tôn trọng khách nước ngoài”, giáo viên phải căn cứ thực tế đạiphương thường có khách du lịch người nước ngoài đến hay không Nếu đó làvùng sâu, hiếm khi có người nước ngoài xuất hiện thì việc bảo các em thực hànhchào hỏi, tỏ ra thân thiện với họ là không phù hợp và không có tính khả thi cao
- Kết quả rèn luyện của học sinh cần được đánh giá
Trang 38Việc đánh giá này có tác dụng khẳng định nỗ lực của học sinh, giúp các em rútkinh nghiệm cần thiết, mang lại niềm vui khi thực hiện được hành vi đạo đức tốt…
Bỏ qua khâu này dễ tạo cho học sinh lối suy nghĩ xấu “ làm tốt công việc haykhông thì đều như nhau”
Trên đây là những dạng bài tập cơ bản khi dạy học môn Đạo đức Trong thực
tế, giáo viên có thể đưa một số dạng khác, như nêu câu hỏi mở (với những câu hỏi
“tại sao?”, “như thế nào?”…) đọc và phân tích truyện kể đạo đức, sưu tầm ca dao,tục ngữ, đặt tên cho tranh, ảnh…
3 Phương pháp và phương tiện dạy học môn Đạo đức
3.1 Phương pháp dạy học môn Đạo đức
- Xác định tư tưởng chủ đạo, yêu cầu giáo dục, các tình tiết cơ bản, các tình huốngđạo đức, đặc điểm nhân vật của truyện
- Tập dượt kể sao cho lưu loát, tự tin, không phụ thuộc vào nguồn tài liệu
- Chuẩn bị phương tiện trực quan minh họa cho truyện kể…
* Bước 2: Phân tích truyện kể
Trang 39Để giúp các em nắm vững biểu tượng về chuẩn mực hành vi đạo đức và rút ra kếtluận thích hợp, giáo viên nêu ra một số câu hỏi liên quan đến nội dung câu chuyện.Trong thực tế dạy môn Đạo đức, bước này của phương pháp thường được thựchiện bằng phương pháp đàm thoại hay thảo luận nhóm.
3.1.1.3 Những yêu cầu sư phạm
- Giáo viên cần nắm vững truyện kể với tư tưởng chủ đạo, yêu cầu giáo dục, cáctinh tiết cơ bản, các tình huống đạo đức, đặc điểm nhân vật; tránh tình trạng nắmđến đâu hay đến đó
- Cần dùng ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, giàu hình ảnh, tránh kể chuyện một cáchkhô khan
- Khi kể chuyện, cần tạo lại được những tình huống đạo đức, tái tạo đầy đủ nhữngtình tiết cơ bản, đặt học sinh vào những tình huống đó và kích thích chúng tích cựctheo dõi, suy nghĩ, tránh kể lan man, dàn đều
- Kết hợp kể chuyện với phương tiện trực quan thích hợp
- Giáo viên cần nhập vai, hòa nhập thực sự tâm hồn của mình vào truyện kể đểviệc kể chuyện được tự nhiên, hấp dẫn
Ví dụ: Khi dạy bài: “Quan tâm, giúp đỡ hàng xóm láng giềng” (lớp 3) có thể vận dụng phương pháp kể chuyện kể cho học sinh nghe truyện “Chị Thủy của em”
Truyện kể về bạn Thủy đã quan tâm bé Viên khi mẹ bé Viên vắng nhà.Việc làm của Thủy là một biểu tượng cụ thể về quan tâm giúp đỡ hàng xóm lánggiềng để học sinh noi theo