LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ: Một trong những phương tiện dạy học hiện nay được giáo viên và học sinh sử dụng rộng rãi trong chương trình địa lí 12 chính là bản đồ, Atlat Địa lí Việt Nam.. Bản t
Trang 1SỞ GD & ĐT LẠNG SƠN
TRƯỜNG THPT CHI LĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH TỰ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
CHUYÊN ĐỀ 4/THÁNG 4, NĂM 2020
Họ tên: Hoàng Thị Nga
Gv môn: Địa lí
Tổ: Sử - Địa - GDCD
- CÁC TỪ VIẾT TẮT: phương tiện - đồ dùng dạy học (PT- ĐDDH), giáo viên
(GV), học sinh (HS), phương pháp dạy học (PPDH), trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT)…
Trang 2I TÊN CHUYÊN ĐỀ:
“SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN – ĐỒ DÙNG DẠY HỌC NHẰM TẠO
HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12”
II LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
Một trong những phương tiện dạy học hiện nay được giáo viên và học sinh sử dụng rộng rãi trong chương trình địa lí 12 chính là bản đồ, Atlat Địa lí Việt Nam Bản thân tôi trực tiếp giảng dạy và ôn thi Địa lí lớp 12 trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy việc kết hợp
sử dụng Atlat và sách giáo khoa địa lí 12 đã mang lại những ưu điểm như sau:
- Về mặt khoa học:
+ Đảm bảo tính hoàn chỉnh: có đủ nội dung cơ bản và quan trọng theo các chủ đề học tập về Địa lí Việt Nam, diễn giải các vấn đề địa lí đi từ cái chung đến cái riêng, từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội, từ tổng thể đến các bộ phận
+ Tính thống nhất:
Dựa trên cơ sở toán học của bản đồ là sự lựa chọn hợp lí các phép chiếu hình bản đồ Phương pháp biểu hiện và kí hiệu bản đồ đảm bảo tính đồng nhất của các phương pháp biểu hiện và các chỉ số thu nạp, sự tương đồng của các kí hiệu trên bản đồ
Cấu trúc chương trình và SGK địa lí 12 gồm 4 phần, được xây dưng chặt chẽ, trình tự các bài học được sắp xếp theo hệ thống khoa học, logic, phù hợp cấu trúc trình tự trong Atlat, bản đồ treo tường tạo thuận cho quá trình dạy và học của GV, HS tra cứu và khai thác kiến thức Cụ thể SGK địa lí có trình tự: địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, địa lí các ngành kinh tế, địa lí các vùng thì những tờ bản đồ treo tường và Atlat cũng được sắp xếp tương ứng
Nội dung của chương trình và SGK địa lí 12 phù hợp với Atlat địa lí Việt Nam và được thể hiện đầy đủ chi tiết qua các kênh hình, tạo điều kiện thuận lợi cho HS rèn luyện các kĩ năng địa lí; thể hiện cả phần lí thuyết lẫn thực hành, hệ thống câu hỏi giữa và cuối bài cũng đều có liên quan đến Atlat
- Về hiệu quả đạt được khi sử dụng bản đồ, Atlat trong học tập:
+ Giúp cho người học biết đọc bản đồ và tra cứu các thông tin cần thiết theo mục đích
sử dụng của mình
Trang 3+ Giúp cho người học không phải ghi nhớ rất nhiều số liệu và các địa danh…
+ Việc kết hợp sử dụng Atlat và sách giáo khoa trong hoc địa lí 12 sẽ rất hiệu quả, đặc biệt đạt kết quả tốt trong các bài kiểm tra định kì nhất là các kì thi quan trọng
Có thể nói rằng, Atlat vừa là nguồn cung cấp kiến thức, thông tin tổng hợp; là phương tiện để học tập, rèn luyện các kĩ năng cũng như hỗ trợ rất lớn trong các kì thi môn Địa Lí Trong nhiều năm trở lại đây bộ môn Địa lí là môn thi THPT Quốc gia, đề thi luôn có phần câu hỏi “Sử dụng Atlat” Thông qua kết quả thi của học sinh các kì thì Tốt nghiệp -thi THPT Quốc gia các năm trước đây đa số học sinh đạt điểm từ 5 trở lên đều là các em
không mất điểm phần câu hỏi sử dụng Atlat.
Sự cần thiết cần phải làm chuyên đề này:
Trong quá trình tiếp thu tri thức phương pháp là vô cùng quan trọng, khoa học đã chứng minh khi chúng ta sử dụng nhiều hơn các giác quan, đặc biệt là thị giác hay trực tiếp thực hành khả năng tiếp thu sẽ cao hơn so với việc chúng ta chỉ dùng thính giác Do đó hiện nay hầu như tất cả các môn học đều sử dụng rất nhiều PT-ĐDDH, các phương tiện trực quan sinh động nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
Địa lí là một trong những môn học sử dụng nhiều PT-ĐDDH như bản đồ, tranh ảnh,
sơ đồ, bảng biểu thống kê, phim ảnh…mặc dù vậy trong quá trình dạy và học môn Địa lí nhiều giáo viên (GV) và học sinh (HS) vẫn có quan niệm quan niệm đó là môn học thuộc lòng, chỉ cần học thuộc bài là đạt điểm cao, không cần tư duy, suy nghĩ như các môn học khác Việc dạy và học của thầy và trò do đó thường là giảng và chép như một môn học thuộc, mà chưa thường xuyên sử dụng các đồ phương tiện dạy học nhằm tạo hứng thú cho
HS khi học Do đó, chưa kích thích được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động của HS, chưa giúp cho HS nắm bắt được bản chất các hiện tượng địa lí, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn yếu
Đây là một vấn đề cấp thiết, nhằm đổi mới tư duy, phương pháp dạy học, phương pháp tiếp cận với tri thức Đối với bản thân, tôi rất mong muốn được áp dụng những cái mới, những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Do đó tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp trên vào giảng dạy, sau một thời gian kết quả thu được là tích cực Do đó tôi mạnh dạn trình bày những nội dung chính của sáng kiến để các thầy cô đồng nghiệp tham khảo, cũng như góp ý bổ xung để sáng kiến hoàn thiện hơn
III NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
Trang 41 Một số khái niệm liên quan
1.1 Khái quát về PT-ĐDDH
PT-ĐDDH chính là kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí, bao gồm: bản đồ treo tường, Atlat địa lí, mô hình, lược đồ, các tranh ảnh, bảng biểu, số liệu thống kê trong sách giáo khoa và trong Atlat …
PT-ĐDDH đã có từ lâu gắn liền với hệ thống các phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống theo quan điểm lấy GV làm trung tâm Chức năng minh hoạ của PT-ĐDDH được coi trọng và khai thác có hiệu quả trong dạy học Nhờ có các phương tiện này mà các biểu tượng được hình thành rõ nét hơn, nhiều sự vật hiện tượng địa lí trở nên gần gũi hơn với HS
Các phương tiện này chứa trong mình dưới dạng vật chất cả hình ảnh bên ngoài lẫn dấu hiệu, thuộc tính bên trong của các đối tượng, mà nhờ sự phân tích tìm tòi của HS, các đặc điểm đó được biểu hiện ra bên ngoài PT-ĐDDH là nguồn tri thức, đòi hỏi sự khám phá, tìm tòi của HS
Phương tiện dạy học là “hình ảnh kép” của PPDH Mỗi PPDH đặc trưng là hệ thống các hoạt động của GV và HS nhằm đạt được mục đích, do đó đòi hỏi phải có PT-ĐDDH phù hợp PPDH được thực hiện bằng các hoạt động với các phương tiện cụ thể Ngoại trừ lời nói thì chữ viết, các phương tiện như bản đồ, Atlat, biểu đồ, sơ đồ…luôn có mặt gắn liền với các PT-ĐDDH
Nội dung dạy học được chứa trong PT-ĐDDH là nguồn tri thức Mặt khác như đã nói, PPDH và phương tiện dạy học thống nhất với nhau Từ đó có thể đi đến kết luận là PPDH chính là sự tích hợp của nội dung dạy học và PT-ĐDDH Quan niệm như vậy là đề cao chức năng nguồn tri thức của PT-ĐDDH bên cạnh chức năng truyền thống là trực quan
1.2 Chức năng của PT-ĐDDH
* Chức năng minh hoạ
- Các PT-ĐDDH có tính trực quan cao, dùng để minh hoạ cho các sự vật hiện tượng địa lí
- Các PT-ĐDDH là hình ảnh rõ nét của các đối tượng địa lí; nhờ vào PT-ĐDDH mà
HS có các biểu tượng rõ ràng và đúng đắn về các đối tượng địa lí
- Đối tượng địa lí trải rộng trong một không gian rộng lớn Nhờ vào PT-ĐDDH, HS mới có thể tăng hiểu biết về các đối tượng địa lí
Trang 5+ Ví dụ: Bản đồ “hình thể Việt Nam” (trang 6,7– Atlat địa lí Việt Nam)
Bản đồ này thể hiện từ khái quát đến chi tiết các nội dung chủ yếu liên quan đến địa hình Để đọc được đặc điểm địa hình đồng bằng hay địa hình đồi núi bằng phương pháp nền màu trên bản đồ
+ Ví dụ: Bản đồ “địa chất và khoáng sản Việt Nam” (trang 8– Atlat địa lí Việt Nam) Bản đồ này thể hiện các mỏ khoáng sản chính của nước ta; Thể hiện địa chất, địa tầng nước ta Để đọc được các mỏ khoáng sản chỉ cần đọc thông qua các kí hiệu hình học của từng loại
* Chức năng là nguồn tri thức
- PT-ĐDDH không chỉ là hình ảnh bên ngoài của sự vật, hiện tượng địa lí mà còn chứa đựng nội dung bên trong của đối tượng địa lí
- PT-ĐDDH chứa đựng các khái niệm, mối liên hệ nhân quả, quy luật địa lí…Lấy bản
đồ Việt Nam làm ví dụ Trên bản đồ có các khái niệm chung (sông, núi, hồ, biển…), khái niệm riêng (sông Hồng, dãy Hoàng Liên Sơn,…), các mối liên hệ nhân quả (gió phơn Tây Nam khô nóng là kết quả của gió tây nam từ vịnh Bengan sau khi vượt qua dãy Trường Sơn Bắc; nơi mưa nhiều nơi mưa ít trên lãnh thổ là kết quả của mối liên hệ giữa hướng gió
và địa hình…)
PT-ĐDDH chứa đựng tri thức Địa lí, do đó trong dạy học chúng được dùng làm công
cụ cho HS khám phá, tìm tòi tri thức
1.3 Sự phát triển của PT-ĐDDH
Sự phát triển của PT-ĐDDH liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là PPDH và sự tiến bộ khoa học kĩ thuật
Trong PPDH truyền thống với ưu thế cung cấp cho HS những tri thức có sẵn, các PT-ĐDDH đóng vai trò quan trọng trong việc minh hoạ, hoặc cụ thể hoá các kiến thức địa lí trừu tượng đối với HS
Khi đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS – mà hoạt động độc lập của HS với các nguồn tri thức được xem như một dấu hiệu quan trọng – thì các PT-ĐDDH càng có vị trí hết sức to lớn, tạo điều kiện cho dạy học đề cao chủ thể nhận thức của HS Yêu cầu về đủ PT-ĐDDH và đa dạng các thể loại trở nên có tính bắt buộc Nếu như trước đây HS có thể nghe thầy “dạy chay” được nếu không có PT-ĐDDH thì hiện nay với PPDH mới, HS không thể “làm chay” được Không có PT-ĐDDH, HS đành phải
Trang 6lắng nghe một cách thụ động lời giảng của thầy, như vậy vô hình chung sẽ quay lại kiểu dạy học “lấy thầy làm trung tâm”
Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật hiện đại đã tạo nên các PT-ĐDDH hiện đại về nghe nhìn, công nghệ thông tin
Hiện nay danh mục PT-ĐDDH rất phong phú và đa dạng, bao gồm:
- Tranh ảnh, bảng, biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ
- Phiếu học tập, lát cắt địa hình
- Bản đồ giáo khoa
- Mô hình, khối đồ, mẫu vật
- Dụng cụ thí nghiệm đơn giản
- Video
- Bản trong dùng cho may chiếu
- Phần mềm dạy học
- Điện thoại thông minh
- Máy vi tính: Máy vi tính được sử dụng trong dạy học có thể giải quyết được các vấn
đề cơ bản của quá trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, hướng dẫn hoạt động, rèn luyện kĩ năng…
- Mạng Internet: Là kênh thông tin khổng lồ và hết sức đa dạng giúp giáo viên và học sinh tra cứu thông tin bổ sung thêm vào nguồn tri thức của mình
3.2 Nội dung chuyên đề:
Khi chưa được áp dụng chuyên đề trong dạy học Tôi đã thực hiện khảo sát ở một tiết học, cụ thể là
Bài 6: Đất nước nhiều đồi núi – mục 2 a Các khu vực địa hình:
Hình thức chia nhóm
- Bước 1: GV chia lớp ra thành 4 nhóm và phát phiếu học tập:
Nhóm 1: Vùng Đông Bắc
Nhóm 2: Vùng Tây Bắc
Nhóm 3: Vùng Trường Sơn Bắc
Nhóm 4: Vùng Trường Sơn Nam
+ Yêu cầu các nhóm: đọc sgk, điền các nội dung phù hợp vào phiếu học tập, thời gian hoàn thành 10 phút
Trang 7- Bước 2: HS thảo luận nhóm Sau đó đại diện các nhóm trình bày kết quả Gv chuẩn kiến thức “phản hồi phiếu học tập”
* Phiếu học tập
Đặc
Đông Bắc
Vùng Tây Bắc
Vùng Trường Sơn Bắc
Vùng Trường Sơn Nam
Giới hạn
Hướng
địa hình
Đặc
điểm địa hình
(hướng
nghiêng,
hướng núi,
các dãy núi,
độ cao TB…)
* Thông tin phản hồi phiếu học tập
Đặ
Đông Bắc
Vùng Tây Bắc
Vùng Trường Sơn Bắc
Vùng Trường Sơn Nam
Gi
ới hạn
Nằm ở tả ngạn sông
Hồng
Nằm giữa sông Hồng và sông Cả
Từ phía Nam sông Cả đến dãy Bạch Mã
Nam dãy Bạch Mã xuống phía Nam
Hư
ớng địa
hình
cung Đặ
c điểm
địa hình
(hướng
nghiêng
, hướng
- Hướng nhiêng: thấp
dần từ TB-ĐN
- Chủ yếu núi thấp
- Với 4
- Hướng nhiêng: thấp dần
từ TB-ĐN
- Cao nhất nước ta
- Với 3 dải
- Các dãy núi song song và so le
- Thấp và hẹp ngang, cao ở
2 đầu, thấp ở giữa
- Gồm các khối núi và các cao nguyên
- Địa hình với những đỉnh núi cao hơn
Trang 8núi, các
dãy núi,
độ cao
TB…)
cánh cung lớn
chụm lại ở Tam
Đảo, mở ra về
phía bắc và
phía đông
- Những đỉnh cao trên
2000m nằm
trên thượng
nguồn sông
Chảy, giáp biên
giới Việt –
Trung là các
khối núi đá vôi
đồ sộ còn ở
trung tâm là
vùng đồi núi
thấp
- Theo hướng núi là
hướng sông:
sông Cầu, S
Thương, S Lục
Nam…
địa hình: Phía Đông là dãy núi cao đồ sộ Hoàng Liên Sơn có đỉnh phanxipăng (3143m)
- Phía Tây là địa hình núi trung bình của các dãy núi chạy dọc biên giới Việt – Lào
- Ở giữa thấp hơn là các dãy núi, các sơn nguyên, cao nguyên đá vôi từ Phong Thổ đến Mộc Châu tiếp nối những đồi núi
đá vôi ở Ninh Bình, Thanh Hóa
- Xen giữa các dãy núi là các thung lũng cùng hướng: sông Đà, sông Mã, sông Chu
- Phía Bắc là vùng núi Tây Nghệ An
- Phía Nam
là vùng núi Tây
TT – Huế
- Ở giữa thấp trũng là vùng đá vôi Quảng Bình
và vùng đồi núi thấp Quảng Trị
2000m nghiêng dần về phía Đông, sườn dốc dựng chênh vênh bên dải đồng bằng hẹp ven biển, phía Tây
là các cao nguyên badan bằng phẳng, bán bình nguyên tạo nên sự bất đối xứng giữa 2 sườn Đông – Tây
Sau khi hoạt động nhóm các nhóm HS hoàn thành nội dung theo yêu cầu của GV Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát trong quá trình HS hoạt động GV thấy nhiều em chưa
Trang 9hứng thú, chưa tích cực và chủ động, chưa có sự hợp tác với bạn trong nhóm, nội dung thảo luận rồi tổng hợp kiến thức chưa sát yêu cầu…
- Kết quả khảo sát cụ thể như sau:
a Về mức độ tích cực của học sinh (38 HS)
Tiêu chí đánh giá Số lượt (học sinh) Tỉ lệ so với cả lớp
(%)
Không chú ý hoặc làm
việc riêng
b Về chất lượng sau khi làm bài khảo sát
Đạt loại Số lượng (bài) Tỉ lệ so với cả lớp
(%)
c Nguyên nhân
* Nguyên nhân từ HS
- Ý thức học tập của học sinh chưa cao
- Trình độ nhận thức còn hạn chế
- Khả năng ghi nhớ kém
- Có tính ỷ lại, không chịu tìm tòi, không chủ động nắm bắt kiến thức
- Không tập trung vào bài học
- Khả năng tổng hợp kiến thức kém, tiếp thu bài chậm
* Nguyên nhân từ GV
- Giáo viên mới chỉ quan tâm đến kiến thức nội dung chính của bài và những kiến thức nào cần học thuộc
- Bài giảng còn chưa thật hấp dẫn, chưa thu hút học sinh
- Các phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa thật sự phát huy được vai trò của đồ dùng dạy học (mà ở đây là bản đồ; tranh ảnh)
- Bài giảng cứng nhắc, nặng về nội dung văn bản, thiếu tính sáng tạo
Trang 10Thực trạng trên đòi hỏi tôi phải có những biện pháp thay đổi phương pháp dạy, tích cực hơn nữa trong việc sử dụng đồ dùng dạy học nhằm tạo hứng thú cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy
4 Quá trình vận dụng
Kết quả như trên là do rất nhiều nguyên nhân Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, tôi sẽ tập trung giải quyết theo hướng tích cực sử dụng PT-ĐDDH
4.1 Mộ số nguyên tắc khi sử dụng phương tiện – đồ dùng day học
Việc sử dụng PT-ĐDDH dạy học có một số nguyên tắc sau:
- Sử dụng PT-ĐDDH phải đáp ứng được mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc giảng dạy
- Phải luôn đề cao vai trò hoạt động chủ động, tích cực của học sinh Giáo viên luôn tạo điều kiện tối đa cho học sinh tự mình làm việc với các phương tiện – đồ dùng dạy học
để khám phá, tìm tòi các tri thức cần thiết, đảm bảo toàn bộ học sinh trong lớp được tiếp xúc với các PT-ĐDDH
- Sử dụng PT-ĐDDH đúng lúc
- Sử dụng PT-ĐDDH đúng chỗ Chọn vị trí đặt để học sinh nào cũng có thể quan sát được và nếu cần học sinh nào cũng có thể tiếp cận
- Sử dụng PT-ĐDDH đủ cường độ
- Phối hợp nhiều loại PT-ĐDDH khác nhau, không nên quá lạm dụng một phương nào đó sẽ gây nhàm chán
4.2 Một số bài học đã được tích cực sử dụng các PT-ĐDDH
Hiện nay đối với môn học Địa lí có rất nhiều các PT-ĐDDH Tuy nhiên trong phạm vi sáng kiến tôi tập trung đi sâu vào sử dụng một số PT-ĐDDH được sử dụng trong một số bài học như sau:
Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
* Khi dạy mục 1.a (Tính chất nhiệt đới), GV có thể hướng dẫn HS sử dụng các PT-ĐDDH như sau:
GV chia lớp thành các nhóm cho tiến hành thảo luận, hoàn thiện:
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Đọc SGK kết hợp quan sát bản đồ khí hậu, hãy nhận xét và giải thích tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta theo dàn ý: