Sáng kiến kinh nghiệm Dạy học theo phương pháp sơ đồ tư duy cho học sinh. Việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm được giáo viên chúng ta sử dụng nhiều năm nay và quan điểm này ngày càng tăng cường mạnh mẽ hơn trong Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018. Điều này cho thấy Bộ giáo dục và đào tạo rất quan tâm đến chất lượng học sinh những thế hệ tương lai của đất nước. Một trong những phương pháp giúp học sinh có thể hệ thống, khái quát các kiến thức, ghi nhớ các nội dung đã học một cách khoa học và đặc biệt là sẽ ghi nhớ lâu và sâu sắc hơn, đó chính là phương pháp sơ đồ tư duy. Khi tìm hiểu về phương pháp này tôi thấy đây là một phương pháp rất hay, tôi nghĩ ngay đến các em học sinh của mình nếu ngay bậc tiểu học các em được làm quen với phương pháp này chắc hẳn sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong cả con đường học tập sau này của các em. Thực tế giảng dạy cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng kết quả lại không cao bởi các em học bài một cách máy móc, chưa biết cách hệ thống kiến thức, số lượng bài học nhiều làm các em khó ghi nhớ hết; chưa hết các em còn nhầm lẫn giữa nội dung này và nội dung khác, chưa phân biệt được nội dung trọng tâm và nội dung phụ. Giáo viên cũng chưa hướng dẫn cho các em cách kết nối, xâu chuỗi các kiến thức liên quan với nhau. Thường thì học bài nào biết bài đó, đôi khi sau khi học xong các em dễ dàng quên đi mà chưa có sự ghi nhớ sâu sắc.Vì vậy, tôi quyết định đưa sơ đồ tư duy vào trong các môn học do mình phụ trách tại khối lớp 4.
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ TƯ DUY”
1- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
2- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
3- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ 9/2019
4 - Mô tả bản chất của sáng kiến:
4.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
Việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm được giáo viên chúng ta sử dụng nhiều năm nay và quan điểm này ngày càng tăng cường mạnh mẽ hơn trong Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 Điều này cho thấy Bộ giáo dục và đào tạo rất quan tâm đến chất lượng học sinh - những thế hệ tương lai của đất nước Một trong những phương pháp giúp học sinh có thể hệ thống, khái quát các kiến thức, ghi nhớ các nội dung đã học một cách khoa học và đặc biệt là sẽ ghi nhớ lâu và sâu sắc hơn, đó chính là phương pháp sơ đồ tư duy
Khi tìm hiểu về phương pháp này tôi thấy đây là một phương pháp rất hay, tôi nghĩ ngay đến các em học sinh của mình nếu ngay bậc tiểu học các em được làm quen với phương pháp này chắc hẳn sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong cả con đường học tập sau này của các em
Thực tế giảng dạy cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng kết quả lại không cao bởi các em học bài một cách máy móc, chưa biết cách hệ thống kiến thức, số lượng bài học nhiều làm các em khó ghi nhớ hết; chưa hết các em còn nhầm lẫn giữa nội dung này và nội dung khác, chưa phân biệt được nội dung trọng tâm và nội dung phụ Giáo viên cũng chưa hướng dẫn cho các
em cách kết nối, xâu chuỗi các kiến thức liên quan với nhau Thường thì học bài nào biết bài đó, đôi khi sau khi học xong các em dễ dàng quên đi mà chưa có sự ghi nhớ sâu sắc.Vì vậy, tôi quyết định đưa sơ đồ tư duy vào trong các môn học
do mình phụ trách tại khối lớp 4
4.2 Nêu nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết:
Sơ đồ tư duy (Mindmap) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960 và cho đến nay nó đã và đang được
sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Phương pháp này khai thác khả năng ghi nhớ và liên hệ các dữ kiện lại với nhau bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng
ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ các quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu Với một sơ đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chế hoạt động tự nhiên của não chúng ta Việc nhớ và gợi lại thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kỹ thuật ghi chép truyền thống
Về cấu tạo, Sơ đồ tư duy có cấu tạo cơ bản như sau:
1
Trang 2Ở giữa sơ đồ là từ khóa hay hình ảnh miêu tả chủ đề trung tâm, xung quanh
là các ý chính liên quan đến đến chủ đề, mỗi ý lớn sẽ được thể hiện bằng một màu sắc hoặc kí hiệu khác nhau Các ý nhỏ trong mỗi ý lớn đó cũng sẽ được
vẽ hoặc viết cùng màu sắc hay cùng ký hiệu với ý lớn mà nó biểu hiện
Biện pháp 1: Hướng dẫn HS các bước lập sơ đồ tư duy:
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước này học sinh sẽ sử dụng một tờ giấy trắng đặt nằm ngang và vẽ chủ
đề ở chính giữa tờ giấy Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho bạn sáng tạo hơn, không bị những ô vuông cản trở suy nghĩ của các em Vẽ trên giấy nằm ngang
sẽ giúp bạn có được không gian rộng lớn hơn để triển khai các ý Cần vẽ chủ đề
ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các ý khác ở xung quanh nó
Học sinh có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc mà các em thích Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để chúng ta dễ nhìn nhận vấn đề
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)
Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật và được gắn liền với trung tâm
Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, như vậy nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn
Bước 3: Vẽ các nhánh cấp 2, cấp 3…
Ở bước này, học sinh vẽ nối tiếp nhánh cấp 2 vào nhánh cấp 1, nhánh cấp
3 vào nhánh cấp 2, v.v… để tạo ra sự liên kết Các em nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng, như thế sẽ làm cho sơ đồ tư duy của chúng ta nhìn mềm mại, uyển chuyển và dễ nhớ hơn, ở mỗi nhánh chỉ sử dụng một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn
có một cách dễ dàng
Không để bị tắc ở một khu vực, nếu không nhớ được thì tạm dừng để chuyển sang nhánh khác
Bước 4: Thêm các hình minh họa và màu sắc
Ở bước này, các em nên để trí tưởng tượng của mình bay bổng hơn bằng cách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như
Trang 3lưu chúng vào trí nhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữ viết Đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì các em nghĩ, những gì các em liên tưởng, đôi khi càng hài hước càng giúp các em nhớ chúng được lâu hơn Luôn sử dụng màu sắc, vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho Sơ đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo và rất vui mắt Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng một màu Có thể dùng gam màu nóng, gam màu lạnh hoặc phối màu hài hòa cho sơ đồ tư duy
Biện pháp 2: Hướng dẫn HS cách tóm tắt các ý chính thành các từ khóa để biểu diễn trên sơ đồ tư duy:
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình; vì vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tiềm năng của bộ não Việc học sinh tự vẽ sơ đồ tư duy có ưu
điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa,
sở thích của học sinh, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi sơ đồ
tư duy thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức, khả năng sáng tạo của từng học sinh
Ở mỗi bài học đều có những nội dung chính, khi dạy, GV giúp HS tóm tắt các ý chính bằng các từ khóa và biểu diễn trên sơ đồ Với hệ thống câu hỏi, GV
có thể vừa trình bày vừa làm mẫu thao tác trên sơ đồ để HS quan sát và làm theo
Ví dụ để giúp HS hệ thống lại các kiến thức lịch sử nước ta dưới triều Lý bằng sơ đồ tư duy, GV có thể thực hiện các bước sau:
- Chúng ta cùng ôn lại các nội dung lịch sử đã học của nước ta dưới triều Lý Vậy trong biểu tượng trung tâm này các em sẽ chọn từ nào để điền vào đây?
- Dưới thời nhà Lý, nước ta có những sự kiện tiêu biểu nào? Mỗi sự kiện các em
sẽ thể hiện ra các nhánh Lưu ý chọn cụm từ ngắn gọn GV thao tác vẽ 1 nhánh, sau đó cho HS tập vẽ nhánh 2, 3
3
NHÀ LÝ
NHÀ LÝ
NHÀ LÝ
NHÀ LÝ Chùa thời Lý
Chống quân Tống xâm lược lần
thứ 2
Nhà Lý dời đô ra Thăng Long
Trang 4- Ở sự kiện Nhà Lý dời đô ra Thăng Long sẽ có hệ thống câu hỏi như sau:
+ Từ ở trung tâm sẽ là gì?
+ Ai là người quyết định dời đô?
+ Lí do dời đô là gì?
+ Thời gian dời đô?
+ Tên Thăng Long có nghĩa là gì?
HS trả lời các câu hỏi và ghi nội dung vào các nhánh của sự kiện Nhà
Lý dời đô ra Thăng Long GV quan sát, hỗ trợ các nhóm làm việc Tương tự cho
2 sự kiện còn lại Các em có thể dùng màu và chọn biểu tượng theo ý thích Sau khi hoàn thành các nhóm sẽ dựa vào sơ đồ để trình bày Như vậy các em sẽ khắc sâu được kiến thức hơn rất nhiều
Biện pháp 3: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học
Trí tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn nhiều
so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dạn nhưng hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi ở giai đoạn đầu cấp học Đến cuối giai đoạn này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các
em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Về khả năng ghi nhớ của học sinh tiểu học, giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu Đến giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi
Nhà Lý dời đô ra Thăng Long
Dời đô vào mùa xuân năm 1010
Lý Công Uẩn quyết định dời đô
Lí do dời đô:
- Đại La là 1 vùng đất trung tâm, đất
rộng lại bằng phẳng, dân cư không
khổ vì ngập lụt
- Còn Hoa Lư là vùng đồi núi chật
hẹp, tương lai không thể phát triển
được.
Thăng Long có nghĩa là “Rồng bay lên”
Trang 5nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
Về ngôn ngữ, trẻ nói được thành thạo, khả năng diễn đạt thành câu khá hoàn chỉnh, dùng từ ngữ trong sáng giàu hình ảnh Tuy nhiên, khả năng phát âm của nhiều em chưa đúng, viết câu (diễn đạt thành câu) sai ngữ pháp và dùng từ còn chưa phù hợp với ngữ cảnh
Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của HS tiểu học cho chúng ta thấy được SĐTD có khả năng khắc phục được những nhược điểm của HS như giúp HS có thể ghi nhớ, tổ chức sắp xếp các sự kiện theo cách riêng của mình, dùng ngôn ngữ của mình để trình bày bài nói Đó là do SĐTD cho phép HS tóm tắt những ý chính thành những cụm từ ngắn gọn, chính xác
Để vận dụng sơ đồ tư duy vào giảng dạy, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: (1) Dạy thực nghiệm trên đối tượng HS lớp 4 nhằm rèn các kỹ năng học bằng SĐTD; (2) Quan sát quá trình HS làm việc trên lớp để thu thập các số liệu; (3) Ghi chép để đánh giá mức độ tiến bộ của HS trong suốt tiến trình thực nghiệm Lớp được chia thành 05 nhóm cố định (mỗi nhóm 7 học sinh) Xuất phát từ việc cần phải cho HS làm quen với sơ đồ, tập vẽ sơ đồ, GV chỉ dẫn cho
HS cách tóm tắt ý nên quá trình thực nghiệm được chia làm 3 giai đoạn, giai đoạn đầu cho HS làm quen với sơ đồ, hướng dẫn HS các thao tác vẽ sơ đồ, giai đoạn 2 GV hướng dẫn HS cách tóm tắt các ý chính bằng những từ/cụm từ và thể hiện lên sơ đồ và giai đoạn cuối HS tự vẽ và hoàn thành sơ đồ với nhóm của mình
Giai đoạn 1: Cho HS làm quen với sơ đồ tư duy và hướng dẫn các thao
tác vẽ sơ đồ bằng các tiết dạy dùng SĐTD ở các môn học như Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử-Địa lí Sơ đồ tư duy được sử dụng ở hầu hết các hoạt động như kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, hình thành kiến thức mới, luyện tập, củng cố Sơ đồ tư duy có thể vẽ bằng tay hoặc trên máy như vẽ trên Word hoặc với các phần mềm hỗ trợ như Mindmap, Violet, Xmind,
Giai đoạn 2: GV hướng dẫn HS cách tóm tắt các ý chính bằng những từ/
cụm từ và thể hiện lên sơ đồ
Giai đoạn 3: HS tự vẽ và hoàn thành sơ đồ của nhóm mình.
Biện pháp 4: Dùng sơ đồ tư duy trong việc giới thiệu kiến thức tổng quan của môn học/ chủ đề
Vào đầu năm học, trước khi bắt đầu một bài học với bất kì môn học nào tôi đều giới thiệu kiến thức tổng quan cho HS và khi vận dụng SĐTD thì điều đó càng rõ ràng và trở nên dễ hiểu hơn cho HS Hoặc khi giới thiệu một chủ đề mới bằng sơ đồ tư duy sẽ giúp HS có được cái nhìn bao quát hơn
Chẳng hạn:
5
Trang 6
Biện pháp 5: Sử dụng sơ đồ tư duy trong từng hoạt động của tiết dạy
* Kiểm tra bài cũ bằng SĐTD:
Vì thời gian kiểm tra bài cũ không nhiều, chỉ khoảng 5-7 phút nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh để trả lời câu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáo viên sẽ đánh giá tùy vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng “học vẹt”, đọc thuộc lòng mà không hiểu bài Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu” Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụng bản đồ tư duy vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các sơ đồ thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm.giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống kiến thức bài học bằng
bản đồ tư duy
Ví dụ: Kiểm tra bài cũ bài Từ đơn và từ phức:
a/ Em hãy điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ
* Hình thành kiến thức mới bằng sơ đồ tư duy:
Đối với trẻ em ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của học sinh tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan Vì vậy, khi hình thành kiến thức mới,
Từ
: là
từ do một tiếng tạo thành
: là
từ do một tiếng tạo thành
Từ phức: là từ
Từ phức: là từ
Ví dụ:
Ví dụ:
Trang 7GV sử dụng dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp các em thứ nhất làm quen được với phương pháp này; thứ hai các em có được cái nhìn tổng quan về chủ đề/ bài học;
từ cái tổng quan đó các em sẽ học từng nội dung cụ thể Chẳng hạn, khi dạy về bài học “ Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo” phân môn Lịch sử
Sau khi kết thúc bài học, GV có thể chỉ vào sơ đồ tư duy cho HS hệ thống lại bài học Và thực tế cho thấy HS nắm bài kĩ hơn và bước đầu giúp các em có cái nhìn tổng quan về bài học Chúng ta có thể sử dụng cách này không những cho phần giới thiệu bài học mà có thể áp dụng trong phần hình thành kiến thức mới Không những giúp HS khái quát kiến thức, SĐTD còn giúp các em biết được sự liên kết giữa nội dung với nội dung khác, giữa các bài học với nhau
* Củng cố kiến thức bài học:
Hoạt động củng cố thường chỉ có thời gian từ 3-5’ nhưng không kém phần quan trọng vì đây là hoạt động khắc sâu kiến thức vừa học của học sinh Việc tổ chức cho hoạt động này cần ngắn, gọn và súc tích Đó có thể là trò chơi nhỏ, là các câu hỏi theo sơ đồ tư duy Chẳng hạn, dạy phần củng cố bài Hoạt động sản xuất của người dân ở Hoàng Liên Sơn: Trò chơi Ai nhanh hơn?
- GV phát phiếu in sẵn sơ đồ theo mẫu dưới đây
- GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm Nhóm nào làm đúng nhất và nhanh nhất
sẽ chiến thắng
7 Điền vào chỗ chấm Sau đó tô màu vào nghề chính của người
dân ở Hoàng Liên Sơn.
Trang 8Biện pháp 6: Dùng sơ đồ tư duy trong các bài ôn tập:
GV dùng sơ đồ tư duy để giúp HS ôn lại các kiến thức đã học một cách có
hệ thống, khoa học và giúp HS ghi nhớ một cách dễ dàng
Với hệ thống câu hỏi, GV có thể kiểm tra được kiến thức của HS đồng thời giúp HS xác định được ý trọng tâm, các ý chính, các ý phụ, GV kết hợp ghi lại các ý đó lên bảng bằng SĐTD Hoặc nếu GV đã chuẩn bị SĐTD trên máy tính thì có thể chốt để HS nắm bài
Ví dụ: Dạy bài Ôn tập phân môn Lịch sử lớp 4, bài 6 SGK/24
GV giới thiệu: Hôm nay chúng ta sẽ ôn lại các giai đoạn lịch sử đã học từ bài 1 đến bài 5 và một số sự kiện lịch sử tiêu biểu trong các giai đoạn này
1 Kể tên hai giai đoạn lịch sử mà em đã học từ bài 1 đến bài 5:
- Giai đoạn Buổi đầu dựng nước và giữ nước (từ năm 700 TCN đến năm
179 TCN)
- Giai đoạn Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập ( Từ năm 179 TCN đến năm 938)
2 Kể lại một số sự kiện lịch sử tiêu biểu ở mỗi giai đoạn:
+
Người dân ở Hoàng Liên Sơn làm những nghề gì?
BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ
NƯỚC ( Khoảng năm 700 TCN đến năm 179
TCN)
Trang 9
4.3 Nêu các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải pháp:
Để thực hiện được phương pháp này trong dạy học thì điều trước tiên GV phải là người tìm hiểu, nghiên cứu kĩ, hiểu rõ về Sơ đồ tư duy thì mới có thể truyền đạt đến HS và hướng dẫn HS thực hiện
GV phải soạn bài và thiết kế bài dạy theo SĐTD đồng thời chuẩn bị các
đồ dung dạy học như tranh ảnh, sơ đồ, ảnh động, máy chiếu,…với nội dung tương ứng để minh họa cho sơ đồ
GV vận dụng SĐTD vào các tiết dạy, môn học một cách linh hoạt nhằm tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn HS Các em mới lớp 4 nên yêu cầu, mức độ đơn giản để tất cả HS đều có thể làm được
HS phải chuẩn bị bài ở nhà thật chu đáo, đọc nghiên cứu kĩ bài ở nhà, có thể thiết kế sơ đồ cho riêng mình Học sinh cần nhiệt tình, chịu khó, tích cực tham gia và học hỏi, thực hiện theo các yêu cầu của GV
Ban Hoạt động ngoài giờ lên lớp của trường nên xen kẽ SĐTD vào trong các hoạt động giao lưu
4.4 Nêu các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp (nhằm để giải quyết các vấn đề đã nêu trên):
- Khi nhận lớp, phải lên kế hoạch tìm hiểu về tình hình lớp, phân loại đối tượng học sinh càng cụ thể càng tốt
9
Hơn một nghìn năm đấu
tranh và giành lại độc lập ( Từ năm 179 TCN đến
năm 938)
Nước ta dưới ách đô hộ
của các triều đại phong
kiến phương Bắc
Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo Khởi nghĩa
Hai Bà Trưng
Trang 10- Làm quen với lớp, tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng, gần gũi nhưng cũng nghiêm khắc để rèn nề nếp cho học sinh
- Khảo sát mức độ học tập của các em
- Gặp gỡ trao đổi trực tiếp với phụ huynh có con em năng lực tiếp thu còn hạn chế để cùng bàn bạc, lên kế hoạch hỗ trợ các em
- Họp phụ huynh đầu năm, cùng trao đổi về nội dung và chương trình lớp
4, về các phương pháp dạy học tích cực trong đó có sơ đồ tư duy
- Tăng cường vai trò của nhóm trưởng
- Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực
- Thường xuyên tổ chức thi trình bày sơ đồ tư duy giữa các nhóm để tạo động lực cho các em học tập
4.5 Chứng minh khả năng áp dụng của sáng kiến (đã được áp dụng, kể
cả áp dụng thử trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật tại cơ sở; khả năng áp dụng cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức khác):
Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm thì nay đã biết nắm được nội dung chính, nêu được “sự kiện nổi bật” trong bài học, bước đầu biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Bản chất của dạy học là lấy người học làm trung tâm, là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học Sơ đồ tư duy đã phát huy được điều đó Học sinh không phải tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà trái lại các em phải động não, sáng tạo và ghi nhớ một cách logic những kiến thức đã học Các em có thể trình bày nội dung của bài học một cách khoa học hơn Bằng cách ghi chép kết hợp với việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết, học sinh biết tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề và khi tạo được một tác phẩm đẹp, ý tưởng hoàn chỉnh được cô và các bạn ngợi khen, các em cảm thấy phấn khởi và có hứng thú với bài học hơn Các em học sinh khác cũng cố gắng tự hoàn thiện mình và điều quan trọng là các em biết cách tự ghi chép đầy đủ nội dung bài học để học ở nhà, có thể trình bày trước tập thể lớp và ghi nhớ lâu kiến thức bài học
Sơ đồ tư duy tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể, đặc biệt hữu ích trong các hoạt động nhóm Các nhóm làm việc trở nên hiệu quả hơn, có
sự gắn kết cao giữa các thành viên trong nhóm Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sơ đồ tư duy giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng tốt hơn Chỉ cần nhìn vào sơ đồ tư duy, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học Cùng một nội dung nhưng mỗi học sinh có thể lập ra một sơ đồ tư duy theo cách của mình, chính vì vậy nó phát huy tối đa được khả năng sáng tạo của học sinh