1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL

36 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 32,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá quy hoạch Điện lực giai đoạn 20112015 trên địa bàn EVN SPC................................................................................1 Quá độ đóng cắt trạm tụ bù......................................................................3 Phóng điện cục bộ trong cách điện ......................................................10 Dự báo nhu cầu đện năng bằng phương pháp đa hồi quy với công cụ hỗ trợ EVIEWS........15 Ứng dụng thiết bị Resettable Electronic Sectionalizer trong phối hợp bảo vệ lưới điện phân phối .....................................18 Sơ lược về năng lượng mặt trời.............................................................20 Nhiều cơ hội từ những động lực mới của Chi hội Điện lực Cơ quan EVN SPC....................................................................................................23 Đại hội chi hội Điện lực Lâm Đồng nhiệm kỳ II (20162020)...............27 Vai trò nguồn điện một chiều (DC) trong trạm biến áp 110kv ...........29 Thư giãn.

Trang 2

Chịu trách nhiệm xuất bản:

Hồ Quang Ái

Chủ tịch Hội Điện lực miền Nam

Trưởng Ban biên tập:

TRẦn TRỌng QuYẾT

Phó Chủ tịch thường trực

Phó Trưởng Ban Biên tập

LÊ XuÂn THÁi

Chịu trách nhiệm về nội dung

nguYỄn TẤn ngHiỆP

Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký

Ban Biên tập

BÙi ngỌC THƯ

nguYỄn BỘi KHuÊ

nguYỄn VĂn LiÊM

nguYỄn HỮu PHÚC

QuÁCH LÂM HƯng

VÕ THanH Đồng

PHẠM MinH TiẾn

TRẦn THỊ MỸ ngỌC

Trụ sở toà soạn

Số 72 Hai Bà Trưng,

Phường Bến Nghé, Quận 1, TP HCM

Điện thoại: 08-35210484;

Fax: 08-35210485

giấy phép xuất bản số 41/gP-XBBT, ngày

02/06/2016 của Cục Báo chí - Bộ Thông tin &

Truyền thông

in tại Công ty CPTM in Phương nam

160/7 Đội Cung, Q.11, TP.HCM

Ảnh bìa:

1 Ra mắt BCH Chi hội Điện lực Cơ quan

EVNSPC Nhiệm Kỳ II (2016-2020)

2 Đại hội Chi Hội Điện Lực Đồng Nai Nhiệm Kỳ

III (2016 - 2020)

Đánh giá quy hoạch Điện lực giai đoạn 2011-2015

trên địa bàn EVN SPC 1

Quá độ đóng cắt trạm tụ bù 3

Phóng điện cục bộ trong cách điện 10

Dự báo nhu cầu đện năng bằng phương pháp đa hồi quy với công cụ hỗ trợ EVIEWS 15

Ứng dụng thiết bị Resettable Electronic Sectionalizer trong phối hợp bảo vệ lưới điện phân phối .18

Sơ lược về năng lượng mặt trời 20

Nhiều cơ hội từ những động lực mới của Chi hội Điện lực Cơ quan EVN SPC 23

Đại hội chi hội Điện lực Lâm Đồng nhiệm kỳ II (2016-2020) 27

Vai trò nguồn điện một chiều (DC) trong trạm biến áp 110kv 29

Thư giãn 32 Mục lục

Trang 3

ĐÁNH GIÁ QUY HOẠCH ĐIỆN LỰC

GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 TRÊN ĐỊA BÀN EVN SPC

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay,

Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN

SPC) đã đảm bảo cung cấp điện an toàn và

liên tục phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế

- xã hội của các địa phương trên địa bàn 21

tỉnh/thành trong khu vực phía Nam.

Đảm bảo cung cấp điện

Phụ tải khu vực miền Nam thường xuyên có

tốc độ phát triển cao so với mặt bằng chung trong

EVN (điện thương phẩm của EVN SPC năm 2015 là

49,387 tỷ kWh; năm 2014 là 44,596 tỷ kWh, khi đó

của EVN NPC là 44,77 tỷ kWh năm 2015 và 43,7 tỷ

kWh năm 2014; EVN CPC là 13,5 tỷ kWh năm 2015

(theo báo cáo tổng kết năm 2015 của EVN NPC và

EVN CPC), nhu cầu sử dụng điện phục vụ sản xuất

là rất lớn (từ 20,451 tỷ kWh năm 2011 lên 30,78 tỷ

kWh năm 2015) Đặc biệt, trong mùa khô, nhu cầu

cấp điện phục vụ tưới tiêu chống hạn, chống mặn,

sản xuất theo vụ mùa cũng góp phần làm tăng nhu

cầu sử dụng điện trên địa bàn (Pmax năm 2010 là

4.558 MW đến năm 2015 đạt là 7.692 MW)

Trong các năm qua, EVN SPC đã phối hợp

chặt chẽ với Sở Công Thương và các chính quyền

địa phương trong việc dự báo phụ tải, thường

xuyên theo dõi sát tình hình phụ tải để chủ động các

phương án cung cấp điện, tăng cường tuyên truyền

tiết kiệm điện và bảo vệ hàng lang an toàn lưới điện

cao áp; phối hợp chặt chẽ với Công ty Truyền tải điện

4 (TTĐ4) và Ban QLDA các công trình điện miền

Nam để kiểm soát tốt đã hạn chế thời gian việc cắt

điện thi công các công trình lưới điện truyền tải và

các công trình trọng điểm quốc gia… từ 110kV đến

220kV và 500kV; đồng thời hoàn thành đúng tiến

độ các công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp lưới

điện 110kV và phân phối

[bảng đánh giá thực hiện quy hoạch]

Giai đoạn 2011-2015, để đảm bảo cấp điện

cho nhu cầu của khách hàng và củng cố lưới

điện, Tổng công ty đã đầu tư 18.370 tỷ đồng (đạt

64% so với qui hoạch) để đầu tư xây dựng lưới

điện trên địa bàn Tổng công ty quản lý gồm:

1.674/2.575 km đường dây 110kV, đạt 64% so

với qui hoạch; 4.902/9.218 MVA dung lượng

trạm biến áp 110kV, đạt 53% so với quy hoạch;

8.402/21.079 km đường dây 22kV, 35kV đạt 40% so với quy hoạch; 14.777/22.962 km đường dây hạ thế, đạt 64% so với quy hoạch; 1.804/8.497MVA dung lượng trạm biến áp phân phối, đạt 21% so với quy hoạch

Nhờ những nỗ lực ấy, EVN SPC không những hạn chế được tình trạng quá tải mà còn tăng cường khả năng cung cấp điện, nên đã đảm bảo tốt việc cung cấp điện trên địa bàn hoạt động mà không tiết giảm phụ tải Trong năm 2015, trên địa bàn quản lý của EVN SPC P(max) đạt 7.692 MW (đạt khoảng 80% so với dự báo của quy hoạch); về sản lượng điện thương phẩm thực hiện là 49,387 tỷ kWh (đạt 84%

so với quy hoạch phát triển điện lực giai đoạn

2011-2015 được phê duyệt)

Đánh giá về tình hình thực hiện quy hoạch trong thời gian qua

Nhìn chung, công suất và sản lượng hàng năm theo xu hướng tăng, bình quân công suất max tăng 10,5% (năm 2010 có cắt giảm điện nhiều do thiếu nguồn nên mức tăng năm 2011 có cao hơn) và sản lượng max tăng nhiều trong năm 2012 (tăng 14,3%)

và 2015 (tăng 11,8%) do ảnh hưởng thời tiết nắng nóng kéo dài Tuy nhiên, so với quy hoạch, nhu cầu thực tế hàng năm của EVN SPC đều thấp hơn so với

dự báo (15,48%)

Trong công tác đầu tư và cải tạo các công trình lưới điện, EVN SPC đều thực hiện xem xét, tính toán trên cơ sở nhu cầu phụ tải thực tế để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Trong quá trình thực hiện, EVN SPC luôn tuân thủ theo quy hoạch, cụ thể:

49.387

Ban Kế hoạch

Tổng công ty Điện lực miền Nam

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 1

Trang 4

• Đối với các công trình lưới điện 110kV, đảm bảo

tiến độ thực hiện các công trình cải tạo nâng công

suất trạm biến áp, đường dây theo kế hoạch, kịp thời

cung cấp điện cho phụ tải Đối với một số khu vực

có đầu tư mới (vay vốn), có xảy ra chậm tiến độ do

gặp khó khăn về mặt bằng thi công, ngoài việc tăng

cường phóng mặt bằng, EVN SPC cũng đã phối hợp

Trung tâm điều độ hệ thống điện miền Nam (A2)

xây dựng và thực hiện các phương thức vận hành để

giảm tải trạm biến áp, đường dây hiện hữu, chuyển

tải trên lưới điện 22kV, bù tối ưu để giảm việc nhận

công suất phản kháng trên lưới điện, …

• Đối với lưới điện truyền tải 220kV và 500kV,

EVN SPC phối hợp chặt chẽ với Tổng công ty Truyền

tải điện quốc gia trong việc cải tạo, nâng công suất

lưới điện hiện hữu, các công trình đầu tư mới, khai

thác tải các trạm 220kV mới đưa vào vận hành như:

Tân Định, Long Bình, Long An 2, Phan Thiết 2, Bình

Hòa, Cao Lãnh 2 … Tuy nhiên có công trình mới

không đưa vào kịp tiến độ đã ảnh hưởng rất nhiều

đến công tác cung cấp điện của EVN SPC đặc biệt là

khu vực có phụ tải tăng trưởng cao như: Bình Dương,

Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An,

Bình Thuận,…

Ngoài ra việc xuất hiện các phụ tải 110kV mới, có

nhu cầu sử dụng điện lớn (sắt, thép, ximăng) không

theo quy hoạch dẫn đến nguồn điện không đủ đáp

ứng đã gây khó khăn rất nhiều trong việc đảm bảo

cung cấp điện, khó khăn trong công tác quản lý vận

hành đơn vị EVN SPC đã kịp thời báo cáo và tìm

các phương án thực hiện để đàm bảo việc cấp điện

khi xuất hiện đột ngột các phụ tải 110kV mới, có nhu

cầu sử dụng điện lớn (xi măng, sắt, thép) không theo

quy hoạch dẫn đến nguồn điện không đủ đáp ứng

đã gây khó khăn rất nhiều cho EVN SPC

Theo Quy hoạch phát triển điện lực giai đoạn

2011-2015 thì tốc tăng bình quân hàng năm của sản

lượng điện thương phẩm khu vực phía Nam (trừ

TP Hồ Chí Minh) là 14,5%, tuy nhiên thực tế thực

hiện đến hết năm 2015 thì chỉ đạt được tốc độ tăng

bình quân là khoảng 11,34% Điều này cũng lý giải

tại sao khối lượng đầu tư lưới điện thấp hơn số liệu

mà quy hoạch đã dự báo

Những khó khăn, vướng mắc gặp phải trong quá

trình thực hiện

-Về đền bù giải phóng mặt bằng: Do chính sách

về đất đai, giá cả thay đổi hàng năm, không sát giá

thị trường Tại các vùng giáp ranh giữa các dự án

có sự chênh lệch lớn về đơn giá và mức hỗ trợ cũng

khác nhau (ví dụ như dự án quy hoạch khu dân cư,

nhà đầu tư hỗ trợ thêm cho hộ dân theo thỏa thuận

ngoài mức đơn giá qui định của địa phương ban

hành) Vì vậy các hộ dân không chịu nhận tiền bồi

thường dẫn đến công trình bị kéo dài thời gian thi

công làm tăng các chi phí: lãi vay, giá vật liệu, do

nhà nước thay đổi đơn giá bồi thường dẫn đến vượt

tổng mức đầu tư Mặc dù UBND tỉnh và các sở, ban, ngành của địa phương đá có nhiều hỗ trợ, tạo điều kiện để tháo gỡ khó khăn này

-Về quy hoạch sử dụng đất: Các dự án đầu tư nói chung và các dự án lưới điện nói riêng có trường hợp chồng chéo lẫn nhau, phải xử lý làm chậm tiến độ công trình

-Về công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước: Trong những năm vừa qua có rất nhiều các thay đổi của các quy định pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng nên đã có nhiều các ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện đầu tư xây dựng các công trình

-Biến động giá: Ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, biến động tỉ giá nên một số nhà thầu xây dựng, nhà thầu cung cấp vật tư thiết bị gặp nhiều khó khăn về vốn đặc biệt từ năm 2011 đến nay

Bài học kinh nghiệm rút ra.

1)Thường xuyên theo dõi, cập nhật và phân tích đánh giá tình hình phát triển phụ tải của khu vực

để có kế hoạch đầu tư phù hợp Việc này phải được

tổ chức thực hiện từ cấp cơ sở (Điện lực) đến Tổng công ty với các phương pháp ngiên cứu phụ tải hợp

lý nhất

2)Phối hợp chặt chẽ hơn nữa với chính quyền địa phương trong việc thực hiện đầu tư như: Gặp mặt để làm rõ quan điểm, chủ trương đầu tư của EVN SPC; kiến nghị đề xuất các phương án tốt nhất

để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng… 3)Nâng cao năng lực của các đơn vị quản lý dự án; thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy chế phân cấp quyết định đầu tư của EVN; Điều hành quản lý, giám sát chặt chẽ việc thực hiện của các nhà thầu, qua đó có thể tiết kiệm tốt đa nguồn vốn trong đầu tư

4)Cân đối và bố trí nguồn vốn phù hợp Chủ động tìm, huy động mọi nguồn vốn từ bên ngoài Lập quy trình và phương thức phối hợp giữa các đơn vị trong EVN SPC với cơ quan thẩm quyền để đẩy nhanh công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt hồ sơ chuẩn bị đầu tư của các công trình/dự án đầu tư.

Trang 5

QUÁ ĐỘ ĐÓNG/CẮT TRÊN TRẠM TỤ

BÙ TRUYỀN TẢI/ PHÂN PHỐI

giới THiỆu

Hiện nay các trạm tụ bù (ngang) được sử dụng

khá phổ biến trên các lưới điện truyền tải/ phân phối

với mục đích bù công suất phản kháng, giảm chi phí

cũng như tối ưu hóa việc chuyển tải công suất trên

đường dây Các khả năng bù công suất phản kháng

của hệ thống, cải thiện hệ số công suất, kiểm soát giá

trị điện áp, cũng như lọc họa tần là các lợi điểm mang

lại khi lắp đặt các trạm tụ bù trong hệ thống

Tuy vậy, việc đóng cắt các trạm tụ có thể gây

ra các ứng suất về nhiệt, cơ học và quá điện áp lên

chính trạm tụ, cũng như các thiết bị khác trong trạm

Vì thế, các nghiên cứu về quá độ để nhận dạng và

định lượng các hiện tượng quá độ có thể phát sinh

trong hệ thống, cũng như đề xuất các giải pháp hiệu

chỉnh mang tính kinh tế là rất cần thiết Từ các kết

quả của việc nghiên cứu các quá độ đóng cắt qui

sinh trong thực tế đóng cắt, bao gồm việc xác định

biên độ, thời gian và tần số của dao động

• Xác định các quá độ bất thường có nguy cơ xảy

ra trên thiết bị khi bắt đầu hoặc/ và cắt sự cố

• Đưa ra các biện pháp khắc phục để giảm thiểu

quá độ điện áp hoặc quá dòng Các giải pháp đề

nghị bao gồm sử dụng điện trở đóng trước, cuộn

kháng tinh chỉnh, nối đất hệ thống thích hợp, chống

sét, tụ bảo vệ quá độ

• Đề nghị các quy trình vận hành thay thế nhằm

giảm thiểu quá độ (nếu có thể)

• Ghi chép các kết quả nghiên cứu trong từng

trường hợp trên biểu mẫu dễ theo dõi cho những

người có trách nhiệm thiết kế cũng như vận hành

Các tài liệu này thường gồm các biểu đồ dạng

sóng với các giải thích đi kèm, ít nhất là cho một số

trường hợp

Thường áp dụng các phương pháp sau để giảm

thiểu và kiểm soát các quá độ đóng cắt:

Y nối đất Y không nối đất

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 3

Trang 6

Tụ đấu Δ được sử dụng khá phổ biến ở các cấp

điện áp thấp (<2.4 kV) khi không có sẵn các định

mức tụ phù hợp cho việc đấu Y Thường sử dụng

kiểu đấu Y cho các trạm tụ vì đơn giản hơn trong sơ

đồ lắp đặt và kinh tế hơn

Sau đây là các ưu điểm của hệ thống tụ đấu Y nối

đất so với hệ thống đấu Y không nối đất:

Chi phí đầu tư sẽ thấp hơn vì không cần cách

điện điểm trung tính ở mức cách điện xung cơ bản

BIL của hệ thống, như khi trung tính không nối đất

Giá trị quá điện áp phục hồi khi cắt tụ sẽ nhỏ

hơn

Kết cấu cơ học của khung sườn, giá đỡ các tụ sẽ

đơn giản hơn

Tuy vậy, hệ thống đấu Y nối đất so với Y không

nối đất cũng có một số bất lợi sau:

Xuất hiện dòng xung kích cao ở các vị trí nối đất

của trạm và có thể gây một số vấn đề trong việc đo

đạc

Có thể gây ra nhiễu thông tin khi có dòng họa

tần bậc 3 thứ tự không

Việc đấu Y nối đất sẽ tạo đường đi có tổng trở

thấp xuống đất đối với dòng ngắn mạch, do đó có

thể cần phải chỉnh định lại các relay bảo vệ chạm đất

trên hệ thống Đây cũng chính là một trong những lí

do khiến cách đấu tụ Y với trung tính nối đất thường

không được áp dụng rộng rãi, so với đấu Y với trung

tính không nối đất

Cần dùng cầu chì hạn dòng trong kiểu đấu Y

trung tính nối đất do gíá trị dòng sự cố pha chạm đất

là lớn

Cần lưu ý là quá điện áp do hiện tượng cộng

hưởng sắt từ trên các trạm tụ vẫn có thể xảy ra trong

cả ba cách đấu Y nối đất, Y không nối đất, và Δ khi

đóng cắt mạch trạm tụ đi kèm với máy biến áp với

một sơ đồ đấu dây nhất định, bằng các thiết bị đóng

cắt trên từng pha, hay khi tiếp điểm của một pha bị

hàn dính trong quá trình đóng cắt của thiết bị ba pha

TínH ToÁn CÁC giÁ TRỊ ĐỊnH MứC Của TRẠM Tụ

Dòng làm việc liên tục tối đa trong trạm tụ bù đấu

Độ sai lệch điện áp (+/-5% hoặc +/- 10%) Dung sai đối với các thiết bị (thường tính là

Bảng 1 cho các hệ số Kv (hệ số quá điện áp trên

hệ thống), KT (hệ số kể đến dung sai của thiết bị), KH

(hệ số méo dạng họa tần) thường dùng trong các tiêu chuẩn quốc tế khi tính toán các trạm tụ đấu Y, theo tiêu chuẩn Hoa Kì và Châu Âu

Bảng 1 Giá trị KV, KT, KH

Hệ số

Đại lượng

Tiêu chuẩn Hoa Kì

Tiêu chuẩn Châu Âu

Nốiđất

Không nối đất

Nốiđất

Không nối đất

K V Quá điện áp trên hệ thống

K T Dung sai của thiết bị 1.15 1.1

K H Méo dạng họa tần 1.18 1.075 1.18 1.075

Các hệ số quá dòng liên tục được cho trong Bảng

2, theo tiêu chuẩn Hoa Kì và Châu Âu

Bảng 2 Các hệ số quá dòng liên tục

Tiêu chuẩn Hoa Kì Tiêu chuẩn

Châu Âu Trạm tụ nối đất i MAX = 1.49 i N i MAX = 1.49 i N

Trạm tụ không nối đất i

MAX =1.49 i N i MAX = 1.49 i NTrên Hình 2 là các trạm tụ 132 kV và 245 kV, đấu

Y, sử dụng cuộn kháng hạn dòng nối tiếp

Trang 7

YÊu CẦu Đối Với CÁC HỆ THống Điều KHiển Và THiẾT BỊ Đóng CắT

Để hạn chế dòng xung kích và quá điện áp khi đóng các trạm tụ bù, thời điểm tối ưu để đóng điện

là khi điện áp giữa 2 cực của mỗi tiếp điểm (của máy cắt) là zero Do đó, hệ thống điều khiển và thiết bị đóng cắt phải có khả năng đóng cắt với độ chính xác vào khoảng +/- 1ms Hệ thống ở cấp độ chính xác này sẽ bảo đảm các quá độ đóng cắt ở giá trị tương đương với khi sử dụng phương pháp điện trở đóng trước hoặc cuộn kháng giới hạn dòng Khi đó hiện tượng quá điện áp sẽ gần như không xuất hiện Giá trị quá điện áp khi đó sẽ chỉ vào khoảng 1.2 pu đến

2 pu, cho giá trị điện áp pha-đất và điện áp pha-pha (tương đương với mức tăng điện áp bình thường của

hệ thống) Ngoài ra, dòng xung kích sẽ giảm đến giá trị không đáng kể, đặc biệt khi đóng điện xung đối

TRẠM Tụ nối ĐẤT Và KHông nối ĐẤT TRung TínH

Thời gian đóng cắt tối ưu của tụ đấu sao phụ thuộc vào điểm trung tính nối đất hoặc cách li Đối với trạm tụ nối đất trung tính trên hệ thống điện có trung tính nối đất, thời gian đóng tối ưu là khi điện

áp pha bằng không ở mỗi cực tiếp điểm Với trạm tụ trung tính không nối đất, thời điểm đóng tối ưu sẽ phụ thuộc vào trình tự của quá trình đóng cực tiếp điểm

Khi đóng ngẫu nhiên tiếp điểm đầu tiên mọi việc

là bình thường vì chưa có dòng Giả sử tiếp điểm đầu vẫn đóng, tiếp điểm thứ 2 phải đóng ở thời điểm khi điện áp pha- pha trên 2 cực của tiếp điểm là zero Tiếp điểm thứ 3 phải đóng ở thời điểm khi điện áp 1.5 pu trên tiếp điểm này qua zero Tất nhiên, khi

2 tiếp điểm đóng cùng một lúc, thì điện áp trên mỗi tiếp điểm sẽ là 0.87 pu và điện áp trên tiếp điểm thứ

3 sẽ là 1.5 pu

Trường hợp phải đóng lại trạm tụ sau khoảng thời gian ngắn kể từ lần cắt trước (thường không là một yêu cầu), điện tích vẫn còn trên các bản cực của tụ điện, vì vậy thời điểm đóng tối ưu sẽ phụ thuộc vào biên độ điện áp trên các bản cực của tụ điện Khi đó, cần đo lường điện áp cả 2 bên của tiếp điểm, phía nguồn và phía tải, để xác định điện áp trên tiếp điểm đang mở của máy cắt

Vì thời điểm đóng tối ưu cho cả 3 cực tiếp điểm (hoặc trạm tụ trung tính nối đất hoặc không nối đất)

là biến thiên, cần dùng máy cắt với khả năng đóng độc lập 3 cực Tuy nhiên, việc đóng/cắt có điều khiển

bị giới hạn trong các ứng dụng cho phép có được thời

Hình 2.a/ Trạm tụ 132KV với cuộn kháng hạn dòng

Hình 2.b/ Trạm tụ 245 kV với cuộn kháng hạn dòng

II ĐóNg cắT Trạm Tụ Bù

giới THiỆu

Khi đóng trạm tụ bù ngang thường xuất hiện

nguy cơ quá điện áp và dòng xung kích Khi đóng

các trạm tụ bù làm việc cô lập dòng xung kích có

thể đạt đến giá trị 5 pu (đơn vị tương đối=per unit=

pu) với tần số từ 200 đến 600 Hz, phụ thuộc vào điện

kháng nguồn, công suất trạm tụ, cũng như kiểu đấu

nối của tụ Để so sánh, dòng xung kích khi đóng điện

xung đối 2 trạm tụ (back-to-back capacitor banks)

hay dòng xả khi trạm tụ xả điện vào điểm ngắn

mạch có thể lên đến 40 pu đến 100 pu ở tần số từ 2

đến 20 KHz

Quá điện áp xảy ra khi có hiện tượng phóng điện

trở lại (restrikes) khi cắt trạm tụ có thể lên đến 4 pu

hoặc lớn hơn Ngoài ra, quá điện áp do đóng cắt trạm

tụ có thể lan truyền trong hệ thống và làm hư hỏng

máy biến áp lực, cuộn kháng ở xa cuối đường dây

truyền tải

Như đã đề cập ở phần trước, có nhiều phương

pháp khác nhau hiện đang được sử dụng để giảm

thiểu các quá độ đóng cắt, ví dụ giải pháp điện trở

đóng trước hay cuộn kháng hạn dòng Hiện nay,

hiện tượng phóng điện trở lại khi cắt tụ không còn

là vấn đề quá quan trọng như trước đây, vì máy cắt

SF6 thường có khả năng chống hiện tượng phóng

điện trở lại (restrike- free SF6 circuit breakers) Tuy

vậy, hiện tượng phóng điện trở lại vẫn thỉnh thoảng

xảy ra và khi đó, sẽ gây ra các tác hại to lớn trong

hệ thống

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 5

Trang 8

gian trì hoãn giữa các thời điểm đóng của tiếp điểm

1, tiếp điểm 2, tiếp điểm 3 của máy cắt Khi có nguy

cơ hiện tượng phóng điện lại xảy ra trong quá trình

cắt, nên thực hiện việc cắt tiếp điểm trước khi dòng

qua không Điều này giúp loại trừ hiện tượng phóng

điện trở lại, và do đó quá điện áp, vì khe hở giữa 2

tiếp điểm, cũng như độ bền cách điện giữa 2 tiếp

điểm sẽ đạt giá trị lớn nhất, khi quá điện áp phục hồi

lớn nhất

ĐỊnH MứC Của Tụ Và THiẾT BỊ Đóng CắT

Máy cắt và tụ điện là các thiết bị điện rất nhạy

cảm với dòng quá độ và quá điện áp đi kèm với việc

đóng cắt trạm tụ Các tụ điện thường được thiết kế để

chịu đựng quá dòng lên đến 100 lần so với dòng định

mức Tuổi thọ của tụ có liên quan mật thiết với giá trị

quá dòng Khi dòng quá độ gấp 100 lần dòng định

mức, số lần đóng cắt tối đa không vượt quá 1.000

lần mỗi năm, nhưng đối với dòng quá độ ở mức 30

lần dòng định mức, số lần đóng cắt tối đa sẽ lên đến

100.000 lần mỗi năm [6]

Theo tiêu chuẩn quốc tế đối với máy cắt, dòng

quá độ và tần số không được vượt quá giá trị cho

Tần số cực đại (fMAX) [Hz]

Dòng cực đại (iMAX) [kAp]

Tần số cực đại (fMAX) [Hz]

TínH ToÁn dòng QuÁ ĐỘ Của Tụ BÙ ngang

Thường dùng các phần mềm phân tích quá độ

chuyên dùng thích hợp, ví dụ ATP (Alternative

Tran-sient Program), để xác định dòng quá độ đóng/cắt

trên trạm tụ bù ngang.Tuy vậy, khi dữ liệu cho việc

mô phỏng là không đầy đủ, việc tính toán dòng điện

xung kích là cũng có thể chấp nhận

Phần sau sẽ mô tả một trình tự tính toán đơn giản

cuộn kháng hạn dòng mắc nối tiếp với tụ bù để hạn

chế dòng quá độ trong khoảng giá trị có thể chấp

nhận đối với các thiết bị điện (tụ điện và máy cắt)

Đóng ĐiỆn TRẠM Tụ BÙ ĐỘC LậP (dòng Xung KíCH)

Dòng điện xung kích khi đóng điện trạm tụ bù

độc lập (Hình 3) có giá trị khoảng 5 pu, với tần số

từ 200 Hz đến 600 Hz, tùy vào điện kháng nguồn,

công suất trạm tụ, và sơ đồ đấu nối Thường giá trị

Hình 3 Đóng điện trạm tụ bù độc lập

Điện kháng nguồn phụ thuộc vào công suất ngắn mạch của hệ thống tại thanh cái của tụ bù:

Dòng xung kích khi đóng trạm tụ độc lập gồm 2 thành phần: thành phần xác lập và thành phần quá

độ Thường bỏ qua thành phần xác lập ở tần số công nghiệp (50 Hz hay 60 Hz) trong việc tính toán dòng điện xung kích

Thành phần quá độ của dòng điện xung kích:

Tổng trở sóng của mạch điện, giá trị đỉnh của dòng xung kích, tần số dao động tự nhiên được cho bởi các biểu thức sau:

hệ thống có công suất ngắn mạch lớn (điện kháng nguồn nhỏ) cần phải sử dụng cuộn kháng hạn dòng

Việc tính toán giá trị L R của điện kháng hạn dòng để giảm biên độ và tần số của dòng xung kích cho phù hợp với các định mức của tụ và các thiết bị đóng cắt

điện kháng hệ thống tương đối lớn, dòng điện quá

độ không gây ra những ứng suất quá lớn trên các thiết bị

Trang 9

được cho bởi các biểu thức sau:

Dựa vào điều kiện dòng điện cực đại

(Hình 5) Khi đó, dòng xung kích khi đóng điện một trạm tụ vào các trạm tụ khác đang làm việc có thể lên đến giá trị 100 pu ở tần số 2kHz đến 20 kHz Điều này sẽ gây ra các ứng suất lớn về cơ học và điện lên các tụ điện và cách thiết bị khác gần đó

Dựa vào điều kiện tần số cực đại

Ví dụ 1

Tính toán cuộn kháng hạn dòng khi đóng điện trạm

tụ bù 138 kV, 30MVAr, Y nối đất Thanh cái 138 kV có

dòng ngắn mạch đối xứng 20 kA và điện áp làm việc lớn

nhất là 145 kV.

Khi trên mỗi pha lắp nối tiếp cuộn kháng hạn

dòng cảm với giá trị 0.571 Ohm (1.515mH), dòng

điện xung kích (đỉnh) sau khi tính toán là 2.4 kAp ở

tần số 708 Hz Sử dụng phần mềm ATP để khảo sát

trường hợp này và sự thay đổi của điện áp và dòng

xung kích được cho trong Hình 4 Giá trị dòng xung

kích trong mô phỏng nhỏ hơn một ít so với kết quả từ

tính toán Sự khác biệt này là do ảnh hưởng của điện

trở trên hệ thống, các giá trị của các cuộn kháng và

tụ, mà các giá trị này không được quan tâm đến trong

việc tính toán

Hình 4 Điện áp pha và dòng xung kích của trạm tụ khi đóng điện

trạm bù độc lập

Đóng ĐiỆn Xung Đối TRẠM Tụ BÙ

Trong thực tế, thường chia trạm tụ bù công suất

lớn thành các trạm tụ công suất nhỏ hơn để việc bù

công suất phản kháng được thực hiện linh hoạt và tin

cậy hơn Tuy vậy, trường hợp này sẽ có 2 hay nhiều

hơn các trạm tụ bù được đấu nối theo kiểu xung đối

Hình 5 Đóng điện xung đối trạm tụ bù

Dòng xung kích khi đóng trạm tụ kiểu xung đối gồm 3 thành phần: thành phần xác lập, thành phần quá độ do hệ thống và thành phần quá độ do các trạm tụ khác làm việc trên cùng thanh cái Mỗi thành phần có giá trị đỉnh và tần số khác nhau Trong tính toán thường bỏ qua thành phần dòng xác lập ở tần

số công nghiệp và thành phần dòng quá độ do hệ thống trong việc tính toán dòng điện xung kích, vì chúng có giá trị nhỏ so với thành phần do các trạm tụ khác làm việc trên cùng thanh cái

Dòng xung kích khi đóng điện trạm tụ thứ N vào

N-1 trạm tụ khác đang làm việc trên cùng thanh cái

được tính như sau:

Tổng trở sóng của mạch điện, giá trị đỉnh của dòng xung kích, tần số dao động tự nhiên được cho bởi các biểu thức sau:

Tổng trở sóng

Giá trị đỉnh của dòng xung kích

Trong trường hợp đóng điện trạm tụ xung đối, dòng điện và tần số sẽ có các giá trị rất lớn, nên phải dùng đến giải pháp cuộn kháng hạn dòng hay điện

trở đóng trước Việc tính toán giá trị L R của cuộn kháng hạn dòng để giảm biên độ và tần số của dòng xung kích cho phù hợp với các định mức của tụ và các thiết bị đóng cắt được cho bởi các biểu thức sau:Dựa vào điều kiện dòng điện cực đại:

Tần số dao động tự nhiên

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 7

Trang 10

Dựa vào điều kiện tần số cực đại:

PHóng ĐiỆn Của TRẠM Tụ BÙ KHi Sự Cố ngắn MẠCH

Khi hiện tượng ngắn mạch xảy ra ở vị trí gần với trạm tụ bù, trạm tụ sẽ xả năng lượng tích trữ qua mạch trở kháng thấp ở vị trí xảy ra sự cố Biên độ và tần số của dòng điện xung kích khi đó sẽ tương tự như trường hợp đóng điện trạm tụ xung đối, với giá trị dòng xung kích có thể lên đến 100 pu tại khoảng tần số 2 kHz tới 20 kHz

Tình trạng xấu nhất xảy ra khi điện áp trên tụ đang ở giá trị cưc đại Dòng xung kích của trạm tụ bù

do việc phóng điện của trạm tụ qua vị trí ngắn mạch được tính như sau:

Điện cảm và điện dung tương đương được tính như sau:

Điện cảm tương đương của mạch điện

Điện dung tương đươngcủa mạch điện

chú thích:

a.Giả sử cuộn kháng hạn dòng là giống nhau trên

mỗi pha

b.Khi N trạm tụ bù có công suất giống nhau, giá

trị điện dung tương đương được tính như sau:

Ví dụ 2

Tính toán cuộn kháng hạn dòng khi đóng điện xung

đối 2 trạm tụ bù 138 kV, 30MVAr, Y nối đất Thanh cái 138

kV có dòng ngắn mạch đối xứng 20 kA và điện áp làm

việc lớn nhất là 145 kV.

Khi lắp cuộn kháng hạn dòng nối tiếp trên mỗi

pha với giá trị 0.571 Ohm (1.515mH), dòng điện

xung kích (đỉnh) sau khi tính toán là 3.3kAp ở tần

số 2 kHz (Hình 6) Giá trị này lớn hơn so với trường

hợp đóng điện trạm tụ bù độc lập do có dòng điện từ

trạm tụ đang làm việc đổ về trạm tụ mới đóng điện

Ngoài ra, lưu ý là các dao động điện áp cũng sẽ bị tắt

nhanh hơn do giá trị điện trở của cuộn kháng sẽ lớn

hơn ở tần số cao hơn

Tổng trở sóng của mạch điện, giá trị đỉnh của dòng xung kích, tần số dao động tự nhiên được cho bởi các biểu thức sau:

toán giá trị LR của cuộn kháng hạn dòng để giảm

biên độ và tần số của dòng xung kích cho phù hợp với các định mức của tụ và các thiết bị đóng cắt được cho bởi các biểu thức sau:

Từ điều kiện dòng điện cực đại:

Từ điều kiện tần số cực đại:

Hình 6 Điện áp pha trên trạm tụ và dòng xung kích khi đóng

xung đối trạm tụ bù

Trang 11

Ví dụ 3

Tính toán cuộn kháng hạn dòng khi có sự cố 3 pha

chạm đất trên thanh cái 138 kV có dòng ngắn mạch đối

xứng 20 kA Trạm tụ bù độc lập 138 kV, 30 MVAr, Y nối đất

đang làm việc khi sự cố xảy ra.

Khi lắp nối tiếp cuộn kháng hạn dòng trên mỗi

pha với giá trị 0.571 Ohm (1.515mH), dòng điện

xung kích (đỉnh) sau khi tính toán là 6.7 kAp ở tần số

2000 Hz Tương tự trường hợp đóng điện trạm tụ bù

độc lập, giá trị tính toán này lớn hơn so với kết quả

mô phỏng từ phần mềm ATP, do bỏ qua ảnh hưởng

của điện trở trong hệ thống Ngoài ra, lưu ý là các

dao động điện áp cũng sẽ bị tắt nhanh hơn do giá trị

điện trở của cuộn kháng sẽ lớn hơn ở tần số cao hơn

và khi xả (inrush/ outrush) được ước lượng bởi giá trị của hệ số Q tại tần số quá độ Hệ số Q của cuộn kháng thường giảm đi khi tần số tăng lên Điện trở cuộn kháng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thiết kế, kích thước hình học (đường kính và chiều cao), số vòng dây và đường kính dây dẫn trong cuộn kháng, vật liệu (nhôm hay đồng) và số vòng ở mỗi lớp của cuộn dây

Vì vậy, hệ số Q của cuộn kháng phụ thuộc vào các giá trị định mức của cuộn kháng, và để có các phân tích đáng tin cậy cần liên hệ với nhà sản xuất

để cho các giá trị tiêu biểu của cuộn kháng

Có thể tính hệ số Q của cuộn kháng ở tần số cơ bản qua quan hệ giữa công suất kháng định mức và tổng tổn hao trên mỗi pha

Hình 7 dòng xả của trạm tụ bù khi có sự cố ngắn mạch

ẢnH HƯởng Của HỆ Số CHẤT LƯợng Q Của CuỘn

KHÁng

Các tính toán/ phân tích trên đây chưa quan

tâm đến ảnh hưởng của các điện trở trong hệ thống

Trong mạch thực tế luôn có tổn hao từ điện trở trong

hệ thống, các thiết bị, tổn hao sắt của máy biến áp và

cuộn kháng Ngoài ra các phụ tải cũng luôn chứa các

thành phần tiêu tán năng lượng

Khi phân tích quá trình quá độ, ban đầu thường

không xét đến các tổn hao nhằm giúp cho việc tính

toán được đơn giản hơn Điều này khiến việc tính

toán mang tính bảo thủ và thường có các kết quả

quá điện áp với giá trị lớn quá mức Vì thế, các yếu

tố tổn hao sau đó cần được quan tâm đến bằng cách

đưa thêm các điện trở vào mạch điện Khi có điện trở

trên mạch điện các dao động tự nhiên sẽ bị suy giảm

đi, và tốc độ suy giảm tùy thuộc giá trị tổn hao trên

mạch điện, nói cách khác, vào giá trị tương đối của

điện trở so với điện cảm và điện dung Với trường

hợp cuộn kháng hạn dòng lõi không khí (air-core

re-actors) nối tiếp với trạm tụ, điện trở nối tiếp với mạch

sẽ biểu diễn cho các tổn hao Do điện kháng và điện

trở AC nối tiếp của cuộn kháng đều phụ thuộc vào

tần số, hệ số phẩm chất Q (quality factor= Q- factor)

của cuộn kháng cho bởi biểu thức:

Mức độ suy giảm của dòng xung kích khi đóng

Trong một số trường hợp, có thể lắp thêm các điện trở song song với cuộn kháng để giảm hệ số Q Trong một số trường hợp khác, dùng điện trở đóng trước kèm với máy cắt để tăng tốc quá trình suy giảm của mạch điện khi đóng điện trạm tụ Khi làm việc bình thường, cần cắt/ nối tắt các điện trở để giảm tổng công suất tổn hao của mạch

Ví dụ 4

Tính toán cuộn kháng hạn dòng khi đóng điện trạm

tụ bù độc lập 138 kV, 30MVAr, Y nối đất Thanh cái 138kV

có dòng ngắn mạch đối xứng 20 kA và điện áp làm việc lớn nhất là 145 kV.

Khi lắp cuộn kháng 0.571 Ohm (1.515 mH) nối tiếp với tụ trên mỗi pha và chạy chương trình ATP với 2 giá trị khác nhau của điện trở hiệu dụng (hay

hệ số Q khác nhau) 60 m� và 1500 m� , có được giá trị dòng xung kích như dưới đây (Hình 8 a/ và b/.)

Hình 8 dòng xung kích (với tần số 708 Hz) khi đóng điện trạm tụ bù với cuộn kháng hạn dòng có điện trở hiệu dụng khác nhau a/.60m� b/

1500mΩ

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 9

Trang 12

TÀI LIỆU THAm KHẢO:

[1] Introduction to Switching of ShuntCapacitor

Banks; AREVA Tt&D Worldwide Contact Centre:

www.areva-td.com/contactcentre/

[2] ANSI/IEEE C57.16/1996 – Standard Requirements,

Terminology and Test Code for Dry-Type Air-Core

SeriesConnected Reactors

[3] IEC 60289/1988 – Reactors

[4] ANSI/IEEE C37.012/1979 – Application Guide for

CapacitanceCurrent Switching for AC High Voltage

Circuit Breaker Rated on aSymmetrical Current Basis

[5] IEC 62271-100 – High Voltage AC Circuit-Breakers

[6] Manoeuvre et protection des batteries de

condensateurs MT.Cahier Technique Nº 189 Group

Schneider 1997

[7] Capacitive Current Switching – State of Art

Elec-tra Nº 155.1994

[8] ATP Rule and Theory Book.

ghi chú cho các kí hiệu dùng trong bài báo

UN Rated system voltage (kV)/ Điện áp định mức hệ thống

UMAX Maximum system operating voltage (kV)/ Điện áp làm

việc cực đại hệ thống

fN Rated system frequency (Hz)/ Tần số định mức hệ thống

ω Natural system frequency (rad/sec)/ Tần số dao động tự

nhiên của hệ thống

SCC Rated system three-phase short-circuit power (MVA)/

Công suất ngắn mạch định mức 3 pha của hệ thống

iCC Rated system three-phase short-circuit current (kA) /

Dòng ngắn mạch định mức 3 pha của hệ thống

TóM TắT

Phóng điện cục bộ (Partial Discharge - PD) đã

được nhận biết là quá trình làm suy giảm chất

lượng cách điện của thiết bị điện từ đầu thế kỷ 20

khi kỹ thuật điện cao áp được ứng dụng vào

ng-hiên cứu trong sản suất và truyền tải điện Phóng

điện cục bộ (PĐCB) là dấu hiệu đầu tiên cho các

hư hỏng về cách điện, kéo theo sự hư hỏng của

PHÓNG ĐIỆN CỤC BỘ TRONG CÁCH ĐIỆN

SC3Ø Rated three-phase shunt capacitor bank power (kVAr) /

Công suất định mức 3 pha của trạm tụ

CN Rated shunt capacitor bank capacitance (μF)/ Điện dung

N Number of parallel shunt capacitor banks/ Số trạm tụ

song song (trong kiểu nối xung đối các trạm tụ)

fMAX Maximum circuit breaker operating frequency (kHz)/ Tần

số làm việc cực đại của máy cắt

iMAX Maximum circuit breaker breaking/making current (kAp)/

Dòng cắt/ đóng cực đại của máy cắt

LR Rated current limiting reactor inductance (μH)/ Điện cảm

định mức của cuộn kháng hạn dòng

FQ Current limiting reactor Q-Factor/ Hệ số phẩm chất Q của

cuộn kháng hạn dòng

R Current limiting reactor AC resistance (Ω)/ Điện trở xoay

chiều của cuộn kháng hạn dòng

Z0 Surge impedance of the circuit (Ω)/ Tổng trở sóng của

mạch điện

toàn bộ thiết bị điện Hiện nay lý thuyết cơ bản

về PĐCB đã không được chú giải đúng mức trong các tài liệu chuyên ngành dẫn đến các khó khăn trong việc tiếp cận các tiêu chuẩn, nguyên lý và thiết bị đo liên quan Bài viết xin giới thiệu lý thuyết cơ bản về PĐCB làm cơ sở cho các tiếp cận sau này

Trang 13

i giới THiỆu

Theo tiêu chuẩn IEC 60270 [1], PĐCB được định

nghĩa là các phóng điện nối tắt một phần cách điện

giữa các điện cực và có thể xảy ra gần điện cực hoặc

không, với một ví dụ minh họa ở hình 1 PĐCB xảy

ra do sự tập trung cường độ điện trường cục bộ trong

thể tích hoặc trên bề mặt cách điện

hình mạch điện dung tương đương đã được đề xuất đầu tiên từ 1932, chỉnh sửa vào các năm ở thập kỷ 60

và áp dụng cho đến ngày nay

Hình 2 giới thiệu mô hình điện dung tương đương

để khảo sát PĐCB, với Ca là điện dung tương đương của phần lớn toàn bộ thể tích phần cách điện (điện môi) của vật thử nghiệm giữa hai điện cực, Cb là điện dung tương đương của phần thể tích điện môi nối tiếp với bọc khí giữa hai điện cực Bọc khí được biểu diễn bởi điện dung Cc và khe hở phóng điện Fc đặc trưng cho hiện tượng phóng điện khi cường độ điện trường vượt quá độ bền điện trong bọc khí Thông thường Cb << Cc do các điện dung thành phần trong

Cb nối tiếp nhau và Cc << Ca do hằng số điện môi của không khí nhỏ hơn của điện môi và các thành phần trong Ca ghép song song với nhau

Hình 2 Mô hình điện dung tương đương khảo sát PĐCB.

Trong hình 2, điện áp cao áp u(t) đặt lên hai đầu điện cực bao quanh (cách điện) vật thử nghiệm và i(t) là dòng điện tổng; uc(t) và ub(t) là điện áp giáng tương ứng trên các điện dung Cc và Cb và điện trở R đặc trưng cho tổn hao do PĐCB

Một cách tổng quát điện áp u(t) dạng xoay chiều tần số công nghiệp đặt lên vật thử nghiệm sẽ được khảo sát, vì hầu hết các thiết bị điện đều được cho vận hành ở dạng điện áp này Khi đó, hình 3 biểu diễn điện áp nguồn u(t) và điện áp trên điện dung của bọc khí trong một chu kỳ; điện áp này tỷ lệ với điện áp nguồn u(t) (phân áp qua Cb và Cc) và có thể được biễu diễn theo một trong hai dạng: a) khi bọc khí chưa bị phóng điện chọc thủng, tức cường độ điện trường đặt lên nhỏ hơn giá trị phóng điện tới hạn, được kí hiệu uc0(t) và b) khi bọc khí đã bị phóng điện chọc thủng, được ký hiệu là uc(t)

Hình 3 Các điện áp tác dụng trên bọc khí u c0 (t) và u c (t)

Hình 1 PĐCB trong bọc khí bên trong thể tích cách điện.

Theo quan điểm vật lý, hình thức phóng điện tự

duy trì theo thác điện tử chỉ có thể xuất hiện trong

cách điện thể khí Phóng điện này có thể xuất hiện

trong môi trường không khí xung quanh điện cực

bao gồm các dạng như phóng điện tỏa sáng (glow

discharges), phóng điện tia dạng mảnh (streamer or

filamentary discharges) và phóng điện tia lửa (leader

or spark discharges), trong đó dạng phóng điện chỉ

xuất hiện ở một điện cực mà không nối đến điện cực

còn lại được gọi là “phóng điện cục bộ ngoài” Mặt

khác, các dạng phóng điện này có thể xảy ra cả ở các

bọc khí bên trong thể tích cách điện rắn hay lỏng do

quá trình chế tạo không hoàn hảo, được gọi “phóng

điện cục bộ bên trong”, và là đối tượng tìm hiểu

chính của bài viết này Điện tích của các xung phóng

điện tỏa sáng, phóng điện tia mảnh và phóng điện

tia lửa biến thiên trong khoảng vài pC (pico-Culông),

từ 10 pC đến vài trăm pC, và hàng nghìn pC một

cách tương ứng

Dòng điện do PĐCB có đặc tính dạng xung và chỉ

xuất hiện trong thời gian rất ngắn cỡ nano giây (ns)

nên phổ tần số trải trong vùng cao tần (Very High

Frequency – VHF trong khoảng 30 MHz – 300 MHz)

và siêu cao tần (Ultra High Frequency – UHF trong

khoảng 300 MHz - 3 GHz) Các dạng xung này rất

dễ bị méo dạng khi truyền từ vị trí có PĐCB trong

thể tích cách điện đến các điện cực để đo Do đó,

việc xác định cường độ PĐCB theo phép đo điện cần

phải dựa trên điện tích của các xung dòng, tức là

tích phân của dòng điện theo thời gian, chứ không

phải là biên độ dòng điện vì điện tích không thay đổi

đáng kể từ vị trí PĐCB đến điện cực

ii Mô HÌnH PĐCB

Để xác định điện tích truyền từ vị trí PĐCB bên

trong thể tích cách điện đến các điện cực để đo, mô

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 11

Trang 14

Để giải thích dòng điện – điện tích trong thể tích

cách điện của vật thử nghiệm liên quan đến hiện

tượng PĐCB trong bọc khí, hình 4 biểu diễn lại sơ đồ

tương đương điện dung ở hình 1 và các dòng điện

tương ứng khi xảy ra phóng điện trong bọc khí trong

khoảng thời gian rất ngắn (ns)

Khi xảy ra phóng điện trong bọc khí, dòng điện qua khe hở Fc bao gồm hai thành phần: dòng ic(t) qua điện dung Cc và dòng ib(t) qua các điện dung Cb và

Ca Cũng cần phải lưu ý là, trong thời điểm xảy ra phóng điện trong bọc khí (cỡ ns), điện áp nguồn coi như hằng số và không có ảnh hưởng đến các dòng điện quá độ trong mạch Điện tích đặc trưng cho PĐCB bên trong vật thử nghiệm (qc) một cách tổng quát là tích phân trong miền thời gian của tổng hai dòng quá độ ib(t) và ic(t), gây một độ sụt áp ΔVc giáng lên tổ hợp điện dung nhìn từ Cc, tức bao gồm Cc song song với điện dung Cb và Ca nối tiếp nhau

Theo giả thuyết đã được chấp nhận và kiểm chứng rộng rãi Ca >> Cc >> Cb, điện tích PĐCB bên trong (internal charge) có thể được tính:

qc = ΔVc • {Cc//(Cb nối tiếp Ca)} ≈ ΔVc • (Cc + Cb) (1)Trong thực tế điện tích qc này không thể đo được

do Cb và Cc chưa xác định, vì phạm vi và mức độ PĐCB (tức vị trí và số lượng của các bọc khí bên trong cách điện vật thử nghiệm) không thể biết được Tuy nhiên, người ta đã dựa vào một đại lượng điện tích khác đo được ở hai đầu cực vật thử nghiệm, gọi

là “điện tích bên ngoài”(external charge) được xác định như sau:

qa ≈ ΔVa • Ca (2)Trong hình 4b, các điện áp ΔVa (giáng trên Ca)

và ΔVc (giáng trên tổ hợp Cb và Ca nối tiếp) tạo nên một cầu phân áp nên liên hệ nhau bởi:

đó, IEC 60270 [1] đã nêu rằng, “điện tích biểu kiến”

qa là đại lượng điện tích có thể đo ở các đầu điện cực của vật thử nghiệm và rất nhỏ hơn lượng điện tích không đo được do PĐCB (qc) xảy ra bên trong vật thử nghiệm

Tuy nhiên, mô hình điện dung tương đương

đã bắt đầu không được công nhận bởi một số nhà nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 bởi vì bọc khí và quá trình phóng điện tương ứng không thể được biểu diễn chính xác bởi một điện dung tương đương và khe hở, mà phải theo mô hình momen lưỡng cực (dipole moment model) do hiện tượng phóng điện trong chất khí Bài viết sẽ không đề cập chi tiết đến

mô hình mới về PĐCB mà sẽ đưa ra kết luận rằng, điện tích biểu kiến qa trong thực tế có thể biểu diễn thích hợp mức độ PĐCB trong vật thử nghiệm Trong tương lai các tiêu chuẩn quốc tế liên quan sẽ có các sửa đổi thích hợp theo các nghiên cứu dựa trên mô

Do cường độ điện trường giữa hai điện môi có

điện dung Cb và Cc ghép nối tiếp nhau tỷ lệ nghịch

theo hằng số điện môi, cường độ điện trường đặt trên

bọc khí (Cc) cao hơn so với cường độ điện trường đặt

trên lớp cách điện nối tiếp (Cb) Mặt khác cường độ

điện trường phóng điện tới hạn (độ bền điện) của bọc

khí lại nhỏ hơn nên nếu có phóng điện thì sẽ xảy ra

trong bọc khí trước Các giá trị điện áp phóng điện

tương ứng lúc bắt đầu và kết thúc PĐCB khi điện áp

nguồn ở bán kỳ dương được ký hiệu U+, V+ và ở bán

kỳ âm là U-, V- tương ứng

Ban đầu điện áp uc(t) tăng tỷ lệ theo u(t) đến trị số

U+ sẽ xảy ra hiện tượng phóng điện chọc thủng bọc

khí Lúc đó điện áp bọc khí giảm lập tức xuống giá trị

tắt PĐCB V+ và điện áp uc(t) lại tăng theo u(t) nhưng

bắt đầu từ giá trị V+ Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi

điện áp nguồn đổi sang bán kỳ âm và điện áp uc(t) sẽ

có dạng xung tần số cao hơn nhiều so với tần số công

nghiệp của điện áp nguồn Cứ mỗi lần phóng điện,

các điện tích tương ứng với dòng ic(t) biên độ nhỏ tần

số cao được tạo thành (giới thiệu ở hình 3), xếp chồng

với dòng điện dung i~(t) biên độ lớn tần số thấp ở hai

đầu cực vật thử nghiệm tạo ra dòng điện tổng Dòng

điện ic(t) hay điện tích tương ứng qc với qc = ∫ic(t) là

một trong những đại lượng điện chính cần xác định

để đánh giá mức độ PĐCB trong cách điện

iii XÁC ĐỊnH ĐiỆn TíCH do PĐCB

Hình 4 a) Mô hình mạch điện dung tương đương, b) Các dòng

điện quá độ khi có phóng điện trong bọc khí.

Trang 15

hình lưỡng cực điện này.

Điện tích qa có thể được đo trong một mạch tổng

quát giới thiệu ở hình 5 Mạch đo này bao gồm một

nguồn cao áp xoay chiều (tần số công nghiệp), một

tổng trở ZL mang tính cảm kháng lọc nhiễu từ nguồn

ảnh hưởng đến các xung PĐCB cũng như chặn sự

truyền các xung PĐCB trở về nguồn (do XL = ωL rất

lớn ở tần số cao), một tụ tương hỗ mạch đo (coupling

capacitor) Ck không có PĐCB có nhiệm vụ tạo mạch

kín tổng trở thấp cho dòng xung PĐCB từ vật thử

nghiệm (điện dung Ct ≈ Ca) chạy qua cho mục tiêu

đo lường, bởi vì XCk = 1/(ω Ck) rất nhỏ ở tần số cao

Trong thực tế, mạch đo này còn có thêm một tổng trở

đo mắc nối tiếp với vật thử nghiệm hay tụ tương hỗ

nhằm mục đích lấy tín hiệu điện áp từ tín hiệu dòng

ic(t) để xác định ngược lại dòng điện (hay điện tích)

của các xung PĐCB

Hình 5 Sơ đồ mạch đo PĐCB.

Hình 6 Điện áp nguồn

và các dòng điện: i ~t qua vật thử nghiệm, i ~k qua tụ C k và dòng xung PĐCB i c

iV nguYÊn LÝ THiẾT BỊ Đo ĐiỆn TíCH do PĐCB

Điện tích đặc trưng cho quá trình PĐCB, qc, hay tương ứng là điện tích biểu kiến, qa, về bản chất là tích phân của các xung dòng ic(t) trong hình 3 trong toàn miền thời gian Công thức biểu diễn cách tính này được đưa ra bởi:

(8)

Do đó, thiết bị đo điện tích các xung PĐCB chỉ cần có nguyên lý thực hiện theo phương trình (8), tức lấy tích phân dạng sóng dòng điện xung trong miền thời gian Các thiết bị này cần phải có dãy tần

số rộng với băng thông lớn hơn 1 MHz để có thể đo được tín hiệu PĐCB với dãy tần rộng như đã đề cập.Một nguyên lý đo khác dựa trên khảo sát trong miền tần số bằng việc lấy khai triển Fourier của phương trình:

(9)Nếu cho ω = 0 thì:

F(0) = q (10)Như vậy điện tích q tương ứng với thành phần một chiều F(0) của mật độ phổ biên độ Do đó, chỉ cần dựa vào hàm đáp ứng xung (impulse response) của thiết bị đo ở vùng tần số thấp (so với phổ tần xung PĐCB) nhưng lớn hơn tần số công nghiệp (ví

dụ dãy tần từ 10 kHz đến 100 kHz) là có thể xác định được điện tích này

V HiỆu CHuẨn THiẾT BỊ Đo

Cũng giống như bất kỳ thiết bị đo nào, thiết bị đo PĐCB cần phải được hiệu chuẩn trước khi đo, nghĩa

là cần phải cần phải dựa vào một thông tin đã biết (như một giá trị điện tích cụ thể nào đó) để có thể xác định các giá trị điện tích đo sau đó

Hình 7 giới thiệu nguyên lý hiệu chuẩn dựa trên việc cấp một điện tích q0 đã xác định trước vào giữa hai điện cực của vật thử nghiệm để mô phỏng PĐCB xảy ra trong vật thử nghiệm

Tại thời điểm diễn ra sự phóng điện trong bọc khí,

tương đương với khe hở Fc trong hình 4 bị nối tắt, các

tụ xả dòng ic(t) và ib(t) gây ra độ sụt áp ΔVc nhìn từ tụ

Cc hay ΔVa nhìn từ tụ Ca Khi vật thử nghiệm Ct ≈ Ca

ghép song song với tụ tương hỗ Ck, độ sụt áp ΔVa sẽ

gây ra ΔVk trên Ck với quan hệ:

∆Vk ≈ ∆Va⋅Ca/(Ca + Ck) (6)

Khi đó điện tích truyền giữa Ck và Ct được xác

định theo (2) và (6):

qm = ∆Vk⋅Ck = qa⋅Ck/(Ca + Ck) (7)

Nếu Ck >> Ca thì qm → q và do đó, điện tích đo

được trên Ck sẽ tiến tới giá trị biểu kiến qa của vật thử

nghiệm khi có PĐCB Hình 6 minh họa dạng điện áp

nguồn, các dòng điện dung tương ứng qua vật thử

nghiệm (i~t) và tụ tương hỗ Ck (i~k) và dòng điện xung

do PĐCB (ic)

Hình 7 Sơ đồ nguyên lý hiệu chuẩn mạch đo PĐCB (Z m : tổng trở

đo, Mi: thiết bị đo PĐCB).

Trong hình 7, thiết bị hiệu chuẩn gồm máy phát xung dạng điện áp bước có biên độ U0 đã biết Do

tụ C0 cũng đã được xác định, lượng điện tích đã biết

q0 = C0·U0 được đưa vào trong vật thử nghiệm để mô

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 13

Trang 16

Biểu diễn qa theo q0 nhận được:

qa = q0⋅U2/U1 (13)

Do các độ lệch điện áp U1 và U2 sẽ liên quan đến

các chỉ số đọc được trên thiết bị đo là R0và R1nên:

qa = q0⋅R1/R0 (14)

Vậy có thể xác định điện tích của các xung PĐCB

từ điện tích xung đã được dùng để hiệu chuẩn q0,

trong đó tỷ số R1/R0 đặc trưng cho hệ số tỷ lệ của

mạch đo PĐCB

Vi CÁC dẠng Đo PĐCB KHÁC

PĐCB không chỉ gắn liền với hiện tượng quá độ

và dòng điện tần số cao mà còn có những dấu hiệu

liên quan đến các hiện tượng hóa, âm và quang học

Vì vậy, có thể áp dụng các phương pháp đo khác

nhau, minh họa ở hình 8, để đo hay xác định PĐCB

trong cách điện hay trên bề mặt của thiết bị điện

thời gian nên các phân tích hóa học có thể nhận biết hiện tượng già hóa cách điện gây ra bởi PĐCB.Ngoài ra, PĐCB còn sinh ra các sóng âm với bản chất là các sóng cơ có tần số trong vùng siêu âm nên

có thể được phát hiện bằng cách sử dụng các cảm biến thích hợp Sóng cơ khác với sóng điện từ ở chỗ, chúng cần môi trường để truyền đi vì dựa vào sự dao động cơ học của các phần tử trong môi trường truyền, và vì vậy, vận tốc truyền nhỏ hơn đáng kể

so với vận tốc của sóng điện từ (vốn không cần môi trường truyền sóng)

Cuối cùng, PĐCB bên ngoài hay bề mặt dưới dạng các tia lửa điện có thể được phát hiện bằng cách quan sát trong điều kiện thích hợp (phòng tối) hay sử dụng thiết quan sát thích hợp (ống nhòm).Các phương pháp đo PĐCB không theo nguyên

lý điện học như hóa, âm hay quang học còn được gọi

là các phương pháp đo phi truyền thống ventional) Các phương pháp đo này sẽ được mô tả chi tiết trong tiêu chuẩn IEC 62478 [2] và sẽ không được trình bày trong bài viết này

(non-con-Vii KẾT Luận

Bài viết đã giới thiệu chủ yếu lý thuyết cơ bản về hiện tượng PĐCB với các nội dung về mô hình điện dung tương đương giải thích dòng điện – điện tích từ quá trình PĐCB, nguyên lý mạch đo, thiết bị đo và hiệu chuẩn hướng theo tiêu chuẩn IEC 60270

Các kiến thức nâng cao khác có thể được tìm hiểu trong các tài liệu thích hợp (sách chuyên ngành, tài liệu hướng dẫn của nhà sản xuất thiết bị đo và cả tiêu chuẩn quốc tế như IEC 60270 hay 62478) Các kiến thức này có thể bao gồm việc đo trực hay ngoại tuyến, điện áp tác dụng theo dạng (sóng điện áp hình sin tần số thấp – Very Low Frequency 0.1 Hz, sóng điện áp hình sin biên độ giảm dần – Damped alternating Voltage), theo thời gian tác dụng và giá trị thử nghiệm tương ứng với các đối tượng thử ng-hiệm khác nhau (máy biến áp lực, cáp ngầm, thiết bị

đo lường).

TÀI LIỆU THAm KHẢO:

[1] IEC 60270 - High-voltage test techniques -Partial discharge measurements

[2] IEC 62478 - High-voltage test techniques - surement of partial discharge by electromagnetic and acoustic methods

Mea-Hình 8 Tổng hợp các phương pháp đo PĐCB.

Đầu tiên, là các phép đo mang tính chất điện học:

đó là việc đo điện tích biểu kiến (hay dạng sóng) của

từng xung PĐCB theo IEC 60270 hay dòng điện và

tần suất lập lại của chuỗi các xung PĐCB hay năng

lượng và công suất của chuỗi xung PĐCB ở đầu cực

vật thử nghiệm… Ngoài ra, còn có các phép đo khác

đo lường các tín hiệu sóng điện từ cao tần HF, siêu

cao tần VHF/UHF sinh ra từ hiện tượng PĐCB (quá

trình ion hóa và phóng điện trong bọc khí)

Kế đến, PĐCB trong các thiết bị có cách điện lỏng

hay khí có thể phát hiện dựa trên nguyên lý hóa học

bởi vì các xung PĐCB giải phóng năng lượng xúc

tác các quá trình già hóa cách điện sinh ra các sản

phẩm khí đặc trưng hòa tan trong môi trường cách

điện khí hay lỏng Các sản phẩm này tích lũy theo

phỏng lượng điện tích tạo ra do PĐCB Có thể thấy

nguồn U0 và tụ C0 có vai trò giống như bộ nguồn do

hiện tượng phóng điện trong bọc khí và điện dung Cb

Điện tích hiệu chuẩn q0 sẽ gây ra độ lệch áp U1

giữa hai điện cực theo:

q0 = C0⋅U0 = Ca⋅U1 (11)

Nếu có PĐCB xảy ra, điện tích biểu kiến sẽ được

xác định bởi:

qa = Ca⋅U2 (12)

Trang 17

ThS PhạM ThÀnh TRung

Tổng công ty Điện lực miền Nam

TS TRẦn hỒng nguyÊn

Trường Đại học Điện lực

Tóm tắt: Bài viết này giới thiệu chung về các phương pháp dự báo và phương pháp hồi quy, thu thập dữ liệu quá khứ về giá trị sản xuất, giá điện, điện năng tiêu thụ của các thành phần sử dụng điện và dân số của tỉnh Long An, sử dụng phần mềm Eviews

để dự báo nhu cầu điện năng của tỉnh Long An giai đoạn 2015-2025.

1 giới THiỆu CHung Về PHƯƠng PHÁP dự BÁo

nHu CẦu

Hiện nay, có nhiều phương pháp dự báo được áp

dụng dự báo nhu cầu nói chung và điện năng nói

riêng trong tương lai, như: (i) phương pháp định

lượng (chuỗi thời gian, hồi quy, mô phỏng, mạng

neuron,…(ii) phương pháp định tính (chuyên gia)

Mỗi phương pháp dự báo đều có những ưu điểm,

nhược điểm và phạm vi sử dụng khác nhau Thông

thường để xác định giá trị dự báo của một đại lượng

ngẫu nhiên nào đó tại một thời điểm trong tương lai

hầu hết các phương pháp đều sử dụng chuỗi số liệu

thống kê quá khứ của đại lượng đó để tìm quy luật

biến thiên theo thời gian hoặc quy luật tương quan

với các chỉ tiêu kinh tế khác và sử dụng các quy luật

này để dự báo đại lượng đó trong tương lai

Mô hình hồi quy là thể hiện mối quan hệ giữa

biến độc lập (X) và biến phụ thuộc (Y), hay nói cách

khác là hành vi của biến số cần được dự báo sẽ bị

ảnh hưởng bởi một hay nhiều yếu tố khác Mô hình

hồi quy xác định sự liên quan định lượng giữa Y và

X, kết quả của phân tích hồi quy được dùng cho dự

báo Một số các dạng mô hình phổ biến được dùng

Để kiểm định mô hình tương quan người ta áp

dụng nhiều tiêu chuẩn khác nhau như kiểm định

t-student, kiểm định F hay điểm định Durbin-

Watson nhằm đánh giá xem mô hình tương quan

giữa biến phụ thuộc Y với các biến độc lập X đáp

ứng các tiêu chuẩn kiểm định không, nếu đáp ứng

thì mới sử dụng để dự báo Y trong tương lai

Khi sử dụng mô hình hồi quy, đòi hỏi nhiều thời gian để thu thập số liệu và phải đánh giá được mối liên hệ giữa biến số độc lập và biến số phụ thuộc.Bài viết này lựa chọn phương pháp hồi quy, sử dụng phần mềm Econometrics Views (Eviews) để

dự báo nhu cầu điện năng của tỉnh Long An giai đoạn 2015-2025 với 5 thành phần tiêu thụ điện: Công nghiệp và xây dựng (CN&XD); Nông - Lâm - Thủy sản (N-L-T); Thương mại và dịch vụ (TM&DV); Quản lý và tiêu dùng dân cư (QLTD); các hoạt động khác (Khác)

2 dự BÁo nHu CẦu ĐiỆn Của TỈnH Long an giai ĐoẠn 2015-2025

+ Chuỗi số liệu quá khứ về các chỉ tiêu kinh tế -

xã hội của tỉnh theo các thành phần kinh tế: tổng giá trị GO, tốc độ tăng GO theo giá so sánh năm 2010, tốc độ tăng các ngành trong GRDP, từ năm 1994 đến năm 2014

+ Điện năng tiêu thụ và diễn biến giá điện giai đoạn từ năm 1994 đến 2014

Và Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2015-2020 gồm:

DỰ BÁO NHU CẦU ĐIỆN NĂNG

BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐA HỒI QUY VỚI CÔNG CỤ HỖ TRỢ EVIEWS

BảN TiN HỘi Miền naM - THáNg 8/2016 15

Trang 18

+ Dự báo dân số, phân bố dân

cư cho các giai đoạn quy hoạch;

+ Quan điểm và mục tiêu phát

triển của tỉnh trong các giai đoạn

tới;

+ Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội

trong các giai đoạn tới bao gồm:

Tốc độ tăng trưởng, cơ cấu các

ngành trong thành phần GRDP,

GRDP bình quân trên người

Được thu thập thông qua các

số liệu cung cấp của Sở KH&ĐT,

Sở Công Thương và Công ty Điện

lực Long An

2.2 Xây dựng hàm dự báo:

Sử dụng phương pháp hồi quy

để Dự báo nhu cầu sử dụng điện

năng tỉnh Long An với 5 thành

phần cơ bản là: Công nghiệp và

xây dựng; Nông - Lâm - Thủy;

Thương mại và dịch vụ; Quản lý

và tiêu dùng dân cư và Các hoạt

động khác

Trên cơ sở bộ số liệu đã thu

thập được xây dựng hàm hồi quy

biểu thị mối tương quan giữa tiêu

thụ điện năng của từng ngành

với các biến phụ thuộc như: GO

của ngành, tiêu thụ điện năng

của ngành năm trước, dân số, GO

trên đầu người, tỉ lệ điện khí hoá,

giá điện, ….Cụ thể đối với từng

ngành như sau:

-Tiêu thụ điện ngành Công

nghiệp = f (GO ngành CN, giá

điện)

-Tiêu thụ điện cho Nông

ng-hiệp = f (GO ngành NN, giá điện)

-Tiêu thụ điện cho Thương

mại-dvụ = f (GO ngành dịch vụ,

giá điện)

-Tiêu thụ điện cho Dân dụng =

f (GO/người, dân số, giá điện)

-Tiêu thụ điện cho Ngành

khác = f (GO/người, giá điện)

Các hàm dự báo được giả định

cho từng thành phần tiêu thụ điện

với chuỗi số liệu đã thu thập được

nêu trên để xây dựng các hàm hồi quy biểu thị mối tương quan giữa tiêu thụ điện năng của từng thành phần tiêu thụ với các biến độc lập như: GO và giá điện (P) của ngành, dân số, cụ thể minh họa cho hàm dự báo nhu cầu điện của ngành công nghiệp và xây dựng, như sau:

Xây dựng hàm dự báo: Mức độ tương quan giữa các biến độc lập

(GOCN&XD; PCN&XD) với biến phụ thuộc điện năng tiêu thụ (ECN&XD) được xác định thông qua ma trận tương quan, sử dụng Eviews với chuỗi số liệu của giai đoạn 1995-2014 ta có hàm dự báo:

ECN&XD = 259.239,8 + 0,273380*GOCN&XD – 454,3992*PCN&XDKiểm định hàm dự báo giả định: Hàm số trên phản ánh đúng quy luật kinh tế về quan hệ của biến GO và P với E, sau khi đánh giá hệ số

R2 và kiểm định T, F và đa cộng tuyến cho thấy biến GO và P có hiện tượng đa cộng tuyến nên loại biến P và chạy lại hồi quy chỉ với biến GO,

ta có hàm: ECN&XD = -36.191,19 + 0,250439*GOCN&XD.Tiếp theo, đánh giá

hệ số R2 và kiểm định T, Durbin-Watson, Breusch-Godfrey, tiến hành thủ tục lặp Cochrane -Orcutt ta thu được hàm hồi quy:

ECN&XD = -21.377,7 + 0,246541*GOCN&XD

Lựa chọn hàm dự báo phù hợp: Với thành phần CNXD, sau khi xây

dựng, kiểm định và đánh giá ta lựa chọn được hàm ECN&XD = -21.377,7 + 0,246541*GOCN&XD, tương tự các hàm của các thành phần tiêu thụ điện, tiến hành thủ tục xây dựng hàm dự báo giả định và kiểm định như trên, thu được các hàm dưới đây:

EN-L-T = -674,9395 + 0,001839*GON-L-T

ETMDV = - 25.116,32 + 0,016768*GOTMDV

EQLTD = -744.770,3 + 0,031891*GOtỉnh + 0,556359*DStỉnhlàm hàm dự báo nhu cầu điện năng của các thành phần tiêu thụ điện của tỉnh Long An giai đoạn 2015-2020

Riêng với thành phần tiêu thụ điện khác, sử dụng phần mềm Eviews với chuỗi số liệu thu thập được cho quan hệ hồi quy giữa EKhác và PKháckhông đúng với quy luật kinh tế, nên không sử dụng hàm hồi quy dự báo cho thành phần này Do vậy, bài viết này sử dụng phương pháp ngoại suy theo thời gian sử dụng hệ số tăng trưởng điện tiêu thụ của thành phần này trong quá khứ là 12,5%/năm để dự báo cho giai đoạn 2015-2025

2.3 Dự báo nhu cầu điện cho tỉnh Long An giai đoạn 2015-2025

Dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, ta có tốc độ tăng GO của các thành phần kinh tế của tỉnh theo các giai đoạn như ở bảng dưới:

BẢNg 4: Tốc Độ TăNg gO củA các NgÀNH KINH Tế TỉNH LONg

AN gIAI ĐOạN 2015-2025

Ngành kinh tế Tốc độ tăng trưởng gO trong các giai đoạn (%)

2015 2016-2020 2021-2025 Tỉnh 12,6 13 12,7 CN&XD 14,2 14,4 13,5 N-L-T 5,7 5,7 4,8 TM&DV 16,1 17 15 Dân số tỉnh 0,85 0,68 0,58

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Long An

Sử dụng các hàm dự báo nêu trên và các biến độc lập GO, DS được xác định cho giai đoạn 2015-2025, nhu cầu điện năng của từng thành phần và của tỉnh Long An được dự báo như ở bảng dưới đây:

Ngày đăng: 18/09/2020, 17:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

[bảng đánh giá thực hiện quy hoạch] - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
b ảng đánh giá thực hiện quy hoạch] (Trang 3)
Có 3 cách đấu nối các trạm tụ (Hình 1): 1.Y nối đất - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
3 cách đấu nối các trạm tụ (Hình 1): 1.Y nối đất (Trang 5)
Bảng 1 cho các hệ số Kv (hệ số quá điện áp trên - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Bảng 1 cho các hệ số Kv (hệ số quá điện áp trên (Trang 6)
Hình 2.a/ Trạm tụ 132KV với cuộn kháng hạn dòng - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 2.a Trạm tụ 132KV với cuộn kháng hạn dòng (Trang 7)
Hình 2.b/ Trạm tụ 245 kV với cuộn kháng hạn dòng II. ĐóNg cắT Trạm Tụ Bù - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 2.b Trạm tụ 245 kV với cuộn kháng hạn dòng II. ĐóNg cắT Trạm Tụ Bù (Trang 7)
Bảng 3. Các định mức quá độ của máy cắt - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Bảng 3. Các định mức quá độ của máy cắt (Trang 8)
72 kV 20 4250 16 3360 120 kV&lt;UMAX≤  - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
72 kV 20 4250 16 3360 120 kV&lt;UMAX≤ (Trang 8)
Hình 3. Đóng điện trạm tụ bù độc lập - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 3. Đóng điện trạm tụ bù độc lập (Trang 8)
(Hình 5). Khi đó, dòng xung kích khi đóng điện một trạm tụ vào các trạm tụ khác đang làm việc có thể lên  đến giá trị 100 pu ở tần số 2kHz đến 20 kHz - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 5 . Khi đó, dòng xung kích khi đóng điện một trạm tụ vào các trạm tụ khác đang làm việc có thể lên đến giá trị 100 pu ở tần số 2kHz đến 20 kHz (Trang 9)
Hình 4. Điện áp pha và dòng xung kích của trạm tụ khi đóng điện trạm bù độc lập - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 4. Điện áp pha và dòng xung kích của trạm tụ khi đóng điện trạm bù độc lập (Trang 9)
Hình 6. Điện áp pha trên trạm tụ và dòng xung kích khi đóng xung đối trạm tụ bù  - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 6. Điện áp pha trên trạm tụ và dòng xung kích khi đóng xung đối trạm tụ bù (Trang 10)
Hình 8. dòng xung kích (với tần số 708 Hz) khi đóng điện trạm tụ bù với cuộn kháng hạn dòng có điện trở hiệu dụng khác nhau a/.60m� b/  - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 8. dòng xung kích (với tần số 708 Hz) khi đóng điện trạm tụ bù với cuộn kháng hạn dòng có điện trở hiệu dụng khác nhau a/.60m� b/ (Trang 11)
Hình 7. dòng xả của trạm tụ bù khi có sự cố ngắn mạch ẢnH HƯởng Của HỆ Số CHẤT LƯợng Q Của CuỘn  KHÁng - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 7. dòng xả của trạm tụ bù khi có sự cố ngắn mạch ẢnH HƯởng Của HỆ Số CHẤT LƯợng Q Của CuỘn KHÁng (Trang 11)
Tuy nhiên, mô hình điện dung tương đương đã bắt đầu không được công nhận bởi một số nhà   nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 bởi vì bọc khí và quá  trình phóng điện tương ứng không thể được biểu  diễn chính xác bởi một điện dung tương đương và  khe hở, mà phải - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
uy nhiên, mô hình điện dung tương đương đã bắt đầu không được công nhận bởi một số nhà nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 bởi vì bọc khí và quá trình phóng điện tương ứng không thể được biểu diễn chính xác bởi một điện dung tương đương và khe hở, mà phải (Trang 14)
Hình 6. Điện áp nguồn và các dòng điện: i ~t qua vật thử nghiệm, i ~k qua tụ C k  và dòng xung  - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 6. Điện áp nguồn và các dòng điện: i ~t qua vật thử nghiệm, i ~k qua tụ C k và dòng xung (Trang 15)
hình lưỡng cực điện này. - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
hình l ưỡng cực điện này (Trang 15)
Hình 8. Tổng hợp các phương pháp đo PĐCB. - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 8. Tổng hợp các phương pháp đo PĐCB (Trang 16)
BẢNg 6: SO SáNH KếT qUẢ Dự BáO củA [1] VÀ [2] - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
g 6: SO SáNH KếT qUẢ Dự BáO củA [1] VÀ [2] (Trang 19)
Số liệu cần thiết cho mô hình hồi quy được thu thập từ các nguồn số - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
li ệu cần thiết cho mô hình hồi quy được thu thập từ các nguồn số (Trang 19)
Hình 1: Minh họa đặc tuyến phối hợp giữa dây chì và Recloser 2.Tổng Quan Về THiẾT BỊ ReSeTTaBLe eLeCTRoniC  SeCTionaLiZeR (ReS) TRong PHÂn ĐoẠn Sự Cố: - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 1 Minh họa đặc tuyến phối hợp giữa dây chì và Recloser 2.Tổng Quan Về THiẾT BỊ ReSeTTaBLe eLeCTRoniC SeCTionaLiZeR (ReS) TRong PHÂn ĐoẠn Sự Cố: (Trang 20)
Hình 4: Thử nghiệm vận hành của thiết bị ReS tại PXCĐ trước khi lắp đặt - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 4 Thử nghiệm vận hành của thiết bị ReS tại PXCĐ trước khi lắp đặt (Trang 21)
2.2. Mô TẢ HoẠT ĐỘng PHối HợP giỮa ReS Với ReCLoSeR: - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
2.2. Mô TẢ HoẠT ĐỘng PHối HợP giỮa ReS Với ReCLoSeR: (Trang 21)
Hình 5: Lắp đặt thí điểm thiết bị ReS trên lưới điện của PC ninh Thuận. 4.KẾT Luận:  - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 5 Lắp đặt thí điểm thiết bị ReS trên lưới điện của PC ninh Thuận. 4.KẾT Luận: (Trang 21)
RESNhánh A - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
h ánh A (Trang 21)
Bảng năng lượng mặt trời dạng lớn. - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Bảng n ăng lượng mặt trời dạng lớn (Trang 22)
5. “Nghiên cứu mô hình hệ thống đo đếm phục vụ thị trường điện tại Tổng công ty Điện lực miền Nam“ - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
5. “Nghiên cứu mô hình hệ thống đo đếm phục vụ thị trường điện tại Tổng công ty Điện lực miền Nam“ (Trang 26)
- Quảng bá được hình ảnh của SEEA và Chi hội bằng các hình  - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
u ảng bá được hình ảnh của SEEA và Chi hội bằng các hình (Trang 27)
Hình 1: nguồn dC bảo vệ bằng cầu chì - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 1 nguồn dC bảo vệ bằng cầu chì (Trang 32)
Hình 2: nguồn dC bảo vệ bằng MCB - BẢN TIN SEEA SỐ 16 , BẢN FULL
Hình 2 nguồn dC bảo vệ bằng MCB (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w