1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập san "Nâng cánh ước mơ" số 5

62 1,8K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập san "Nâng cánh ước mơ" số 5
Trường học Trường THCS Thái Nguyên
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Tập san
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những ngày thi đua lập thành tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam, chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc, hoà chung với biết bao các hoạt động sôi nổi trong nhà trường và đất nư

Trang 1

LỜI NGỎ CÙNG BẠN ĐỌC

Bạn đọc thân mến!

Trên tay bạn đã có Tập san “Nâng

cánh ước mơ” số 5 rồi đó Một năm chỉ

có một dịp để bạn được suy ngẫm và

thả hồn theo con chữ của những tác giả

tài hoa gần gũi nhất bên bạn Số báo là

nơi hội tụ, kết tinh tài năng, trí tuệ, công

sức, nơi gặp gỡ tâm tình ấm cúng của cả

thầy và trò trường THCS Thái Nguyên

qua các thế hệ Những bông hoa đồng

nội ngày nào giờ đã thêm hương thêm

sắc tự tin khoe mình dưới ánh nắng ban

mai rực rỡ

Cách đây vừa tròn 4 năm, 20-11-2006

tập san “Nâng cánh ước mơ” đầu tiên

ra mắt bạn đọc với bao niềm vui, bỡ

ngỡ, mong đợi và cả sự hồi hộp lo âu

Những trang báo tuy đơn sơ mộc mạc

nhưng lại chính là món quà vô giá thể

hiện lòng tri ân tới các thầy cô giáo,

những người lái đò đưa thế hệ trẻ cập

bến tương lai Bốn số báo qua, đã gói

ghém biết bao cảm xúc đẹp đẽ, tinh

khôi, vẹn nguyên ấm áp bao la tình

người Theo dòng thời gian tờ báo càng

ngày càng lớn hơn cả về nội dung và ý

nghĩa “Nâng cánh ước mơ” được lấy

cảm hứng từ ý của câu hát “Ai nâng

cánh ước mơ cho em, là thầy cô không

quản ngày đêm Ai dạy dỗ chúng em nên

người là thầy cô em ghi nhớ suốt đời…”

đã đi vào tâm hồn bạn đọc mỗi dịp đầu

đông khi cái nắng hanh hao và gió đầu

mùa se se lạnh

20-11 năm nay, số báo tròn 5 tuổi, cái

tuổi bước đầu khẳng định được tâm thức

của mình Cũng giống như một đứa trẻ

mới lớn đang dần thoát ra khỏi vòng tay

mẹ để khẳng định từng bước đi vững

chãi đầu đời, tập san này đang dầnchiếm lĩnh được tình cảm của bạn đọc đểlớn lên mạnh mẽ, “oai phong” hơn Cái có được của tập san không phải

là những sáng tác lung linh sắc màu rực

rỡ mà chính là cái chất sâu lắng, đằmthắm yêu thương của tình thầy trò chântình mộc mạc, bình dị bao dung Với cácthầy cô, qua trang báo có thể gửi gắm tớihọc trò mình biết bao tình thương yêu vô

bờ bến Còn với các em học sinh, tuynhững bài báo còn non nớt thơ ngâynhưng ắp đầy tình cảm Có thể nhữngbài viết còn vụng về, những câu văn còn

bỏ ngỏ, tứ thơ còn chưa liền vần liềnmạch nhưng chúng ta đón nhận ở đó cáitình cảm tinh khôi nhất của con trẻ dànhcho thầy cô, trường lớp, quê hương, bèbạn, người thân của mình Để rồi lớn lên

5 năm, 10 năm, hoặc 20 năm nữa nhìnlại bạn cũng như tôi thấy mình ngờnghệch đáng yêu biết nhường nào Nếu

có ước muốn được tìm lại cảm xúc vẹnnguyên như thế chắc chẳng thể nàođâu… Sáng tác của các em ngày mộtthêm hay thêm ý nghĩa Đồng nghĩa vớiviệc đó là sự đầu tư cho trang báo cũngcông phu hơn, chắt lọc hơn, trau chuốthơn Tất cả đang khởi sắc và chuyểnmình

Trang 2

mái trường THCS Thái Nguyên, có

những bài viết của các em đã xa trường,

hướng về trường thân yêu Thầy cô xin

ghi nhận tất cả tình cảm bao la ấy

Chúng tôi mong rằng trên bước đường

phía trước còn nhiều chông gai vất vả,

các em luôn là những cánh chim đầu đàn

giang đôi cánh rộng bay tới muôn

phương mang theo những tình cảm tốt

đẹp này của các thầy cô

Bạn đọc thân mến!

Tấm lòng tri kỉ của bạn đọc với trang

báo thật đáng trân trọng Chúng ta cùng

chung niềm vui hướng về ngày hội lớn

20-11 và cùng chung sức làm cho cuốn

tập san mỗi năm thêm sự trưởng thành 5

năm có thể nói là một mốc son đánh dấu

sự lớn lên của trang báo và cũng có thể

mở ra một bước ngoặt mới của sự đột

phá trong tư duy, sáng tạo của các tác

giả cùng những người Biên tập chắp bút

cho cuốn tập san có ý nghĩa hơn Chúng

tôi mong được sự quan tâm, góp ý của

bạn đọc

Trong những ngày thi đua lập thành

tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt

Nam, chào mừng những ngày lễ lớn của

dân tộc, hoà chung với biết bao các hoạt

động sôi nổi trong nhà trường và đất

nước, hy vọng tập san số 5 “Nâng cánh

ước mơ” cũng góp một phần vào phong

trào thi đua ấy

Và mừng ngày sinh nhật 5 tuổi đáng

nhớ này, Ban Biên Tập xin gửi lời cảm

ơn chân thành nhất tới bạn đọc gần xa

Mong rằng các bạn luôn là độc giả trung

thành nhất của trang báo

BAN BIÊN TẬP

TẢN MẠN NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11

Dân tộc ta vốn có truyền thống Tôn

Sư Trọng Đạo Truyền thống ấy đã ăn

sâu vào nếp nghĩ, cách sống và cách đối nhân xử thế của người Việt Ca dao xưa còn ghi lại những lời lẽ người ta nhắc nhau:

“Sang sông phải bắc cầu Kiều Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”

Quả thực như vậy Làm thầy trách nhiệm lớn lao lắm Nếu không được xã hội tôn vinh tự nhiên thấy lòng mình hẫng hụt vì ở mỗi người thầy cái giàu có

và đạt được nhiều nhất đó là tình cảm

Có một thuở nhiều ý kiến cho rằng: không nên ví nghề dạy học như người đưa đò cho khách sang sông vì nghe nó phũ phàng quá Nhưng tri thức dân gian đúc kết từ chiêm nghiệm của muôn mặt đời thường, nó vẫn có cái lý riêng của

nó Người chèo đò tận tuỵ với mỗi chuyến đò đầy cùng bao nhiêu khách sang sông ai mà nhớ hết Nhưng ai đã từng một đôi lần trong cuộc đời mình đi qua đò, mới ngộ ra rằng: khách lại nhớ rất rõ gương mặt người chèo đò trên bến sông ngày ấy Nghĩa là, thật sự có sự tương đồng rất rõ trong đặc điểm nghề nghiệp của người thầy và người chèo đò:tiếp xúc với số đông liên tục hết chuyến

đò này đến chuyến đò kia cũng như với

Trang 3

hết thế hệ học trò này đến thế hệ học trò

kia Dù đông nhưng cả hai nghề này lại

có thêm một tương đồng là vô cùng

thầm lặng, vô cùng tận tuỵ Tận tuỵ

trong từng bước chân để khách bước

xuống đò, tận tuỵ trong từng nhát chèo

khua trên sông nước Chỉ cần một chút

lơ là, khách có thể chưa bước lên đò đã

ngã bùm xuống nước Lỡ tay để đò chao

là tội lỗi một đời nghề Dìu con đò bình

yên qua bến sông rồi vẫn tận tuỵ để dìu

từng bước chân người bước lên bờ bên

kia cho vô sự Đắm chuyến đò đi là luỵ

một đời nghề

Rồi đây nữa, nghề dạy học còn được

ví như một nông dân cần mẫn, lầm lụi và

chịu đựng:

"Các em mở ra những trang sách ruộng

đồng

Tôi cúi xuống gieo vào hạt chữ

Có giọt mồ hôi và dấu tay mình ấp ủ

Lặng thầm nói với mai sau

Mải miết đôi tay đầy bụi phấn trắng phau

Như nhà nông bốn mùa lấm láp

Viên phấn tự mất đi để đâm chồi sự thật"

Sự ví von này lại cũng có cái lý của

nó mặc dù hai nghề nghiệp này có đặc

điểm hoàn toàn khác nhau Nhưng có

sao đâu, dù nghề gì, muốn tinh cũng cần

sự tận tuỵ, dù có là lao động giản đơn

hay phức tạp cũng phải "nhất nghệ tinh"

mới "nhất thân vinh" Chính cái hết

lòng, cái lặng thầm, cái bụi phấn lấm láp

như bùn đất kia đã khiến nghề nông rất

gần với nghề giáo Hơn thế nữa, nghề

nông gắn liền với hạt giống, với ươm

mầm, đó chính là cái "hạt chữ" mà

người thầy giáo gieo ngay trên trang

giấy trắng với những nét mực đen, và

gieo cả vào trang vở lòng trắng trinh của

lớp lớp học trò Có lẽ chính từ mối liên

tưởng gieo mầm, ươm giống, làm nên

những chồi xanh hi vọng ấy mà Hồ Chí

Minh từng khái quát "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" như một chân

lý vĩnh hằng

Dẫu ở thời đại nào đi chăng nữa, nếuxét về vật chất thì nghề dạy học luôn là một nghề nghiệp nghèo nhất trong những nghề cần tri thức Nhưng đâu phải như các nghề khác, chỉ cần có tri thức là đủ, người thầy lại cần có tấm lòng Giữ được lòng mình trong sáng, giữ được Phẩm - Hạnh - Thầy trong cái

xã hội đồng tiền này, chính là thử thách lớn lao đối với người thầy

Những năm học gần đây, toàn ngành giáo dục đang tham gia vào cuộc vận

động "Nói không với tiêu cực trong thi

“Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng

và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội” Đối với thầy cô giáo và cán bộ

quản lý giáo dục, hưởng ứng cuộc vận động này chẳng có gì khác hơn là ngẫm lại đặc điểm nghề mình để lòng mình trong sáng, tự mình đổi mới phương pháp dạy học, cải tiến và nâng cao chất lượng quản lý giáo dục để góp phần vào

sự nghiệp phát triển nền giáo dục

Người thầy trong công cuộc đổi mới phải luôn giữ trọn đạo làm thầy để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội và một ngày lễ trọng đại nhất trong năm dành cho mình: ngày 20-11

Cô giáo Lê Thị Mát

Trang 4

TRANG SÁNG TÁC CỦA THẦY CÔ

CÔ HOÀ

TRUYỆN NGẮN

Bà Hoà đặt lá thư xuống bàn,

ngước mắt nhìn lên tờ lịch treo tường, đã

bước sang tháng 11 rồi, trời trở hanh se

lạnh Bà đọc lại chiếc phong bì

Con Nguyễn Hồng Văn

Quận 10 TPHCM

Kính gửi Cô

Thời gian trôi đi nhanh thật, thấm

thoát đã hơn 20 năm

Ngày ấy bà còn trẻ lắm, cô giáo đẹp

người đẹp nết say sưa hết mực với nghề,

chồng là bộ đôị ở xa, chưa con cái nên

mọi thời gian cô dành hết cho trường,

cho lớp Hoà được đồng nghiệp tin cậy,

với cô mỗi tiết đến lớp là một niềm vui

Bức thư nào của Văn gửi cho bà

cũng chứa chan tình cảm nó luôn nhắc

đến những kỉ niệm khiến bà nhớ lại

Buổi chiều hôm ấy cô giáo Hoà với

chiếc túi xách trong tay xuống nhà học

sinh kiểm tra “ góc họp tập” Cô dự định

sẽ đến nhà Văn, cậu học sinh học khá,

đen, gầy, có đôi mắt biết nói và khuôn

mặt phảng phất một nỗi buồn khó tả

- Em chào cô!

- Ơ! Văn em đi đâu về? Cô đangđịnh tìm đến nhà em

- Em đi lấy thuốc cho mẹ em, nhà

em đây, mời cô vào!

Nhà Văn ở gần cuối xóm, tuy nhỏnhưng gọn gàng, sạch sẽ và khá ngănnắp, trước sân là luống rau ngót lên xanhmơn mởn, từ trong nhà bước ra chàoHoà một thiếu phụ gầy gò, xanh xao

- Thưa cô đây là mẹ em!

- Chào cô giáo, mời cô vào nhà, tôivẫn còn sợ gió

Chị vừa nói vừa bám tay vào bậucửa

Mẹ Văn vốn là một phụ nữ khoẻmạnh lam làm, chồng đi công tác xa, chịhai vai gánh vác việc nhà, việc đoàn thểvẹn toàn Chị ngã bệnh từ cái trưa nắngnhư đổ lửa, đang mải mê cố gặt choxong thửa ruộng duới đồng Vòng thì trờibỗng nổi mây đen vần vũ, đổ mưa nhưthác Người chị mấy lần bị nước mưa vàcái nóng giữa trời cao tấn công cùng cáiđói làm mắt chị hoa lên gục ngã bênđám lúa xén dở, may mà bà con kịp pháthiện đưa đi cấp cứu

Vừa gượng dậy được lại một tin sétđánh đã quật bà quỵ hẳn Chồng bị tạinạn giao thông đột ngột qua đời

- Cháu Văn nhà tôi từ đây phải vừahọc vừa phải thay cả bố lẫn mẹ quánxuyến việc gia đình cô ạ

Chị ngừng kể mệt mỏi dựa mìnhvào thành giường hai mắt ầng ậng nước

- Em có lỗi với chị, với em Văn.Thật vô tâm, thấy em Văn ngoan, chămhọc, học khá, chỉ có điều khi giao làmlớp trưởng Văn xin kiên quyết từ chối

Em đâu ngờ Văn lại chịu nhiều thiệt thòiđến thế Em hứa từ nay sẽ gần gũi, động

Trang 5

viên em nhiều hơn Chị yên tâm dưỡng

bệnh

Tiếng động của chiếc mo cau rơi

xuống sân làm Hoà như sực tỉnh Bà giở

lá thư đọc tiếp “ Cô ơi chiếc quần cô

chữa từ quần của chú cho con, con ngại

màu xanh Tô Châu phải đem nhuộm bùn

rồi mới giám mặc đi học, con còn giữu

cẩn thận, chờ khi con của con lớn con

sẽ mặc thử cho nó và kể về lai lịch chiếc

quần như một chuyện cổ tích thời hiện

đại cho nó nghe chắc cháu ngạc nhiên và

cảm động lắm cô nhỉ? Mẹ con giờ khoẻ

rồi, bà đã kể bao nhiêu lần cho vợ con

nghe về cô Cô ơi con xin báo cho cô

một tin vui: Con vừa được nhận bằng

Thạc sỹ loại ưu Và quyết định của gia

đình con là tết này sẽ ra Bắc về nhà cô

ăn tết, cô chuẩn bị thật nhiều rượu, thịt

cô nhé Mẹ con mừng lắm cứ thắc thỏm

với con dâu: “Xa nhau bấy lâu giờ gặp

lại chắc cảm động lắm, mẹ chuẩn bị cái

gì về tặng cô chú để tỏ tấm lòng mẹ

nhưng mà dù nghìn vàng cũng không

xứng với tấm lòng thơm thảo của cô

giáo Hoà đâu con ạ Cô giáo Hoà đã vực

Văn đứng lên, gia đình mình sống lại để

có ngày hôm nay”

Bà Hoà gấp lá thư, bâng khuâng

(Tặng thầy Hậu, chủ nhiệm lớp 7A)

Chợt đi qua cửa lớpCủa chi đội 7ATôi lặng im đứng lạiNghe tiếng thầy đọc thơGiọng thầy nghe nhẹ nhàngLúc thanh cao trầm bổngTừng ý thơ thầy đọcNghe ngọt ngào làm sao

Tôi nhìn trong lớp họcTrò lắng nghe im lặngTừng nét mặt đăm chiêuNhư muón nói mọi điều

Về bài thơ thầy đọc

“Thầy ơi em muốn họcMôn Văn thầy giảng hayChúng em hứa hăng sayChất lượng cao kì nàyVượt bình quân của huyện”

Tôi nghẹn ngào lưu luyếnMuốn nghe mãi không thôiGiờ học kết thúc rồi

Xin giờ sau thầy nhé!

Cô giáo Đoàn Thị Hợp

Ba hai năm ở trong nghềNăm nay dạy phải 7B chán chườngTrong lớp nhiều trò ẩm ương

Vào lớp “đánh vật” biết nhường ai đây?Trò cũ nay đã làm thầy

Thấy cô vất vả em rày nên thương

“Cô ơi em đã tỏ tường

Em dạy lớp đó ở trường giúp cô”

Lời nói đó tưởng ngây thơ

Trang 6

Mà trong tâm thức thương cô thực lòng

“Em ơi cô vẫn hằng mang

“Lái đò chở khách” qua sông suót đời

Đến nay cô nở nụ cười

“Khách qua sông” vẫn nhớ người đò

xưa”

Dù có vất vả sớm trưa

Cô-trò đồng nghiệp thật vừa lòng nhau

Cô giáo Trần Thị Thu

Bao năm lo việc công đoàn

Mỗi lần đến dịp nhà trường liên hoan

Kể từ những việc cỏn con

Nào mắm, nào muối, rau thơm góp phần

Trong lòng vẫn cứ phân vân

Sao cho đồng nghiệp quây quần vui

chung

Đôi khi cũng thấy phật lòng

“Làm dâu” trăm họ vừa lòng hết đâu ?

Mặc dù đã bạc mái đầu

Vẫn lo công việc kém đâu mọi người

Đến nay sắp nghỉ hưu rồi

Nhường cho lớp trẻ cứ ngồi nghỉ ngơi

Cơm bưng nước rót tới nơi

Trong lòng thật thấy thảnh thơi yêu đời

Đêm đêm cứ ngủ ngon thôi

Không phải lo nghĩ như hồi trước đây

Cô giáo Trần Thị Thu

Thầy

Một mùa thu như bao mùa thu trước

Nắng bừng lên trong mắt biếc học trò

Phấn trắng, bảng đen, nét mực thầy vẫ

đỏ

Sao con tìm mà chẳng thấy ngày xưa…

Thời gian qua mùa thu nay có khác

Bao chuyến đò qua chốn ấy sông sâuNghĩa thầy cô một đời không trả hếtDẫu đời con qua biết mấy nhịp cầu

Trang giáo án bao năm thầy vẫn mở

Mà tập bài thầy đã chấm khác xưaChúng con đi, biết khi nào về lại

Có bao giờ tìm được thủa thơ ngây…

Mùa thu qua, bụi thời gian rơi rắcNên tóc thầy một sáng bỗng bạc thêmTrời xanh vẫ bình yên ngoài cửa lớp Chữ nghĩa tình muôn thủa chẳng nguôi quên

Cô giáo Nguyễn Thị Quy

TÌNH CÔ GIÁO

Tặng học trò của cô Chuốt

“Cô mong rằng em mãi là trò ngoanTrong sáng vô tư hồn nhiên mơ mộng.Giữ cho tâm hồn luôn tươi trẻ,

Mãi sáng trong cái tuổi học trò”

“ Em tin rằng cô cũng rất yêu emTình em nguyện dành cho cô mãi mãi …Nếu chia hai ,em xin làm trọn vẹn

Tình Mẹ -Cô, em hứa sẽ đong đầy”

Khi bến sông quê chưa có “ Cầu Kiều”,

Cô vững lái con đò trong đêm tối Ánh sao khuya sẽ soi đường chỉ lốiGiúp học trò vươn tới những tầm cao

Thật tự hào hạnh phúc biết bao,

Cô đã đưa bao trò đến bếnLớp cũ lên đường, lớp sau lại đến

Cô là người chắp cánh những ước mơ…/ Thái Nguyên 6/11/2010

Trang 7

Cụ giỏo Nguyễn Thị Chuốt

NểI VỚI ANH

Anh là rừng cõy, cho em hạ cỏnh

Mỗi khi mỏi mệt đường đời

Anh là bờ bói đắp bồi

Cho em xanh tươi cõy lỏ

Anh là than khụ củi nỏ

Đốm lửa em nhen đượm nồng

Vỡ lo cơm dẻo, em đành lại thụi

Vậy xin anh ở giữa đời

Cũng đừng trỏi giú trở trời nắng xiờn

Mà em ró cỏnh bay nghiờng

Đất trời chao đảo, bỡnh yờn chẳng cũn

Dũng sụng yờn, nổi súng cồn

Làm cơn thỏc lũ dập dồn cuốn trụi

Cả ngàn cõy, cả bói bồi

Cả em-anh, cả cỏi thời cú nhau

Đế mà cũn lại nỗi đau

Cho người hàng xúm nờn cõu chuyện

cười

Đừng nghe anh !!! Với người ngoài

Xinh tươi thiờn hạ, của rơi khú cầm

C ụ giỏo Nguyễn Thị Hoàng Anh (st)

Anh

Anh con ngời đáng yêuHay vô cùng đáng sợAnh con ngời nhẫn tâmHay là ngời nhân từAnh tất cả trong emHay không là gì cả

Anh là ai trong hai con ngời ấy?

Anh đã đến để đời em biến độngNỗi buồn vui chợt đến, chợt điBao kì vọng rồi vỡ oà trong mộng

Em gục đầu đi vào ảo mộng

Có bao giờ anh thơng hết em đâu?Buồn da diết in sâu trong khoá mắt

Chia tay với trờng Thái Học

Gắn bó với trờng đợc thế thôi,Chữ tình bỗng chốc bẻ làm đôi

Gần nơi trờng mới, xa trờng cũ,Thân một nơi hồn gửi đôi nơi

Nguyễn Đình Hậu

Trang 8

LỜI CỦA THẦY

Rồi các em một ngày sẽ lớn

Sẽ bay xa đến tận cùng trời

Có bao giờ nhớ lại các em ơi

Mái trường xưa một thời em đã sống

Nơi đã đưa em lên tầm cao ước vọng

Vị ngọt đầu đời bóng mát ca dao

Thủa học về cái nắng xôn xao

Lòng thơm nguyên như mùi mực mới

Dẫu biết rằng những tháng ngày sắp tới

Thầy trò mình cũng có lúc chia xa

Sao lòng thầy canh cánh nỗi thiết tha

Muốn gởi các em thêm đôi điều nhắn

nhủ

Một lời khuyên biết thế nào cho đủ

Các em mang theo mỗi bước hành trình

Ở nơi đâu có thầy luôn thương nhớ

Khi thầy về nghỉ hưu Cây phượng già treo mùa hạ trên cao Nơi bục giảng giọng thầy sao chợt thấp:

"Các con ráng… năm nay hè cuối cấp…"

Chút nghẹn ngào… bụi phấn vỡ lao xao

Ngày hôm qua hay tự tháng năm nào Con nao nức bước vào trường trung học Thương cây lúa hóa thân từ hạt thóc Thầy ươm mùa vàng, đất vọng đồng dao

Mai thầy về, sân trường cũ nằm đau? Hay nỗi nhớ lấp vùi theo cát bụi?

Dẫu cay đắng, dẫu trăm nghìn đau tủi Nhọc nhằn nào thầy gửi lại ngày sau?

Mai thầy về, mùa gọi nắng lên cao Vai áo bạc như màu trang vở cũ Con muốn gọi sao lòng đau nghẹn ứ

Đã bao lần con ngỗ nghịch thầy ơi!

Cô giáo Đào Thị Hồng Tuyên

Trang 9

Khụng đề

Cầm bỳt lờn định viết một bài thơ

Chợt nhớ ra nay là ngày nhà giỏo

Chợt xấu hổ cho những lần cao ngạo

Thỡ ra con cũng giống bấy nhiờu người

Cầm bỳt lờn điều đầu tiờn con nghĩ

Đõu là cha, là mẹ, là thầy…

Những con chữ đều đều xếp thẳng

Sao lại quặn lờn những giả dối đến gai

người

Đó rất chiều bến xe vắng quạnh hiu

Chuyến xe cuối cựng bắt đầu lăn bỏnh

Cửa sổ xe ự ự giú mạnh

Con đường trụi về phớa chẳng là nhà…

Mơ màng nghe tiếng cũ ờ a

Thầy gần lại thành búng hỡnh rất thực

Cú những điều vụ cựng giản dị

Sao mói giờ con mới nhận ra

Ngụ Võn Anh (st)

TÂM SỰ VỚI HỌC TRề

Học trò cần lắm những lời phê

Giờ đây tôi đã một thầy giáo dạy

văn, ngẫm lại tôi mới thấy lời phê củangời thầy có một ma lực rất lớn Lờiphê của thầy trong bài kiểm trakhông chỉ đơn thuần có tác dụng chỉ

ra những cái đợc cần phát huy, cáiyếu kém cần khắc phục mà hơn thếnữa lời phê của thầy còn có tác dụng

động viên khích lệ học trò nỗ lực phấn

đấu tu dỡng đạo đức và trí tuệ

Tôi còn nhớ trong một bài báo

đăng trên văn học và tuổi trẻ nói về

lời phê của thầy giáo dạy toán ở lớpchuyên văn, để động viên các em cầnquan tâm chăm chỉ học toán nh họcvăn thầy đã phê rằng:

"Nay ở trong văn nên có toánNhà văn cũng phải biết nhân chia." Ngẫm ra, thực tế hiện nay học sinhkhông mặn mà gì với chuyện học vănnếu không muốn nói là các em chánghét môn văn Nguyên nhân có không

ít cả chủ quan và khách quan màchúng ta cũng đã bàn đến rất nhiều.Tôi chỉ nghĩ rằng trong vấn đề họcsinh không yêu thích môn văn cũng

có một nguyên nhân là các thầy dạyvăn cha thực sự biết cách làm cho họcsinh yêu thích, cha khơi dậy đợc niềmham mê hứng khởi ở các em mà thôi

Trang 10

Ngời ta thờng nói "văn học là nhân

học", chuyện văn học cũng là chuyện

cuộc đời, có hiểu đời mới hiểu văn và

ngợc lại hiểu văn sẽ giúp cho ta hiểu

đời hơn Vậy là thầy giáo dạy văn trớc

hết phải cho các em thấy đợc mục

đích ý nghĩa và sự bổ ích của việc học

văn

Học theo cách ngời đi trớc, qua

hơn chín năm lăn lộn trong nghề, tôi

đã cố gắng cần mẫn, tỉ mỉ, cẩn trọng

trong việc chấm và phê bài cho học

sinh Tôi còn nhớ vài trờng hợp lời

phê của tôi đã để lại ấn tợng với học

trò mà sau khi ra trờng các em vẫn nói

lại với tôi Đó là trờng hợp một em

học sinh tên Nguyễn Đức Tài, một

học sinh học yếu, ý thức cũng tồi

th-ờng hay quậy phá lớp Trong một bài

kiểm tra, tôi có phê cho em mấy câu:

"Tài, em lẫm lỗi đã nhiều

Thầy mong em nhớ những điều thầy

khuyên Học hành khuya sớm cần chuyên

Quyết không thẹn với biệt tên Thế

Tài."

Lại có một em viết bài văn miêu

tả loài cây em yêu Mở bài em giới

thiệu cây em yêu quý nhất là cây cau

Nhng đến phần thân bài em lại viết về

cây dừa Có nhiều câu em dùng từ rất

ngộ mà trong từ điển không có: "Tán

cây xèo ra", "Vì bị em lay gốc nên từ

đang xanh tốt hôm sau trông cây đã

phờ phạc, lử đử" Tôi không nhịn đợc

cời khi chấm bài của em Cái cời mà

chỉ có những thầy dạy văn mới đợc

học sinh tặng cho Tôi bèn phê cho

em mấy câu:

"Thầy cha đợc thấy bao giờ

Cau kia lại hoá ra dừa đợc sao?

Bài này em tính thế nào

Điểm thấp chẳng nỡ điểm cao sao

đành

Em về viết lại cho nhanh."

Đến năm nay, tôi lại bắt gặp hai

trờng học sinh lớp 9 mà viết chữ vẫn

không ra hồn Tôi giận và cũng buồn

đau lắm Nhng cũng vẫn phải nhẫn

tâm khuyên nhủ các em bằng lời phênhẹ nhàng:

"Văn hay chữ cũng phải hay Văn đâu cha thấy chữ này rất nguy

Dạy văn lấy cảm làm đầu"

Ngày nhà giáo Việt Nam đang

đến gần, lòng tôi lại rạo rực một niềmhân hoan khôn tả Tôi thầm gửi đếncác thế hệ nhà giáo lời biết ơn sâunặng Kính chúc các thầy cô luônluôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc Tôi

hi vọng và tin tởng rằng với sự tậntâm, tận lực của các thầy cô trong Hội

đồng giáo dục nhà trờng và sự nỗ lựcphấn đấu của các học trò thân yêu,năm học này, chất lợng giáo dục củatrờng THCS Thái Nguyên sẽ đạt nhiềuthành tích cao, từng bớc góp phần làmcho sự nghiệp giáo dục của xã nhàngày một khởi sắc

Nguyễn Đỡnh Hậu

Trang 11

TÁC GIẢ VĂN HỌC

TRONG NHÀ TRƯỜNG

Nhà văn Tô Hoài: một

đời viết không ngừng

nghỉ

Mùa xuân này nhà văn Tô Hoài bước

sang tuổi 91, vợ ông, bà Nguyễn Thị

Cúc cũng đã ở tuổi 85 Gần 70 năm

gắn bó đời vợ chồng từ lúc cuộc sống

còn nhiều vất vả cho đến lúc tóc bạc,

răng long, với người phụ nữ Hà thành

đài các thưở xưa, chồng bà, nhà văn

Tô Hoài vẫn là người say đi, say viết.

Bây giờ dù mắt Tô Hoài đã không còn

tinh tường, muốn xem tin tức phải có

người đọc báo giúp, chân tay ông làm

mọi việc đều khó khăn, nhưng tết này

vẫn viết được hai bài báo Trước đây

ông chỉ viết trong một ngày, nhưng giờ

đây để có hai bài báo chưa đầy 3000 chữ

ông phải viết nó trong cả tháng Nhưng

ông ấy hoan hỉ lắm, bà Cúc kể

Người phụ nữ đài các Nguyễn Thị Cúcthưở xưa giờ vẫn đẹp Bà kể rằng, khi nhìn thấy Tô Hoài lần đầu tiên trong dịp ông về nhà cùng với anh trai mình, bà đãnhận thấy sự khác thường của người thanh niên ấy Nhìn đôi dép cao su mòn vẹt làm bà tin ngay lời anh trai kể, ông

ấy đã đi bộ nhiều năm từ nhà lên trường

ở phố Hàng Than để học “Anh ấy chỉ mặc một bộ đồ cũ kỹ duy nhất ấy trong nhiều lần đến nhà tôi” Và cô gái lãng mạn thích thơ và hay đọc truyện ấy hiểu rằng, người đàn ông này có chí, nhất định sẽ làm nên sự nghiệp

Ngày quen nhau Tô Hoài đã có Dế mèn phiêu lưu ký, bà Cúc kể Nhưng

ngày đó văn chương của ông chưa nổi tiếng như thời sau này Tuy nhiên có một điều bà Tô Hoài lấy làm ngạc nhiên

là từ ngày gặp nhau cho đến cả những ngày tháng nằm trên giường bệnh, ông chưa bao giờ ngừng viết Bà luôn thấy ông viết khi tác phẩm được hân hoan chào đón, cả khi nhà xuất bản trả lại bản

in, cả khi dư luận lên tiếng Mỗi ngày ông đều cầm bút và tập bản thảo của ông

cứ dày theo thời gian Ngay cả khi những trận bút chiến nảy lửa về tác phẩm của mình diễn ra ở trên khắp mặt báo, Tô Hoài cũng vẫn lẳng lặng ngồi vào bàn và tiếp tục viết Đối với Tô Hoàiviết là việc cần phải làm mỗi ngày, cho

dù ông không nhớ tất cả các tác phẩm vànhững câu chuyện mình đã kể

Về những người bạn trong cuộc đời của

Tô Hoài, bà Cúc cho biết, trong cuộc đờicủa ông có nhiều bè bạn, bà không nhớ hết tên những người bạn đã đến thăm ông Bà cũng tin người như ông thì hiếmngười ghét Nhưng có một người bạn từ

Trang 12

thưở hàn vi của ông mà bà không bao

giờ quên đó là Vũ Ngọc Phan Bà Cúc

bảo: “cách mà ông ấy giúp cho chồng tôi

một cái cần câu thay vì cho một con cá

là cách ông Phan giúp cho Tô Hoài luôn

vững một niềm tin để viết” Chính vì thế

cho đến bây giờ những người con của

ông Phan như Vũ Tuyên Hoàng, Giáng

Hương đều coi gia đình Tô Hoài như

những người thân, bà Cúc kể

Tô Hoài tính tình lành lắm Sự lành

hiền mà theo bà Cúc thường mang theo

đi của vợ con ông nhiều cơ hội tốt Bà

Cúc kể, cái nhà ở Đoàn Nhữ Hải ông có

được bây giờ là nhờ bạn, nhà ở Nghĩa

Đô cũng do một người giúp đỡ tận tình

mà có Cứ như ông ấy thì không khéo

chẳng có nhà để ở

Cũng vì sự liêm khiết và luôn làm

những điều mà mình cho là đúng nên cái

thời người ta đi nước ngoài còn là cả

niềm mơ ước, có thể làm giàu sau mỗi

chuyến đi thì quà ông “Dế mèn” mang

về cho vợ chỉ là một xâu ớt cay Món

quà giá trị nhất bà Tô Hoài nhận được từ

chồng mà bà vẫn giữ đến giờ là một

chiếc áo dài ông mua tặng bà sau một

chuyến đi Lào Tất nhiên bà không giận

ông về những điều đó, bởi bà hiểu không

có ai hoàn hảo, và cuộc đời bà được ông

bù đắp bằng những niềm tin mạnh mẽ

hơn

Tô Hoài đã đi không biết bao nước,

đến hầu khắp tất cả các vùng ở Việt

Nam Ông luôn coi những chuyến đi là

tiền đề cho việc viết Ông cho rằng,

Cervantes có được Đôn - ki – hô – tê là

nhờ làm nghề đi thu thuế khắp đất nước,

Cao Hành Kiện có Linh Sơn cũng nhờ

những chuyến vể thăm vùng phía Bắc Trung Hoa Vì thế, cứ rảnh ông lại lên đường Chính vì quan niệm đó, sau mỗi chuyến đi Tô Hoài đều có sản phẩm Chuyến lên Tây Bắc 8 tháng năm 1992 ông có Tập truyện Tây Bắc, Ba người khác cũng là sản phẩm sau ba năm làm đội phó phụ trách tòa án thời cải cách ruộng đất ở Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Bình

"Dế mèn phiêu lưu ký" của Tô Hoài đãlàm sinh động tâm hồn bao nhiêu thế hệ trẻ thơ của Việt Nam Ông viết được tác phẩm ấy cũng là do đã từng "chơi dế rất khiếp" khi còn nhỏ, ở ven sông Tô Lịch Ông viết được vì ông hiểu loài dế Tác phẩm nổi tiếng ấy của ông giờ đã được dịch ra 25 nước và ông vẫn nhận tiền tái bản của NXB Kim Đồng hàng năm, chừng 4 - 5 triệu Những ngày này, khi chúng tôi đến thăm, ông đương viết tác phẩm cho thiếu nhi: "Hoa râm bụt - hoa hồng bụt" Ông nói, râm bụt là tả lá,

"rậm rạp" - theo cách giải thích của cụ Nguyễn Lân, còn người Nghĩa Đô gọi loài cây này theo hoa, là cây hồng bụt Ông nói, Cụ Hồ quý loài hoa này lắm, vìquê Cụ có rất nhiều Cụ Hồ cho trồng nhiều râm bụt quanh nơi ở, "vì thèm nhớquê hương" Về cuối đời, Tô Hoài nói ông học Tolstoy, lại trở về viết cho trẻ

em, viết cho tâm hồn còn trắng như tờ giấy của chúng

1.000 năm Thăng Long, Tô Hoài cộng tác với nhiều NXB và sẽ cho ra mắt hàng loạt tác phẩm trong thời gian tới, như "Nhà Chử", "Quê nhà - quê người",

"Miếu Đồng Cổ" Còn NXB Kim Đồngvừa mới cho ra mắt tập "Chuyện ngày xưa" của ông, tinh tuyển 100 truyện cổ

Trang 13

tích tuyệt vời nhất mà chính Tô Hoài

yêu mến và muốn kể lại cho trẻ em

nghe Ông nói, ông đã viết chúng bằng

thứ ngôn ngữ đẹp như thơ Về Tấm

Cám, ông bỏ đi chi tiết Tấm ướp mắm

Cám; về Mỵ Châu - Trọng Thủy, ông

lược đi chi tiết vua Thục chém con gái

khi giặc đuổi đến gần mà cả hai cha con

đều nhảy xuống biển quyên sinh Ông

muốn viết lại những câu chuyện cổ tích

theo cách của Tô Hoài - người một đời

cầm bút

Giờ đây, ông sống với vợ chồng người

con gái làm bác sĩ ở Nghĩa Đô Ông

cùng lúc mắc nhiều triệu chứng của bệnh

tiểu đường, bệnh gút nên ở cùng con gái

để tiện việc chăm sóc Việc cầm bút của

ông đã khó khăn rất nhiều do tay ông bị

run, nhưng những lúc tinh thần minh

mẫn là Tô Hoài ấy lại cầm lấy bút Cuối

năm2009 nhà văn phải nhập viện mấy

lần, may thay thời gian này ông đã đi lại

được chứ không phải ngồi xe lăn Nhưng

trong căn phòng làm việc cửa đóng kín

cả ngày vẫn bề bộn giấy tờ trên bàn viết

Cô giáo Phạm Thị Thắm (st)

TÁC GIẢ NGUYỄN DU

1- Gia đình và tuổi thơ

Nguyễn Du sinh ngày 3-1-1765 tại quê

mẹ, làng Kim Thiều, xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Quê mẹ: Làng Kim Thiều có tên chữ là Hoa Thiều, tên Nôm là làng Mấc, thuộc

xã Ông Mặc, trấn Kinh Bắc Quê ngoại nổi tiếng về hai phương diện:

-Làng Kim Điền có danh tiếng về nghề chạm khắc gỗ và nhiều tay nghề giỏi

-Theo tác phẩm “Danh công Truyện ký" làng Kim Điền có nhiều danh sĩ khoa bảng nối đời phụng sự quốc gia; toàn xã

có tới 22 tiến sĩ kể từ thời nhà Trần đến nhà Nguyễn

Trang 14

-Làng Kim Điền, Bắc Ninh nổi danh có

nhiều thiếu nữ đẹp Nhiều bộ phả của

các dòng họ làng Hoa Thiều và toàn xã

Ông Mặc có nói về gái vùng này thường

được kén chọn vào cung vua làm phi,

thiếp

Mẹ của Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần

(1740 - 1778), con gái quan Câu kê họ

Trần ở làng Hoa Thiền huyện Đông

Ngạn xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc

Ninh), vợ thứ ba của tể tướng Nguyễn

Nghiễm, nhỏ hơn chồng 32 tuổi, thuộc

hệ thứ 11 theo bản phả họ Trần ở Hoa

Thiều và bản phả của họ Nguyễn ở Tiên

Điền Tể tướng Nguyễn Nghiễm có vợ

cả, vợ hai là hai chị em ruột họ Đặng:

Đặng Thị Dương và Đặng Thị Thuyết

Nguyễn Nghiễm có tất cả 8 vợ và 21

người con Tể tướng Nguyễn Nghiễm

kết duyên với Trần Thị Tần sinh được 4

trai, 1 gái, theo thứ tự: Nguyễn Trụ,

Nguyễn Nễ, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn

Du và Nguyễn Ức

Quê cha: Cha của Nguyễn Du là Nguyễn

Nghiễm (1708 - 1775), quê làng Tiên

Điền, huyện Nghi Xuân, Phủ Đức

Quang, trấn Nghệ An (nay là tỉnh Hà

Tĩnh)

Theo gia phả họ Nguyễn và sách Nghệ

An ký của Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch

(1757-1828) thì thời gian trước thế kỷ

XVI, Tiên Điền là một bãi đất cát bồi

của sông Cả (còn gọi là sông Lam),

hoang sơ, cư dân thưa thớt, quanh năm

nước mặn dâng ngập bờ Giữa thế kỷ

XVI, ông tổ họ Nguyễn là Quận công

Nguyễn Thuyên cùng người cháu là

Nam Dương Quận công đến dựng

nghiệp và tu bổ vùng này rồi đổi thành

U Điền Sang thế kỷ XVII, U Điền đổi tên là Tân Điền, Phú Điền, rồi Tiên Điền Theo sử sách ghi chép, Tiên Điền được mệnh danh là nơi giang sơn tụ khí

và không biết từ bao giờ người dân xứ Nghệ có câu “Ló (lúa) Xuân Viên, quan Tiên Điền, tiền Hội Thống” Tiên Điền từng được Nhà Lê ban tên xã Trung Nghĩa vì đã có công bảo vệ kinh thành Thăng Long Theo thời gian, nơi đây nổidanh với Đền thờ Hội Quận công, Đền thờ Uy Quận công, Đền thờ Trinh Dũng hầu, Đàn tế Lĩnh Nam công, Đền thờ Tiên Lĩnh hầu, Đền thờ Xuân Nhạc công, Đền thờ Lam Khê hầu, Đền thờ Điền Nhạc hầu, Đền thờ Hà Chân đài,

Mộ tổ họ Nguyễn, Mộ Xuân Nhạc quận công, mộ Tán Quận công, Mộ Tiên Lĩnhhầu, Mộ Nguyễn Du Cụm di tích và khu lưu niệm Nguyễn Du bao gồm khu lưu niệm Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Huệ (Anh cả của Nguyễn Nghiễm, bác ruột Nguyễn Du), mộ và đền thờ

Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Du), nhà thờ Nguyễn Trọng (chú ruột NguyễnDu) và khu mộ Nguyễn Du

Từ Tiên Điền nhìn qua Xuân Mỹ, thấy núi Hồng Lĩnh đứng sừng sững mé Tây-Nam Vì thế nên Nguyễn Du đã lấy biệt hiệu “Nam hải điếu đồ”, “Hồng Sơn lạp hộ”; và câu đối truyền tụng đời này qua đời khác ở Tiên Điền:

Hồng Sơn chi ngoại uất giai khí, Vị Thủy chi kim thành đại giang

(Hồng sơn đất ngoại kết tụ được khí tốt

-Vị Thủy đến nay đã thành sông rộng)

Trang 15

Cha của Nguyễn Du đậu Nhị Giáp Tiến

Sĩ, làm quan tới chức Đại Tư Đồ, tể

Tướng (thủ tướng) dưới triều đại Lê

Hiển Tông (1740-1786) Con trai

trưởng của Nguyễn Nghiễm là Nguyễn

Khản đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm tới chức

Tham Tụng đời chúa Trịnh Khải Con

thứ hai là Nguyễn Điều đậu Hương

Cống, trấn thủ tỉnh Sơn Tây, được

phong tước Điền Nhạc hầu Con thứ ba

là Nguyễn Dao đậu tứ trường thi Hương,

chức Hồng lô Tự thừa Con thứ tư là

Nguyễn Luyện đậu tam trường thi

Hương Con thứ năm là Nguyễn Trước

và con thứ sáu là Nguyễn Nễ đều đậu tứ

trường thi Hương và Nguyễn Du là con

thứ bẩy, nên được gọi là cậu Chiêu Bảy

Gia đình Nguyễn Du một gia đình khoa

bảng, cha con cùng làm quan dưới triều

Nhà Lê

Dòng họ Nguyễn Du không những nổi

tiếng về khoa bảng mà còn nổi danh

trong lĩnh vực văn chương Nguyễn

Nghiễm còn để lại những tập Quân

Trung liên vịnh, Xuân đình tạp vịnh, và

quyển Việt sử bị lâm cung cùng nhiều

tác phẩm chữ Nôm, từng làm bài phú

Khổng tử mộng Chu công, nay còn

truyền tụng Nguyễn Nễ còn để lại Quê

hiên giáp ất tập và Hoà trình hậu tập

cũng sở trường về văn Nôm Cháu

Nguyễn Du là Nguyễn Thiện có tập thơ

Đông phú và Nguyễn Đạm có tập thơ

Quan hải, tập thơ Minh quyên đều là

những văn hào đương thời Danh sĩ

trong nước thời bấy giờ theo truyền tụng

có năm người lỗi lạc, được người Việt

cũng như người Tầu gọi là “An Nam

ngũ tuyệt” thì họ Nguyễn Tiên Điền có

đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Đạm

Dòng họ này còn được người đời kính trọng về lòng trung nghĩa Tổ tiên thuở xưa theo Nhà Mạc thì nhiều người tuẫn tiết khi Nhà Mạc mất ngôi Thời Lê, sau khi Nhà Lê sụp đổ, mấy anh em Nguyễn Khản, Nguyễn Điêu, Nguyễn Luyện, Nguyễn Du cho đến cháu là Nguyễn Đạm đều khởi nghĩa cần vương Từ Triều đại Tây Sơn sang tới thời Nhà Nguyễn nhiều người trong họ không chịu ra làm quan, kiên trinh giữ tiết với chúa cũ theo đúng phương châm "Tôi trung không thờ hai chúa"

Câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Lam hết nước họ này hết quan”

là chỉ cái danh giá, chức quyền của làng Tiên Điền, của dòng họ Nguyễn Du là vậy

Năm 1771, lúc Nguyễn Du 5 tuổi thì gia đình chuyển về làng Tiên Điền và năm lên 10 thì cha mất Không hiểu vì quá thương nhớ cha sinh bệnh rồi chết hay vì một căn bệnh nào đó, mẹ cậu cũng qua đời vào năm 1778, lúc mới 38 tuổi Bị mồ côi cha mẹ, cậu phải ra Thăng Long ở chung với người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản Nguyễn Khản bị kiêu binh ghét nên khi ông được chúa Trịnh cử làm Tham tụng thì họ kéo đến phá tan nhà và toan giết ông Nguyễn Khản bỏ chạy lên sống với Nguyễn Điều, tổng trấn Sơn Tây; sau đó lại chạy về Hà Tĩnh

2- Thi cử

Trang 16

Khi Nguyễn Du 9 tuổi thì đất nước rơi

vào cuộc nội chiến Nam-Bắc giữa họ

Trịnh và Nhà Nguyễn tái phát Cha của

Nguyễn Du được lệnh của Trịnh Kiểm,

phụ tá Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào

chiếm Phú Xuân năm 1777 Trong thời

gian này Nguyễn Du sống và học hành

tại Kinh đô Thăng Long Dù phải sống

trong hoàn cảnh rối loạn do đám kiêu

binh gây ra, nhưng Nguyễn Du đã thành

công trong việc học hành

Năm 1783, Nguyễn Du đi thi Hương tại

trường thi Nghệ An và đậu Tam Trường

Để quí độc giả hiểu rõ hơn, chúng tôi

xin nói một chút về chế độ thi cử thời

xưa:

-Đậu Nhất trường: không có học vị,

giống như đậu Trung học Đệ I cấp, lớp

Đệ Tứ thời Việt Nam Cộng Hòa; lớp 9

Trung học Phổ thông ngày nay

-Đậu Nhị Trường: đậu Tú Tài I, lớp đệ

nhị thời VNCH; lớp 11 ngày nay

-Đậu Tam Trường: đậu Tú Tài II, lớp đệ

nhất thời VNCH; lớp 12 ngày nay

-Đậu Tứ Trường: đậu Cử Nhân

Nguyễn Du lập gia đình, có 3 vợ và 18

con Sau khi Nguyễn Du chết, gia đình

ly tán

3- Trên đường công danh

Nguyễn Du không tiếp tục học và thi cử

nhân, mà theo chí hướng của người trai

thời chinh chiến nhận chức quan Thủ

Hiệu (Lãnh Binh) ở tỉnh Thái Nguyên,

thay cho người cha nuôi mới qua đời Từ

đó, ông có tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên (có tài liệu nói Trai Hiên), biệt hiệuHồng Sơn lạp hộ

Ngược dòng thời gian, trước khi Nguyễn

Du sinh ra thì Nhà Lê đã mất quyền hành Họ Trịnh thao túng chính trường

Xã hội rối loạn là nguyên nhân đưa đến các cuộc khởi nghĩa tranh dành quyền lực Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương chưa tan, thì Hoàng Công Chất nổi lên từ năm

1739 cướp phá ở miền Hưng Hoá và Thanh Hoá Lê Duy Mật nổi lên từ năm

1738 đóng giữ miền Trấn Ninh, thường xuống đánh phá đất Nghệ Tĩnh Các cuộc khởi nghĩa mới dẹp yên thì năm

1774, lại nổ ra cuộc đánh dẹp chúa Nguyễn ở miền Nam Cha của Nguyễn

Du phải ra chiến trường cùng đi với Việp Công, giữ chức Hiệp tán Quân cơ Trong khi quân Bắc đương chiếm cứ Thuận Hoá để cầm cự với quân Tây Sơn thì Thăng Long lại xảy ra nạn Kiêu binh.Năm 1882, loạn quân giết Hoàng Đình Bảo, phá nhà quan Tham tụng Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du và nhà quan Quyền phủ sự Dương Phương, giếtquan Thủ hiệu Nguyễn Triêm ngay trướcphủ chúa

Năm 1786 Họ Trịnh bị lật đổ Năm

1789, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ 3 dẹp

bỏ luôn Nhà Lê Là một quan chức của Triều Lê, dĩ nhiên Nguyễn Du không thểphục tùng Nhà Tây Sơn; nên ông tiếp tục "đánh Tây Sơn, phục Nhà Lê" Vua cuối cùng của Nhà Lê là Lê Mẫn Đế tức

Lê Chiêu Thống (1787-1788) bị thất bại,chạy sang Tầu cầu cứu Theo tài liệu của

Trang 17

Phạm Thế Ngũ thì Nguyễn Du không

theo kịp theo vua Chiêu Thống, nên trở

về ở Thái Bình, cùng người anh vợ là

Đoàn Nguyên Tuấn tụ tập dân binh mưu

cuộc khởi nghĩa, nhưng bị dẹp tan Khi

ấy vua Quang Trung đã lên ngôi nắm

vững quyền hành ở miền Bắc; nhưng ở

miền Nam lại bị thua to, đất Gia Định bị

mất về tay Nguyễn Ánh

Nguyễn Du bị thất bại ở Quỳnh Côi mới

nẩy sinh ý nghĩ vào Thanh Nghệ Tĩnh,

toan tìm đường vào Nam mượn sức chúa

Nguyễn chống Tây Sơn Ông đi tới Vinh

thì bị chận bắt và ở tù một thời gian

May nhờ quan Trấn thủ Nghệ An của

Tây Sơn là người quen biết với Nguyễn

Nễ, người anh ruột cùng mẹ với ông

Nguyễn Nễ đã ra hợp tác với nhà Tây

Sơn, được thăng Hàm Đông Các Đại học

sĩ, gia tăng Thái sử Thự tả Nghị lang,

tước Nghi Thành Hầu; nên Nguyễn Du

được thả Đây là thời điểm khiến cho

một số tác giả cho rằng Nguyễn Du viết

truyện Kiều vào lúc đó, khi ông tròn 30

tuổi Nhận định này dựa vào truyện Kiều

có câu: “Trải qua một cuộc bể dâu”

Bể dâu xuất phát từ câu “thương hải tang

điền” (bãi bể (biển), nương dâu), theo

nghĩa đen thì truyện thần tiên có nói về

sự tuần hoàn trong vũ trụ cứ 30 năm

biển bồi đất thành ruộng dâu và 30 năm

ruộng dâu bị lở thành bể Nghĩa bóng thì

cuộc đời của con người luôn thay đổi

(theo chu kỳ 30 năm)

Sau khi được thả, Nguyễn Du trở về

4 - Làm quan dưới triều Nguyễn

Năm 1802, Nguyễn Ánh toàn thắng Nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, lên ngôi lấy tước hiệu là Gia Long xuống chiếu chiêu dụng các cựu thần Nhà Lê

Nguyễn Du lúc đó 38 tuổi cũng nằm trong danh sách được mời gọi Bất đắc

dĩ ông phải ra làm Tri huyện Phù Dực (nay thuộc tỉnh Thái Bình) tước Du Đức Hầu; ít lâu sau được thăng lên chức Tri phủ Thường Tín (tỉnh Hà Đông) Năm

1806 ông cáo bệnh về nhà, được một tháng lại bị mời ra thăng chức Đông CácĐại Học Sĩ (ngang hàng với Tam Khôi, tiến sĩ trong khi ông chưa đậu cử nhân), năm 1809 làm cai bạ tỉnh Quảng Bình (phó tỉnh trưởng coi về thuế má) và năm

1813 được thăng Cần Chính Điện Đại Học Sĩ (Văn quan Nhất phẩm: chức cao nhất trong hàng quan văn), được cử làm chính sứ đi Trung Hoa Sau khi đi sứ về ông được được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri vào năm 1815

Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn không trở ngại Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí Nguyễn Du sinh trưởng ở thời loạn lạc, lại gặp cảnh nước mất nhà tan mà mình không thể nào vãn hồi được, đành phải ôm mối hận lòng Mặc dù được

Trang 18

trọng dụng, nhưng Nguyễn Du không

mấy vui lòng nhận bổng lộc của triều

đình mới

Sách Đại Nam Chính biên Liệt truyện

chép rằng ông làm quan hay bị người

trên đè nén, không được thoả chí, cho

nên thường buồn rầu Sự kiện này xẩy ra

có thể vì đám quần thần miền Trung

ghen tị với Nguyễn Du, một cựu quan

chức đời Lê, người miền Bắc mà lại

được trọng vọng Đối với vua mỗi khi

yết kiến ông làm ra vẻ sợ sệt, không biết

nói năng gì Có lần vua đã trách rằng:

“Triều đình dùng người, cứ kẻ hiền tài là

dùng, chứ không phân biệt Nam Bắc

Ngươi với Ngô Vị, đã được ơn tri ngộ

làm quan đến bực Á Khanh, biết việc gì

thì phải nói để hết chức trách của mình,

sao lại cứ rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ

dạ cho qua chuyện thôi!”

Thực ra, nếu dựa vào sự trung thành của

dòng họ Nguyễn thì người ta phải hiểu

là Nguyễn Du không phải buồn phiền vì

quan trên đè nén, không phải là người sợ

hãi rụt rè Ông là người dẫu làm quan

cho Nhà Nguyễn; nhưng tâm hồn lúc

nào cũng nhớ Triều Lê Cái nỗi lòng sâu

kín này ông không thể công khai bày tỏ

cùng ai, nên thường buồn rầu, bực tức;

thậm chí có khi ông e sợ rằng đời sau

cũng chưa chắc có người hiểu thấu được

lòng mình:

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

rõ được cái sở học uyên bác của mình Trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến nhiều nỗi oan trái và cuộc sống khổ ải của dân nghèo, sau này đã được tập hợp lại trong tập thơmang tên Bắc hành Tạp lục (131 bài) Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã

có dịp tìm hiểu sâu nền văn hoá Trung Quốc Với vốn sống đa dạng và tài năng kiệt xuất của mình, sau khi về nước, ông

đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều, lấy cảm hứng từ tập truyên của tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân Truyện Kiều sau đó đã vượt lên trên nguyên tác, trở thành một kiệt tác thơ trong lịch sử văn chương Việt Nam

Tháng Tư năm Giáp Tuất (1814), Nguyễn Du cùng đoàn sứ thần về nước Trong chuyến đi, ông đã cho chọn giốngcây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn

An Hiên (Huế) hiện vẫn còn được ngườidân nâng niu chăm sóc Sau khi hoàn thành trọng trách cùng với đoàn sứ bộ, Nguyễn Du được thăng chức Lễ Bộ HữuTham Tri

Trang 19

Năm 1820, sau khi vua Gia Long chết,

Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần

nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông

đột ngột qua đời ngày mồng 10 tháng 8

âm lịch tức ngày 16-9-1820 trong một

cơn đại dịch, khi mới 56 tuổi

Theo Đại Nam liệt truyện: "Nguyễn Du

là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề

ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần

vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như

không biết nói năng gì ", và "Đến khi

đau nặng, ông không chịu uống thuốc,

bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã

lạnh cả rồi Ông nói "được" rồi mất;

không trối lại điều gì."

Cô giáo Bùi Thị Chiều (st)

CHÀO MỪNG THỦ ĐÔ

NGÀN NĂM VĂN HIẾN

Ngàn năm Thăng Long -

Hà Nội qua những cái tên

Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ

Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký,

không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn

có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt

trời lên cao” Đây là một tên gọi hoàn

toàn do người Việt sáng tạo.

Thăng Long - Hà Nội là Kinh đô lâu

đời nhất trong lịch sử Việt Nam Mảnh

đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc Từ khi hình thành chođến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi

1 Long Đỗ - Truyền thuyết kể rằng lúc

Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tựxưng là Thần Long Đỗ Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long

Đỗ Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý

Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói:

“Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh

đô đều gặp điều chẳng lành Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi” Điều

đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ

2 Tống Bình - Tống Bình là tên trị sở

của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 - 618), Đường (618 - 907) Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay) Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình

3 Đại La - Đại La hay Đại La Thành

nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô Theo kiến trúc xưa,Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoàicùng là Đại La Thành Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng

Trang 20

hơn và vững chãi hơn trước Từ đó,

thành này được gọi là Thành Đại La

Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ

viết năm 1010 có viết: “ Huống chi

Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương

(tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời

đất ”

4 Thăng Long - Về ý nghĩa tên gọi

Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải

thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng

Long tức là rồng bay Thực ra, ở trong

Hán tự có nhiều cách viết và giải thích

chữ “thăng” Với cách viết thứ nhất, chữ

“thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến

lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là

cái thưng, một dụng cụ đo lường dung

tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu

thưng”) Cách viết thứ hai: có chữ Nhật

đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là

Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi

lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết

thứ nhất Thăng Long, Kinh đô mới của

Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử

ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó

bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và

“Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”

Đặt tên Thăng Long với cách viết như

trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ

thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn

làm Kinh đô mới, đồng thời có sức

mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống

Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự

cho mình là “con Rồng cháu Tiên”

Có điều đáng chú ý là các từ điển thông

dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ

hải (Từ nguyên xuất bản 1947, Từ hải

xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất

bản sau có khác không), không thấy ghi

từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ

Thăng Riêng Trung văn đại từ điển (tập

là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo

5 Đông Đô - Sách Đại Việt sử ký toàn

thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm ĐinhSửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán

Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ

đô hộ là Đông Đô” Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa

là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô”

6 Đông Quan - Đây là tên gọi Thăng

Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” củaNhà nước phong kiến Trung Hoa Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:

“Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻtre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng”

7 Đông Kinh - Sách Đại Việt sử ký

toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là ThànhThăng Long Vì Thanh Hóa có Tây Đô,

Trang 21

cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông

Kinh”

8 Bắc Thành - Đời Tây Sơn (Nguyễn

Huệ - Quang Trung 1787 - 1802), vì

Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên

gọi Thăng Long là Bắc Thành

9 Thăng Long - (Thịnh vượng lên)

Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết:

“Năm 1802, Gia Long quyết định đóng

đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế),

không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn

Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi

Kinh thành Thăng Long làm trấn thành

miền Bắc Kinh thành đã chuyển làm

trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần

phải đổi Nhưng vì tên Thăng Long đã

có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian

cả nước, nên Gia Long thấy không tiện

bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long,

nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành

chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng

rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay

Vua không ở đây thì không được dùng

chữ “Long” là “rồng”

Việc thay đổi nói trên xảy ra năm

1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh

phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không

đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành

Thăng Long lại rộng lớn quá

10 Hà Nội - So với tên gọi Thăng Long

với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử

thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý,

với nghĩa “bên trong sông”

Cô giáo Vũ Thị Phương (st)

TRANG VIẾT HỌC TRÒ

NHỚ VỀ THẦY CÔ

Thái nguyên, ngày 5 tháng 11 năm 2010

Kính gửi các thầy cô yêu quý của con!Thế là một dịp 20-11 nữa lại đến Trong lòng con bừng lên một cảm giác nôn naokhó tả Đã gần ba năm học tập dưới mái trường THPT Thái Ninh được gặp gỡ với thầy cô và các bạn mới, con đã phần nào thích nghi với ngôi trường này Cứ nghĩ lại những ngày đầu khi con bước những bước chân đầu tiên vào trườngvớitâm trạng lo sợ và ngỡ ngàng, con lại thấy hồi hộp Mọi thứ đối với con còn quá xa lạ Điều đó bất chợt khiến con không muốn bước tiếp, không muón họccấp 3 như con ao ước nữa Con chỉ mong được sống mãi trong vòng tay che chở của các thầy cô-những người cha người mẹ thứ hai của con, những người

mà con đã gắn bó suốt 4 năm liền Con muốn khóc thật to trong sự lạ lẫm này Thế nhưng con chợt hiểu ra: con được học ở đây là do nhận được những tình cảmộư yêu thương chăm sóc chỉ bảo tận tình của các thầy cô Bởi vì con biết các thày cô luôn muốn đem lại cho con những điều tốt đẹp nhất để chúng con cóthể được học trong môi trường tốt Và hơn hết con sẽ có thêm hành trang, kiến

Trang 22

thức để tự tin bước vào đời Con lại tự

bảo mình phải cố lên…

Đã bao lần đi ngang qua ngôi trường

THCS Thái Nguyên, con lại thấy sống

trong tim mình bao nhiêu là kỉ niệm của

một thời tuổi thơ Kí ức đẹp đẽ và vui

tươi luôn thường trực trong tâm trí con,

đôi lần chợt ùa về làm con xao xuyến

Xa trường đã lâu nhưng con chưa một

lần về thăm lại ngôi trường, thăm các

thầy cô giáo, một thời mà con đã gắn bó

Thời gian không ngừng trôi, con cũng bị

cuốn vào trong lòng thời gian đó Việc

học không ngừng nghỉ, khiến con không

có thời gian để thực hiện mong muốn

một lần về thăm trường Con thấy mình

có lỗi Nhưng con tự nhủ với lòng mình

dù có đi đâu thì cũng luôn hướng về

trường, vẫn hằng ngày dõi theo sự

chuyển mình của ngôi trường với những

đổi thay tích cực hơn

Nhớ về trường con lại thấy hiện ra

trước mắt con những hình ảnh, những kỉ

niệm thân thương mà con đã có được

cùng với các thầy cô và bạn bè, con

không thể nào quên Và có lẽ nó vẫn còn

vẹn nguyên như mới hôm qua chứ

không phải là ba năm nữa Bởi lẽ con

yêu trường, yêu thầy cô và bè bạn của

mình rất nhiều…Khoảng thời gian con

thấy hạnh phúc nhất và nhớ lâu nhất có

lẽ là năm học cuối cấp Vì đó là những

ngày tháng cuối con được học ở trường,

là thời điểm đánh dấu một sự chuyển

biến: con phải xa trường Những kỉ niệm

về năm cuối cấp còn in sâu đậm trong

tâm hồn con Con sẽ nhớ mãi cô giáo

Hiệu trưởng Đàm Thị Loan rất nghiêm

nghị nhưng cởi mở và tâm lý, hiểu học

trò sâu sắc Có lẽ dáng vẻ bề ngoài khiến

các bạn hơi sợ cô nhưng là Hiệu trưởng

thì cô phải cương nghị như thế mới trị được lũ học trò “Nhất quỷ nhì ma” Người để lại trong con nhiều ấn tượng nhất là cô Lê Thị Mát, cô chủ nhiệm lớp 9B của con Cô có nhiều điều khiến cho con khâm phục và thấy mình phải noi theo cô Có lẽ là giáo viên chủ nhiệm nên tình yêu thương , chăm sóc của cô dành cho lớp 9B là đặc biệt nhất Mỗi giờ giảng trên lớp, cô truyền giảng hết kiến thức cho chúng con, cô giảng bài tỉ

mỉ những chỗ chúng con chưa hiểu, dạy chúng con nhiều điều hay lẽ phải Cô dạy chúng con phải biết cố gắng học hành để sau này có một tương lai tốt đẹp

và hơn hết là đóng góp một chút sức lực xây dựng đất nước quê hương Cô khôngbao giờ tạo áp lực về việc học hành cho chúng con mà cô luôn đem đén những tiếng cười sảng khaói, vui vẻ trong giờ học Vì thế mà chúng con tiếp thu bài cũng nhanh hơn, nhẹ nhàng hơn Nhận được sự quan tâm như thế chúng con tự bảo nhau phải học tập thật tốt để cô vui lòng

Con không thể nào quên những giờ Ngữ văn mượt mà đằm thắm cùng giọngđọc ngọt ngào của cô giáo Bùi Thị Chiều Qua các bài giảng của cô, con thấy thêm yêu quê hương đất nước, tâm hồn như được bồi đắp thêm khiến chúng con nhận ra rằng: “sóng là để yêu

thương”…Rồi những ý nghĩ của chúng con dần trưởng thành lớn lên từ đó Ngoài ra, còn nhiều thầy cô khác nữa như cô giáo Nguyễn Thị Quy với những phương trình Hoá học khó nhớ nhưng thú vị vô cùng; cô giáo Đoàn Thị Hợp với những giờ Thể dục vui nhộn đầy ắp tiếng cười; hay cô giáo Phạm Thị Dinh với những giờ Anh văn hấp dẫn chẳng

Trang 23

thể nào quên…Mỗi thầy cô là một tấm

gương học tập để chúng con soi xét bản

thân mình Con cũng biết mình còn

nhiều thiếu sót nhưng khi nhớ về những

lời chỉ bảo dặn dò của các thầy cô con

lại thấy mình có thêm sức mạnh để phấn

đấu, để thực hiện được những ước mơ

của bản thân Có lẽ, dù con có nói bao

điều đi nữa thì cũng không kể hết những

ân tình những công lao mà thầy cô dành

cho con

Thời gian ấy đã lùi vào kí ức nhưng

những bài học mà các thầy cô đã dạy

cho con thì suốt đời con cũng chẳng thể

nào quên được Con bước vào đời bằng

hành trang mà mình đã có được và con

tin con sẽ làm được những gì mà con

muốn Bởi con biết phía sau con đường

mình đang bước có các thầy cô đang cổ

vũ động viên con vững bước

Con gửi vào đây tất cả lòng thành

kính, sự biết ơn sâu sắc đối với các thầy

cô Nhân ngày hôi Hiến chương các Nhà

giáo Việt Nam 20-11, con xin thay mặt

cho các thành viên cũ lớp 9B (khoá học

2007-2008) chúc các thầy cô trong

trường mạnh khoẻ, có nhiều niềm vui

trong cuộc sống và gặt hái được nhiều

thành công trong sự nghiệp trồng người

Giọt nắng nào đi quaCon đường ta tới lớpNgẩn ngơ con chim hótVòm lá xanh dịu dàng

Cơn mưa nào lang thangƯớt sân trường xưa cũHương ngọc lan nhắn nhủHàng ghế đá thầm thì

Về lại những màu thiTiếng ve nào xanh thẳmBâng khuâng làn mây trắngDòng nước mắt xa vời

Tháng năm nào trong tôiCòn vẹn nguyên kí ứcCòn lấm lem dấu mực

Tà áo trắng sân trường

Biết bao là thân thươngGửi lại đây cho nắngGửi cho gió cho mưaGiứ dùm ta một nửa

Trang 24

Nơi đây in bóng bao người

Thuỷ chung dãi dầu mưa gió

Đợi chờ người chốn xa xôi

Tuổi thơ ao là vành nôi

Vẫy vùng của bao lớp người

Để không chìm giữa biển đời

Cô dạy cho em

Điều hay lẽ phải

Tiến tới tương lai

Cô người trồng cây

Ươm mầm cây lớn

Cô ươm đời em

Thành cây hoa thơm

Cô là tất cảTất cả của em

NHỚ

(Nguyễn Thị Thuỳ Linh-9B)

Hàng phượng vĩ đang rộn rã tiếng veNhư náo nức say sưa báo hè vềSân trường đỏ nắng, lòng rạo rựcNhớ lại mùa thu ôn bài thao thứcGốc phượng đây, ghi kỷ niệm khó quênMỗi chúng em cất đôi cánh bay lênNhưng mãi nhớ trường xưa lớp học cũNhớ tháng ngày vui vẻ sống bên nhauNhớ những điều mà cô đã dạy bảo

Để chúng em vững đôi cánh vào đời

CÔ GIÁO CỦA EM

(Đàm Thanh Nam-9B)

Cô giáo của emTóc dài óng ảVóc người thon thảHiền như mẹ hiền

Cô giáo của emSáng nay đến trường

Trang 25

Ngọn cỏ ngậm sương

Mặt trời trở giấc

Cô giáo của em

Bước vào cửa lớp

Gió lùa hoa mướp

Nắng sân trường gọi hồn ai lơ lửng

Dưới hàng cây to nhỏ chuyện ngây thơ

Bước chân đi trên đường đời chập chững

Phút chốc nhìn lá rụng mất mộng mơ

Một chiếc lá chưa vàng nằm cạnh gốc

Phải lìa cành vì gió chẳng mến thương

Nhắc lên tay mà lòng buồn muốn khóc

Mai xa rồi những lưu luyến còn vương

Xa bạn bè vẫn còn duyên gặp gỡ

Kỉ niệm nhoà biết tìm lại nơi đâu

Dòng sông kia có khi nào ngừng chảy

Nó xa nguồn đẩy dạt bèo trôi mau

TRƯỜNG XƯA

(Vũ Thị Thu Hoà-9B)

Bụi dứa gai vẫn nép mình trước cổngDãy ao trường cá vẫn quẫy tung tăngTán bàng xưa vẫn xoàe ô đội nắngBiết bao tuổi thơ lớn với trường làng

Chính ở nơi này ngày xưa ta họcNhững chiếc bàn vẫn hòn gạch kê chânTấm bảng đen treo tường bằng dây thép

Và nhìn thầy cô năm tháng tảo tần

Chính ở nơi này ngày xưa ta họcNhiều cây đã thành cổ thụ lưu niênDẫu năm tháng nhiều gió xô bão đổMàu lá xanh vẫn còn sắc dịu hiền

Phòng thí nghiệm mở nhìn được bốn phía

Mỗi khung trời xanh một ước mơ riêngViên phấn viết vẫn trắng như ngày ấyĐến hôm nay vẫn không phai mờ được

Chính ở nơi này ngày xưa ta họcNgôi trường làng bây giờ đã đổi tênBao công sức tạc thành nhiều kỉ niệmSóng đôi cùng thầy giáo - phụ huynh

Ai đã từng về thăm lại trường xưaChiều thu nay còn đẹp nắng sân trườngBao kỉ niệm dẫn ta về quá khứ

Thưở khăn quang còn đỏ thắm trên vai

TÌNH CÔ

(Vũ Thị Phượng-9B)

Tình cô thật thiêng liêng cao cảTấm lòng cô là biển cả bao la

Cô cho em bao điều hay mới lạ

Cả những vần thơ son sắt bay xa

Cô dạy em cả những tình yêu thương

Để mai đi xa em còn vấn vương

Trang 26

Một người cô hết lòng vì trò nhỏ

Dành nhiệt huyết về sự nghiệp trồng

người

Cô cho em cả bầu trời tri thức

Nâng đỡ em trên bước đường xa

Những lời giảng vẫn ngân nga tha thiết

Âu yếm em tựa lòng mẹ bao la

Để rồi khi mai phải xa cách cô

Em không quên tình cô như lòng mẹ

Cô khơi dậy cả những tâm hồn nhỏ

Vun đắp lên cho sự nghiệp đưa đò

LỜI CÔ

(Nguyễn Văn Bảo-9B)

Tuổi thơ chở đầy cổ tích

Dòng sông lời cô ngọt ngào

Đứa em đi cùng đất nước

Chòng chành nhịp võng ca dao

Em gặp trong lời cô hát

Cánh cò bằng dải đồng xanh

Em yêu màu đỏ hoa phượng

Em yêu màu trắng da trời

Em yêu những lời cô hát

Cho em khôn lớn từng ngày

Cô ơi trong lời cô hát

Có cả cuộc đời hiện ra

Lời cô chắp em đôi cánh

Lớn rồi em sẽ bay xa

Thời gian hoà vào mái tóc

Một màu trắng bạc nôn nao

Lời cô cứ chậm dần xuống

Cho lời em mãi bay xa

THƯ GỬI CÔ GIÁO CŨ

(Bùi Thị Thuỷ-9B)

Chắc cô còn nhớ em chứ thưa cô

Em vẫn bên cô-người học trò cũBao năm đi xa lòng thầm tự nhủRồi một ngày em sẽ trở về thămDòng thời gian chảy theo những tháng năm

Hai mươi năm qua em chẳng trở lạiNhưng vẫn tin và mong ước mãiĐược gặp cô-người mẹ hiền dấu yêu

Nhớ những năm xưa sớm sớm chiều chiều

Những ngày giá rét, trời mưa hay nắngCặp sách thân quen cô lên lớp thầm lặngMang bao tri thức ấp ủ vạn mầm câyCon chữ xếp dày trên từng trang vởDòng mực tím vẫn còn ở nơi đâyÔi! Nét bút học trò yêu biết mấy

Dẫu đi xa em hằng mong chốn ấy

Có bạn bè vui đùa tựa hôm nao

Kỉ niệm ơi đừng phai nhoà trang giấyCho em bé nhỏ bên cô như hôm nào

THẦY GIÁO NGỒI SOẠN BÀI

(Bùi Thị Thuỷ-9B)

Trời khuya đêm thanh vắngGió sương buốt, lạnh cămTrăng vàng lung linh sángThầy soạn bài trong đêm

Gió len qua khung rèmTrăng ngó vào cửa sổ

Trang 27

Như thì thầm to nhỏ

“Thầy soạn bài trong đêm”

Sương rơi ướt bên thềm

Để đạt được ước mơ

Thầy dạy em học toán

Phép cộng, trừ, nhân, chia

Một ngày kia đi xa

Em mãi nhớ về thầy

Ôi bai này khó quá

Mong thầy trở về đây

Còn người mẹ thứ hai

Chính là cô giáo đó

Cô dạy em học bài

Biết đọc rồi biết viết

Năm nay phải xa trường

Em viết mấy vần thơ

Bày tỏ niềm yêu thương

Tới bao thầy cô giáo

Mong cô sẽ trẻ mãi

Cô giúp em tìm hiểu

Về những điều chưa biết

Cô ân cần dạy bảo

Xa trường tự lúc nào

Em ngỡ như chiêm bao

Trang 28

Cô về đâu chẳng biết

Vẫn mang lời tha thiết

Từ giọng cô dịu hiền

Thời gian bước triền miên

Cô chưa lần quay lại

Bao giờ gặp lại cô

VIẾT CHO NGƯỜI

SẮP XA TRƯỜNG

Muốn khắc tên lên bàn học cũ

Chỗ ngồi quen thuộc mỗi ban mai

Và khung cửa trắng cành hoa sữa

Giữ lại cho nhau chút mộng dài

Hãy bước êm qua bờ cỏ mượt

Chân run như thuở mới vào trường

Tóc xõa che hờ con mắt ướt

Ngậm ngùi em giấu những yêu thương

Hãy gửi tình trên ô ngói đỏ

Rêu xanh phong kín nỗi lẻ loi buồn

Có nhớ gì không em gái nhỏ

Khi mùa thu lộng gió mưa sương

Hãy viết cho đầy trang vở học

Những tên bè bạn rất hồn nhiên

Em sẽ thương thêm đời áo trắng

Ngày qua mang những ước mơ hiền

Hãy giữ cho đầy tim kỉ niệm

Của ngôi trường cũ sắp rời xa

Em sẽ thương thêm màu mực tím

Với quãng đời thơm gió thật thà

Hãy dừng lại dưới hàng bạch đànCho hồn xanh một chút mơ thôi

Lỡ mai đời có nhiều dông bão

Em cũng còn đây một chỗ ngồi

Và ghi nhớ vào trang vở họcNgày em làm một cánh chim đi

Có ta làm chứng cho em khóc Hứa với trường em sẽ trở về

NGÔI NHÀ THỨ HAI

Mái trường là tổ ấm

Đã cho em rất nhiềuBao điều hay điều lạBao kỉ niệm học tròCùng bạn bè thân mếnBao tri thức vô ngầnThầy cô đã cho emNuôi nấng em từng ngàyDạy cho em khôn lớnTiến bước vào tương lai

Trang 29

Nhớ bàn tay ấy cầm tay năm nào

Nhớ quá nhớ nhiều hơn sao

Nhớ làn hơi ấm từ bao tháng ngày

Nhớ lời cô dạy thật hay

Chắp em đôi cánh em bay vào đời

Cô ơi!em nhớ đời đời

Công ơn cô dạy lúc thời học sinh

CA DAO VỀ HỌC TRÒ LƯỜI

Bạn lười chơi game bỏ học

Bị game cuốn hút lực học xuống ao

Cô ơi cô giúp em nao

Kiểm tra sắp đến em nào biết chi

Kiểm tra lận đận một y

Thân lười nên ngó xuống nhòm bốn bên

Ngày thì ước những ngày game

Kiểm tra thì ước sẽ xem được bài

Thật là một cậu khôi hài

Nếu không chăm học làm bài điểm không

Bùi Thị Ngọc Diệp 8b

Cô giáo em

Sáng nào em đến lớp Cũng thấy cô đến rồi Đáp lời chào “cô ạ”

Cô mỉm cười rất tươi

Thời thơ ấu đã quaNhớ lại ngày còn nhỏNgày cô dạy chúng emDạy những bài học tốt

20-11 là ngày đẹp trong năm

Em dành những bông hoaNhững bông hoa điểm tốt

Để em đền ơn cô

Bùi Thị Linh Giang 6a

Cô giáo của chúng em

Cô giáo là mẹ hiềnDịu dàng khi dạy trò

Trang 30

Tiếng nói nhẹ lướt qua

Ánh mắt cô trìu mến

Mái tóc dài mềm mượt

Dạy chúng em từng chữ

Ôi yêu sao, yêu thế

Cô giáo của chúng em

Cô và trò bên nhau

Ôi sao vui, vui thế

Ngày vui của thầy cô

Vũ Thị Hạnh 6b

Cô giáo lớp em

Cô giáo dạy lớp em

Rất xinh lại rất hiền

Trong những giờ lên lớp

Dạy chúng em hiểu bài

Em lại nhờ cô giảng

Cô giảng là hiểu ngay

Cô là người dạy dỗ Dìu dắt em lên người

Cô dạy nhiều lẽ phải

Để chúng em hiểu đời

Bây giờ em khôn lớn Nhớ ngày còn bé thơNhớ những lời cô dạyChẳng thể nào quên cô

Nguyễn Thị Hằng 7a

Truyện cười:

Câu chuyện về Mỏ Khoét

Trong giờ ngữ văn hôm nay thầy giáo gọi Mỏ Khoét:

-Em hãy đặt cho thâỳ hai từ láy:

-Dạ thưa thầy …trong lúc đang suy nghĩ,Mỏ Khoét nhìn ra sân thấy vỏ bim bim liền trả lời:

-Thưa thầy Bim bim, Zon zon ạ!

Đoàn Phương Nga 7a

Không cho nhìn bài

Hải: trong giờ kiểm tra văn vừa rồi, mấy đứa xung quanh đòi xem bài tớ hoài nhưng tớ không cho xem dù một chữ

Trang 31

Linh:Cậu làm gì mà giữ hoài bài ghê

thế?

Hải: không giữ thì để bọn nó nhìn thấy

tờ giấy trắng của tớ rồi cười ha ha!

Linh:!!!

Đoàn Phương Nga 7a

Nước Lào?

Trong giờ địa lí kinh tế

Cô:Ai có thể cho cô biết,hàng hóa của

nước nào đang được bán nhiều nhất trên

thị trường nước ta?

Trò:Thưa cô, nước Lào ạ

Cô:Căn cứ vào đâu em nói thế?

Trò:Thưa cô, vì em thường nghe thấy

người ta rao “Ai mua bánh mì Lào”, “Ai

mua chiếu Lào”…

Hãy thực hiện mơ ước

Bằng những lời thơ hay

Đoàn Phương Nga 7a

Vô đề

(Tặng các thầy cô giáo kính mến)

Thời gian thấm thoát trôi

Em càng xa, càng xaVới những kỉ niệm đẹp

Về thầy cô cấp 1Hồi ấy thật là vui

Không có người cô nào

Mà em đây quên đượcToàn thầy cô dạy tốtNhững bài học ngày xưa

Người cô em nhớ nhất

Là cô giáo Lan AnhDáng người cô thon thảDạy những bài học hay

Và làm văn tưởng tượngCủa những ngày trẻ thơ

Và một người cô nữa

Là cô Miến dạy emHồi em học lớp 4

Cô dạy rất là hay Làm cho em khâm phục

Em yêu các thầy côCùng em vượt chặng Con đường quá khứ xưa

Mà em đã từng trảiNhững kỉ niệm vui buồn

Bây giờ em đã lớn

Đã học trung học rồi

Và lớp học đầu tiên

Ngày đăng: 18/10/2013, 23:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bóng cô luôn hiện về  thân thương - Tập san "Nâng cánh ước mơ" số 5
Hình b óng cô luôn hiện về thân thương (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w