Trong những ngày thi đua lập thành tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam, chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc, hoà chung với biết bao các hoạt động sôi nổi trong nhà trường và đất nư
Trang 1LỜI NGỎ CÙNG BẠN ĐỌC
Bạn đọc thân mến!
Trên tay bạn đã có Tập san “Nâng
cánh ước mơ” số 5 rồi đó Một năm chỉ
có một dịp để bạn được suy ngẫm và
thả hồn theo con chữ của những tác giả
tài hoa gần gũi nhất bên bạn Số báo là
nơi hội tụ, kết tinh tài năng, trí tuệ, công
sức, nơi gặp gỡ tâm tình ấm cúng của cả
thầy và trò trường THCS Thái Nguyên
qua các thế hệ Những bông hoa đồng
nội ngày nào giờ đã thêm hương thêm
sắc tự tin khoe mình dưới ánh nắng ban
mai rực rỡ
Cách đây vừa tròn 4 năm, 20-11-2006
tập san “Nâng cánh ước mơ” đầu tiên
ra mắt bạn đọc với bao niềm vui, bỡ
ngỡ, mong đợi và cả sự hồi hộp lo âu
Những trang báo tuy đơn sơ mộc mạc
nhưng lại chính là món quà vô giá thể
hiện lòng tri ân tới các thầy cô giáo,
những người lái đò đưa thế hệ trẻ cập
bến tương lai Bốn số báo qua, đã gói
ghém biết bao cảm xúc đẹp đẽ, tinh
khôi, vẹn nguyên ấm áp bao la tình
người Theo dòng thời gian tờ báo càng
ngày càng lớn hơn cả về nội dung và ý
nghĩa “Nâng cánh ước mơ” được lấy
cảm hứng từ ý của câu hát “Ai nâng
cánh ước mơ cho em, là thầy cô không
quản ngày đêm Ai dạy dỗ chúng em nên
người là thầy cô em ghi nhớ suốt đời…”
đã đi vào tâm hồn bạn đọc mỗi dịp đầu
đông khi cái nắng hanh hao và gió đầu
mùa se se lạnh
20-11 năm nay, số báo tròn 5 tuổi, cái
tuổi bước đầu khẳng định được tâm thức
của mình Cũng giống như một đứa trẻ
mới lớn đang dần thoát ra khỏi vòng tay
mẹ để khẳng định từng bước đi vững
chãi đầu đời, tập san này đang dầnchiếm lĩnh được tình cảm của bạn đọc đểlớn lên mạnh mẽ, “oai phong” hơn Cái có được của tập san không phải
là những sáng tác lung linh sắc màu rực
rỡ mà chính là cái chất sâu lắng, đằmthắm yêu thương của tình thầy trò chântình mộc mạc, bình dị bao dung Với cácthầy cô, qua trang báo có thể gửi gắm tớihọc trò mình biết bao tình thương yêu vô
bờ bến Còn với các em học sinh, tuynhững bài báo còn non nớt thơ ngâynhưng ắp đầy tình cảm Có thể nhữngbài viết còn vụng về, những câu văn còn
bỏ ngỏ, tứ thơ còn chưa liền vần liềnmạch nhưng chúng ta đón nhận ở đó cáitình cảm tinh khôi nhất của con trẻ dànhcho thầy cô, trường lớp, quê hương, bèbạn, người thân của mình Để rồi lớn lên
5 năm, 10 năm, hoặc 20 năm nữa nhìnlại bạn cũng như tôi thấy mình ngờnghệch đáng yêu biết nhường nào Nếu
có ước muốn được tìm lại cảm xúc vẹnnguyên như thế chắc chẳng thể nàođâu… Sáng tác của các em ngày mộtthêm hay thêm ý nghĩa Đồng nghĩa vớiviệc đó là sự đầu tư cho trang báo cũngcông phu hơn, chắt lọc hơn, trau chuốthơn Tất cả đang khởi sắc và chuyểnmình
Trang 2mái trường THCS Thái Nguyên, có
những bài viết của các em đã xa trường,
hướng về trường thân yêu Thầy cô xin
ghi nhận tất cả tình cảm bao la ấy
Chúng tôi mong rằng trên bước đường
phía trước còn nhiều chông gai vất vả,
các em luôn là những cánh chim đầu đàn
giang đôi cánh rộng bay tới muôn
phương mang theo những tình cảm tốt
đẹp này của các thầy cô
Bạn đọc thân mến!
Tấm lòng tri kỉ của bạn đọc với trang
báo thật đáng trân trọng Chúng ta cùng
chung niềm vui hướng về ngày hội lớn
20-11 và cùng chung sức làm cho cuốn
tập san mỗi năm thêm sự trưởng thành 5
năm có thể nói là một mốc son đánh dấu
sự lớn lên của trang báo và cũng có thể
mở ra một bước ngoặt mới của sự đột
phá trong tư duy, sáng tạo của các tác
giả cùng những người Biên tập chắp bút
cho cuốn tập san có ý nghĩa hơn Chúng
tôi mong được sự quan tâm, góp ý của
bạn đọc
Trong những ngày thi đua lập thành
tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt
Nam, chào mừng những ngày lễ lớn của
dân tộc, hoà chung với biết bao các hoạt
động sôi nổi trong nhà trường và đất
nước, hy vọng tập san số 5 “Nâng cánh
ước mơ” cũng góp một phần vào phong
trào thi đua ấy
Và mừng ngày sinh nhật 5 tuổi đáng
nhớ này, Ban Biên Tập xin gửi lời cảm
ơn chân thành nhất tới bạn đọc gần xa
Mong rằng các bạn luôn là độc giả trung
thành nhất của trang báo
BAN BIÊN TẬP
TẢN MẠN NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11
Dân tộc ta vốn có truyền thống Tôn
Sư Trọng Đạo Truyền thống ấy đã ăn
sâu vào nếp nghĩ, cách sống và cách đối nhân xử thế của người Việt Ca dao xưa còn ghi lại những lời lẽ người ta nhắc nhau:
“Sang sông phải bắc cầu Kiều Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”
Quả thực như vậy Làm thầy trách nhiệm lớn lao lắm Nếu không được xã hội tôn vinh tự nhiên thấy lòng mình hẫng hụt vì ở mỗi người thầy cái giàu có
và đạt được nhiều nhất đó là tình cảm
Có một thuở nhiều ý kiến cho rằng: không nên ví nghề dạy học như người đưa đò cho khách sang sông vì nghe nó phũ phàng quá Nhưng tri thức dân gian đúc kết từ chiêm nghiệm của muôn mặt đời thường, nó vẫn có cái lý riêng của
nó Người chèo đò tận tuỵ với mỗi chuyến đò đầy cùng bao nhiêu khách sang sông ai mà nhớ hết Nhưng ai đã từng một đôi lần trong cuộc đời mình đi qua đò, mới ngộ ra rằng: khách lại nhớ rất rõ gương mặt người chèo đò trên bến sông ngày ấy Nghĩa là, thật sự có sự tương đồng rất rõ trong đặc điểm nghề nghiệp của người thầy và người chèo đò:tiếp xúc với số đông liên tục hết chuyến
đò này đến chuyến đò kia cũng như với
Trang 3hết thế hệ học trò này đến thế hệ học trò
kia Dù đông nhưng cả hai nghề này lại
có thêm một tương đồng là vô cùng
thầm lặng, vô cùng tận tuỵ Tận tuỵ
trong từng bước chân để khách bước
xuống đò, tận tuỵ trong từng nhát chèo
khua trên sông nước Chỉ cần một chút
lơ là, khách có thể chưa bước lên đò đã
ngã bùm xuống nước Lỡ tay để đò chao
là tội lỗi một đời nghề Dìu con đò bình
yên qua bến sông rồi vẫn tận tuỵ để dìu
từng bước chân người bước lên bờ bên
kia cho vô sự Đắm chuyến đò đi là luỵ
một đời nghề
Rồi đây nữa, nghề dạy học còn được
ví như một nông dân cần mẫn, lầm lụi và
chịu đựng:
"Các em mở ra những trang sách ruộng
đồng
Tôi cúi xuống gieo vào hạt chữ
Có giọt mồ hôi và dấu tay mình ấp ủ
Lặng thầm nói với mai sau
Mải miết đôi tay đầy bụi phấn trắng phau
Như nhà nông bốn mùa lấm láp
Viên phấn tự mất đi để đâm chồi sự thật"
Sự ví von này lại cũng có cái lý của
nó mặc dù hai nghề nghiệp này có đặc
điểm hoàn toàn khác nhau Nhưng có
sao đâu, dù nghề gì, muốn tinh cũng cần
sự tận tuỵ, dù có là lao động giản đơn
hay phức tạp cũng phải "nhất nghệ tinh"
mới "nhất thân vinh" Chính cái hết
lòng, cái lặng thầm, cái bụi phấn lấm láp
như bùn đất kia đã khiến nghề nông rất
gần với nghề giáo Hơn thế nữa, nghề
nông gắn liền với hạt giống, với ươm
mầm, đó chính là cái "hạt chữ" mà
người thầy giáo gieo ngay trên trang
giấy trắng với những nét mực đen, và
gieo cả vào trang vở lòng trắng trinh của
lớp lớp học trò Có lẽ chính từ mối liên
tưởng gieo mầm, ươm giống, làm nên
những chồi xanh hi vọng ấy mà Hồ Chí
Minh từng khái quát "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" như một chân
lý vĩnh hằng
Dẫu ở thời đại nào đi chăng nữa, nếuxét về vật chất thì nghề dạy học luôn là một nghề nghiệp nghèo nhất trong những nghề cần tri thức Nhưng đâu phải như các nghề khác, chỉ cần có tri thức là đủ, người thầy lại cần có tấm lòng Giữ được lòng mình trong sáng, giữ được Phẩm - Hạnh - Thầy trong cái
xã hội đồng tiền này, chính là thử thách lớn lao đối với người thầy
Những năm học gần đây, toàn ngành giáo dục đang tham gia vào cuộc vận
động "Nói không với tiêu cực trong thi
“Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng
và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội” Đối với thầy cô giáo và cán bộ
quản lý giáo dục, hưởng ứng cuộc vận động này chẳng có gì khác hơn là ngẫm lại đặc điểm nghề mình để lòng mình trong sáng, tự mình đổi mới phương pháp dạy học, cải tiến và nâng cao chất lượng quản lý giáo dục để góp phần vào
sự nghiệp phát triển nền giáo dục
Người thầy trong công cuộc đổi mới phải luôn giữ trọn đạo làm thầy để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội và một ngày lễ trọng đại nhất trong năm dành cho mình: ngày 20-11
Cô giáo Lê Thị Mát
Trang 4TRANG SÁNG TÁC CỦA THẦY CÔ
CÔ HOÀ
TRUYỆN NGẮN
Bà Hoà đặt lá thư xuống bàn,
ngước mắt nhìn lên tờ lịch treo tường, đã
bước sang tháng 11 rồi, trời trở hanh se
lạnh Bà đọc lại chiếc phong bì
Con Nguyễn Hồng Văn
Quận 10 TPHCM
Kính gửi Cô
Thời gian trôi đi nhanh thật, thấm
thoát đã hơn 20 năm
Ngày ấy bà còn trẻ lắm, cô giáo đẹp
người đẹp nết say sưa hết mực với nghề,
chồng là bộ đôị ở xa, chưa con cái nên
mọi thời gian cô dành hết cho trường,
cho lớp Hoà được đồng nghiệp tin cậy,
với cô mỗi tiết đến lớp là một niềm vui
Bức thư nào của Văn gửi cho bà
cũng chứa chan tình cảm nó luôn nhắc
đến những kỉ niệm khiến bà nhớ lại
Buổi chiều hôm ấy cô giáo Hoà với
chiếc túi xách trong tay xuống nhà học
sinh kiểm tra “ góc họp tập” Cô dự định
sẽ đến nhà Văn, cậu học sinh học khá,
đen, gầy, có đôi mắt biết nói và khuôn
mặt phảng phất một nỗi buồn khó tả
- Em chào cô!
- Ơ! Văn em đi đâu về? Cô đangđịnh tìm đến nhà em
- Em đi lấy thuốc cho mẹ em, nhà
em đây, mời cô vào!
Nhà Văn ở gần cuối xóm, tuy nhỏnhưng gọn gàng, sạch sẽ và khá ngănnắp, trước sân là luống rau ngót lên xanhmơn mởn, từ trong nhà bước ra chàoHoà một thiếu phụ gầy gò, xanh xao
- Thưa cô đây là mẹ em!
- Chào cô giáo, mời cô vào nhà, tôivẫn còn sợ gió
Chị vừa nói vừa bám tay vào bậucửa
Mẹ Văn vốn là một phụ nữ khoẻmạnh lam làm, chồng đi công tác xa, chịhai vai gánh vác việc nhà, việc đoàn thểvẹn toàn Chị ngã bệnh từ cái trưa nắngnhư đổ lửa, đang mải mê cố gặt choxong thửa ruộng duới đồng Vòng thì trờibỗng nổi mây đen vần vũ, đổ mưa nhưthác Người chị mấy lần bị nước mưa vàcái nóng giữa trời cao tấn công cùng cáiđói làm mắt chị hoa lên gục ngã bênđám lúa xén dở, may mà bà con kịp pháthiện đưa đi cấp cứu
Vừa gượng dậy được lại một tin sétđánh đã quật bà quỵ hẳn Chồng bị tạinạn giao thông đột ngột qua đời
- Cháu Văn nhà tôi từ đây phải vừahọc vừa phải thay cả bố lẫn mẹ quánxuyến việc gia đình cô ạ
Chị ngừng kể mệt mỏi dựa mìnhvào thành giường hai mắt ầng ậng nước
- Em có lỗi với chị, với em Văn.Thật vô tâm, thấy em Văn ngoan, chămhọc, học khá, chỉ có điều khi giao làmlớp trưởng Văn xin kiên quyết từ chối
Em đâu ngờ Văn lại chịu nhiều thiệt thòiđến thế Em hứa từ nay sẽ gần gũi, động
Trang 5viên em nhiều hơn Chị yên tâm dưỡng
bệnh
Tiếng động của chiếc mo cau rơi
xuống sân làm Hoà như sực tỉnh Bà giở
lá thư đọc tiếp “ Cô ơi chiếc quần cô
chữa từ quần của chú cho con, con ngại
màu xanh Tô Châu phải đem nhuộm bùn
rồi mới giám mặc đi học, con còn giữu
cẩn thận, chờ khi con của con lớn con
sẽ mặc thử cho nó và kể về lai lịch chiếc
quần như một chuyện cổ tích thời hiện
đại cho nó nghe chắc cháu ngạc nhiên và
cảm động lắm cô nhỉ? Mẹ con giờ khoẻ
rồi, bà đã kể bao nhiêu lần cho vợ con
nghe về cô Cô ơi con xin báo cho cô
một tin vui: Con vừa được nhận bằng
Thạc sỹ loại ưu Và quyết định của gia
đình con là tết này sẽ ra Bắc về nhà cô
ăn tết, cô chuẩn bị thật nhiều rượu, thịt
cô nhé Mẹ con mừng lắm cứ thắc thỏm
với con dâu: “Xa nhau bấy lâu giờ gặp
lại chắc cảm động lắm, mẹ chuẩn bị cái
gì về tặng cô chú để tỏ tấm lòng mẹ
nhưng mà dù nghìn vàng cũng không
xứng với tấm lòng thơm thảo của cô
giáo Hoà đâu con ạ Cô giáo Hoà đã vực
Văn đứng lên, gia đình mình sống lại để
có ngày hôm nay”
Bà Hoà gấp lá thư, bâng khuâng
(Tặng thầy Hậu, chủ nhiệm lớp 7A)
Chợt đi qua cửa lớpCủa chi đội 7ATôi lặng im đứng lạiNghe tiếng thầy đọc thơGiọng thầy nghe nhẹ nhàngLúc thanh cao trầm bổngTừng ý thơ thầy đọcNghe ngọt ngào làm sao
Tôi nhìn trong lớp họcTrò lắng nghe im lặngTừng nét mặt đăm chiêuNhư muón nói mọi điều
Về bài thơ thầy đọc
“Thầy ơi em muốn họcMôn Văn thầy giảng hayChúng em hứa hăng sayChất lượng cao kì nàyVượt bình quân của huyện”
Tôi nghẹn ngào lưu luyếnMuốn nghe mãi không thôiGiờ học kết thúc rồi
Xin giờ sau thầy nhé!
Cô giáo Đoàn Thị Hợp
Ba hai năm ở trong nghềNăm nay dạy phải 7B chán chườngTrong lớp nhiều trò ẩm ương
Vào lớp “đánh vật” biết nhường ai đây?Trò cũ nay đã làm thầy
Thấy cô vất vả em rày nên thương
“Cô ơi em đã tỏ tường
Em dạy lớp đó ở trường giúp cô”
Lời nói đó tưởng ngây thơ
Trang 6Mà trong tâm thức thương cô thực lòng
“Em ơi cô vẫn hằng mang
“Lái đò chở khách” qua sông suót đời
Đến nay cô nở nụ cười
“Khách qua sông” vẫn nhớ người đò
xưa”
Dù có vất vả sớm trưa
Cô-trò đồng nghiệp thật vừa lòng nhau
Cô giáo Trần Thị Thu
Bao năm lo việc công đoàn
Mỗi lần đến dịp nhà trường liên hoan
Kể từ những việc cỏn con
Nào mắm, nào muối, rau thơm góp phần
Trong lòng vẫn cứ phân vân
Sao cho đồng nghiệp quây quần vui
chung
Đôi khi cũng thấy phật lòng
“Làm dâu” trăm họ vừa lòng hết đâu ?
Mặc dù đã bạc mái đầu
Vẫn lo công việc kém đâu mọi người
Đến nay sắp nghỉ hưu rồi
Nhường cho lớp trẻ cứ ngồi nghỉ ngơi
Cơm bưng nước rót tới nơi
Trong lòng thật thấy thảnh thơi yêu đời
Đêm đêm cứ ngủ ngon thôi
Không phải lo nghĩ như hồi trước đây
Cô giáo Trần Thị Thu
Thầy
Một mùa thu như bao mùa thu trước
Nắng bừng lên trong mắt biếc học trò
Phấn trắng, bảng đen, nét mực thầy vẫ
đỏ
Sao con tìm mà chẳng thấy ngày xưa…
Thời gian qua mùa thu nay có khác
Bao chuyến đò qua chốn ấy sông sâuNghĩa thầy cô một đời không trả hếtDẫu đời con qua biết mấy nhịp cầu
Trang giáo án bao năm thầy vẫn mở
Mà tập bài thầy đã chấm khác xưaChúng con đi, biết khi nào về lại
Có bao giờ tìm được thủa thơ ngây…
Mùa thu qua, bụi thời gian rơi rắcNên tóc thầy một sáng bỗng bạc thêmTrời xanh vẫ bình yên ngoài cửa lớp Chữ nghĩa tình muôn thủa chẳng nguôi quên
Cô giáo Nguyễn Thị Quy
TÌNH CÔ GIÁO
Tặng học trò của cô Chuốt
“Cô mong rằng em mãi là trò ngoanTrong sáng vô tư hồn nhiên mơ mộng.Giữ cho tâm hồn luôn tươi trẻ,
Mãi sáng trong cái tuổi học trò”
“ Em tin rằng cô cũng rất yêu emTình em nguyện dành cho cô mãi mãi …Nếu chia hai ,em xin làm trọn vẹn
Tình Mẹ -Cô, em hứa sẽ đong đầy”
Khi bến sông quê chưa có “ Cầu Kiều”,
Cô vững lái con đò trong đêm tối Ánh sao khuya sẽ soi đường chỉ lốiGiúp học trò vươn tới những tầm cao
Thật tự hào hạnh phúc biết bao,
Cô đã đưa bao trò đến bếnLớp cũ lên đường, lớp sau lại đến
Cô là người chắp cánh những ước mơ…/ Thái Nguyên 6/11/2010
Trang 7Cụ giỏo Nguyễn Thị Chuốt
NểI VỚI ANH
Anh là rừng cõy, cho em hạ cỏnh
Mỗi khi mỏi mệt đường đời
Anh là bờ bói đắp bồi
Cho em xanh tươi cõy lỏ
Anh là than khụ củi nỏ
Đốm lửa em nhen đượm nồng
Vỡ lo cơm dẻo, em đành lại thụi
Vậy xin anh ở giữa đời
Cũng đừng trỏi giú trở trời nắng xiờn
Mà em ró cỏnh bay nghiờng
Đất trời chao đảo, bỡnh yờn chẳng cũn
Dũng sụng yờn, nổi súng cồn
Làm cơn thỏc lũ dập dồn cuốn trụi
Cả ngàn cõy, cả bói bồi
Cả em-anh, cả cỏi thời cú nhau
Đế mà cũn lại nỗi đau
Cho người hàng xúm nờn cõu chuyện
cười
Đừng nghe anh !!! Với người ngoài
Xinh tươi thiờn hạ, của rơi khú cầm
C ụ giỏo Nguyễn Thị Hoàng Anh (st)
Anh
Anh con ngời đáng yêuHay vô cùng đáng sợAnh con ngời nhẫn tâmHay là ngời nhân từAnh tất cả trong emHay không là gì cả
Anh là ai trong hai con ngời ấy?
Anh đã đến để đời em biến độngNỗi buồn vui chợt đến, chợt điBao kì vọng rồi vỡ oà trong mộng
Em gục đầu đi vào ảo mộng
Có bao giờ anh thơng hết em đâu?Buồn da diết in sâu trong khoá mắt
Chia tay với trờng Thái Học
Gắn bó với trờng đợc thế thôi,Chữ tình bỗng chốc bẻ làm đôi
Gần nơi trờng mới, xa trờng cũ,Thân một nơi hồn gửi đôi nơi
Nguyễn Đình Hậu
Trang 8
LỜI CỦA THẦY
Rồi các em một ngày sẽ lớn
Sẽ bay xa đến tận cùng trời
Có bao giờ nhớ lại các em ơi
Mái trường xưa một thời em đã sống
Nơi đã đưa em lên tầm cao ước vọng
Vị ngọt đầu đời bóng mát ca dao
Thủa học về cái nắng xôn xao
Lòng thơm nguyên như mùi mực mới
Dẫu biết rằng những tháng ngày sắp tới
Thầy trò mình cũng có lúc chia xa
Sao lòng thầy canh cánh nỗi thiết tha
Muốn gởi các em thêm đôi điều nhắn
nhủ
Một lời khuyên biết thế nào cho đủ
Các em mang theo mỗi bước hành trình
Ở nơi đâu có thầy luôn thương nhớ
Khi thầy về nghỉ hưu Cây phượng già treo mùa hạ trên cao Nơi bục giảng giọng thầy sao chợt thấp:
"Các con ráng… năm nay hè cuối cấp…"
Chút nghẹn ngào… bụi phấn vỡ lao xao
Ngày hôm qua hay tự tháng năm nào Con nao nức bước vào trường trung học Thương cây lúa hóa thân từ hạt thóc Thầy ươm mùa vàng, đất vọng đồng dao
Mai thầy về, sân trường cũ nằm đau? Hay nỗi nhớ lấp vùi theo cát bụi?
Dẫu cay đắng, dẫu trăm nghìn đau tủi Nhọc nhằn nào thầy gửi lại ngày sau?
Mai thầy về, mùa gọi nắng lên cao Vai áo bạc như màu trang vở cũ Con muốn gọi sao lòng đau nghẹn ứ
Đã bao lần con ngỗ nghịch thầy ơi!
Cô giáo Đào Thị Hồng Tuyên
Trang 9
Khụng đề
Cầm bỳt lờn định viết một bài thơ
Chợt nhớ ra nay là ngày nhà giỏo
Chợt xấu hổ cho những lần cao ngạo
Thỡ ra con cũng giống bấy nhiờu người
Cầm bỳt lờn điều đầu tiờn con nghĩ
Đõu là cha, là mẹ, là thầy…
Những con chữ đều đều xếp thẳng
Sao lại quặn lờn những giả dối đến gai
người
Đó rất chiều bến xe vắng quạnh hiu
Chuyến xe cuối cựng bắt đầu lăn bỏnh
Cửa sổ xe ự ự giú mạnh
Con đường trụi về phớa chẳng là nhà…
Mơ màng nghe tiếng cũ ờ a
Thầy gần lại thành búng hỡnh rất thực
Cú những điều vụ cựng giản dị
Sao mói giờ con mới nhận ra
Ngụ Võn Anh (st)
TÂM SỰ VỚI HỌC TRề
Học trò cần lắm những lời phê
Giờ đây tôi đã một thầy giáo dạy
văn, ngẫm lại tôi mới thấy lời phê củangời thầy có một ma lực rất lớn Lờiphê của thầy trong bài kiểm trakhông chỉ đơn thuần có tác dụng chỉ
ra những cái đợc cần phát huy, cáiyếu kém cần khắc phục mà hơn thếnữa lời phê của thầy còn có tác dụng
động viên khích lệ học trò nỗ lực phấn
đấu tu dỡng đạo đức và trí tuệ
Tôi còn nhớ trong một bài báo
đăng trên văn học và tuổi trẻ nói về
lời phê của thầy giáo dạy toán ở lớpchuyên văn, để động viên các em cầnquan tâm chăm chỉ học toán nh họcvăn thầy đã phê rằng:
"Nay ở trong văn nên có toánNhà văn cũng phải biết nhân chia." Ngẫm ra, thực tế hiện nay học sinhkhông mặn mà gì với chuyện học vănnếu không muốn nói là các em chánghét môn văn Nguyên nhân có không
ít cả chủ quan và khách quan màchúng ta cũng đã bàn đến rất nhiều.Tôi chỉ nghĩ rằng trong vấn đề họcsinh không yêu thích môn văn cũng
có một nguyên nhân là các thầy dạyvăn cha thực sự biết cách làm cho họcsinh yêu thích, cha khơi dậy đợc niềmham mê hứng khởi ở các em mà thôi
Trang 10Ngời ta thờng nói "văn học là nhân
học", chuyện văn học cũng là chuyện
cuộc đời, có hiểu đời mới hiểu văn và
ngợc lại hiểu văn sẽ giúp cho ta hiểu
đời hơn Vậy là thầy giáo dạy văn trớc
hết phải cho các em thấy đợc mục
đích ý nghĩa và sự bổ ích của việc học
văn
Học theo cách ngời đi trớc, qua
hơn chín năm lăn lộn trong nghề, tôi
đã cố gắng cần mẫn, tỉ mỉ, cẩn trọng
trong việc chấm và phê bài cho học
sinh Tôi còn nhớ vài trờng hợp lời
phê của tôi đã để lại ấn tợng với học
trò mà sau khi ra trờng các em vẫn nói
lại với tôi Đó là trờng hợp một em
học sinh tên Nguyễn Đức Tài, một
học sinh học yếu, ý thức cũng tồi
th-ờng hay quậy phá lớp Trong một bài
kiểm tra, tôi có phê cho em mấy câu:
"Tài, em lẫm lỗi đã nhiều
Thầy mong em nhớ những điều thầy
khuyên Học hành khuya sớm cần chuyên
Quyết không thẹn với biệt tên Thế
Tài."
Lại có một em viết bài văn miêu
tả loài cây em yêu Mở bài em giới
thiệu cây em yêu quý nhất là cây cau
Nhng đến phần thân bài em lại viết về
cây dừa Có nhiều câu em dùng từ rất
ngộ mà trong từ điển không có: "Tán
cây xèo ra", "Vì bị em lay gốc nên từ
đang xanh tốt hôm sau trông cây đã
phờ phạc, lử đử" Tôi không nhịn đợc
cời khi chấm bài của em Cái cời mà
chỉ có những thầy dạy văn mới đợc
học sinh tặng cho Tôi bèn phê cho
em mấy câu:
"Thầy cha đợc thấy bao giờ
Cau kia lại hoá ra dừa đợc sao?
Bài này em tính thế nào
Điểm thấp chẳng nỡ điểm cao sao
đành
Em về viết lại cho nhanh."
Đến năm nay, tôi lại bắt gặp hai
trờng học sinh lớp 9 mà viết chữ vẫn
không ra hồn Tôi giận và cũng buồn
đau lắm Nhng cũng vẫn phải nhẫn
tâm khuyên nhủ các em bằng lời phênhẹ nhàng:
"Văn hay chữ cũng phải hay Văn đâu cha thấy chữ này rất nguy
Dạy văn lấy cảm làm đầu"
Ngày nhà giáo Việt Nam đang
đến gần, lòng tôi lại rạo rực một niềmhân hoan khôn tả Tôi thầm gửi đếncác thế hệ nhà giáo lời biết ơn sâunặng Kính chúc các thầy cô luônluôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc Tôi
hi vọng và tin tởng rằng với sự tậntâm, tận lực của các thầy cô trong Hội
đồng giáo dục nhà trờng và sự nỗ lựcphấn đấu của các học trò thân yêu,năm học này, chất lợng giáo dục củatrờng THCS Thái Nguyên sẽ đạt nhiềuthành tích cao, từng bớc góp phần làmcho sự nghiệp giáo dục của xã nhàngày một khởi sắc
Nguyễn Đỡnh Hậu
Trang 11TÁC GIẢ VĂN HỌC
TRONG NHÀ TRƯỜNG
Nhà văn Tô Hoài: một
đời viết không ngừng
nghỉ
Mùa xuân này nhà văn Tô Hoài bước
sang tuổi 91, vợ ông, bà Nguyễn Thị
Cúc cũng đã ở tuổi 85 Gần 70 năm
gắn bó đời vợ chồng từ lúc cuộc sống
còn nhiều vất vả cho đến lúc tóc bạc,
răng long, với người phụ nữ Hà thành
đài các thưở xưa, chồng bà, nhà văn
Tô Hoài vẫn là người say đi, say viết.
Bây giờ dù mắt Tô Hoài đã không còn
tinh tường, muốn xem tin tức phải có
người đọc báo giúp, chân tay ông làm
mọi việc đều khó khăn, nhưng tết này
vẫn viết được hai bài báo Trước đây
ông chỉ viết trong một ngày, nhưng giờ
đây để có hai bài báo chưa đầy 3000 chữ
ông phải viết nó trong cả tháng Nhưng
ông ấy hoan hỉ lắm, bà Cúc kể
Người phụ nữ đài các Nguyễn Thị Cúcthưở xưa giờ vẫn đẹp Bà kể rằng, khi nhìn thấy Tô Hoài lần đầu tiên trong dịp ông về nhà cùng với anh trai mình, bà đãnhận thấy sự khác thường của người thanh niên ấy Nhìn đôi dép cao su mòn vẹt làm bà tin ngay lời anh trai kể, ông
ấy đã đi bộ nhiều năm từ nhà lên trường
ở phố Hàng Than để học “Anh ấy chỉ mặc một bộ đồ cũ kỹ duy nhất ấy trong nhiều lần đến nhà tôi” Và cô gái lãng mạn thích thơ và hay đọc truyện ấy hiểu rằng, người đàn ông này có chí, nhất định sẽ làm nên sự nghiệp
Ngày quen nhau Tô Hoài đã có Dế mèn phiêu lưu ký, bà Cúc kể Nhưng
ngày đó văn chương của ông chưa nổi tiếng như thời sau này Tuy nhiên có một điều bà Tô Hoài lấy làm ngạc nhiên
là từ ngày gặp nhau cho đến cả những ngày tháng nằm trên giường bệnh, ông chưa bao giờ ngừng viết Bà luôn thấy ông viết khi tác phẩm được hân hoan chào đón, cả khi nhà xuất bản trả lại bản
in, cả khi dư luận lên tiếng Mỗi ngày ông đều cầm bút và tập bản thảo của ông
cứ dày theo thời gian Ngay cả khi những trận bút chiến nảy lửa về tác phẩm của mình diễn ra ở trên khắp mặt báo, Tô Hoài cũng vẫn lẳng lặng ngồi vào bàn và tiếp tục viết Đối với Tô Hoàiviết là việc cần phải làm mỗi ngày, cho
dù ông không nhớ tất cả các tác phẩm vànhững câu chuyện mình đã kể
Về những người bạn trong cuộc đời của
Tô Hoài, bà Cúc cho biết, trong cuộc đờicủa ông có nhiều bè bạn, bà không nhớ hết tên những người bạn đã đến thăm ông Bà cũng tin người như ông thì hiếmngười ghét Nhưng có một người bạn từ
Trang 12thưở hàn vi của ông mà bà không bao
giờ quên đó là Vũ Ngọc Phan Bà Cúc
bảo: “cách mà ông ấy giúp cho chồng tôi
một cái cần câu thay vì cho một con cá
là cách ông Phan giúp cho Tô Hoài luôn
vững một niềm tin để viết” Chính vì thế
cho đến bây giờ những người con của
ông Phan như Vũ Tuyên Hoàng, Giáng
Hương đều coi gia đình Tô Hoài như
những người thân, bà Cúc kể
Tô Hoài tính tình lành lắm Sự lành
hiền mà theo bà Cúc thường mang theo
đi của vợ con ông nhiều cơ hội tốt Bà
Cúc kể, cái nhà ở Đoàn Nhữ Hải ông có
được bây giờ là nhờ bạn, nhà ở Nghĩa
Đô cũng do một người giúp đỡ tận tình
mà có Cứ như ông ấy thì không khéo
chẳng có nhà để ở
Cũng vì sự liêm khiết và luôn làm
những điều mà mình cho là đúng nên cái
thời người ta đi nước ngoài còn là cả
niềm mơ ước, có thể làm giàu sau mỗi
chuyến đi thì quà ông “Dế mèn” mang
về cho vợ chỉ là một xâu ớt cay Món
quà giá trị nhất bà Tô Hoài nhận được từ
chồng mà bà vẫn giữ đến giờ là một
chiếc áo dài ông mua tặng bà sau một
chuyến đi Lào Tất nhiên bà không giận
ông về những điều đó, bởi bà hiểu không
có ai hoàn hảo, và cuộc đời bà được ông
bù đắp bằng những niềm tin mạnh mẽ
hơn
Tô Hoài đã đi không biết bao nước,
đến hầu khắp tất cả các vùng ở Việt
Nam Ông luôn coi những chuyến đi là
tiền đề cho việc viết Ông cho rằng,
Cervantes có được Đôn - ki – hô – tê là
nhờ làm nghề đi thu thuế khắp đất nước,
Cao Hành Kiện có Linh Sơn cũng nhờ
những chuyến vể thăm vùng phía Bắc Trung Hoa Vì thế, cứ rảnh ông lại lên đường Chính vì quan niệm đó, sau mỗi chuyến đi Tô Hoài đều có sản phẩm Chuyến lên Tây Bắc 8 tháng năm 1992 ông có Tập truyện Tây Bắc, Ba người khác cũng là sản phẩm sau ba năm làm đội phó phụ trách tòa án thời cải cách ruộng đất ở Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Bình
"Dế mèn phiêu lưu ký" của Tô Hoài đãlàm sinh động tâm hồn bao nhiêu thế hệ trẻ thơ của Việt Nam Ông viết được tác phẩm ấy cũng là do đã từng "chơi dế rất khiếp" khi còn nhỏ, ở ven sông Tô Lịch Ông viết được vì ông hiểu loài dế Tác phẩm nổi tiếng ấy của ông giờ đã được dịch ra 25 nước và ông vẫn nhận tiền tái bản của NXB Kim Đồng hàng năm, chừng 4 - 5 triệu Những ngày này, khi chúng tôi đến thăm, ông đương viết tác phẩm cho thiếu nhi: "Hoa râm bụt - hoa hồng bụt" Ông nói, râm bụt là tả lá,
"rậm rạp" - theo cách giải thích của cụ Nguyễn Lân, còn người Nghĩa Đô gọi loài cây này theo hoa, là cây hồng bụt Ông nói, Cụ Hồ quý loài hoa này lắm, vìquê Cụ có rất nhiều Cụ Hồ cho trồng nhiều râm bụt quanh nơi ở, "vì thèm nhớquê hương" Về cuối đời, Tô Hoài nói ông học Tolstoy, lại trở về viết cho trẻ
em, viết cho tâm hồn còn trắng như tờ giấy của chúng
1.000 năm Thăng Long, Tô Hoài cộng tác với nhiều NXB và sẽ cho ra mắt hàng loạt tác phẩm trong thời gian tới, như "Nhà Chử", "Quê nhà - quê người",
"Miếu Đồng Cổ" Còn NXB Kim Đồngvừa mới cho ra mắt tập "Chuyện ngày xưa" của ông, tinh tuyển 100 truyện cổ
Trang 13tích tuyệt vời nhất mà chính Tô Hoài
yêu mến và muốn kể lại cho trẻ em
nghe Ông nói, ông đã viết chúng bằng
thứ ngôn ngữ đẹp như thơ Về Tấm
Cám, ông bỏ đi chi tiết Tấm ướp mắm
Cám; về Mỵ Châu - Trọng Thủy, ông
lược đi chi tiết vua Thục chém con gái
khi giặc đuổi đến gần mà cả hai cha con
đều nhảy xuống biển quyên sinh Ông
muốn viết lại những câu chuyện cổ tích
theo cách của Tô Hoài - người một đời
cầm bút
Giờ đây, ông sống với vợ chồng người
con gái làm bác sĩ ở Nghĩa Đô Ông
cùng lúc mắc nhiều triệu chứng của bệnh
tiểu đường, bệnh gút nên ở cùng con gái
để tiện việc chăm sóc Việc cầm bút của
ông đã khó khăn rất nhiều do tay ông bị
run, nhưng những lúc tinh thần minh
mẫn là Tô Hoài ấy lại cầm lấy bút Cuối
năm2009 nhà văn phải nhập viện mấy
lần, may thay thời gian này ông đã đi lại
được chứ không phải ngồi xe lăn Nhưng
trong căn phòng làm việc cửa đóng kín
cả ngày vẫn bề bộn giấy tờ trên bàn viết
Cô giáo Phạm Thị Thắm (st)
TÁC GIẢ NGUYỄN DU
1- Gia đình và tuổi thơ
Nguyễn Du sinh ngày 3-1-1765 tại quê
mẹ, làng Kim Thiều, xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Quê mẹ: Làng Kim Thiều có tên chữ là Hoa Thiều, tên Nôm là làng Mấc, thuộc
xã Ông Mặc, trấn Kinh Bắc Quê ngoại nổi tiếng về hai phương diện:
-Làng Kim Điền có danh tiếng về nghề chạm khắc gỗ và nhiều tay nghề giỏi
-Theo tác phẩm “Danh công Truyện ký" làng Kim Điền có nhiều danh sĩ khoa bảng nối đời phụng sự quốc gia; toàn xã
có tới 22 tiến sĩ kể từ thời nhà Trần đến nhà Nguyễn
Trang 14-Làng Kim Điền, Bắc Ninh nổi danh có
nhiều thiếu nữ đẹp Nhiều bộ phả của
các dòng họ làng Hoa Thiều và toàn xã
Ông Mặc có nói về gái vùng này thường
được kén chọn vào cung vua làm phi,
thiếp
Mẹ của Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần
(1740 - 1778), con gái quan Câu kê họ
Trần ở làng Hoa Thiền huyện Đông
Ngạn xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc
Ninh), vợ thứ ba của tể tướng Nguyễn
Nghiễm, nhỏ hơn chồng 32 tuổi, thuộc
hệ thứ 11 theo bản phả họ Trần ở Hoa
Thiều và bản phả của họ Nguyễn ở Tiên
Điền Tể tướng Nguyễn Nghiễm có vợ
cả, vợ hai là hai chị em ruột họ Đặng:
Đặng Thị Dương và Đặng Thị Thuyết
Nguyễn Nghiễm có tất cả 8 vợ và 21
người con Tể tướng Nguyễn Nghiễm
kết duyên với Trần Thị Tần sinh được 4
trai, 1 gái, theo thứ tự: Nguyễn Trụ,
Nguyễn Nễ, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn
Du và Nguyễn Ức
Quê cha: Cha của Nguyễn Du là Nguyễn
Nghiễm (1708 - 1775), quê làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, Phủ Đức
Quang, trấn Nghệ An (nay là tỉnh Hà
Tĩnh)
Theo gia phả họ Nguyễn và sách Nghệ
An ký của Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch
(1757-1828) thì thời gian trước thế kỷ
XVI, Tiên Điền là một bãi đất cát bồi
của sông Cả (còn gọi là sông Lam),
hoang sơ, cư dân thưa thớt, quanh năm
nước mặn dâng ngập bờ Giữa thế kỷ
XVI, ông tổ họ Nguyễn là Quận công
Nguyễn Thuyên cùng người cháu là
Nam Dương Quận công đến dựng
nghiệp và tu bổ vùng này rồi đổi thành
U Điền Sang thế kỷ XVII, U Điền đổi tên là Tân Điền, Phú Điền, rồi Tiên Điền Theo sử sách ghi chép, Tiên Điền được mệnh danh là nơi giang sơn tụ khí
và không biết từ bao giờ người dân xứ Nghệ có câu “Ló (lúa) Xuân Viên, quan Tiên Điền, tiền Hội Thống” Tiên Điền từng được Nhà Lê ban tên xã Trung Nghĩa vì đã có công bảo vệ kinh thành Thăng Long Theo thời gian, nơi đây nổidanh với Đền thờ Hội Quận công, Đền thờ Uy Quận công, Đền thờ Trinh Dũng hầu, Đàn tế Lĩnh Nam công, Đền thờ Tiên Lĩnh hầu, Đền thờ Xuân Nhạc công, Đền thờ Lam Khê hầu, Đền thờ Điền Nhạc hầu, Đền thờ Hà Chân đài,
Mộ tổ họ Nguyễn, Mộ Xuân Nhạc quận công, mộ Tán Quận công, Mộ Tiên Lĩnhhầu, Mộ Nguyễn Du Cụm di tích và khu lưu niệm Nguyễn Du bao gồm khu lưu niệm Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Huệ (Anh cả của Nguyễn Nghiễm, bác ruột Nguyễn Du), mộ và đền thờ
Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Du), nhà thờ Nguyễn Trọng (chú ruột NguyễnDu) và khu mộ Nguyễn Du
Từ Tiên Điền nhìn qua Xuân Mỹ, thấy núi Hồng Lĩnh đứng sừng sững mé Tây-Nam Vì thế nên Nguyễn Du đã lấy biệt hiệu “Nam hải điếu đồ”, “Hồng Sơn lạp hộ”; và câu đối truyền tụng đời này qua đời khác ở Tiên Điền:
Hồng Sơn chi ngoại uất giai khí, Vị Thủy chi kim thành đại giang
(Hồng sơn đất ngoại kết tụ được khí tốt
-Vị Thủy đến nay đã thành sông rộng)
Trang 15Cha của Nguyễn Du đậu Nhị Giáp Tiến
Sĩ, làm quan tới chức Đại Tư Đồ, tể
Tướng (thủ tướng) dưới triều đại Lê
Hiển Tông (1740-1786) Con trai
trưởng của Nguyễn Nghiễm là Nguyễn
Khản đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm tới chức
Tham Tụng đời chúa Trịnh Khải Con
thứ hai là Nguyễn Điều đậu Hương
Cống, trấn thủ tỉnh Sơn Tây, được
phong tước Điền Nhạc hầu Con thứ ba
là Nguyễn Dao đậu tứ trường thi Hương,
chức Hồng lô Tự thừa Con thứ tư là
Nguyễn Luyện đậu tam trường thi
Hương Con thứ năm là Nguyễn Trước
và con thứ sáu là Nguyễn Nễ đều đậu tứ
trường thi Hương và Nguyễn Du là con
thứ bẩy, nên được gọi là cậu Chiêu Bảy
Gia đình Nguyễn Du một gia đình khoa
bảng, cha con cùng làm quan dưới triều
Nhà Lê
Dòng họ Nguyễn Du không những nổi
tiếng về khoa bảng mà còn nổi danh
trong lĩnh vực văn chương Nguyễn
Nghiễm còn để lại những tập Quân
Trung liên vịnh, Xuân đình tạp vịnh, và
quyển Việt sử bị lâm cung cùng nhiều
tác phẩm chữ Nôm, từng làm bài phú
Khổng tử mộng Chu công, nay còn
truyền tụng Nguyễn Nễ còn để lại Quê
hiên giáp ất tập và Hoà trình hậu tập
cũng sở trường về văn Nôm Cháu
Nguyễn Du là Nguyễn Thiện có tập thơ
Đông phú và Nguyễn Đạm có tập thơ
Quan hải, tập thơ Minh quyên đều là
những văn hào đương thời Danh sĩ
trong nước thời bấy giờ theo truyền tụng
có năm người lỗi lạc, được người Việt
cũng như người Tầu gọi là “An Nam
ngũ tuyệt” thì họ Nguyễn Tiên Điền có
đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Đạm
Dòng họ này còn được người đời kính trọng về lòng trung nghĩa Tổ tiên thuở xưa theo Nhà Mạc thì nhiều người tuẫn tiết khi Nhà Mạc mất ngôi Thời Lê, sau khi Nhà Lê sụp đổ, mấy anh em Nguyễn Khản, Nguyễn Điêu, Nguyễn Luyện, Nguyễn Du cho đến cháu là Nguyễn Đạm đều khởi nghĩa cần vương Từ Triều đại Tây Sơn sang tới thời Nhà Nguyễn nhiều người trong họ không chịu ra làm quan, kiên trinh giữ tiết với chúa cũ theo đúng phương châm "Tôi trung không thờ hai chúa"
Câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Lam hết nước họ này hết quan”
là chỉ cái danh giá, chức quyền của làng Tiên Điền, của dòng họ Nguyễn Du là vậy
Năm 1771, lúc Nguyễn Du 5 tuổi thì gia đình chuyển về làng Tiên Điền và năm lên 10 thì cha mất Không hiểu vì quá thương nhớ cha sinh bệnh rồi chết hay vì một căn bệnh nào đó, mẹ cậu cũng qua đời vào năm 1778, lúc mới 38 tuổi Bị mồ côi cha mẹ, cậu phải ra Thăng Long ở chung với người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản Nguyễn Khản bị kiêu binh ghét nên khi ông được chúa Trịnh cử làm Tham tụng thì họ kéo đến phá tan nhà và toan giết ông Nguyễn Khản bỏ chạy lên sống với Nguyễn Điều, tổng trấn Sơn Tây; sau đó lại chạy về Hà Tĩnh
2- Thi cử
Trang 16Khi Nguyễn Du 9 tuổi thì đất nước rơi
vào cuộc nội chiến Nam-Bắc giữa họ
Trịnh và Nhà Nguyễn tái phát Cha của
Nguyễn Du được lệnh của Trịnh Kiểm,
phụ tá Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào
chiếm Phú Xuân năm 1777 Trong thời
gian này Nguyễn Du sống và học hành
tại Kinh đô Thăng Long Dù phải sống
trong hoàn cảnh rối loạn do đám kiêu
binh gây ra, nhưng Nguyễn Du đã thành
công trong việc học hành
Năm 1783, Nguyễn Du đi thi Hương tại
trường thi Nghệ An và đậu Tam Trường
Để quí độc giả hiểu rõ hơn, chúng tôi
xin nói một chút về chế độ thi cử thời
xưa:
-Đậu Nhất trường: không có học vị,
giống như đậu Trung học Đệ I cấp, lớp
Đệ Tứ thời Việt Nam Cộng Hòa; lớp 9
Trung học Phổ thông ngày nay
-Đậu Nhị Trường: đậu Tú Tài I, lớp đệ
nhị thời VNCH; lớp 11 ngày nay
-Đậu Tam Trường: đậu Tú Tài II, lớp đệ
nhất thời VNCH; lớp 12 ngày nay
-Đậu Tứ Trường: đậu Cử Nhân
Nguyễn Du lập gia đình, có 3 vợ và 18
con Sau khi Nguyễn Du chết, gia đình
ly tán
3- Trên đường công danh
Nguyễn Du không tiếp tục học và thi cử
nhân, mà theo chí hướng của người trai
thời chinh chiến nhận chức quan Thủ
Hiệu (Lãnh Binh) ở tỉnh Thái Nguyên,
thay cho người cha nuôi mới qua đời Từ
đó, ông có tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên (có tài liệu nói Trai Hiên), biệt hiệuHồng Sơn lạp hộ
Ngược dòng thời gian, trước khi Nguyễn
Du sinh ra thì Nhà Lê đã mất quyền hành Họ Trịnh thao túng chính trường
Xã hội rối loạn là nguyên nhân đưa đến các cuộc khởi nghĩa tranh dành quyền lực Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương chưa tan, thì Hoàng Công Chất nổi lên từ năm
1739 cướp phá ở miền Hưng Hoá và Thanh Hoá Lê Duy Mật nổi lên từ năm
1738 đóng giữ miền Trấn Ninh, thường xuống đánh phá đất Nghệ Tĩnh Các cuộc khởi nghĩa mới dẹp yên thì năm
1774, lại nổ ra cuộc đánh dẹp chúa Nguyễn ở miền Nam Cha của Nguyễn
Du phải ra chiến trường cùng đi với Việp Công, giữ chức Hiệp tán Quân cơ Trong khi quân Bắc đương chiếm cứ Thuận Hoá để cầm cự với quân Tây Sơn thì Thăng Long lại xảy ra nạn Kiêu binh.Năm 1882, loạn quân giết Hoàng Đình Bảo, phá nhà quan Tham tụng Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du và nhà quan Quyền phủ sự Dương Phương, giếtquan Thủ hiệu Nguyễn Triêm ngay trướcphủ chúa
Năm 1786 Họ Trịnh bị lật đổ Năm
1789, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ 3 dẹp
bỏ luôn Nhà Lê Là một quan chức của Triều Lê, dĩ nhiên Nguyễn Du không thểphục tùng Nhà Tây Sơn; nên ông tiếp tục "đánh Tây Sơn, phục Nhà Lê" Vua cuối cùng của Nhà Lê là Lê Mẫn Đế tức
Lê Chiêu Thống (1787-1788) bị thất bại,chạy sang Tầu cầu cứu Theo tài liệu của
Trang 17Phạm Thế Ngũ thì Nguyễn Du không
theo kịp theo vua Chiêu Thống, nên trở
về ở Thái Bình, cùng người anh vợ là
Đoàn Nguyên Tuấn tụ tập dân binh mưu
cuộc khởi nghĩa, nhưng bị dẹp tan Khi
ấy vua Quang Trung đã lên ngôi nắm
vững quyền hành ở miền Bắc; nhưng ở
miền Nam lại bị thua to, đất Gia Định bị
mất về tay Nguyễn Ánh
Nguyễn Du bị thất bại ở Quỳnh Côi mới
nẩy sinh ý nghĩ vào Thanh Nghệ Tĩnh,
toan tìm đường vào Nam mượn sức chúa
Nguyễn chống Tây Sơn Ông đi tới Vinh
thì bị chận bắt và ở tù một thời gian
May nhờ quan Trấn thủ Nghệ An của
Tây Sơn là người quen biết với Nguyễn
Nễ, người anh ruột cùng mẹ với ông
Nguyễn Nễ đã ra hợp tác với nhà Tây
Sơn, được thăng Hàm Đông Các Đại học
sĩ, gia tăng Thái sử Thự tả Nghị lang,
tước Nghi Thành Hầu; nên Nguyễn Du
được thả Đây là thời điểm khiến cho
một số tác giả cho rằng Nguyễn Du viết
truyện Kiều vào lúc đó, khi ông tròn 30
tuổi Nhận định này dựa vào truyện Kiều
có câu: “Trải qua một cuộc bể dâu”
Bể dâu xuất phát từ câu “thương hải tang
điền” (bãi bể (biển), nương dâu), theo
nghĩa đen thì truyện thần tiên có nói về
sự tuần hoàn trong vũ trụ cứ 30 năm
biển bồi đất thành ruộng dâu và 30 năm
ruộng dâu bị lở thành bể Nghĩa bóng thì
cuộc đời của con người luôn thay đổi
(theo chu kỳ 30 năm)
Sau khi được thả, Nguyễn Du trở về
4 - Làm quan dưới triều Nguyễn
Năm 1802, Nguyễn Ánh toàn thắng Nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, lên ngôi lấy tước hiệu là Gia Long xuống chiếu chiêu dụng các cựu thần Nhà Lê
Nguyễn Du lúc đó 38 tuổi cũng nằm trong danh sách được mời gọi Bất đắc
dĩ ông phải ra làm Tri huyện Phù Dực (nay thuộc tỉnh Thái Bình) tước Du Đức Hầu; ít lâu sau được thăng lên chức Tri phủ Thường Tín (tỉnh Hà Đông) Năm
1806 ông cáo bệnh về nhà, được một tháng lại bị mời ra thăng chức Đông CácĐại Học Sĩ (ngang hàng với Tam Khôi, tiến sĩ trong khi ông chưa đậu cử nhân), năm 1809 làm cai bạ tỉnh Quảng Bình (phó tỉnh trưởng coi về thuế má) và năm
1813 được thăng Cần Chính Điện Đại Học Sĩ (Văn quan Nhất phẩm: chức cao nhất trong hàng quan văn), được cử làm chính sứ đi Trung Hoa Sau khi đi sứ về ông được được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri vào năm 1815
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn không trở ngại Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí Nguyễn Du sinh trưởng ở thời loạn lạc, lại gặp cảnh nước mất nhà tan mà mình không thể nào vãn hồi được, đành phải ôm mối hận lòng Mặc dù được
Trang 18trọng dụng, nhưng Nguyễn Du không
mấy vui lòng nhận bổng lộc của triều
đình mới
Sách Đại Nam Chính biên Liệt truyện
chép rằng ông làm quan hay bị người
trên đè nén, không được thoả chí, cho
nên thường buồn rầu Sự kiện này xẩy ra
có thể vì đám quần thần miền Trung
ghen tị với Nguyễn Du, một cựu quan
chức đời Lê, người miền Bắc mà lại
được trọng vọng Đối với vua mỗi khi
yết kiến ông làm ra vẻ sợ sệt, không biết
nói năng gì Có lần vua đã trách rằng:
“Triều đình dùng người, cứ kẻ hiền tài là
dùng, chứ không phân biệt Nam Bắc
Ngươi với Ngô Vị, đã được ơn tri ngộ
làm quan đến bực Á Khanh, biết việc gì
thì phải nói để hết chức trách của mình,
sao lại cứ rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ
dạ cho qua chuyện thôi!”
Thực ra, nếu dựa vào sự trung thành của
dòng họ Nguyễn thì người ta phải hiểu
là Nguyễn Du không phải buồn phiền vì
quan trên đè nén, không phải là người sợ
hãi rụt rè Ông là người dẫu làm quan
cho Nhà Nguyễn; nhưng tâm hồn lúc
nào cũng nhớ Triều Lê Cái nỗi lòng sâu
kín này ông không thể công khai bày tỏ
cùng ai, nên thường buồn rầu, bực tức;
thậm chí có khi ông e sợ rằng đời sau
cũng chưa chắc có người hiểu thấu được
lòng mình:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
rõ được cái sở học uyên bác của mình Trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến nhiều nỗi oan trái và cuộc sống khổ ải của dân nghèo, sau này đã được tập hợp lại trong tập thơmang tên Bắc hành Tạp lục (131 bài) Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã
có dịp tìm hiểu sâu nền văn hoá Trung Quốc Với vốn sống đa dạng và tài năng kiệt xuất của mình, sau khi về nước, ông
đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều, lấy cảm hứng từ tập truyên của tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân Truyện Kiều sau đó đã vượt lên trên nguyên tác, trở thành một kiệt tác thơ trong lịch sử văn chương Việt Nam
Tháng Tư năm Giáp Tuất (1814), Nguyễn Du cùng đoàn sứ thần về nước Trong chuyến đi, ông đã cho chọn giốngcây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn
An Hiên (Huế) hiện vẫn còn được ngườidân nâng niu chăm sóc Sau khi hoàn thành trọng trách cùng với đoàn sứ bộ, Nguyễn Du được thăng chức Lễ Bộ HữuTham Tri
Trang 19Năm 1820, sau khi vua Gia Long chết,
Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần
nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông
đột ngột qua đời ngày mồng 10 tháng 8
âm lịch tức ngày 16-9-1820 trong một
cơn đại dịch, khi mới 56 tuổi
Theo Đại Nam liệt truyện: "Nguyễn Du
là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề
ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần
vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như
không biết nói năng gì ", và "Đến khi
đau nặng, ông không chịu uống thuốc,
bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã
lạnh cả rồi Ông nói "được" rồi mất;
không trối lại điều gì."
Cô giáo Bùi Thị Chiều (st)
CHÀO MỪNG THỦ ĐÔ
NGÀN NĂM VĂN HIẾN
Ngàn năm Thăng Long -
Hà Nội qua những cái tên
Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ
Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký,
không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn
có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt
trời lên cao” Đây là một tên gọi hoàn
toàn do người Việt sáng tạo.
Thăng Long - Hà Nội là Kinh đô lâu
đời nhất trong lịch sử Việt Nam Mảnh
đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc Từ khi hình thành chođến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi
1 Long Đỗ - Truyền thuyết kể rằng lúc
Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tựxưng là Thần Long Đỗ Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long
Đỗ Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý
Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói:
“Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh
đô đều gặp điều chẳng lành Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi” Điều
đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ
2 Tống Bình - Tống Bình là tên trị sở
của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 - 618), Đường (618 - 907) Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay) Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình
3 Đại La - Đại La hay Đại La Thành
nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô Theo kiến trúc xưa,Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoàicùng là Đại La Thành Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng
Trang 20hơn và vững chãi hơn trước Từ đó,
thành này được gọi là Thành Đại La
Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ
viết năm 1010 có viết: “ Huống chi
Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương
(tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời
đất ”
4 Thăng Long - Về ý nghĩa tên gọi
Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải
thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng
Long tức là rồng bay Thực ra, ở trong
Hán tự có nhiều cách viết và giải thích
chữ “thăng” Với cách viết thứ nhất, chữ
“thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến
lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là
cái thưng, một dụng cụ đo lường dung
tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu
thưng”) Cách viết thứ hai: có chữ Nhật
đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là
Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi
lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết
thứ nhất Thăng Long, Kinh đô mới của
Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử
ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó
bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và
“Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”
Đặt tên Thăng Long với cách viết như
trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ
thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn
làm Kinh đô mới, đồng thời có sức
mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống
Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự
cho mình là “con Rồng cháu Tiên”
Có điều đáng chú ý là các từ điển thông
dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ
hải (Từ nguyên xuất bản 1947, Từ hải
xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất
bản sau có khác không), không thấy ghi
từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ
Thăng Riêng Trung văn đại từ điển (tập
là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo
5 Đông Đô - Sách Đại Việt sử ký toàn
thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm ĐinhSửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán
Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ
đô hộ là Đông Đô” Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa
là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô”
6 Đông Quan - Đây là tên gọi Thăng
Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” củaNhà nước phong kiến Trung Hoa Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:
“Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻtre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng”
7 Đông Kinh - Sách Đại Việt sử ký
toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là ThànhThăng Long Vì Thanh Hóa có Tây Đô,
Trang 21cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông
Kinh”
8 Bắc Thành - Đời Tây Sơn (Nguyễn
Huệ - Quang Trung 1787 - 1802), vì
Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên
gọi Thăng Long là Bắc Thành
9 Thăng Long - (Thịnh vượng lên)
Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết:
“Năm 1802, Gia Long quyết định đóng
đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế),
không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn
Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi
Kinh thành Thăng Long làm trấn thành
miền Bắc Kinh thành đã chuyển làm
trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần
phải đổi Nhưng vì tên Thăng Long đã
có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian
cả nước, nên Gia Long thấy không tiện
bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long,
nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành
chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng
rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay
Vua không ở đây thì không được dùng
chữ “Long” là “rồng”
Việc thay đổi nói trên xảy ra năm
1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh
phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không
đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành
Thăng Long lại rộng lớn quá
10 Hà Nội - So với tên gọi Thăng Long
với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử
thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý,
với nghĩa “bên trong sông”
Cô giáo Vũ Thị Phương (st)
TRANG VIẾT HỌC TRÒ
NHỚ VỀ THẦY CÔ
Thái nguyên, ngày 5 tháng 11 năm 2010
Kính gửi các thầy cô yêu quý của con!Thế là một dịp 20-11 nữa lại đến Trong lòng con bừng lên một cảm giác nôn naokhó tả Đã gần ba năm học tập dưới mái trường THPT Thái Ninh được gặp gỡ với thầy cô và các bạn mới, con đã phần nào thích nghi với ngôi trường này Cứ nghĩ lại những ngày đầu khi con bước những bước chân đầu tiên vào trườngvớitâm trạng lo sợ và ngỡ ngàng, con lại thấy hồi hộp Mọi thứ đối với con còn quá xa lạ Điều đó bất chợt khiến con không muốn bước tiếp, không muón họccấp 3 như con ao ước nữa Con chỉ mong được sống mãi trong vòng tay che chở của các thầy cô-những người cha người mẹ thứ hai của con, những người
mà con đã gắn bó suốt 4 năm liền Con muốn khóc thật to trong sự lạ lẫm này Thế nhưng con chợt hiểu ra: con được học ở đây là do nhận được những tình cảmộư yêu thương chăm sóc chỉ bảo tận tình của các thầy cô Bởi vì con biết các thày cô luôn muốn đem lại cho con những điều tốt đẹp nhất để chúng con cóthể được học trong môi trường tốt Và hơn hết con sẽ có thêm hành trang, kiến
Trang 22thức để tự tin bước vào đời Con lại tự
bảo mình phải cố lên…
Đã bao lần đi ngang qua ngôi trường
THCS Thái Nguyên, con lại thấy sống
trong tim mình bao nhiêu là kỉ niệm của
một thời tuổi thơ Kí ức đẹp đẽ và vui
tươi luôn thường trực trong tâm trí con,
đôi lần chợt ùa về làm con xao xuyến
Xa trường đã lâu nhưng con chưa một
lần về thăm lại ngôi trường, thăm các
thầy cô giáo, một thời mà con đã gắn bó
Thời gian không ngừng trôi, con cũng bị
cuốn vào trong lòng thời gian đó Việc
học không ngừng nghỉ, khiến con không
có thời gian để thực hiện mong muốn
một lần về thăm trường Con thấy mình
có lỗi Nhưng con tự nhủ với lòng mình
dù có đi đâu thì cũng luôn hướng về
trường, vẫn hằng ngày dõi theo sự
chuyển mình của ngôi trường với những
đổi thay tích cực hơn
Nhớ về trường con lại thấy hiện ra
trước mắt con những hình ảnh, những kỉ
niệm thân thương mà con đã có được
cùng với các thầy cô và bạn bè, con
không thể nào quên Và có lẽ nó vẫn còn
vẹn nguyên như mới hôm qua chứ
không phải là ba năm nữa Bởi lẽ con
yêu trường, yêu thầy cô và bè bạn của
mình rất nhiều…Khoảng thời gian con
thấy hạnh phúc nhất và nhớ lâu nhất có
lẽ là năm học cuối cấp Vì đó là những
ngày tháng cuối con được học ở trường,
là thời điểm đánh dấu một sự chuyển
biến: con phải xa trường Những kỉ niệm
về năm cuối cấp còn in sâu đậm trong
tâm hồn con Con sẽ nhớ mãi cô giáo
Hiệu trưởng Đàm Thị Loan rất nghiêm
nghị nhưng cởi mở và tâm lý, hiểu học
trò sâu sắc Có lẽ dáng vẻ bề ngoài khiến
các bạn hơi sợ cô nhưng là Hiệu trưởng
thì cô phải cương nghị như thế mới trị được lũ học trò “Nhất quỷ nhì ma” Người để lại trong con nhiều ấn tượng nhất là cô Lê Thị Mát, cô chủ nhiệm lớp 9B của con Cô có nhiều điều khiến cho con khâm phục và thấy mình phải noi theo cô Có lẽ là giáo viên chủ nhiệm nên tình yêu thương , chăm sóc của cô dành cho lớp 9B là đặc biệt nhất Mỗi giờ giảng trên lớp, cô truyền giảng hết kiến thức cho chúng con, cô giảng bài tỉ
mỉ những chỗ chúng con chưa hiểu, dạy chúng con nhiều điều hay lẽ phải Cô dạy chúng con phải biết cố gắng học hành để sau này có một tương lai tốt đẹp
và hơn hết là đóng góp một chút sức lực xây dựng đất nước quê hương Cô khôngbao giờ tạo áp lực về việc học hành cho chúng con mà cô luôn đem đén những tiếng cười sảng khaói, vui vẻ trong giờ học Vì thế mà chúng con tiếp thu bài cũng nhanh hơn, nhẹ nhàng hơn Nhận được sự quan tâm như thế chúng con tự bảo nhau phải học tập thật tốt để cô vui lòng
Con không thể nào quên những giờ Ngữ văn mượt mà đằm thắm cùng giọngđọc ngọt ngào của cô giáo Bùi Thị Chiều Qua các bài giảng của cô, con thấy thêm yêu quê hương đất nước, tâm hồn như được bồi đắp thêm khiến chúng con nhận ra rằng: “sóng là để yêu
thương”…Rồi những ý nghĩ của chúng con dần trưởng thành lớn lên từ đó Ngoài ra, còn nhiều thầy cô khác nữa như cô giáo Nguyễn Thị Quy với những phương trình Hoá học khó nhớ nhưng thú vị vô cùng; cô giáo Đoàn Thị Hợp với những giờ Thể dục vui nhộn đầy ắp tiếng cười; hay cô giáo Phạm Thị Dinh với những giờ Anh văn hấp dẫn chẳng
Trang 23thể nào quên…Mỗi thầy cô là một tấm
gương học tập để chúng con soi xét bản
thân mình Con cũng biết mình còn
nhiều thiếu sót nhưng khi nhớ về những
lời chỉ bảo dặn dò của các thầy cô con
lại thấy mình có thêm sức mạnh để phấn
đấu, để thực hiện được những ước mơ
của bản thân Có lẽ, dù con có nói bao
điều đi nữa thì cũng không kể hết những
ân tình những công lao mà thầy cô dành
cho con
Thời gian ấy đã lùi vào kí ức nhưng
những bài học mà các thầy cô đã dạy
cho con thì suốt đời con cũng chẳng thể
nào quên được Con bước vào đời bằng
hành trang mà mình đã có được và con
tin con sẽ làm được những gì mà con
muốn Bởi con biết phía sau con đường
mình đang bước có các thầy cô đang cổ
vũ động viên con vững bước
Con gửi vào đây tất cả lòng thành
kính, sự biết ơn sâu sắc đối với các thầy
cô Nhân ngày hôi Hiến chương các Nhà
giáo Việt Nam 20-11, con xin thay mặt
cho các thành viên cũ lớp 9B (khoá học
2007-2008) chúc các thầy cô trong
trường mạnh khoẻ, có nhiều niềm vui
trong cuộc sống và gặt hái được nhiều
thành công trong sự nghiệp trồng người
Giọt nắng nào đi quaCon đường ta tới lớpNgẩn ngơ con chim hótVòm lá xanh dịu dàng
Cơn mưa nào lang thangƯớt sân trường xưa cũHương ngọc lan nhắn nhủHàng ghế đá thầm thì
Về lại những màu thiTiếng ve nào xanh thẳmBâng khuâng làn mây trắngDòng nước mắt xa vời
Tháng năm nào trong tôiCòn vẹn nguyên kí ứcCòn lấm lem dấu mực
Tà áo trắng sân trường
Biết bao là thân thươngGửi lại đây cho nắngGửi cho gió cho mưaGiứ dùm ta một nửa
Trang 24Nơi đây in bóng bao người
Thuỷ chung dãi dầu mưa gió
Đợi chờ người chốn xa xôi
Tuổi thơ ao là vành nôi
Vẫy vùng của bao lớp người
Để không chìm giữa biển đời
Cô dạy cho em
Điều hay lẽ phải
Tiến tới tương lai
Cô người trồng cây
Ươm mầm cây lớn
Cô ươm đời em
Thành cây hoa thơm
Cô là tất cảTất cả của em
NHỚ
(Nguyễn Thị Thuỳ Linh-9B)
Hàng phượng vĩ đang rộn rã tiếng veNhư náo nức say sưa báo hè vềSân trường đỏ nắng, lòng rạo rựcNhớ lại mùa thu ôn bài thao thứcGốc phượng đây, ghi kỷ niệm khó quênMỗi chúng em cất đôi cánh bay lênNhưng mãi nhớ trường xưa lớp học cũNhớ tháng ngày vui vẻ sống bên nhauNhớ những điều mà cô đã dạy bảo
Để chúng em vững đôi cánh vào đời
CÔ GIÁO CỦA EM
(Đàm Thanh Nam-9B)
Cô giáo của emTóc dài óng ảVóc người thon thảHiền như mẹ hiền
Cô giáo của emSáng nay đến trường
Trang 25Ngọn cỏ ngậm sương
Mặt trời trở giấc
Cô giáo của em
Bước vào cửa lớp
Gió lùa hoa mướp
Nắng sân trường gọi hồn ai lơ lửng
Dưới hàng cây to nhỏ chuyện ngây thơ
Bước chân đi trên đường đời chập chững
Phút chốc nhìn lá rụng mất mộng mơ
Một chiếc lá chưa vàng nằm cạnh gốc
Phải lìa cành vì gió chẳng mến thương
Nhắc lên tay mà lòng buồn muốn khóc
Mai xa rồi những lưu luyến còn vương
Xa bạn bè vẫn còn duyên gặp gỡ
Kỉ niệm nhoà biết tìm lại nơi đâu
Dòng sông kia có khi nào ngừng chảy
Nó xa nguồn đẩy dạt bèo trôi mau
TRƯỜNG XƯA
(Vũ Thị Thu Hoà-9B)
Bụi dứa gai vẫn nép mình trước cổngDãy ao trường cá vẫn quẫy tung tăngTán bàng xưa vẫn xoàe ô đội nắngBiết bao tuổi thơ lớn với trường làng
Chính ở nơi này ngày xưa ta họcNhững chiếc bàn vẫn hòn gạch kê chânTấm bảng đen treo tường bằng dây thép
Và nhìn thầy cô năm tháng tảo tần
Chính ở nơi này ngày xưa ta họcNhiều cây đã thành cổ thụ lưu niênDẫu năm tháng nhiều gió xô bão đổMàu lá xanh vẫn còn sắc dịu hiền
Phòng thí nghiệm mở nhìn được bốn phía
Mỗi khung trời xanh một ước mơ riêngViên phấn viết vẫn trắng như ngày ấyĐến hôm nay vẫn không phai mờ được
Chính ở nơi này ngày xưa ta họcNgôi trường làng bây giờ đã đổi tênBao công sức tạc thành nhiều kỉ niệmSóng đôi cùng thầy giáo - phụ huynh
Ai đã từng về thăm lại trường xưaChiều thu nay còn đẹp nắng sân trườngBao kỉ niệm dẫn ta về quá khứ
Thưở khăn quang còn đỏ thắm trên vai
TÌNH CÔ
(Vũ Thị Phượng-9B)
Tình cô thật thiêng liêng cao cảTấm lòng cô là biển cả bao la
Cô cho em bao điều hay mới lạ
Cả những vần thơ son sắt bay xa
Cô dạy em cả những tình yêu thương
Để mai đi xa em còn vấn vương
Trang 26Một người cô hết lòng vì trò nhỏ
Dành nhiệt huyết về sự nghiệp trồng
người
Cô cho em cả bầu trời tri thức
Nâng đỡ em trên bước đường xa
Những lời giảng vẫn ngân nga tha thiết
Âu yếm em tựa lòng mẹ bao la
Để rồi khi mai phải xa cách cô
Em không quên tình cô như lòng mẹ
Cô khơi dậy cả những tâm hồn nhỏ
Vun đắp lên cho sự nghiệp đưa đò
LỜI CÔ
(Nguyễn Văn Bảo-9B)
Tuổi thơ chở đầy cổ tích
Dòng sông lời cô ngọt ngào
Đứa em đi cùng đất nước
Chòng chành nhịp võng ca dao
Em gặp trong lời cô hát
Cánh cò bằng dải đồng xanh
Em yêu màu đỏ hoa phượng
Em yêu màu trắng da trời
Em yêu những lời cô hát
Cho em khôn lớn từng ngày
Cô ơi trong lời cô hát
Có cả cuộc đời hiện ra
Lời cô chắp em đôi cánh
Lớn rồi em sẽ bay xa
Thời gian hoà vào mái tóc
Một màu trắng bạc nôn nao
Lời cô cứ chậm dần xuống
Cho lời em mãi bay xa
THƯ GỬI CÔ GIÁO CŨ
(Bùi Thị Thuỷ-9B)
Chắc cô còn nhớ em chứ thưa cô
Em vẫn bên cô-người học trò cũBao năm đi xa lòng thầm tự nhủRồi một ngày em sẽ trở về thămDòng thời gian chảy theo những tháng năm
Hai mươi năm qua em chẳng trở lạiNhưng vẫn tin và mong ước mãiĐược gặp cô-người mẹ hiền dấu yêu
Nhớ những năm xưa sớm sớm chiều chiều
Những ngày giá rét, trời mưa hay nắngCặp sách thân quen cô lên lớp thầm lặngMang bao tri thức ấp ủ vạn mầm câyCon chữ xếp dày trên từng trang vởDòng mực tím vẫn còn ở nơi đâyÔi! Nét bút học trò yêu biết mấy
Dẫu đi xa em hằng mong chốn ấy
Có bạn bè vui đùa tựa hôm nao
Kỉ niệm ơi đừng phai nhoà trang giấyCho em bé nhỏ bên cô như hôm nào
THẦY GIÁO NGỒI SOẠN BÀI
(Bùi Thị Thuỷ-9B)
Trời khuya đêm thanh vắngGió sương buốt, lạnh cămTrăng vàng lung linh sángThầy soạn bài trong đêm
Gió len qua khung rèmTrăng ngó vào cửa sổ
Trang 27Như thì thầm to nhỏ
“Thầy soạn bài trong đêm”
Sương rơi ướt bên thềm
Để đạt được ước mơ
Thầy dạy em học toán
Phép cộng, trừ, nhân, chia
Một ngày kia đi xa
Em mãi nhớ về thầy
Ôi bai này khó quá
Mong thầy trở về đây
Còn người mẹ thứ hai
Chính là cô giáo đó
Cô dạy em học bài
Biết đọc rồi biết viết
Năm nay phải xa trường
Em viết mấy vần thơ
Bày tỏ niềm yêu thương
Tới bao thầy cô giáo
Mong cô sẽ trẻ mãi
Cô giúp em tìm hiểu
Về những điều chưa biết
Cô ân cần dạy bảo
Xa trường tự lúc nào
Em ngỡ như chiêm bao
Trang 28Cô về đâu chẳng biết
Vẫn mang lời tha thiết
Từ giọng cô dịu hiền
Thời gian bước triền miên
Cô chưa lần quay lại
Bao giờ gặp lại cô
VIẾT CHO NGƯỜI
SẮP XA TRƯỜNG
Muốn khắc tên lên bàn học cũ
Chỗ ngồi quen thuộc mỗi ban mai
Và khung cửa trắng cành hoa sữa
Giữ lại cho nhau chút mộng dài
Hãy bước êm qua bờ cỏ mượt
Chân run như thuở mới vào trường
Tóc xõa che hờ con mắt ướt
Ngậm ngùi em giấu những yêu thương
Hãy gửi tình trên ô ngói đỏ
Rêu xanh phong kín nỗi lẻ loi buồn
Có nhớ gì không em gái nhỏ
Khi mùa thu lộng gió mưa sương
Hãy viết cho đầy trang vở học
Những tên bè bạn rất hồn nhiên
Em sẽ thương thêm đời áo trắng
Ngày qua mang những ước mơ hiền
Hãy giữ cho đầy tim kỉ niệm
Của ngôi trường cũ sắp rời xa
Em sẽ thương thêm màu mực tím
Với quãng đời thơm gió thật thà
Hãy dừng lại dưới hàng bạch đànCho hồn xanh một chút mơ thôi
Lỡ mai đời có nhiều dông bão
Em cũng còn đây một chỗ ngồi
Và ghi nhớ vào trang vở họcNgày em làm một cánh chim đi
Có ta làm chứng cho em khóc Hứa với trường em sẽ trở về
NGÔI NHÀ THỨ HAI
Mái trường là tổ ấm
Đã cho em rất nhiềuBao điều hay điều lạBao kỉ niệm học tròCùng bạn bè thân mếnBao tri thức vô ngầnThầy cô đã cho emNuôi nấng em từng ngàyDạy cho em khôn lớnTiến bước vào tương lai
Trang 29Nhớ bàn tay ấy cầm tay năm nào
Nhớ quá nhớ nhiều hơn sao
Nhớ làn hơi ấm từ bao tháng ngày
Nhớ lời cô dạy thật hay
Chắp em đôi cánh em bay vào đời
Cô ơi!em nhớ đời đời
Công ơn cô dạy lúc thời học sinh
CA DAO VỀ HỌC TRÒ LƯỜI
Bạn lười chơi game bỏ học
Bị game cuốn hút lực học xuống ao
Cô ơi cô giúp em nao
Kiểm tra sắp đến em nào biết chi
Kiểm tra lận đận một y
Thân lười nên ngó xuống nhòm bốn bên
Ngày thì ước những ngày game
Kiểm tra thì ước sẽ xem được bài
Thật là một cậu khôi hài
Nếu không chăm học làm bài điểm không
Bùi Thị Ngọc Diệp 8b
Cô giáo em
Sáng nào em đến lớp Cũng thấy cô đến rồi Đáp lời chào “cô ạ”
Cô mỉm cười rất tươi
Thời thơ ấu đã quaNhớ lại ngày còn nhỏNgày cô dạy chúng emDạy những bài học tốt
20-11 là ngày đẹp trong năm
Em dành những bông hoaNhững bông hoa điểm tốt
Để em đền ơn cô
Bùi Thị Linh Giang 6a
Cô giáo của chúng em
Cô giáo là mẹ hiềnDịu dàng khi dạy trò
Trang 30Tiếng nói nhẹ lướt qua
Ánh mắt cô trìu mến
Mái tóc dài mềm mượt
Dạy chúng em từng chữ
Ôi yêu sao, yêu thế
Cô giáo của chúng em
Cô và trò bên nhau
Ôi sao vui, vui thế
Ngày vui của thầy cô
Vũ Thị Hạnh 6b
Cô giáo lớp em
Cô giáo dạy lớp em
Rất xinh lại rất hiền
Trong những giờ lên lớp
Dạy chúng em hiểu bài
Em lại nhờ cô giảng
Cô giảng là hiểu ngay
Cô là người dạy dỗ Dìu dắt em lên người
Cô dạy nhiều lẽ phải
Để chúng em hiểu đời
Bây giờ em khôn lớn Nhớ ngày còn bé thơNhớ những lời cô dạyChẳng thể nào quên cô
Nguyễn Thị Hằng 7a
Truyện cười:
Câu chuyện về Mỏ Khoét
Trong giờ ngữ văn hôm nay thầy giáo gọi Mỏ Khoét:
-Em hãy đặt cho thâỳ hai từ láy:
-Dạ thưa thầy …trong lúc đang suy nghĩ,Mỏ Khoét nhìn ra sân thấy vỏ bim bim liền trả lời:
-Thưa thầy Bim bim, Zon zon ạ!
Đoàn Phương Nga 7a
Không cho nhìn bài
Hải: trong giờ kiểm tra văn vừa rồi, mấy đứa xung quanh đòi xem bài tớ hoài nhưng tớ không cho xem dù một chữ
Trang 31Linh:Cậu làm gì mà giữ hoài bài ghê
thế?
Hải: không giữ thì để bọn nó nhìn thấy
tờ giấy trắng của tớ rồi cười ha ha!
Linh:!!!
Đoàn Phương Nga 7a
Nước Lào?
Trong giờ địa lí kinh tế
Cô:Ai có thể cho cô biết,hàng hóa của
nước nào đang được bán nhiều nhất trên
thị trường nước ta?
Trò:Thưa cô, nước Lào ạ
Cô:Căn cứ vào đâu em nói thế?
Trò:Thưa cô, vì em thường nghe thấy
người ta rao “Ai mua bánh mì Lào”, “Ai
mua chiếu Lào”…
Hãy thực hiện mơ ước
Bằng những lời thơ hay
Đoàn Phương Nga 7a
Vô đề
(Tặng các thầy cô giáo kính mến)
Thời gian thấm thoát trôi
Em càng xa, càng xaVới những kỉ niệm đẹp
Về thầy cô cấp 1Hồi ấy thật là vui
Không có người cô nào
Mà em đây quên đượcToàn thầy cô dạy tốtNhững bài học ngày xưa
Người cô em nhớ nhất
Là cô giáo Lan AnhDáng người cô thon thảDạy những bài học hay
Và làm văn tưởng tượngCủa những ngày trẻ thơ
Và một người cô nữa
Là cô Miến dạy emHồi em học lớp 4
Cô dạy rất là hay Làm cho em khâm phục
Em yêu các thầy côCùng em vượt chặng Con đường quá khứ xưa
Mà em đã từng trảiNhững kỉ niệm vui buồn
Bây giờ em đã lớn
Đã học trung học rồi
Và lớp học đầu tiên