Một số giống gà lông màu hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam - Giống BT2 : Là giống gà kiêm dụng thịt trứng được Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng lai tạo bằng cách
Trang 1VIỆN CHĂN NUÔI PHÂN VIỆN CHĂN NUÔI NAM BỘ
***
KỸ THUẬT NUÔI GÀ LÔNG MÀU SINH SẢN
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2I Giới thiệu tổng quan
1 Phạm vi áp dụng: Mô hình này khuyến cáo áp dụng đối với các cơ sở nuôi
gà lông màu sinh sản trên tất cả các vùng miền của Việt Nam, bao gồm:
- Các trại giống Quốc gia,
- Các Trung tâm giống vật nuôi ở các địa phương,
- Các Hợp tác xã chăn nuôi gà lông màu sinh sản,
- Các Công ty, hộ chăn nuôi gà lông màu sinh sản,
- Các trang trại, gia trại chăn nuôi gà lông màu sinh sản,
2 Đối tượng áp dụng: Mô hình này áp dụng để nâng cao năng suất sinh trưởng
và hiệu quả sinh sản khi chăn nuôi gà lông màu sinh sản phục vụ nhu cầu tiêuthụ của thị trường
3 Tổng quan tài liệu
3.1 Một số giống gà lông màu hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam
- Giống BT2 : Là giống gà kiêm dụng thịt trứng được Trung tâm Nghiên
cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng lai tạo bằng cách đưa thêm máu gànhập nội có năng suất sinh trưởng cao vào con giống BT1 và sau đó chọn lọcmột cách có hệ thống Gà có màu lông vàng nâu Khối lượng cơ thể lúc 12 tuầntuổi đạt trung bình 1630g ở con trống và 1365g đối với con mái Sản lượngtrứng đạt 205,5 quả/mái/năm Tiêu tốn thức ăn bình quân cho 10 quả trứng từ
2329 - 2570g (Đặng Thị Hạnh và ctv, 2004)
- Giống Tam Hoàng: Là giống gà thả vườn nhập vào Việt Nam năm
1992, năng suất trứng thấp 150 - 160 qủa/mái/năm Gà trống lúc thành thục sinhdục đạt 2,5 - 2,7 kg/con, gà mái 1,4 - 1,6kg/con (Nguyễn Văn Bắc, 2002)
- Giống Lương Phượng: Gà Lương Phượng từ tỉnh Quảng Tây Trung
Quốc được nhập về Việt Nam từ 1995, gà có đặc điểm ngọai hình giống với gàđịa phương: mào, tích, tai đều màu đỏ Gà trống có mào cờ đứng, ngực rộng dài,lưng phẳng, chân cao trung bình, lông đuôi vểnh lên Gà mái đầu thanh, thể hìnhchắc, chân thẳng, nhỏ Màu lông nâu sẫm điểm lông đen Khối lượng cơ thể sau
12 tuần tuổi con mái đạt 1,7 - 1,9 kg, con trống đạt 2,1 - 2,3 kg Khả năng sinhsản của gà Lương Phượng trung bình Sản lượng trứng lúc 66 tuần tuổi đạt 171quả, tỷ lệ phôi đạt 92%, số gà con/mái/năm đạt 133 con (Trần Công Xuân vàctv, 2002)
- Giống Sasso: Xuất sứ: Pháp, năm 1995, lông nâu đỏ, da và chân vàng,
lớn nhanh Có thể nuôi công nghiệp hay bán công nghiệp Năng suất: 3 thángtuổi có thể đạt trên 2kg/con, FCR: 3,1 - 3,5 Gà đẻ tương đối tốt, nuôi tốt có thểđạt trên 200 quả/mái/năm
Trang 3- Giống Kabir: Xuất sứ: Irael, từ năm 1998, lông trắng xám xen lẫn nâu
đen Năng suất tương đương Sasso: 3 tháng tuổi có thể đạt trên 2kg/con, FCR:3,1 - 3,5 Gà đẻ tương đối tốt, nuôi tốt có thể đạt trên 200 quả/mái/năm
- Giống Tàu Vàng: là giống gà địa phương, được nuôi nhiều ở các tỉnh
phía Nam Việt Nam (Long An, Bình Dương, Bà rịa Vũng tàu…) Gà mọc lôngchậm, lúc trưởng thành lông con mái màu vàng, lông con trống màu vàng tía, davàng, chân vàng Gà trống lúc trưởng thành nặng 2 - 2,5kg, gà mái nặng 1,3 -1,8kg Sản lượng trứng thấp chỉ đạt 80 - 120 quả/mái/năm và có tính ham ấp(Trần Văn Tịnh và ctv, 2008)
- Gà Ri (gà Ta Vàng): Có từ rất lâu và phân bố khắp vùng nông thôn
VN, con trưởng thành đạt 1,8 - 2,0kg/con trống hay 1,2 - 1,5kg/con mái; Gà Riđược xem là giống địa phương đẻ khá sai khoảng 80quả/mái/năm Thịt thơmngon, màu sắc da lông rất hợp thị hiếu người Việt
3.2 Một số yếu tố có ảnh hưởng đến năng suất của gà giống bố mẹ
- Con giống: mỗi giống có một tiềm năng sản xuất riêng của giống đó, tiềm
năng đó chỉ thể hiện tối đa khi chúng được nuôi dưỡng trong điều kiện tối ưunhất
- Thức ăn dinh dưỡng: là một trong những yếu tố then chốt giúp con giống thể
hiện được tiềm năng sản xuất của chúng Có rất nhiều chất dinh dưỡng ảnhhưởng lên khả năng sinh trưởng và sản xuất của gia súc gia cầm nhưng hàmlượng protein - năng lượng trong khẩu phần là yếu tố chính cần quan tâm vàlượng thức ăn ăn vào góp phần ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng và sinh sảncủa gà giống
Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến hàm lượng protein và năng lượng trongkhẩu phần ăn cho gà theo các giai đoạn sinh trưởng và sinh sản
Trên gà hậu bị: Panda và Redhy (1976) cho thấy mức protein 22% vànăng lượng 3052 Kcal ME/kg thức ăn là thích hợp cho giai đoạn gà con (0-9tuần tuổi), giai đoạn gà dò (9 - 20 tuần tuổi) là 15% protein 2650 Kcal ME/kgđược áp dụng cho mùa đông và 18% protein 2650 Kcal ME/kg cho mùa hè
Viện hàn lâm khoa học Mỹ NRC (1984) thì đưa ra mức 20% cho gà 0 - 6tuần tuổi; 17% và 14% protein cho gà nuôi hậu bị ở các giai đọan 7 - 12 và 13 -
20 tuần tuổi (năng lượng 2900 Kcal ME/kg thức ăn) Số liệu này áp dụng chovùng ôn đới, nếu ở những vùng nhiệt đới thì tăng 10%
Trần Công Xuân và ctv (1994) nghiên cứu trên dòng gà Ross - 208 cho kết quảmức protein thích hợp là 15,5%; 14% và 17% với cùng mức năng lượng 2750Kcal ME/kg ứng với các giai đoạn gà con (0 - 6 tuần tuổi), gà dò (7 - 17 tuầntuổi) và giai đoạn hậu bị - đẻ (18-64 tuần tuổi) Giống gà sinh sản D4 (TD83, TĐ,
TD8 và TD3) được nuôi ở Xí nghiệp gà giống Tam Dương thì cần 20% protein
và 2900 Kcal ME/kg cho giai đọan 0 - 8 tuần tuổi; 16,5% protein cùng 3000Kcal ME/kg cho giai đoạn 9-19 tuần tuổi (Đoàn Xuân Trúc, 1982)
Trang 4Xí nghiệp gà giống Bạch Vân Trung Quốc đưa ra mức protein cho gà hậu
bị giống Tam Hoàng, Lương Phượng là 18,5% cho giai đoạn 0 - 5 tuần tuổi;16,5% cho giai đoạn 6 - 14 tuần tuổi và 15,5% cho giai đoạn 15 - 20 tuần tuổi
Lê Hồng Sơn và ctv (2004) kết luận rằng gà hậu bị Lương Phượng được nuôivới mức protein 21%, 16% và 15,5% tương ứng 3 giai đoạn 0 - 5 tuần tuổi, 6 -
13 tuần tuổi và 14 - 19 tuần tuổi là thích hợp Hãng giống Lohman Brown thìđưa ra mức protein là cho gà giai đoạn 0-3 tuần tuổi; 4 - 8; 9 -15; 16 - 28 tuầntuổi lần lượt là: 20,2% (2950kcal ME); 18,6% (2850kcal); 14,5% (2780kcal) và18% (2800kcal)
Nhìn chung tiêu chuẩn protein khẩu phần cho gà giống ở các nước nhiệtđới cao hơn các nước ôn đới, việc phân các giai đoạn tuổi rất khác nhau giữa cáctác giả nhưng đều cần mức protein khẩu phần cao (18 - 20%) cho giai đoạn gàcon, thấp ở giai đoạn gà dò (14 - 15%) và tăng lại ở giai đoạn tiền sinh sản (16 -18%)
Trên gà đẻ hàm lượng protein trong khẩu phần tùy thuộc vào giống, tuổi
và năng suất sinh sản của chúng và mức protein 16 - 17% được nhiều tác giả kếtluận là thích hợp cho gà đẻ Hãng Arbor Acres (1994) đưa ra mức protein thíchhợp cho gà chuyên trứng là từ 13 - 18% Bùi Đức Lũng (1994), nghiên cứu trên
gà Leghorn đã kết luận mức 16 - 17% protein và 2566 - 2760 Kcal ME/ kg nănglượng cho gà đẻ 20 - 44 tuần tuổi Đoàn Xuân Trúc (1982) kết luận rằng mức17% protein, 2750 Kcal ME/kg thức ăn thích hợp để nuôi gà D4 trên 21 tuầntuổi Đối với giống gà Ri thì mức protein 18% cho giai đọan 19 - 23 tuần tuổi và17% cho 24 - 40 tuần tuổi cho năng suất cao nhất (Bùi Đức Lũng và ctv, 2004)
Lê Hồng Sơn và ctv (2004) kết luận mức protein 17% thích hợp cho giống gàLương Phượng đẻ từ 20 - 55 tuần tuổi Tiêu chuẩn Việt Nam, đưa ra tiêu chuẩncho gà mái đẻ trứng thương phẩm pha I (21 - 44 tuần tuổi) là 17% protein, pha II(Từ 45 tuần tuổi trở đi) 16% protein, mức năng lượng 2850 - 2900 Kcal ME/kgthức ăn
Cùng với hàm lượng protein, mức năng lượng có trong thức ăn thì lượngthức ăn mà gà thu nhận được thực tế sẽ xác định chính xác lượng dưỡng chấtcung cấp cho gà mỗi ngày Theo Kakuk T, trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm(2008) thì việc tính toán nhu cầu sản xuất trứng dựa trên số liệu thực nghiệm của
gà mái đẻ là: hàm lượng protein trong trứng gà là 11,2%, hàm lượng proteintrong tăng trọng của gà mái là 20%, nhu cầu protein thuần để duy trì cơ thể là2,1g/kg0,3, giá trị sinh vật của protein là 70%, tỷ lệ tiêu hóa protein đạt 80% Từ
đó tính được lượng protein cần thiết cho một gà mái đẻ (khối lượng cơ thể và tỷ
lệ đẻ) trong một ngày, kết hợp với khả năng ăn vào của gà để tính ngược ra hàmlượng protein cần có trong thức ăn hỗn hợp Cùng cách tính này thì hãng giống
Lohman Brown (General management guide, 2007) đề nghị mức protein (với
2780kcal ME/kg thức ăn) là cho gà đẻ như sau: giai đoạn 28 - 50 tuần tuổi17,5%/112g; 16,8%/117g; 15,9%/123g (tương đương 19,6gamprotein/mái/ngày) và giai đoạn 50 - 60 tuần tuổi là 16,4%/112gam;15,7%/117gam; 15%/123gam (tương đương 18,4gam protein/mái/ngày) và sau
Trang 560 tuần tuổi là 15,9%/112gam; 15,2%/117gam; 14,5%/123gam (tương đương17,8gam protein/mái/ngày).
Vậy gà Lương Phượng bố mẹ cần khẩu phần ăn có mức protein thế nào vàmức ăn tương ứng cho các giai đoạn từ hậu bị đến khai thác trứng trong điềukiện nắng nóng của phía Nam Việt Nam?
- Khối lượng gà cần đạt theo giai đoạn tuổi đặc biệt là ở thời kỳ trước khi
vào đẻ: trên gà sinh sản thì khối lượng cơ thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
sinh sản, thường mỗi hãng giống đều có giới thiệu bảng khối lượng chuẩn chocon giống sinh sản theo từng tuần tuổi để cho năng suất tốt nhất Công ty giốngHendrix (2007) giới thiệu khối lượng trước khi vào đẻ là 1250 - 1300g cho gà đẻtrứng nâu và 1100 - 1150g cho gà đẻ trứng trắng Hãng Hy-Line Variety W-36cho rằng khối lượng lúc 17 tuần tuổi là 1240g (Commercial management guide,2009) là tốt nhất Hãng Lohmann Brown lại đưa ra khối lượng chuẩn cho giốngcủa họ là 1530g lúc 18 tuần tuổi (Lohmann Brown Management Guide, 2005).Còn Hy-Line Brown là 1500 - 1540g/mái lúc 18 tuần tuổi Lemis và Gous(2006) giới thiệu khối lượng lúc 20 tuần tuổi là 2,1 - 2,2kg cho gà giống hướngthịt là tốt nhất Giống BT2 cần đạt 2045g lúc 22 tuần tuổi (Quy trình nuôi dưỡng
gà giống BT2, 2008) Giống Lương Phượng đạt 2100g lúc 24 tuần tuổi - tuổivào đẻ (Hướng dẫn kỹ thuật nuôi gà Lương Phượng Hoa, 2002), Trung tâm BìnhThắng đưa ra mức 2170g cho mái Lương Phượng lúc 22 tuần tuổi (Quy trìnhnuôi dưỡng gà BT2 - Lương Phượng, 2007) Tuy nhiên, chiến lược tăng khốilượng theo từng tuần tuổi sẽ khác nhau theo mỗi giống và thường được kiểmsoát chặt chẽ ngay từ sau giai đoạn úm Vậy khối lượng cơ thể giai đoạn hậu bịcủa con giống Lương Phượng bố mẹ nuôi ở điều kiện phía Nam thế nào để chonăng suất sinh sản tốt nhất là vấn đề cần giải quyết
- Chương trình chiếu sáng cho gà hậu bị và đẻ: có nhiều nghiên cứu cho thấy
ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên khả năng sinh sản của gà.Lillie và Denton (1965) thấy gà chậm thành thục và khối lượng lúc 22 tuần tuổithấp hơn khi được nuôi trong điều kiện giảm sáng suốt giai đoạn tăng trưởng Gà
sẽ đẻ sớm hơn khi được tăng sáng lúc 15 tuần tuổi nhưng khối lượng trứng lạinhỏ hơn khi tăng sáng muộn ở 21 tuần tuổi (Leeson và Summers, 1980) hay sảnlượng trứng thấp khi tăng sáng sớm lúc 10 - 12 tuần tuổi (Ceeson và Summers,1985) Robinson và ctv (1996a) khi nghiên cứu việc thay đổi tuổi tăng thời gianchiếu sáng trên 600 gà Shaver Starbro hậu bị cho thấy không có sự khác biệt vềsản lượng và khối lượng trứng nhưng gà được tăng chiếu sáng sớm (120 - 130ngày tuổi) sản xuất được ít gà con hơn so với gà nuôi chế độ tăng sáng muộn(140 - 160 ngày tuổi) Hana và ctv (2003) thực hiện nghiên cứu trên gà địaphương (Silver Montazah và Gimmizah) cho kết quả: gà hậu bị nhận chế độchiếu sáng thấp (8giờ ở 6 tuần tuổi và mỗi tuần tăng ½ giờ cho đến 16giờ thìduy trì ổn định 16giờ/ngày và chế độ giữ ổn định 8giờ/ngày từ 6 tuần - 22 tuầntuổi tiếp đó tăng ½ h mỗi tuần đến đạt 16giờ/ngày) có khối lượng cơ thể giaiđoạn 6 - 22 tuần cao hơn và đẻ quả trứng đầu tiên sớm hơn nhưng khối lượng
Trang 6giờ mỗi tuần đến 8giờ thì lại tăng ½ giờ mỗi tuần cho đến khi đạt 16giờ/ngày).Lemis và Gous (2006) cho kết luận chế độ chiếu sáng không ảnh hưởng đếnkhối lượng cơ thể gà giống hướng thịt lúc 20 tuần tuổi và với gà này chỉ cầnchiếu sáng 8giờ/ngày giai đoạn hậu bị và 14giờ/ngày giai đoạn đẻ.
Trang 7Hãng Lohmann Brown đưa ra chương trình chiếu sáng theo như sau:
Tuổi Số giờ sáng/ngày Cường độ sáng (lux)
Trang 821 14 14 14 20-30 20-30 20-30
Ghi chú: A: thành thục theo chuẩn ; B: thành thục sớm và C: thành thục muộn
Và giữ ở chế độ chiếu sáng 14giờ/ngày cho đến cuối giai đoạn khai thác
Ở Việt Nam, một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới khảnăng sinh sản của gà được trình bày trong các báo cáo của Trịnh Xuân Cư(1993); Chu Thị Thắng và ctv (1995); Trịnh Xuân Cư và ctv (2006) có kết luận
sự biến động của tỉ lệ đẻ trứng trên gà là do biến động thời gian chiếu sáng trungbình ngày của các tháng trong năm và khả năng đẻ trứng của gà giảm vào cuốinăm do ngày ngắn dần Theo Chu Thị Thắng và ctv (1995) gà Goldline giaiđoạn đẻ (nuôi ở Miền Bắc trong mùa thu đông) được bổ sung ánh sáng nhân tạo
để đạt 16giờ/ngày cho tỷ lệ đẻ cao hơn và tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với gàđược nuôi chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên
- Chăm sóc nuôi dưỡng và phòng ngừa dịch bệnh: giống và dinh dưỡng là
nền tảng, nhưng môi trường nuôi dưỡng là yếu tố quyết định sự thành công củangười chăn nuôi Theo Renema và ctv (2001b) thì hình thái học buồng trứngcủa phương pháp chăn nuôi hiện đại bị ảnh hưởng bởi cường độ chiếu sángnhiều hơn so với phương pháp nuôi truyền thống Do vậy, mỗi con giống khinuôi ở mỗi điều kiện khác nhau thường đều phải có giai đoạn thích nghi và từ đó
cơ sở nuôi sẽ chọn phương thức cho năng suất cao nhất làm “Quy trình chămsóc nuôi dưỡng” cho giống
4 Nguồn gốc, xuất xứ của tài liệu:
Kế thừa các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu sinh sản của các
cơ sở sản xuất chăn nuôi gà tại các cơ sở sản xuất
* Kế thừa quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà sinh sản lông màu bố mẹ củacác cơ sở giống
* Kế thừa “Quy trình chăn nuôi gà an toàn sinh học trong điều kiện nông hộ ởcác vùng sinh thái khác nhau” Thuộc đề tài cấp bộ “ Nghiên cứu các giải pháp
kỹ thuật và quản lý để phát triển chăn nuôi gà trong điều kiện nông hộ ở cácvùng sinh thái khác nhau” thuộc đề tài cấp bộ, chủ trì đề tài: Đồng Sỹ Hùng; Đãđược nghiệm thu năm 2011
II Nội dung quy trình
1 Chuẩn bị xây dựng mô hình
1.1 Một số yêu cầu kỹ thuật cơ bản:
1.1.1 Con giống:
Các giống gà lông màu được nuôi phổ biến hiện nay là: gà Sacso, gàLương Phượng, Tàu Vàng và Gà LV Tuy nhiên tùy vào mục đích mà bà conchọn được giống gà nuôi cho phù hợp
Trang 9Khi chọn mua con giống bà con chú ý chỉ mua con giống ở những cở sởchăn nuôi uy tín an toàn dịch bệnh có giấy chứng nhận của cơ quan thú y.
Phải đảm bảo rằng gà con 1 ngày tuổi đã phải được tiêm phòng vacinmarek Nếu con giống không được tiêm phòng đầy đủ thì nguy cơ dịch bệnh saunày rất cao
* Cách chọn gà con 1 ngày tuổi:
- Chọn những con khỏe mạnh, đi lại bình thường, mắt sáng, lông bông khô sạch,rốn khép kín, bụng mềm, khối lượng đạt yêu cây của từng giống
- Loại bỏ gà bị dị tật như khèo chân, hở rốn, vẹo đầu và mỏ, một mắt, không cólông hoặc lông ngắn
- Loại bỏ những con quá nhỏ, quá to và nặng bụng (trong trường hợp nuôi tậndụng thì phải nhốt và có chế độ úm riêng những con này)
1.1.2 Chuồng trại:
Chuồng thông thoáng tự nhiên, nền xi măng, mái tôn lạnh (hoặc lá), chiềucao thấp nhất nền-mái 2m, chiều rộng chuồng 8m, xung quanh có tường xây cao50-60cm và phần trên là lưới kẽm
Trong chăn nuôi gà lông màu sinh sản người ta sẽ phải làm các dãy chuồngnuôi riêng cho từng đối tượng gà: chuồng nuôi gà úm, gà hậu bị và gà sinh sản.Diện tích chuồng nuôi tùy qui mô, đảm bảo 4con/m2
Khu vực chăn nuôi phải tách biệt với khu vực phụ trợ khác như kho thức ăn,khu chứa chất độn chuồng,… cách tối thiểu 50m
Phải có hệ thống đường đi và rãnh thoát nước để không còn tồn đọng nướcthải trong khu vực chăn nuôi Khoảng cách dãy chuồng cách dãy chuồng từ 25-
30 mét, nếu gia trại thì chuồng phải cách nơi ở tối thiểu 30 m
Khu vực chăn nuôi có hàng rào hoặc tường bao chắn xung quanh, có cổng ravào và hố sát trùng ở cổng
Phải có khu vực xử lý gia cầm ốm, chết, tốt nhất là xây lò đốt xác, khu vựcnày phải phun sát trùng thường xuyên Có thể dùng một trong các chất sát trùngsau: biocid 0,3%, Formol 2%, Virkon 0,5%, TH4, Crezol 2%, Chloramin T 0,5 -1%
Trang 10Máng dàiMáng trònNúm uống
3cm/con2cm/con10con/núm
1.1.4 Thức ăn và nước nuôi gà
- Thức ăn cho gà: có thể tự phối trộn hay chọn thức ăn hỗn hợp của các nhà máychế biến với yêu cầu đảm bảo đúng và đủ theo nhu cầu dinh dưỡng của giốngtheo giai đoạn tuổi
- Nguồn nước: đảm bảo đủ và sạch, đặc biệt trong điều kiện nắng nóng, đảm bảocác tiêu chuẩn quy định về vệ sinh thú y
Mức tiêu thụ nước cho 1000mái đẻ/ngày (Trần Công Xuân và ctv, 2002):
Trang 11Bảng 2 Nhu cầu dinh dưỡng cho gà giống Thành phần 1-6 tuần 7-12 tuần 13-22
Bảng 3 Chương trình chiếu sáng cho gà hậu bị và gà đẻ
Tuần tuổi Thời gian chiếu sáng/ ngày (giờ)
1ngày - 2 tuần 24 giờ
2 - 15 Ánh sáng tự nhiên (khoảng 12giờ)
15 - 16 Ánh sáng tự nhiên + 0,5 giờ chiếu sáng = 12,5
16 - 17 Ánh sáng tự nhiên + 1 giờ chiếu sáng = 13
Trang 1218 -19 Ánh sáng tự nhiên + 2 giờ chiếu sáng = 14
19 - 20 Ánh sáng tự nhiên + 2,5 giờ chiếu sáng = 14,5
20 - 21 Ánh sáng tự nhiên + 3 giờ chiếu sáng = 15
22 - 23 Ánh sáng tự nhiên + 3,5 giờ chiếu sáng = 15,5
> 23 Ánh sáng tự nhiên + 4 giờ chiếu sáng = 16
Chương trình chiếu sáng này có thể áp dụng cho các trang trại nuôi chuồng hở tận dụng ánh sáng tự nhiên.
2 Công tác chuẩn bị trước khi nuôi
- Chuồng nuôi gà cùng trang thiết bị phải được dọn sạch sẽ và để trống chuồng
ít nhất 3 tuần trước khi đưa gà vào nuôi
- Trước khi đưa gà vào nuôi 02 ngày phải hoàn thành:
+ Đã kiểm tra và sửa chữa hết hư hỏng của chuồng trại
+ Lắp ráp và kiểm tra hoạt động các trang thiết bị như máng ăn, máng uống, hệthống cấp nhiệt, hệ thống làm mát, hệ thống rèm che mưa che nắng, hệ thốngánh sáng, hệ thống vệ sinh sát trùng
Xác định địa điểm và vị trí của quây úm:
- Phòng úm phải ở nơi tránh gió lùa, cách biệt hoàn toàn với khu chăn nuôi khác,điều này hạn chế sự lây lan dịch bệnh từ các khu vực khác tới khu vực úm
- Lựa chọn vị trí quây úm nên ở vị trí trung tâm phòng úm, tránh cửa ra vào vàquá sát tường để hạn chế hiện tượng gió lùa
- Diện tích quây úm đảm bảo mật độ nuôi 60-80 con/m2 trong vòng 3 ngày đầusau đó nới rộng quây úm theo sự phát triển của đàn gà Mỗi quây khoảng 6-8 m2,tối đa 500con/ 1 quây úm
Trang 13+ Thiết kế hệ thống sưởi cho gà: nhiệt độ là yếu tố hàng đầu trong giai đoạn úm
gà vì 3 tuần đầu gà chưa tự điều tiết nhiệt độ cơ thể, việc nóng quá hoặc lạnhquá dẫn tới ảnh hưởng loãng lòng đỏ, lòng đỏ không tiêu, hoặc không kết dính,tăng khả năng mất nước của cơ thể gà Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên cácbệnh hô hấp, tiêu hóa, ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và phát triển sau nay
* Nguồn nhiệt: đa dạng và cần nắm Phương pháp sử dụng từng loại nguồn cung
cấp nhiệt như sau:
+ Sử dụng bóng đèn điện: Sử dụng nguồn nhiệt này chủ yếu khi úm gà trên
lồng Tuỳ theo nhiệt độ môi trường trong chuồng úm có thể sử dụng từ 2 - 3bóng đèn công suất 100 W Độ cao của bóng đèn từ từ 20 - 25 cm tính từ đáylồng Khi sử dụng nguồn nhiệt bằng bóng đèn, trong tuần đầu tiên chú ý phảiphủ kín chuồng vào ban đêm
+ Sử dụng lò sưởi bằng gas: Chỉ sử dụng lò sưởi bằng gas khi úm gà theo nhóm
trên sàn hoặc dưới nền Thông thường 1 lò gas úm cho khoảng từ 500 - 600 con
Lò gas phải được treo cách mặt sàn hoặc mặt nền úm gà từ 80 cm trở lên Tuỳtheo nhiệt độ môi trường mà điều chỉnh độ cháy của lò gas, trong trường hợp lògas có hệ thống điều chỉnh nhiệt tự động thì bộ phận cảm biến nhiệt đặt cáchmặt nền, sàn là 20 cm Để tiết kiệm gas, chuồng úm gà phải được che kín nhưngchú ý phải có hệ thống thoát khí CO2 và khí gas
+ Bếp than tổ ong: Bếp than tổ ong sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí trong úm gà.
Khi dùng bếp than tổ ong úm gà thì trên một bếp than còn có cửa bếp điềuchỉnh độ cháy của than và có nắp tỏa nhiệt phía trên mỗi bếp than Đáy bếp thanphải được đặt cao hơn và cách ly chất độn chuồng để đề phòng cháy xảy ra
Trường hợp này khuyến cáo bà con nên sử dụng bóng đèn hồng ngoại đểtạo nhiệt: thứ nhất bóng đèn hồng ngoại có tác dụng tập trung nguồn nhiệt ngaydưới bóng đèn, thứ 2: tạo ra tia hồng ngoại có tác dụng diệt khuẩn Treo bóngđèn trong quây úm cách mặt nền 50-60cm, với mật độ 50-60 gà/ bóng tùy mùa
- Chuẩn bị máng uống bình 2 lít và khay ăn đường kính 60-70 cm, máng ăn,máng uống bố trí xen kẽ nhau
- Chuẩn bị rèm phủ bằng chiếu, nếu không có chiếu thì dùng nilon mỏng để đảmbảo sự thông thoáng
- Chuẩn bị nguồn nước đảm bảo vệ sinh thú y và thức ăn phù hợp cho gà, các
Trang 142.1 Kỹ thuật nuôi dưỡng gà lông màu sinh sản
2.1.1 Úm gà con (0 - 3/4 tuần tuổi):
Úm gà là một trong những khâu quan trọng nhất của chăn nuôi Nhiềuchuyên gia cho rằng nó quyết định đến 80% sự thành công trong quá trình nuôinhưng thường bị chúng ta chủ quan Trong giai đoạn úm việc chăm sóc gà congiống như chăm sóc 1 đứa trẻ sơ sinh Khi gà con mới nở các cơ quan chức năngnhư tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn chưa hoàn thiện, đặc biệt là hệ miễn dịch chưathích ứng được với môi trường bên ngoài nhất là sự chênh lệch giữa nhiệt độmáy ấp và nhiệt độ môi trường Điều này dẫn tới rất dễ mắc bệnh ngay tronggiai đoạn đầu Vì vậy việc úm gà đòi hỏi sự cẩn thận, tỷ mỷ và khoa học nhằmgiúp gà con hoàn thiện cơ thể nhanh chóng nâng cao sức đề kháng ngay từ đầu,
là tiền đề cho sự phát triển tốt nhất trong suốt thời gian chăn nuôi sau này
- Trước khi tiếp nhận con giống chúng ta sưởi ấm quây úm ít nhật là 2 giờ, việcchuẩn bị này nhằm ổn định nhiệt giúp cho gà con mới chuyển về có thể thíchứng ngay với nhiệt độ môi trường trong quây úm
- Chuẩn bị nước uống (5gam glucose + 1gam vit C/ 1 lít nước), chuồng gà úmđược phủ 2 lần bạt (ngoài chuồng và khu vực quây úm), tùy điều kiện thời tiết
và nguồn nhiệt sử dụng mà điều chỉnh bạt cho phù hợp
- Tiếp nhận con giống: Khi nhập gà về trại cần kiểm tra giấy chứng nhận kiểmdịch động vật Khi thả gà vào quây úm cần đếm và kiểm tra lại gà con (bụngmềm, lông bông mượt có màu đặc trưng của con giống, da chân mỡ màng,không dị tật, không khô chân, mắt sáng - lanh lợi, mỏ khép kín…)
- Thả con giống vào quây úm, thả gà con nhẹ nhàng, từ từ và phân bổ đều vào
các máng uống
- Cho nghỉ ngơi 20 - 30 phút, tập cho gà uống nước trừ trường hợp gà đã nởtrước khi về 24 giờ nhưng phải sau khi uống nước ít nhất 3 – 4 giờ
- Gà 1 - 3 ngày tuổi mở đèn sáng 24/24, 3 giờ rải cám cho gà ăn 1 lần,
Bảng 4 Nhiệt độ chuồng và mật độ nuôi Tuần tuổi Mật độ (Con/m 2 ) Nhiệt độ ( o C)*