1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kinh tế vĩ mô - Macroeconomics - Blanchard (bản dịch)

885 421 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 885
Dung lượng 8,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

In Macroeconomics, Blanchard presents a unified, global view of macroeconomics, enabling students to see the connections between goods markets, financial markets, and labor markets worldwide. Organized into two parts, the text contains a core section that focuses on short-, medium-, and long-run markets and three major extensions that offer more in-depth coverage of the issues at hand. From the major economic crisis and monetary policy in the United States, to the problems of the Euro area and growth in China, the text helps students make sense not only of current macroeconomic events but also of events that may unfold in the future. Integrated, detailed boxes in the Seventh Edition have been updated to convey the life of macroeconomics today; reinforce lessons from the models; and help students employ and develop their analytical and evaluative skills.

Trang 1

Bản dịch quyển

Macroeconomics

của

Oliver Blanchard

Oliver Blanchard, 2000, Macroeconomics, 2nd Edition, Prentice Hall

(Bản quyền của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright)

Trang 2

Phần mở đầu

Kinh tế Vĩ mô là gì? Cách tốt nhất để trả lời câu hỏi này chẳng phải là đưa ra một định nghĩa sách vở, mà là đưa bạn đi tham quan kinh tế thế giới, để mô tả cả những tiến triển kinh tế chính lẫn những vấn đề làm các nhà kinh tế vĩ mô và những nhà hoạch định chính sách kinh tế

vĩ mô mất ngủ

Vào thời điểm viết quyển sách này, các nhà kinh tế vĩ mô và những nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô đang ngủ không yên Ở Mỹ, họ lo ngại thời kỳ tăng trưởng lâu dài của thập niên 90 không chừng đang đến hồi kết thúc Ở châu Âu, họ lo lắng về nạn thất nghiệp đang ở mức cao trong vòng hai thập kỷ trở lại đây Tuy nhiên những lo nghĩ chính lại là về châu Á Sau nhiều thập kỷ tăng trưởng nhanh, Nhật Bản đang chịu một cuộc suy thoái nghiêm trọng Và một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn cũng đã tấn công nhiều nước trong số các nước tăng trưởng nhanh ở châu Á, từ Thái Lan cho đến Hàn Quốc

Chương này quan sát gần hơn những gì đang diễn ra ở ba khu vực này của thế giới Hãy đọc chương này như bạn vẫn đọc một bài báo Đừng bận tâm về nghĩa chính xác của các từ ngữ, hoặc tìm hiểu mọi luận điểm đến từng chi tiết Hãy xem chương này như kiến thức cơ sở nhằm giới thiệu cho bạn các vấn đề của Kinh tế Vĩ mô; các từ ngữ sẽ được định nghĩa và các luận điểm sẽ được bàn ở các chương sau Thật

ra, một khi đã đọc xong quyển sách này, bạn hãy trở lại chương này xem quan điểm của bạn về vấn đề này như thế nào, và xem thử bạn đã tiến bộ như thế nào trong việc học tập môn Kinh tế Vĩ mô

Trang 3

Khi quan sát một nền kinh tế, trước tiên các nhà kinh tế vĩ mô tập trung vào ba số đo:

trưởng của nền kinh tế này

làm và đang tìm việc

nền kinh tế tăng theo thời gian

Ở cả ba số đo, Mỹ đều đang ăn nên làm ra Xem Bảng 1-1 Cột đầu tiên là giá trị tăng trưởng sản lượng, thất nghiệp, và lạm phát bình quân giai đoạn 1960-1998; ba cột kế là số liệu giai đoạn 1997-1999 (số liệu năm 1999 là dự báo, dựa trên số liệu 6 tháng đầu năm 1999) Nước Mỹ bước vào năm 1990 với một cuộc suy thoái - sụt giảm sản lượng Cuối 1991, cuộc suy thoái này nhường bước cho một thời kỳ tăng trưởng - sản lượng gia tăng– và sự tăng trưởng sản lượng vẫn duy trì giá trị dương mỗi năm kể từ đó Tăng trưởng sản lượng năm 1998 đạt 3,9%, một con số cao hơn tỉ lệ tăng trưởng bình quân kể từ 1960

Tỉ lệ thất nghiệp đã liên tục giảm kể từ cuối thời kỳ suy thoái Tỉ lệ thất nghiệp năm 1998 ở mức 4,6%, thấp hơn tỉ lệ thất nghiệp bình quân kể từ 1960 trên 1% Và lạm phát thấp Năm 1998, tỉ lệ tăng giá bình quân chỉ bằng 1,0%, thấp hơn tỉ lệ lạm phát bình quân giai đoạn 1960-

1998 những 3,0%

Liệu sự tăng trưởng này sẽ kéo dài mãi chăng? Nếu dựa vào lịch sử thì, hỡi ôi, câu trả lời là không Sớm hay muộn cũng sẽ có một cuộc suy thoái, tiếp theo là một thời kỳ tăng trưởng mới, v.v… Các nhà kinh tế vĩ mô gọi những thời kỳ tăng trưởng và suy thoái tiếp theo nhau là những chu kỳ kinh tế hay những dao động (trồi sụt) Liệu ta có thể dự đoán được khi nào cuộc suy thoái tiếp theo sẽ xảy đến không? Một lần nữa, dựa vào lịch sử, câu trả lời cũng là không: Thời điểm xảy ra suy thoái rất khó đoán trước Tuy nhiên có một số dấu hiệu nguy hiểm, một số từ tỉ lệ thất nghiệp thấp, một số từ giá thị trường chứng khoán cao

Bảng 1-3 : Tăng trưởng, Thất nghiệp, và Lạm phát ở Mỹ, 1960-1999 (phần trăm) 1960-1998 1997 1998 1999 (dự báo)

Tỉ lệ tăng trưởng sản lượng 3,1 3,9 3,9 3,6

Tỉ lệ thất nghiệp 6,0 4,9 4,6 4,2

Tỉ lệ lạm phát 4,0 1,9 1,0 1,1

Tỉ lệ tăng trưởng: tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tỉ lệ thất nghiệp: tỉ lệ bình quân trong năm Tỉ lệ lạm phát: tỉ lệ thay đổi hàng năm của chỉ số khử lạm phát GDP (hay chỉ số giảm phát GDP)

Nguồn: 1960-1998: Sở Phân tích Kinh tế; 1997-1999: OECD Economic Outlook, tháng 6-1999

Trang 4

Hình 1-1

Hoa Kỳ

Có lẽ bởi vì các

tuyên bố giống

như thế này mà

kinh tế học thuờng

được gọi là

“ngành khoa học

ảm đạm”

Thất nghiệp có quá thấp chăng?

Một số nhà kinh tế lo ngại rằng tỉ lệ thất nghiệp có lẽ quá thấp Chẳng phải là họ thích thất nghiệp cao; mà vì, họ lo ngại rằng thất nghiệp thấp có thể dẫn đến tăng lạm phát Họ lập luận rằng khi tỉ lệ thất nghiệp thấp như hiện nay, lạm phát thường bắt đầu tăng: những doanh nghiệp nào muốn giữ công nhân và thuê công nhân mới phải trả lương cao hơn, lương cao hơn dẫn đến giá cao hơn, giá cao hơn dẫn đến tăng thêm lương, v.v… Họ lập luận, nếu sự việc tiếp tục lập lại và lạm phát tăng, Fed (ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của nước Mỹ, thường được biết đến với tên Cục Dự trữ Liên bang) sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ, và điều này dẫn đến suy thoái Lần cuối tỉ lệ thất nghiệp thấp như hiện nay là vào năm 1969, cuối thời kỳ tăng trưởng kéo dài một thập kỷ; sau đó lạm phát tăng, và suy thoái xảy ra vào 1970

Những người khác lập luận rằng vào lúc này, tỉ lệ thất nghiệp thấp chẳng phải là vấn đề đáng ngại và sẽ không dẫn đến lạm phát cao hơn Trước tiên họ chỉ ra rằng lạm phát chưa tăng Họ lập luận rằng những thay đổi trên thị trường lao động hiện nay cho phép kinh tế Mỹ vận hành với một tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn các thập kỷ trước Một trong những thay đổi được họ nhận diện là sự giảm sút quyền lực của các công đoàn: dù thất nghiệp có thấp đi chăng nữa, công nhân cũng không

ở vào vị thế đàm phán đủ mạnh để đòi tăng lương Do đó, các nhà kinh tế này kết luận, thất nghiệp thấp không phải là vấn đề đáng lo lắng

Trang 5

Giá như tỉ lệ tăng

trưởng trong 24

năm thời kỳ

1974-1998 cao hơn

1,4%, thì hẳn là

mức sản lượng đã

cao hơn hiện nay

Các nhà kinh tế khác lại tin rằng giá cổ phiếu đang quá cao, và rằng các nhà đầu tư tài chính đang quá lạc quan về tương lai Một trong những nhà quan sát đó là Alan Greenspan, Giám đốc Cục Dự trữ Liên bang, người vào tháng 12-1996 đã cảnh báo rằng việc thị trường chứng khoán tăng giá có thể phản ánh “sự hồ hởi quá mức” (Sau bài phát biểu của ông, thị trường sụt giá Thế nhưng sau đó thị trường lại tăng giá 40%) Tại sao giá cổ phiếu quá cao lại là một vấn đề gây lo ngại? Nếu việc cổ phiếu tại thị trường chứng khoán tăng giá là kết quả của sự lạc quan quá mức, thì tiếp sau đó có khả năng sẽ xảy ra tình trạng sụt giá mạnh, hoặc thậm chí sụp đổ thị trường chứng khoán Và như chúng

ta sẽ thấy khi đọc câu chuyện về Nhật Bản trong thập niên 90 ở phần dưới, thị trường chứng khoán sụt giảm sẽ châm ngòøi cho một cuộc suy thoái trầm trọng

Chuyển sang những lo ngại lâu dài hơn, có ít nhất hai vấn đề quan trọng mà nền kinh tế Mỹ đang phải đối phó Một là tỉ lệ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Mỹ kể từ giữa những năm 70 giảm Hai là bất bình đẳng về lương gia tăng

Tại sao đà tăng trưởng giảm sút?

Mặc dù tỉ lệ tăng trưởng thay đổi hàng năm, chứng cứ cho thấy rằng tỉ lệ tăng trưởng cơ bản của Mỹ đã giảm kể từ giữa những năm 70 Bạn có thể nhận thấy điều này ở biểu đồ 1-2, biểu đồ này biểu diễn tỉ lệ tăng sản lượng hàng năm kể từ 1950 Tỉ lệ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ 1950-1973 là 4,0% Từ 1974, tỉ lệ này chỉ còn 2,6% Vậy tỉ lệ tăng trưởng bình quân đã giảm 1,4% kể từ giữa những năm 70

Việc giảm tỉ lệ tăng trưởng bình quân 1,4% mỗi năm - sự chênh lệch giữa tỉ lệ bình quân của thời kỳ 1950–1973 và 1974–1997 – có vẻ như

Trang 6

“Sản lượng tính

trên đầu người”

nghĩa là “sản

lượng chia ra cho

mỗi người” (tiếng

Latin: capita là

Tại sao tăng trưởng giảm sút? Tỉ lệ tăng trưởng của đa số nước giàu khác cũng giảm sút, do đó chúng ta không nên tìm câu trả lời riêng cho nước Mỹ Một số nhà kinh tế lý luận rằng các nước giàu đã đánh mất

ưu thế của mình, rằng quá trình nghiên cứu không còn hiệu quả như trước đây Những người khác cho rằng các nước không đầu tư đầy đủ vào những dự án mới Những người khác lại nói rằng sự chựng lại đa phần là sản phẩm tưởng tượng do cách thức xây dựng dữ liệu, rằng các số đo chính thức về sản lượng đã ước tính dưới mức thực tế mức độ tinh

vi gia tăng của các sản phẩm mới và do đó cũng ước tính dưới mức thực tế tốc độ tăng sản lượng Vào thời điểm này, tất cả những cách lí giải đều là giả thuyết, nhưng câu hỏi đặt ra rõ ràng là quan trọng

Tại sao bất bình đẳng về lương gia tăng?

Bất bình đẳng về tiền lương ở Mỹ đã tăng kể từ cuối thập niên 70 Lương lao động không có tay nghề và trình độ văn hóa thấp giảm tương đối so với mức lương bình quân Cộng với tăng trưởng thấp, sự gia tăng bất bình đẳng về lương này đã dẫn đến lương một số công nhân giảm

Trang 7

Có bằng chứng

cho thấy sự gia

tăng bất bình đẳng

này có thể đã

chậm lại hoặc

chấm dứt kể từ

giữa những năm

90 Đây sẽ là một

thay đổi quan

trọng, nhưng còn

quá sớm nên ta

chưa thể khẳng

định được

trung học đã giảm khoảng 1% năm (đã điều chỉnh theo lạm phát) Cùng thời gian, lương bình quân của công nhân đã tốt nghiệp trung học tăng khoảng 1% năm

Sự gia tăng bất bình đẳng về lương này xuất phát từ đâu? Đa số các nhà kinh tế đưa ra hai nguyên nhân Thứ nhất là thương mại quốc tế Các công nhân không có tay nghề đang ngày càng phải cạnh tranh với công nhân đến từ các nước có mức lương rất thấp, và cuộc cạnh tranh này đã kéo lương của công nhân Mỹ xuống Thứ hai là bản chất của tiến bộ công nghệ Công nghệ mới ngày càng đòi hỏi công nhân phải có tay nghề để vận hành máy móc Do đó, nhu cầu tương đối về công nhân có tay nghề đang tăng đều, nhu cầu tương đối về công nhân không có tay nghề đang giảm đều, và hai sự phát triển này được phản ánh trong mức lương tương đối của công nhân có tay nghề và không có tay nghề

Các nhà kinh tế không đồng ý với nhau về sự quan trọng tương đối của hai nguyên nhân này Một số tin rằng thương mại quốc tế là thủ phạm chính; đa số lại tin rằng bản chất của tiến bộ công nghệ là nguyên cớ Nghiên cứu nguyên nhân tăng bất bình đẳng về lương là một trong những lĩnh vực nghiên cứu sôi nổi nhất của kinh tế học ngày nay

1-2/ Liên minh châu AâuNăm 1957, sáu nước châu Âu - Bỉ, Pháp, Đức, Ý, Luxembourg và Hà Lan - đã quyết định lập nên thị trường chung châu Aâu - một khu vực kinh tế mà ở đó, con người, hàng hóa và các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do Kể từ đó, thêm chín nước - Aùo, Đan Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Liên hiệp Anh

- đã tham gia Liên minh này hiệân nay được biết dưới tên Liên minh châu Aâu, hay EU (Cho đến vài năm trước đây, tên chính thức vẫn là là Cộng đồng châu Aâu hay EC Bạn có khả năng gặp cả hai tên)

Không chỉ tăng số thành viên, quan hệ giữa các thành viên cũng được thắt chặt Kết hợp lại, các nước này tạo thành một sức mạnh đáng nể Như Đồ thị 1-3 biểu diễn, sản lượng của các nước này cộng lại xấp

xỉ sản lượng của Mỹ Và nhiều nước trong số này có mức sống, đo bằng mức sản lượng trên đầu người, xấp xỉ hoặc cao hơn Mỹ

Tuy nhiên gần đây, thành quả hoạt động kinh tế của Liên minh Châu Âu thật đáng thất vọng Xem Bảng 1-2 Tăng trưởng chậm lại và thất nghiệp vẫn ở mức rất cao Năm 1998, tỉ lệ thất nghiệp bình quân là 10.5%, và dự đoán chỉ giảm nhẹ vào năm 1999 Con số ở một vài nước đáng kinh ngạc: năm 1998, tỉ lệ thất nghiệp tại Tây Ban Nha ở mức 19%

Trang 8

Tin vui liên quan đến lạm phát Cũng như ở Mỹ, ở Liên minh Châu Âu lạm phát thấp, tỉ lệ hàng năm ở mức 1,8% vào năm 1998, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ bình quân kể từ 1960 là 5,7%

Ở thời điểm hiện tại, Liên minh châu Aâu đang đứng trước hai thách thức kinh tế chính: giảm tỉ lệ thất nghiệp đang cao; và chuyển đổi sang một đồng tiền chung, đồng Euro

Làm sao để giảm tỉ lệ thất nghiệp cao?

Thất nghiệp cao không phải là truyền thống của châu Aâu Đồ thị 1-4 biểu diễn sự tiến triển của tỉ lệ thất nghiệp của Cộng đồng châu Aâu và Mỹ, cho thấy tỉ lệ thất nghiệp ở châu Aâu đã thấp thế nào vào những năm 60 Vào thời điểm đó, chủ đề bàn tán ở Mỹ là “phép màu thất nghiệp thấp” ở châu Aâu; các nhà kinh tế vĩ mô sang châu Aâu với hy vọng khám phá ra các bí mật của phép màu đó Thế nhưng vào cuối những năm 70, phép màu đã biến mất Và từ đầu những năm 80, tỉ lệ thất nghiệp ở châu Aâu đã cao hơn nhiều so với Mỹ

Có nhiều cách nhìn nhận tại sao thất nghiệp ở châu Âu lại cao và cần làm gì để giảm tỉ lệ này xuống

Ở một thái cực là những người viện dẫn đến cái mà họ gọi là “sự cứng nhắc của thị trường lao động” Họ lý luận rằng Châu Âu đang gánh chịu một mức trợ cấp thất nghiệp quá cao, một mức lương tối thiểu quá cao, một chế độ an sinh công nhân quá cao Họ kết luận rằng giải pháp là phải bỏ đi những “sự cứng nhắc” này, để làm cho các thị trường lao động châu Âu giống với thị trường lao động Mỹ hơn

Ở thái cực kia là những người nói rằng cái gọi là sự cứng nhắc này,

đa phần, là không quá mức, và rằng thất nghiệp cao chủ yếu phát sinh từ các chính sách kinh tế vĩ mô lạc hướng Họ lý luận rằng một sự thay đổi những chính sách này – ví dụ như một chính sách tiền tệ mở rộng hơn dẫn đến lãi suất thấp – có thể dẫn đến tăng cầu, và giảm tỉ lệ thất nghiệp đến mức tương đương với ở Mỹ

Trang 9

Vấn đề tên gọi của

nhóm 11 quốc gia áp

dụng đồng Euro vẫn

chưa được giải quyết

xong “Euro-zone”

nghe có vẻ kỹ thuật

quá “Euroland” làm

người ta nhớ đến

Tỉ lệ tăng trưởng: tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tỉ lệ thất nghiệp: tỉ lệ bình quân trong năm Tỉ lệ lạm phát: tỉ lệ thay đổi hàng năm của chỉ số khử lạm phát GDP

Nguồn: OECD Economic Outlook, tháng 6-1999

Hầu hết các nhà kinh tế vĩ mô đứng giữa hai thái cực này Họ tin rằng cả những thay đổi trên thị trường lao động lẫn tăng cầu đều cần thiết Cuộc tranh cãi còn lâu mới được dàn xếp, tuy nhiên kết quả của nó cực

Trang 10

kỳ quan trọng đối với tương lai của châu Âu

Đồng Euro sẽ có tác dụng như thế nào đối với châu Âu?

Vào năm 1999, Liên minh châu Âu bắt đầu quá trình thay thế các đồng nội tệ bằng một đồng tiền chung, gọi là Euro Chỉ 11 trong số 15 nước

EU đang tham gia vào quá trình này Hy Lạp không thỏa mãn các tiêu chuẩn kinh tế để được tham gia Đan Mạch, Thụy Điển và Liên hiệp Anh quyết định chờ và có lẽ sẽ tham gia trong tương lai Kế hoạch như sau: vào 01/01/1999, mỗi quốc gia trong 11 quốc gia trên cố định mệnh giá của đồng nội tệ với đồng Euro Ví dụ, một Euro hiện nay trị giá 6,56 franc Pháp, 166 peseta Tây Ban Nha, v.v… Vào 01/01/2002, tiền giấy và tiền xu sẽ bắt đầu lưu hành cùng với các đồng tiền quốc gia Và từ 01/7/2002, đồng Euro sẽ là đồng tiền duy nhất được lưu hành Cho đến lúc ấy, 11 quốc gia trên sẽ trở thành khu vực tiền tệ chung, giống như 50 bang của Mỹ ngày nay

Hình 1-4 Tỷ lệ thất nghiệp: châu Âu so với Hoa Kỳ, 1960-1998

Những người ủng hộ đồng Euro nêu ra sự quan trọng to lớn mang tính biểu tượng của đồng Euro Với một quá khứ gồm nhiều cuộc chiến tranh giữa các nước châu Âu, còn gì đảm bảo tốt hơn cho trang mới của lịch sử bằng việc áp dụng một đồng tiền chung? Họ cũng nói đến sự thuận lợi về mặt kinh tế của một đồng tiền chung: các xí nghiệp không phải lo lắng về sự thay đổi tỉ giá hối đoái, không cần đổi tiền khi đi du lịch trong các nước sử dụng đồng Euro Họ lý luận là cùng với việc dỡ bỏ các trở ngại mậu dịch khác giữa các nước châu Âu có từ 1957, đồng

Trang 11

Những người khác lo ngại rằng tính biểu tượng của đồng Euro có thể gây ra những chi phí kinh tế lớn Họ chỉ ra rằng một đồng tiền chung có nghĩa là một chính sách tiền tệ chung, và do đó lãi suất giống nhau ở khắp các nước sử dụng đồng Euro Họ lý giải rằng chuyện gì sẽ xảy ra nếu một nước rơi vào suy thoái, trong khi một nước khác lại bị nóng lên quá nhanh? Nước thứ nhất có lẽ cần lãi suất tiền gửi thấp để tăng cầu và sản lượng; nước thứ hai có lẽ cần lãi suất cao để giảm bớt sự bùng nổ Nếu lãi suất tiền gửi bị buộc phải giống nhau ở cả hai nước này, điều gì sẽ xảy ra? Liệu sẽ xảy ra nguy cơ nước thứ nhất vẫn tiếp tục bị suy thoái lâu dài, và nước thứ hai không thể làm chậm lại sự bùng nổ quá mạnh?

Vấn đề này đã được tranh cãi suốt thập niên 90 ở châu Âu Vấn đề vẫn là: liệu châu Âu có nên đưa ra đồng Euro hay không? Giờ thì đồng Euro đã được sử dụng Sự lưu hành hoàn toàn của đồng Euro vào 2002 sẽ là một trong những sự kiện kinh tế chính của đầu thế kỷ 21

1-3/ Nhật Bản và Đông Á Bốn mươi năm trước, Nhật Bản có lẽ đã không nằm trong chuyến tham quan kinh tế của chúng ta Sản lượng tính trên đầu người của Nhật rất thấp nếu so sánh với Mỹ và châu Âu Thế nhưng ngày nay mọi việc hoàn toàn khác Như Bảng 1-3 biểu diễn, tỉ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm của Nhật kể từ 1960 xấp xỉ 6%, cao hơn tỉ lệ tăng trưởng bình quân của Mỹ gần 3% Và, như bạn có thể thấy ở Biểu đồ 1-5, ngày nay sản lượng của Nhật bằng hơn một nửa của Mỹ; sản lượng tính trên đầu người cao hơn sản lượng tính trên đầu người của Mỹ

Mặc dù thành quả của kinh tế Nhật kể từ 1960 gây ấn tượng, thế nhưng thành quả kinh tế trong những năm 90 lại ảm đạm Tỉ lệ tăng trưởng bình quân kể từ 1992 đạt dưới 1,0% Tăng trưởng năm 1998 thực chất có giá trị âm, và dự báo năm 1999 hầu như không có tăng trưởng Tỉ lệ thất nghiệp, vốn có truyền thống rất thấp ở Nhật Bản, nay đã cao đến mức kỷ lục Tỉ lệ thất nghiệp năm 1998 là 4,1%, một con số mà tuy châu Âu chỉ có thể mơ mới thấy nổi, nhưng lại là mức cao đối với kinh tế Nhật kể từ sau Thế chiến thứ 2

Tại sao Nhật Bản lại phát triển kém trong những năm 90?

Tại sao tăng trưởng ở Nhật quá thấp trong những năm 90? Hầu hết các nhà phân tích đề cập đến biến động giá cổ phiếu từ giữa những năm 80 đến đầu 90 như thủ phạm chính Đồ thị 1-6 cho thấy sự thay đổi của chỉ số Nikkei, chỉ số giá cổ phiếu ở thị trường cổ phiếu Nhật Bản kể từ năm Từ 1985 đến 1989, chỉ số Nikkei đã tăng từ khoảng 13.000 lên 35.000; nói cách khác, giá cổ phần bình quân tại thị trường chứng khoán đã

Trang 12

Chính xác là chuỗi

sự kiện này đã

làm nhiều nhà

kinh tế lo ngại về

Bảng 1-3: Tăng trưởng, Thất nghiệp, và Lạm phát ở Nhật, 1960-1999

Tỉ lệ tăng trưởng: tỉ lệ tăng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tỉ lệ thất nghiệp: tỉ lệ bình quân trong năm Tỉ lệ lạm phát: tỉ lệ thay đổi hàng năm của GDP

Nguồn: OECD Economic Outlook, tháng 6-1999

Nhiều nhà kinh tế giải thích sự trồi sụt của chỉ số Nikkei là bong bóng do đầu cơ, một sự gia tăng quá mức giá cổ phiếu vào những năm

80, tiếp theo là giảm mạnh và trở về hiện thực vào đầu thập kỷ 90 Họ đề cập đến sự biến động tương tự giá các tài sản khác, ví dụ như đất và nhà; giá bất động sản tăng theo chỉ số Nikkei, và kể từ 1990 đã giảm thậm chí mạnh hơn giá cổ phiếu Họ lý luận rằng kết quả của bùng nổ thị trường chứng khoán là bùng nổ cầu và sản lượng vào cuối những năm 80, và hậu quả của việc thị trường chứng khoán rớt giá là giảm mạnh cầu và sản lượng đầu những năm 90

Câu hỏi hiện nay là làm sao để Nhật Bản trở lại với mức tăng trưởng cao Trong một nỗ lực tăng cầu, ngân hàng trung ương Nhật đã giảm lãi suất xuống một mức rất thấp; lãi suất ở Nhật giữ mức dưới 1% kể từ

1996 Chính quyền cũng sử dụng chính sách thu chi ngân sách để tăng cầu Chính quyền đã cắt giảm thuế để kích cầu của người tiêu dùng và các doanh nghiệp, và dự tính cắt giảm thuế thêm nữa vào 1999 Tuy nhiên, cho đến nay, những biện pháp này chưa tác động nhiều đến sản lượng

Điều này làm một số người kết luận rằng vấn đề đang trở nên nghiêm trọng hơn, rằng nền kinh tế sẽ không phát triển nhanh trở lại chừng nào một loạt vấn đề về cơ cấu chưa được nhận ra và giải quyết Suốt thời kỳ bùng nổ cổ phiếu và bất động sản trong những năm 80, nhiều ngân hàng đã cho các nhà đầu tư thị trường chứng khoán và các nhà phát triển địa ốc vay Cùng với sự giảm sút giá cổ phiếu và bất động sản trong những năm 90, những ngân hàng này thấy mình đang bị đè nặng bởi những khoản nợ khó đòi, những khoản nợ không có khả năng chi trả Một số ngân hàng đã phải đóng cửa; một số khác có khả năng theo bước Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng nếu không có một hệ thống ngân hàng vững

Trang 13

Hình 1-6 Chỉ số thị trường chứng khoán Nhật, 1980-1998

Chỉ số tăng mạnh vào hậu bán thập niên 80, tiếp theo là giảm mạnh vào đầu thập niên 90

Trang 14

Thật ra Hong

Kong không phải

là một quốc gia

Cho đến 1997, đây

là thuộc địa của

Anh; vào năm

1997, Hong Kong

trở thành một bộ

phận của Trung

Quốc

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997 là gì?

Mặc dù là quốc gia châu Á giàu nhất, Nhật Bản không phải là nước châu Á duy nhất tăng trưởng rất nhanh trong 30 năm qua

Bốn nước, thường được gọi là bốn con hổ châu Á – Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc, và Đài Loan – đã theo sát đằng sau Như bạn thấy ở Bảng 1-4, kể từ 1970 cả bốn nước đều có tỉ lệ tăng trưởng khoảng 8% Hiện nay Hong Kong và Singapore có mức sản lượng tính trên đầu người gần bằng Mỹ (Đồ thị 1-4)

Đứng sau bốn con hổ là nhiều nước châu Á khác hiện vẫn còn nghèo – sản lượng tính trên đầu người thường ít hơn một phần mười Mỹ – nhưng tăng trưởng nhanh Như Bảng 1-4 cho thấy, Indonesia, Malaysia, Philippines, và Thái Lan đều đã đạt mức tăng trưởng cao từ 1970 Do kích thước lớn, một mình Trung Quốc cũng đáng kể Trung Quốc vẫn còn nghèo, sản lượng tính trên đầu người khoảng 700 dollar Nhưng với dân số 1,2 tỉ người và tỉ lệ tăng trưởng sản lượng 9% năm từ năm 1970, Trung Quốc đang nhanh chóng trở thành một trong những cường quốc kinh tế của thế giới

Thành quả hoạt động kinh tế đầy ấn tượng này đã được đặt tên là phép màu châu Á Các nhà kinh tế đã nghiên cứu phép màu này, cố gắng nhận diện những yếu tố đằng sau tỉ lệ tăng trưởng cao đó với hy vọng có thể áp dụng bài học này ở nơi khác Tuy nhiên, từ 1997, nhiều nước trong số các nước này đã gặp khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, được biết dưới tên – bạn có thể đoán được là gì không? – khủng hoảng châu Á

Bảng 1-4: Tăng trưởng Sản lượng ở các nước Đông Nam Á, 1970-1999

Tỉ lệ tăng trưởng: tỉ lệ tăng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Nguồn: OECD Economic Outlook, tháng 6-1999

Trang 15

Hình 1-7 Sụt

giảm giá cổ phiếu

và đồng tiền

Đông Á, tháng

1-1997 đến tháng

12-1998

Năm 1997 và đầu

năm 1998, nhiều

nền kinh tế Đông

Á trải qua tình

trạng giảm sút

mạnh giá trị cổ

phiếu và giá trị

đồng tiền của họ

so với đô-la

Khủng hoảng bắt đầu ở Thái Lan, khi một số nhà đầu tư nước ngoài quyết định rút tiền ra khỏi Thái Lan Trong quá trình bán tài sản, và sau đó bán đồng baht (đồng tiền Thái) để mua dollar, họ đã châm ngòi cho sự rớt giá mạnh của cả thị trường chứng khoán lẫn trị giá đồng baht

so với dollar Vào đầu năm 1998, một vài nước châu Á khác mắc phải cùng một căn bệnh Đồ thị 1-7 biểu diễn sự tiến triển của chỉ số thị trường chứng khoán và của trị giá đồng nội tệ tính bằng dollar tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và Hàn Quốc từ tháng 01/1997 đến tháng 12/1998 Trong mỗi trường hợp, giá trị của chỉ số được chọn là 1 cho tháng 01/1997 Tất cả bốn nước đều đã trải qua suy thoái trầm trọng – giảm mạnh sản lượng – vào năm 1998, và dự báo tăng trưởng chậm hoặc có giá trị âm trong năm 1999, (Bảng 1-4)

Các nhà kinh tế vẫn đang cố gắng đánh giá chính xác điều gì đã xảy

ra Phải chăng các nhà đầu tư nước ngoài đã thấy một vài vấn đề kinh tế nghiêm trọng trong tương lai, và kết quả là đã quyết định rút vốn ra? Hay là như Thủ tướng Malaysia lập luận, đã có một loạt những cuộc đầu cơ bất chính chống lại các đồng tiền của các nước này, cho nên cuộc khủng hoảng kinh tế chẳng qua chỉ là kết quả của riêng những cuộc đầu cơ ấy thôi?

Câu trả lời có lẽ là “phải” đối với cả hai câu hỏi Mặc dù tăng trưởng nhanh, những nền kinh tế này đang mắc phải nhiều vấn đề về cơ cấu, từ tham nhũng cho đến những qui định yếu kém về định chế tài chính Cũng như Nhật Bản vào cuối thập niên 80, giá cổ phiếu và

Trang 16

địa ốc rất cao vào năm 1997 Các nhà đầu tư nước ngoài có lý do để lo ngại rằng trong tương lai mọi việc có lẽ cũng sẽ không khá hơn Tuy nhiên cũng không ai nghi ngờ rằng giá cổ phiếu và giá trị đồng tiền giảm sút mạnh làm cho tình hình kinh tế tồi tệ hơn nhiều Ví dụ, nhiều doanh nghiệp và ngân hàng đã vay nợ nước ngoài bằng dollar Khi đồng dollar tăng giá mạnh so với đồng nội tệ, các doanh nghiệp và ngân hàng này nhận ra rằng những khoản nợ của mình rất lớn nếu qui đổi ra đồng nội tệ Một số trong số này đã phá sản; số khác sẽ phá sản trong nay mai

Hình 1-7 (tiếp theo)

Cuộc khủng hoảng châu Á vẫn chưa khép lại Thế nhưng, vấn đề những gì xảy ra vào cuối thập kỷ 90, làm sao để tránh lập lại một cuộc khủng hoảng tương tự ở nơi khác, và làm sao để đưa các nước châu Á trở lại đúng đường vẫn nằm trong số những câu hỏi chính mà các nhà kinh tế vĩ mô đang phải đối phó hiện nay

1-4/ Nhìn về phía trước

Phần này kết thúc chuyến tham quan thế giới của chúng ta Có quá nhiều nước chúng ta lẽ ra phải tham quan, từ những nước Đông Âu (đầu thập kỷ 90 đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang hệ thống thị trường) đến Mỹ Latin (giảm lạm phát từ rất cao xuống thấp trong thập kỷ 90) đến châu Phi (có lẽ đang bắt đầu phát triển sau nhiều thập kỷ trì trệ kinh tế) Tuy nhiên cần có một giới hạn ở mức bạn có

Trang 17

mà bạn đã gặp phải trước đây:

bùng nổ lâu dài như vậy trong những năm 90? Vai trò của chính sách tiền tệ và thu chi ngân sách là gì? Đồng Euro sẽ tác động đến chính sách tiền tệ ở châu Âu như thế nào?

hối, và hoạt động kinh tế là gì? Giá cổ phiếu ở thị trường chứng khoán Mỹ có quá cao chăng? Có thể nói nguyên nhân thành quả hoạt động yếu kém của Nhật Bản vào những năm 90 là do sự suy giảm mạnh thị trường chứng khoán đầu thập kỷ 90 hay không?

kỷ trước? Lạm phát có gì tệ hại? Các nước có nên nhắm đến tỉ lệ lạm phát bằng không như trường hợp Nhật Bản hiện nay hay không?

nghiệp ở châu Aâu cao đến thế? Tại sao tỉ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản lại rất thấp trong nhiều năm như vậy?

những khoảng thời gian dài? Tại sao Nhật Bản phát triển nhanh hơn nhiều so với Mỹ và châu Âu trong 40 năm qua? Các yếu tố đứng sau phép màu châu Á là gì? Tại sao tăng trưởng chựng lại ở hầu hết các nước giàu kể từ giữa những năm 70?

Mục đích của quyển sách này là cung cấp cho bạn một cách suy nghĩ về những vấn đề này Khi tôi triển khai các công cụ phân tích mà bạn cần, tôi sẽ chỉ cho bạn cách dùng chúng, bằng cách trở lại tất cả những vấn đề được hỏi và chỉ ra câu trả lời cho các câu hỏi đó

Thu thập Dữ liệu vĩ mô

Những dữ liệu mà chúng ta khảo sát

trong chương này ở đâu ra? Ví dụ, có thể

tìm số liệu về lạm phát ở Đức trong hai

thập kỷ qua ở đâu? Bốn mươi năm trước,

câu trả lời có thể là học tiếng Đức, tìm

một thư viện có các ấn phẩm tiếng Đức,

tìm trang có các số liệu về lạm phát,

chép ra, ghi lại bằng tay vào một tờ giấy

sạch đẹp Ngày nay, tiến bộ trong việc

thu thập dữ liệu và sự phát triển máy tính

và kho dữ liệu điện tử đã làm cho công việc dễ dàng hơn nhiều

Ngày nay, các tổ chức quốc tế thu thập dữ liệu cho nhiều quốc gia Đối với các nước giàu nhất, nguồn hữu dụng nhất là Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đóng trụ sở ở Paris Hầu hết các nền kinh tế giàu có của thế giới là thành viên OECD Một danh sách hoàn chỉnh bao gồm Aùo, Úc, Bỉ, Canada, Cộng hòa Czech, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp,

Trang 18

Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ý, Nhật,

Luxembourg, Mexico, Hà Lan, New

Zealand, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha,

Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Điển,

Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên hiệp Anh, và

Mỹ Các nước này cộng lại chiếm 70%

sản lượng thế giới Báo cáo Economic

Outlook của OECD phát hành hai kỳ một

năm, cung cấp các dữ liệu cơ bản về lạm

phát, thất nghiệp và các biến số chính

khác cho các nước thành viên, cũng như

đánh giá thành quả kinh tế vĩ mô gần

đây của chúng Dữ liệu, kể từ 1960,

được lưu trong đĩa; các dữ liệu này nằøm

trong ổ cứng của đa số các nhà kinh tế vĩ

Đối với các nước không phải là thành

viên OECD, thông tin có sẵn ở các tổ

chức quốc tế khác Tổ chức kinh tế thế

giới chính, một loại câu lạc bộ kinh tế

thế giới, là Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

IMF xuất bản báo cáo International

Financial Statistics (IFS) hàng tháng, báo

cáo đó chứa các thông tin kinh tế vĩ mô

cơ bản cho tất cả các nước thành viên

IMF IMF cũng phát hành hàng năm báo

cáo World Economic Outlook, đánh giá

sự phát triển kinh tế vĩ mô ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới Mặc dù ngôn ngữ của các ấn bản này đôi khi gò bó nhưng cả World Economic Report và OECD Economic Outlook đều là những nguồn thông tin quí giá

Bởi vì những ấn bản này đôi khi không có đầy đủ chi tiết, bạn có thể cần phảii chuyển sang các ấn bản của các nước cụ thể Hiện nay các nước lớn phát hành các ấn bản thống kê đặc biệt rõ ràng, thường là có sẵn bản tiếng Anh Ở Mỹ, một ấn bản cực kỳ hay đáng để mua là Báo cáo kinh tế của Tổng thống, được Hội đồng các Chuyên gia kinh tế soạn ra và xuất bản hàng năm Báo cáo này gồm hai phần Phần đầu là đánh giá các sự kiện và chính sách hiện tại của Mỹ Phần hai là một hệ thống các dữ liệu gồm gần như toàn bộ các biến số kinh tế

vĩ mô có liên quan, thường là toàn bộ thời kỳ sau Thế chiến thứ 2

Phần Phụ lục của chương này trình bày một danh sách nguồn dữ liệu dài hơn, cả cho nước Mỹ và phần còn lại của thế giới, cũng như làm cách nào để truy cập qua Internet

Những thuật ngữ chính:

• Liên minh châu Âu (EU)

• Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)

• Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

Trang 19

CÂU HỎI & BÀI TẬP

Dấu sao (*): câu hỏi khó [Mạng]: câu hỏi cần truy cập Internet

1 ĐÚNG/SAI/KHÔNG CHẮC CHẮN

Sử dụng các bảng và đồ thị trong chương

này, xác định mỗi lời phát biểu sau đây

là đúng, sai, không chắc chắn Giải thích

ngắn gọn

a Gần đây, lạm phát ở dưới mức bình

quân trong lịch sử của Mỹ, châu Âu,

và Nhật Bản

b Trong thập niên 60 và đầu 70, Mỹ đã

có tỉ lệ thất nghiệp cao hơn châu Âu,

nhưng ngày nay Mỹ có tỉ lệ thất

nghiệp thấp hơn nhiều

c Do tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ rất thấp kể

từ đầu thập kỷ 80, tình trạng bất bình

đẳng về tiền lương ở Mỹ đã giảm

xuống

d Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán

Nhật Bản đầu thập kỷ 90 đã dẫn đến

sự sụt giảm mạnh sản lượng của Nhật

e “Phép màu thất nghiệp thấp” ở châu

Âu nói đến tỉ lệ thất nghiệp cực thấp

mà châu Âu đã đạt được kể từ thập

niên 80

f Sự sụp đổ của các thị trường chứng

khoán và nhiều đồng nội tệ ở các nước

Đông Á sẽ không tác động đến tỉ lệ

tăng trưởng sản lượng ở các nước đó

2 SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC

NƯỚC GIÀU NHẤT

Sử dụng tỉ lệ tăng trưởng thực và các dự

báo ở Bảng 1-1, 1-2, và 1-3, tính toán dự

báo tỉ lệ tăng trưởng sản lượng bình quân

cho giai đoạn 1997-1999 cho mỗi khu vực

sau: Mỹ, Liên minh châu Âu, và Nhật

a Đối với mỗi khu vực trong ba khu –

vực, so sánh tỉ lệ tăng trưởng sản

lượng bình quân 1997-1999 đã nhập

vào trước đây với tỉ lệ bình quân từ 1960-1998 Cụ thể, các kinh nghiệm gần đây của những khu vực này so sánh với giá trị bình quân dài hạn của mỗi khu vực cho kết quả ra sao?

b Các dữ liệu trước đây có nhất quán với lời tuyên bố rằng kinh tế không chựng lại ở các nước giàu kể từ giữa thập niên 70? Cụ thể, những gì Mỹ đã trải qua gần đây có chỉ ra rằng tình trạng sụt giảm tỉ lệ tăng trưởng bình quân kể từ 1974 đã được đảo ngược?

3 [MẠNG] TRỒI SỤT CỦA TĂNG TRƯỞNG SẢN LƯỢNG

Mặc dù tỉ lệ tăng trưởng sản lượng bình quân có giá trị dương, nhưng cũng có những giai đoạn tỉ lệ tăng trưởng sản lượng có giá trị âm Các giai đoạn giảm sản lượng kéo dài ít nhất hai quí được gọi là suy thoái

a Để quan sát suy thoái gần hơn một chút, ta hãy lấy dữ liệu quí về tăng trưởng sản lượng ở Mỹ trong giai đoạn 1959-1996 từ web site

nip-d.html> Từ chuỗi dữ liệu này, hãy tìm phần trăm thay đổi GDP thực trong một quí Đa số những cuộc suy thoái kéo dài bao nhiêu quí? Xét về độ dài và độ lớn, cuộc suy thoái nào trong hai cuộc suy thoái là nghiêm trọng nhất trong giai đoạn này?

<http:/www.bea.doc.gov/bea/sum-b Bài học có nêu rằng lần cuối cùng tỉ lệ thất nghiệp thấp như năm 1999 là vào năm 1969, vào giai đoạn cuối của sự tăng trưởng kéo dài một thập kỷ Bằng cách xem xét các dữ liệu từ

Trang 20

1968 đến 1971, hãy kiểm tra lại xem

có phải là ngay sau đó, lạm phát tăng

và một cuộc suy thoái bắt đầu Sử

dụng các chuỗi dữ liệu, hãy tìm phần

trăm thay đổi hàng quí của “chỉ số khử

lạm phát ẩn của GDP” từ cùng một

trang web như trong câu (a) để làm

một số đo lạm phát Nếu lịch sử lập

lại, các triển vọng của nền kinh tế Mỹ

khi bắt đầu thiên niên kỷ mới là gì?

4 BẤT BÌNH ĐẲNG VỀ TIỀN LƯƠNG

VÀ SỰ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ

Hãy xem tỷ trọng sản lượng của mỗi

ngành sau đây trong tổng sản lượng của

Mỹ năm 1987 và 1996:

Nguồn: Cục Thương mại, Cục Phân tích Kinh tế Mỹ,

<http://www.bea.doc.gov/>

a Theo bạn trong ngành nào công nghệ

mới đã làm tăng cầu tương đối đối

với công nhân lành nghề

b Với câu trả lời cho câu (a) và sự thay

đổi trong cấu trúc sản lượng của Mỹ

cho trong bảng, theo bạn tại sao hố

cách giữa công nhân lành nghề và

không lành nghề lại tăng lên

5 SỬA SAI CHO CÁC NHÀ CHÍNH

TRỊ

Các nhà chính trị thường chỉ đề cập 1

mặt của vấn đề Xem xét mỗi phát biểu

và cho biết phần còn lại của vấn đề

a Không có vấn đề tỉ lệ thất nghiệp quá thấp Thất nghiệp là xấu Thất nghiệp càng thấp càng tốt

b Chẳng phải tăng trưởng chậm dần, mà chỉ có năng lực của các nhà kinh tế để đo lường sản lượng một cách đúng đắn là giảm sút

c Có một giải pháp đơn giản cho vấn đề thất nghiệp cao ở châu Âu Hãy giảm tính cứng nhắc của thị trường lao động

d Khủng hoảng ở châu Á xảy ra là đích đáng bởi vì nguyên nhân gây ra là tham nhũng và yếu kém trong qui định về hệ thống tài chính

e Việc hợp lực và sử dụng một đồng tiền chung có gì là sai nào? Đồng Euro tất nhiên là tốt cho châu Âu

6 KHI NÀO TRUNG QUỐC BẮT KỊP?

Giả sử bắt đầu từ nay, sản lượng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ tăng với tốc độ 9% một năm, trong khi sản lượng của Mỹ sẽ tăng với tốc độ 3% một năm

a Sử dụng các dữ liệu mới nhất cho sẵn trong chương này về mức sản lượng ở mỗi nước, mất bao lâu để sản lượng của Trung Quốc lớn hơn của Mỹ?

b Cũng giả sử rằng dân số của cả Trung Quốc và Mỹ đều không đổi kể từ nay Mất bao lâu để sản lượng tính trên mỗi công nhân của Trung Quốc lớn hơn của Mỹ?

Khai khoáng, nông nghiệp

Thương mại tiểu ngạch 9,3 8,7

Trang 21

ĐỌC THÊM

Quyển sách này có một trang web

(http://www.prenhall.com/bookbind/pubb

oks/blanchard/) được cập nhật đều đặn

Đối với mỗi chương, trang web cung cấp

các đề tài tranh luận về các sự kiện

mang tính thời sự, và bao gồm các bài

báo có liên quan và các kết nối mạng

internet Bạn cũng có thể dùng trang

web này để đóng góp ý kiến về quyển

sách, và bắt đầu thảo luận với các độc giả khác

Cách tốt nhất để theo dõi các sự kiện và vấn đề kinh tế hiện nay là đọc tạp chí The Economist, một tạp chí hàng tuần phát hành bằng tiếng Anh Các bài trên The Economist có giàu thông tin, viết hay, dí dỏm, và lập luận vững chắc

PHỤ LỤC

TÌM SỐ LIỆU Ở ĐÂU

Mục đích của phần Phụ lục này là giúp

bạn tìm ra các số liệu mà bạn muốn, ví

dụ lạm phát ở Malaysia quí rồi, hay tiêu

dùng ở Mỹ vào năm 1959, hay thất

nghiệp trong giới trẻ ở Ireland trong thập

kỷ 80

Để tìm nhanh các số liệu mới

 Nguồn tốt nhất cho hầu hết các số liệu

mới về sản xuất, thất nghiệp, lạm phát, tỉ

giá hối đoái, lãi suất, giá cổ phiếu ở

nhiều quốc gia nằm ở bốn trang cuối của

The Economist, phát hành hàng tuần (địa

chỉ internet: http://www.economist.com)

Trang web này, cũng như đa số trang

web ghi dưới đây, chứa cả thông tin miễn

phí và thông tin chỉ dành cho những

người đặt mua báo

 Có một số trang web thu thập và phân

tích các dữ liệu mới Một trong những

http://www.yardeni.com trang chủ của

Tiến sĩ Edward Yardeni, Kinh tế gia

trưởng của một ngân hàng lớn, Deutsche Morgan Grenfell

Để có thêm chi tiết về nền kinh tế Mỹ

 Để được trình bày chi tiết những số liệu mới nhất, xem Survey of Current Business, do Bộ Thương mại, Cục

hành hàng tháng (địa chỉ internet: http://www.bea.doc.gov) Một hướng dẫn sử dụng số liệu thống kê do Cục Phân tích Kinh tế phát hành kèm theo Survey of Current Business, tháng 01-

1995, 36-52 Ấn phẩm này cho bạn biết dữ liệu nào có sẵn, dưới dạng nào, với giá bao nhiêu

 Mỗi năm một lần, báo cáo Economic Report of the President, do Hội đồng các Cố vấn Kinh tế viết và do Phòng In ấn Chính phủ Mỹ ở Washington phát hành, cung cấp mô tả những sự phát triển vừa xảy ra, cũng như nhiều số liệu về hầu hết các biến đổi kinh tế vĩ mô chính, thường

Trang 22

có số liệu từ thập niên 50 (Có thể tìm

thấy các bảng thống kê trong

htttp://www.access.gpo.gov/eop/)

Nguồn đáng tin cậy để tìm các giá trị

thống kê cũ xưa là các dữ liệu được tập

hợp trong Historical Statistics of the

Phần 1 và 2 quyền, do Bộ Thương mại

Mỹ, Cục Điều tra Dân số (địa chỉ

internet:

http://www.census.gov/stat_abstract/)

 Tài liệu tham khảo tiêu chuẩn cho các

tài khoản thu nhập quốc gia là National

Income and Product Accounts of the

United States Tập 1, 1929-1958, và Tập

2, 1959-1988, do Bộ Thương mại Mỹ,

Cục Phân tích Kinh tế phát hành (địa chỉ

internet:http://www.bea.doc.gov)

 Để có dữ liệu tổng hợp, bao gồm dữ

liệu kinh tế, một nguồn quí giá là

Statistical Abstract of the United States,

do Bộ Thương mại Mỹ, Cục Điều tra Dân

số phát hành hàng năm (địa chỉ internet:

http://www.census.gov/statab/www/)

Số liệu của các quốc gia khác

Tổ chức OECD, đặt trụ sở tại Paris, phát

hành ba ấn phẩm đặc biệt hữu dụng

OECD bao gồm hầu hết các nước giàu

nhất thế giới (Danh sách đã được nêu

trước đây trong chương này) (địa chỉ

internet:http://www.oecd.org)

 Ấn phẩm thứ nhất là OECD Economic

Outlook, phát hành hai số một năm

Ngoài việc mô tả các vấn đề kinh tế vĩ

mô thời sự, ấn phẩm này còn bao gồm

các dữ liệu về các biến số kinh tế vĩ mô

Các dữ liệu thường từ thập niên 70, và

được báo cáo một cách nhất quán, cả

theo thời gian và theo quốc gia

 Ấn phẩm thứ hai là OECD Employment Outlook, được xuất bản hàng năm Ấn bản này tập trung đặc biệt hơn vào các vấn đề và số liệu về thị trường lao động

 Thỉnh thoảng, OECD tập hợp các dữ liệu hiện tại và quá khứ, và xuất bản OECD Historical Statistics Vào thời điểm này trong năm thì số mới nhất là Historical Statistics, 1960-1993, xuất bản vào năm 1995

Thế mạnh chính của những ấn bản của Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF, đặt trụ sở tại Washington D.C.) là các ấn bản này bao quát hầu hết các quốc gia trên thế giới (địa chỉ internet:http://www.imf.org) IMF phát hành bốn ấn phẩm đặc biệt hữu dụng:

 Ấn phẩm thứ nhất là International Financial Statistics (IFS), phát hành hàng tháng Ấn phẩm này có dữ liệu cho các nước thành viên, số liệu thường từ vài năm trước, chủ yếu là về các biến số tài chính, nhưng cũng còn về các biến số quốc gia (như GDP, công việc làm và lạm phát)

 Ấn phẩm thứ hai là International Financial Statistics Yearbook, phát hành hàng năm Tạp chí này có cùng tầm bao quát các quốc gia và biến số như IFS, nhưng cung cấp các dữ liệu hàng năm trong vòng 30 năm

 Ấn phẩm thứ ba là Government Finance Statistics Yearbook, phát hành hàng năm, cung cấp dữ liệu về ngân sách của mỗi nước, số liệu thường từ 10 năm trước (do các chậm trễ trong xây dựng số liệu, vì dữ liệu của hầu hết các năm gần đây nhất thường không có sẵn)

 Ấn phẩm thứ tư, World Economic Outlook, xuất bản hai kỳ trong năm, mô tả những tiến triển chính trên thế giới và

Trang 23

số nước, có một nguồn số liệu mới quí

giá là Monitoring the World Economy,

1820-1992, Trung tậm Nghiên cứu Phát

triển, OECD, Paris, 1995 Nghiên cứu

này cho ta số liệu từ năm 1980 cho 56

nước

Cuối cùng, nếu bạn vẫn chưa tìm được

điều bạn cần tìm, thì đây là hai trang web

hữu ích cho bạn: trang chủ về nguồn kinh

tế vĩ mô của Trường Kinh doanh Harvard

trang này đánh giá chất lượng của một số lớn các trang web khác và giúp kết nối với chúng

Trang web của Bill Goffe ở trường Đại

kê không những dữ liệu mà cả những nguồn thông tin tổng quát, từ tài liệu hoạt động cho đến những mẩu chuyện vui, những công việc làm trong lĩnh vực kinh tế học v.v…

Trang 24

CHƯƠNG 2

Một chuyến tham quan Quyển sách Này

Phần mở đầu

Các từ sản lượng, thất nghiệp, và lạm phát xuất hiện hàng ngày trên báo chí và chương trình thời sự buổi tối Do đó khi tôi dùng những từ này trong Chương 1, bạn đã quen với chúng, ít nhất là ở mức bạn biết đại khái chúng có nghĩa gì Bây giờ tôi cần phải định nghĩa chúng một cách chính xác và đây là điều tôi làm trong hai phần đầu của chương này Trong phần 2-1, tôi tập trung vào tổng sản lượng và chỉ ra làm sao chúng ta có thể nhìn tổng sản lượng từ cả hai phía: sản xuất và thu nhập Trong phần 2-2, tôi trình bày về tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ lạm phát Sau khi đã định nghĩa các biến số kinh tế vĩ mô chính này, tôi sẽ đưa bạn sang phần 2-3 trong chuyến tham quan quyển sách này Trong chuyến tham quan đó, tôi sẽ giới thiệu ba ý tưởng trung tâm mà quyển sách này được cơ cấu xung quanh đó

• Ngắn hạn - những gì xảy ra trong nền kinh tế trong một năm

• Trung hạn - những gì xảy ra trong nền kinh tế trong một thập kỷ hay hơn

• Dài hạn - những gì xảy ra trong nền kinh tế trong nửa thế kỷû hay hơn Dựa vào ba ý tưởng này, tôi sẽ cung cấp cho bạn một lộ trình đi đến phần còn lại của quyển sách

Trang 25

Xây dựng bảng các

hạng mục thu nhập

quốc dân lại với

nhau là một thành

tựu trí tuệ vĩ đại

Giải Nobel đã được

trao cho Simon

Kuznets, Đại học

Harvard vào năm

1971, và cho Richard

Stone, Đại học

Oxford, vào năm

1984, vì những đóng

góp vào việc pháp

triển bảng hạch toán

thu nhập và sản xuất

quốc dân

2-1/ Tổng Sản lượng (Aggregate Output)

Các nhà kinh tế nghiên cứu hoạt động kinh tế trong thế kỷ 19 hoặc cuộc Tổng Khủng hoảng không có thước đo nào về tổng hoạt động (aggregate là chữ các nhà kinh tế sử dụng để chỉ tổng) để làm căn cứ Họ phải chắp nối các mẩu và mảnh thông tin như sản xuất gang hoặc doanh số của các cửa hàng tạp hóa để suy ra điều gì đang diễn ra cho toàn bộ nền kinh tế

Mãi đến cuối Thế chiến thứ II thì ở các nước lớn hạch toán thu nhập và sản xuất quốc dân (hay nói ngắn gọn là hạch toán thu nhập quốc dân) mới được hoàn thành Con số về mức tổng sản lượng đã được xuất bản đều đặn ở Mỹ từ tháng 10-1947 (Bạn sẽ tìm thấy các số liệu về tổng sản lượng của các thời kỳ trước, nhưng những số liệu này được xây dựng theo kiểu hồi đoán)

Cũng như bất kỳ hệ thống kế toán nào, hạch toán thu nhập quốc dân định nghĩa các ý tưởng, và sau đó xây dựng các thước đo phù hợp với các ý tưởng này Người ta chỉ cần xem xét con số thống kê của các nước chưa áp dụng các hạng mục này thì sẽ hiểu tính chính xác và nhất quán có tầm quan trọng như thế nào Không có các hạng mục này, các số liệu lẽ ra khi cộng lại phải cho kết quả bằng nhau thì lại cho kết quả khác; trong trường hợp đó cố gắng hiểu điều gì đang diễn ra thường có cảm giác giống như cố gắng cân đối sổ thu chi của người khác Tôi sẽ không làm bạn rối trí với những chi tiết của hạch toán thu nhập quốc dân ở đây Tuy nhiên, vì đôi khi bạn sẽ cần biết định nghĩa của một biến số và biết các biến liên quan với nhau như thế nào, nên Phụ lục 1 ở cuối quyển sách này cung cấp cho bạn khung hạch toán căn bản được sử dụng ở Mỹ (và, với một số điều chỉnh nho nhỏ, ở đa số các nước khác) Bạn sẽ thấy nó hữu dụng mỗi khi bạn muốn tự mình nghiên cứu các dữ liệu kinh tế

GDP, Giá trị gia tăng, và Thu nhập

Thước đo tổng sản lượng trong hạch toán thu nhập quốc dân là tổng sản phẩm nội địa (GDP) Có ba cách để người ta suy nghĩ về GDP của một nền kinh tế Chúng ta hãy xem xét từng cách một:

Trang 26

Có thể bạn sẽ gặp

một thuật ngữ khác,

tổng sản phẩm quốc

dân, hay GNP Có

một sự khác biệt nhỏ

giữa “nội địa” và

và do đó giữa GDP

và GNP Chúng ta

sẽ xem xét khái

niệm này ở Chương

18 (và ở Phụ lục 1)

Trước mắt, bạn có

thể bỏ qua sự khác

biệt giữa hai khái

niệm này

Hàng hóa trung gian

là hàng hóa được sử

dụng để sản xuất ra

hàng hóa khác Một

os61 hàng hóa vừa là

hàng hóa cuối cùng,

vừa là hàng hóa

trung gian Khi đem

bán thẳng cho người

tiêu dùng, khoai tây

GDP là giá trị của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được nền kinh tế sản xuất ra trong khoảng một thời gian đưởc xác định trước

Từ quan trọng là cuối cùng Để hiểu tại sao, hãy xem ví dụ sau Giả sử nền kinh tế chỉ bao gồm 2 xí nghiệp

XXí nghiệp 1 sản xuất thép, thuê công nhân và sử dụng máy móc Xí nghiệp 1 bán thép trị giá 100$ cho Xí nghiệp 2 sản xuất xe hơi Xí nghiệp 1 trả lương công nhân 80$ và giữ phần còn lại, 20$, lợi nhuận

Xí nghiệp 2 mua thép và sử dụng thép, cùng với công nhân và máy móc, sản xuất ra xe hơi Doanh thu bán xe hơi là 210$ Trong 210$, trả tiền thép hết 100$ và trả lương công nhân hết 70$, còn lại 40$ lợi nhuận

Chúng ta hãy tóm tắt thông tin trong bảng sau:

Công ty sản xuất thép Doanh thu do bán sản phẩm 100$

Chi phí (lương) 80$

Lợi nhuận 20$

Công ty sản xuất xe hơi Doanh thu do bán sản phẩm 210$ Chi phí 170$

Một số người nghĩ rằng câu trả lời đúng là 210$ Tại sao? Bởi vì thép là hàng hóa trung gian, hàng hóa được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa cuối cùng, xe hơi, và do đó không nên tính vào GDP – giá trị của sản lượng cuối cùng Chúng ta nên nhìn ví dụ này theo một cách khác Giả sử hai xí nghiệp sát nhập, do đó việc bán thép xảy ra bên trong xí nghiệp mới và không còn được ghi sổ nữa Tất cả những

gì chúng ta thấy là một xí nghiệp bán xe hơi được tất cả là 210$, trả lương công nhân 80$ + 70$ = 150$, và làm ra 20$ + 40$ = 60$ lợi nhuận Số tiền 210$ không thay đổi – và phải nên như vậy

Trang 27

cùng Khi dùng để

làm chips, khoai tây

là hàng hóa trung

gian

Ví dụ này đề xuất người ta nên tính GDP bằng cách ghi sổ và cộng dồn việc sản xuất ra các hàng hóa cuối cùng – và thật sự đây là cách để tính các số liệu GDP Nhưng ví dụ này cũng gợi ra một cách khác để người ta suy nghĩ về GDP và đi tìm GDP:

Trong ví dụ hai xí nghiệp của chúng ta, công ty thép không sử dụng hàng hóa trung gian Giá trị gia tăng của xí nghiệp này bằng với giá trị sản xuất, 100 $ Tuy nhiên, công ty sản xuất xe hơi lại sử dụng thép như một hàng hóa trung gian Do đó, giá trị gia tăng của công ty xe hơi bằng với giá trị của xe sản xuất ra trừ đi giá trị thép sử dụng trong sản xuất, 210$ - 100$ = 110$ Tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế, hay GDP, bằng 100$ + 110$ = 210$ Lưu ý rằng tổng giá trị gia tăng sẽ không đổi nếu các xí nghiệp thép và xe hơi sát nhập và trở thành một xí nghiệp

Định nghĩa này cho chúng ta cách thứ hai để suy nghĩ về GDP Hợp lại với nhau, hai định nghĩa này có nghĩa là giá trị của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng – định nghĩa đầu tiên của GDP – cũng có thể được nghĩ đến như là tổng giá trị gia tăng của tất cả các xí nghiệp tham gia vào sản xuất dây chuyền các hàng hóa cuối cùng – định nghĩa thứ hai của GDP

Trang 28

GDP là tổng thu nhập của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian cho trước

Cho đến giờ chúng ta chỉ nhìn GDP từ phía sản xuất Cách thứ ba để quan sát GDP là từ phía thu nhập Hãy nghĩ về doanh thu để lại của xí nghiệp sau khi đã trả tiền hàng hóa trung gian

Một phần doanh thu bị chính phủ thu dưới hình thức thuế doanh thu – các loại thuế như thế này gọi là thuế gián thu

Một phần để trả lương công nhân – phần này được gọi là thu nhập của người lao động

Phần còn lại của xí nghiệp – bộ phận này được gọi là thu nhập vốn Nói ngắn gọn, nhìn từ phía thu nhập, giá trị gia tăng là tổng của thuế gián thu, thu nhập của người lao động, và thu nhập vốn

Chúng ta hãy trở lại ví dụ ban nãy của chúng ta Không có thuế gián thu Trong 100$ giá trị gia tăng của nhà sản xuất thép, 80$ trả cho công nhân (thu nhập của người lao động) và phần còn lại 20$ xí nghiệp hưởng như lợi nhuận (thu nhập vốn) Trong 110$ giá trị gia tăng của nhà sản xuất xe hơi, 70$ trả thu nhập cho người lao động và 40$ cho thu nhập vốn Đối với toàn bộ nền kinh tế, thì giá trị gia tăng là 210$, trong đó 150$ (80$+70$) vào thu nhập lao động và 60$ (20$ + 40$) vào thu nhập vốn Trong ví dụ này, thu nhập của người lao động chiếm 70% của GDP, thu nhập vốn chiếm 29%, thuế gián thu 0% Bảng 2-1 cho thấy bảng phân tích thống kê của giá trị gia tăng của các loại hình thu nhập ở Mỹ trong năm 1960 và 1998 Bảng này cho thấy ngoại trừ các loại thuế gián thu (coi như bằng không ở ví dụ của chúng ta), các tỷ lệ mà chúng

ta sử dụng trong ví dụ của mình gần giống với các tỷ lệ của nền kinh tế Mỹ Thu nhập của người lao động chiếm 65% GDP Mỹ Thu nhập vốn chiếm 27% Thuế gián thu chiếm 8% còn lại Các tỷ lệ này không thay đổi nhiều kể từ 1960

Bảng 2-1: Sự hình thành của GDP Mỹ theo loại thu nhập,

1960 và 1998 (phần trăm) 1960 1998

Nguồn: Econnomic Report of the President, 1999, các Bảng B27 và B28

Trang 29

Cảnh giác: Từ

“nominal” thường

được dùng d8ể chỉ

một lượng không

đáng kể Các nhà

kinh tế dùng từ

nominal để thể hiện

giá hiện tại của hàng

hóa Và các nhà kinh

tế học không dùng từ

này để nói lên số

lượng nhỏ Số được

dùng trong sách này

thường ở mức tỷ hay

nghìn tỷ

Tóm tắt: Bạn có thể nghĩ về tổng sản lượng – khoảng GDP – bằng

ba cách khác nhau nhưng tương đương với nhau

Từ phía sản lượng: GDP tương đương giá trị của hàng hóa cuối cùng và dịch vụ sản xuất ra trong một nền kinh tế trong một khoảng thời gian cho sẵn

Cũng từ phía sản lượng: GDP là tổng giá trị gia tăng trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian cho sẵn

Từ phía thu nhập: GDP là tổng của các thu nhập trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian cho sẵn

GDP danh nghĩa và GDP thực

Năm 1998, GDP của Mỹ là 8.508 tỉ $, so với 526 tỉ $ năm 1960 Phải chăng sản lượng của Mỹ năm 1998 cao hơn sản lượng 1960 16 lần? Không Điều này dẫn chúng ta đến sự khác biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP thực

GDP danh nghĩa là tổng của số lượng hàng hóa cuối cùng sản xuất

ra nhân với giá hiện tại của các hàng hóa này Định nghĩa này cho thấy rõ GDP danh nghĩa tăng theo thời gian vì hai lí do Thứ nhất là việc sản xuất của hầu hết các hàng hóa tăng theo thời gian Thứ hai, giá của hầu hết hàng hóa cũng tăng theo thời gian Chúng ta sản xuất càng ngày càng nhiều xe hơi và giá xe cũng tăng mỗi năm Nếu ý định của chúng

ta là tính mức sản xuất và thay đổi của sản xuất theo thời gian, thì chúng

ta cần loại trừ tác động của sự gia tăng của giá Đó là lý do tại sao GDP thực được cấu trúc bằng tích số của lượng hàng hóa cuối cùng nhân với giá không đổi (chứ không phải với giá hiện tại)

Chúng ta hãy quan sát gần hơn cấu trúc của GDP thực Giá mà nền kinh tế chỉ sản xuất một hàng hóa cuối cùng, một mẫu xe cụ thể, thì việc xây dựng nên GDP thực có lẽ sẽ dễ dàng Chúng ta có thể chỉ cần đếm số lượng xe sản xuất mỗi năm, và gọi con số đó là GDP thực Hoặc là, nếu chúng ta muốn có một số đo bằng dollar hơn là bằng xe hơi, thì chúng ta có thể dùng giá xe của một năm cho trước, và sau đó nhân với lượng của tất cả các năm

Giả sử, ví dụ, rằng số lượng sản xuất ra và giá xe trong ba năm liên tục như sau:

Trang 30

Để chắc chắn: Tính

GDP thực bằng giá

1993, và tính tỉ lệ tăng

trưởng của giai đoạn

Chúng ta nên định nghĩa GDP thực như thế nào, và giá trị này đã tăng lên bao nhiêu? Chúng ta có thể xác định nó như số lượng xe hơi:

10 vào năm 1991, 12 năm 1992, 13 năm 1993 Điều này có nghĩa là GDP thực tăng 20% trong giai đoạn 1991 -1992, và tăng 8% trong giai đoạn 1992 – 1993 Hoặc chúng ta có thể xác định GDP thực tế bằng cách nhân số lượng xe mỗi năm với một giá chung, cụ thể là, giá của một chiếc xe vào năm 1992 Trên thực tế, phương pháp này cho chúng

ta GDP thực tính theo dollar năm 1992

Sử dụng phương pháp này, GDP thực năm 1991 (tính theo dollar năm 1992) bằng 10 x 12.000 $ = 120.000 $ GDP thực năm 1992 (tính bằng dollar 1992) bằng 12 x 12.000$ = 144.000$, bằng GDP danh nghĩa năm

1992 GDP thực năm 1993 (theo dollar 1992) bằng 13 x 12.000$ = 156.000$ Lưu ý rằng bởi vì chúng ta nhân số lượng xe của từng năm với cùng một giá, nên lượng tăng GDP thực, đo bằng dollar 1992, không đổi khi ta tính bằng số xe hơi GDP thực tế tính bằng dollar 1992 tăng 20% trong giai đoạn 1992-1993, và 8% trong giai đoạn 1993-1994 Nếu chúng ta tính GDP thực tế theo giá năm 1993, thì mức GDP thực sẽ thay đổi (bởi vì giá 1993 không giống 1992), nhưng sự gia tăng theo thời gian của GDP thì vẫn y như trên

Khó khăn chính trong việc xây dựng GDP thực trong thực tế là không phải chỉ có một hàng hóa cuối cùng GDP thực phải được tính như trung bình theo trọng số của sản lượng tất cả các hàng hóa cuối cùng, điều này dẫn đến câu hỏi trọng số đó phải là gì Giá tương đối của hàng hóa dường như là trọng số tự nhiên Nếu một đơn vị hàng hóa trị giá gấp hai lần một hàng hóa khác, thì hàng hóa đó cũng phải chiếm hai lần trong việc xây dựng sản lượng thực Nhưng điều này lại làm phát sinh một vấn đề khác Nếu giá tương đối thay đổi theo thời gian (thực tế thường như vậy) thì sao? Phải chăng chúng ta nên chọn các giá

Trang 31

Giả sử GDP thực được

đo bằng dollar 1998

chứ không phải dollar

1992 Hai đồ thị sẽ

giao nhau ở đâu?

GDP danh nghĩa tăng

lên gấp 16 lần GDP

thực tăng lên gấp 3,3

lần

tương đối trong một năm nào đó làm trọng số, hay chúng ta nên thay đổi những trọng số này theo thời gian? Tốt nhất là ta đem chuyển các trao đổi sâu hơn về về vấn đề này và về cách thức GDP thực được xây dựng

ở Mỹ vào phần phụ lục của chương này Điều bạn nên biết là việc tính GDP thực trong hạch toán thu nhập quốc dân của Mỹ được gọi là GDP thực tính theo dollar dây chuyền (1992) (“1992” bởi vì, như trong ví dụ của chúng ta, 1992 là năm mà, do chúng ta chọn, GDP thực bằng với GDP danh nghĩa) Đây là một cách tính sản lượng của kinh tế Mỹ và sự tiến triển của nó cho thấy sản lượng của Mỹ đã tăng nhu thế nào theo thời gian

Hình 2-1 biểu diễn sự tiến triển của cả GDP danh nghĩa và GDP thực kể từ 1960 Theo cách tính chúng ta đặt ra, hai GDP này bằng nhau vào năm 1992 Con số cho thấy GDP thực năm 1998 bằng 3.3 lần mức năm

1960 – một sự gia tăng đáng kể, nhưng rõ ràng còn nhỏ hơn nhiều so với sự gia tăng 16 lần của GDP danh nghĩa trong cùng thời gian này Sự khác biệt giữa hai con số này là kết quả của sự gia tăng của giá trong suốt giai đoạn này

Mỗi thuật ngữ GDP danh nghĩa và GDP thực đều có nhiều từ đồng nghĩa, và bạn có khả năng gặp phải những từ này khi đọc sách báo:

• GDP danh nghĩa còn được gọi là GDP dollar hay GDP tính theo dollar hiện tại

Trang 32

Tỉ lệ tăng trưởng sản

lượng: (Y t –Y t-1 )/Y t-1

tỉ lệ tăng trưởng >0:

Điều này kết thúc phần giới thiệu với các bạn về biến số chính của kinh tế vĩ mô, GDP Trong các chương tiếp theo, trừ khi được giải thích khác đi, nói GDP là nói đến GDP thực và Y t sẽ là GDP thực của năm t GDP danh nghĩa, và các biến số được tính theo dollar hiện tại, sẽ có dấu

$ ở trước – ví dụ, $Y t sẽ là GDP danh nghĩa của năm t

Tương tự, tăng trưởng GDP của năm t sẽ nói lên tỉ lệ thay đổi của GDP thực trong năm t Tăng trưởng GDP bằng (Y t – Y t-1 ) / Y t-1 Những thời kỳ mà tăng trưởng GDP có giá trị dương được gọi là thời kỳ tăng trưởng Còn những thời kỳ mà tăng trưởng GDP có giá trị âm được gọi là thời kỳ suy thoái Để tránh gọi một quí có tốc độ tăng trưởng âm là suy thoái, các nhà kinh tế học vĩ mô thường chỉ dùng từ này nếu nền kinh tế trải qua ít nhất hai quí liên tục với tốc độ tăng trưởng âm Cuộc suy thoái 1990 – 1991 ở Mỹ có đặc điểm là ba quí liên tục có tốc độ tăng trưởng âm, hai quí cuối năm 1990 và quí đầu năm 1991

TIÊU ĐIỂM

GDP thực, Tiến bộ của Công nghệ, và Giá Máy vi tính

Một vấn đề nan giải trong tính toán GDP

thực là phải giải quyết những thay đổi về

chất lượng của hàng hóa hiện hữu Một

trong những trường hợp khó nhất là máy vi

tính Chúng ta có nên giả định rằng một

máy vi tính cá nhân sản xuất năm 1999 là

một hàng hóa giống y như một máy vi tính

sản xuất năm 1987? Điều này rõ ràng là ngớ

ngẩn: vào năm 1999 với một số tiền bằng

hay ít hơn số tiền xài năm 1987 người ta mua

được máy với một năng lực tính toán mạnh

hơn nhiều so với năng lực của máy năm

1987 Câu hỏi nan giải ở đây là mạnh hơn

bao nhiêu lần? Phải chăng một máy vi tính

sản xuất năm 1999 cung cấp năng lực tính

toán mạnh hơn 10 lần, 100 lần, hay 1000 lần

so với một máy tính sản xuất năm 1987? Chúng ta nên tính đến những cải thiện trong sự gia tăng tốc độ bên trong, dung lượng của bộ nhớ RAM hay của đĩa cứng, khả năng truy cập Internet, v.v bằng cách nào đây? Phương pháp được các nhà kinh tế sử dụng để thể hiện những tiến bộ này là nhìn vào cách thức thị trường đánh giá máy vi tính với những tính năng khác nhau trong một năm được xác định trước Một ví dụ sẽ giúp làm rõ vấn đề Giả sử có giá các đời (model) máy vi tính khác nhau trên thị trường cho thấy người ta sẵn sàng trả thêm 10% để mua một máy tính với tốc độ 400 megahertz hơn là 300 Giả sử tất cả máy tính mới năm nay đều có tốc độ 400

Trang 33

megahertz, so với tốc độ 300 megahertz của

các máy tính mới sản xuất trong năm ngoái

Và giả sử giá dollar của các máy tính mới

năm nay y như giá dollar của các máy tính

mới năm ngoái Vậy, các nhà kinh tế có

trách nhiệm tính toán giá máy tính sẽ cho

rằng các máy tính mới trên thực tế, rẻ hơn

năm ngoái 10%

Phương pháp coi hàng hóa là vật cung

cấp một loạt các đặc tính (ở đây là tốc độ, bộ

nhớ, v.v ) mà mỗi đặc tính có một giá ngầm

của nó được gọi là phương pháp định giá

hedonic (hedonic nghĩa là “sướng” trong

tiếng Hy Lạp) Phương pháp này được Bộ

Thương mại, cơ quan phụ trách việc ước tính GDP thực, sử dụng để ước tính những thay đổi về giá của các hàng hóa phức tạp và thay đổi nhanh, ví dụ như xe hơi và máy vi tính Sử dụng phương pháp này, Bộ Thương mại đã ước tính rằng chất lượng của máy vi tính mới đã tăng trung bình 15% một năm kể từ 1987 Nói cách khác, Bộ Thương mại ước tính rằng, mặc dù giá dollar của máy tính chỉ giảm khoảng 10% một năm kể từ 1987, nhưng giá sau khi đã điều chỉnh để thể hiện những thay đổi về chất lượng đã giảm với tỉ lệ trung bình bằng 15% + 10% = 25% một năm

2-2/ Các Biến Kinh tế vĩ mô Quan trọng Khác

GDP là biến kinh tế vĩ mô chính Hai biến khác, thất nghiệp và lạm phát, cho chúng ta biết về các khía cạnh quan trọng khác của cách thức vận hành của một nền kinh tế

Tỉ lệ Thất nghiệp

Tỉ lệ thất nghiệp được định nghĩa là tỷ lệ của số người thất nghiệp chia cho lực lượng lao động:

u =

L U

tỉ lệ thất nghiệp = số người thất nghiệp / lực lượng lao động

Lực lượng lao động được định nghĩa là tổng của những người có việc làm và những người thất nghiệp:

L = N + U lực lượng lao động = có việc làm + thất nghiệp

Cái gì quyết định liệu một công nhân được được tính là thất nghiệp hay có việc làm? Cho đến thập niên 40 ở Mỹ, và đến gần đây hơn ở các nước khác, thì số người đăng ký tại các văn phòng thất nghiệp là nguồn dữ liệu duy nhất về thất nghiệp, và chỉ những công nhân đó, những người đăng ký ở văn phòng giải quyết việc làm, mới được tính là người

Trang 34

thất nghiệp Hệ thống này dẫn đến cách tính số lượng thất nghiệp không chính xác Số người thất nghiệp thực sự có đăng ký không giống nhau giữa các nước và các thời điểm Những người không có động cơ để đăng ký - ví dụ, những người đã tận dụng hết trợ cấp thất nghiệp – ít có khả năng sẽ bỏ thời gian đến văn phòng giải quyết việc làm, do đó họ không được tính Các nước có hệ thống trợ cấp eo hẹp hơn thì có khả năng có ít người đăng ký thất nghiệp hơn, và do đó có tỉ lệ thất nghiệp tính được lại càng nhỏ hơn

Ngày nay, hầu hết các nước dựa vào những cuộc điều tra có qui mô lớn đối với các hộ gia đình để tính tỉ lệ thất nghiệp Ở Mỹ, cuộc điều tra này được gọi là Điều tra Dân số Hiện tại (CPS) Các cuộc điều tra này dựa vào các cuộc phỏng vấn 60.000 hộ dân mỗi tháng Các cuộc điều tra này xếp một người vào diện có việc làm nếu anh ta hay cô ta có việc làm vào thời điểm phỏng vấn; xếp một người vào loại thất nghiệp nếu anh ta hay cô ta không có việc làm và đang tìm việc làm trong bốn tuần vừa qua Hầu hết các nước khác đều sử dụng định nghĩa tương tự về thất nghiệp Ở Mỹ, ước lượng dựa trên điều tra CPS cho thấy, suốt năm

1998, trung bình 131,4 triệu người có việc làm, và 6,2 triệu người thất nghiệp, do đó tỉ lệ thất nghiệp là 6,2/(131,4 + 6,2) = 4,5%

Lưu ý rằng chỉ những người đang tìm việc mới được tính là thất nghiệp; những người không làm việc và không tìm việc làm không được tính vào lực lượng lao động Khi thất nghiệp cao, một số người không có việc làm thôi không tìm việc và do đó không còn được tính là thất nghiệp Những người này được biết đến như những công nhân nản chí Lấy ví dụ về một trường hợp cực đoan: Nếu tất cả các công nhân không có việc làm đều thôi không tìm việc làm nữa, thì tỉ lệ thất nghiệp sẽ bằng không Điều này sẽ làm cho tỉ lệ thất nghiệp trở thành một chỉ số “rỏm” về những gì đang diễn ra ở thị trường lao động Điển hình hơn, tỉ lệ thất nghiệp cao cũng gắn liền với nhiều công nhân hơn rơi rớt khỏi lực lượng lao động Tương đương như vậy, một tỉ lệ thất nghiệp cao hơn thường gắn liền với một tỉ lệ tham gia thấp hơn, tỉ lệ tham gia được định nghĩa là tỉ số của lực lượng lao động trên tổng dân số ở vào tuổi lao động Từ khi bắt đầu cải cách kinh tế ở Đông Âu vào đầu thập niên 90, thất nghiệp đã tăng, thường là mạnh Thế nhưng tỉ lệ tham gia cũng giảm mạnh như vậy Ví dụ ở Ba Lan vào năm 1990, 70% trong số giảm công ăn việc làm là những người về hưu non – những người rời khỏi khỏi lực lượng lao động chứ không phải những người bị thất nghiệp

Trang 35

Luật của Okun:

Tốc độ tăng sản lượng

cao ⇒

tỉ lệ thất nghiệp ↓

Tốc độ tăng sản lượng

thấp ⇒

tỉ lệ thất nghiệp ↑

ĐỒ THỊ 2-2

Thay đổi trong tỉ lệ

thất nghiệp của Mỹ

so với Tăng GDP Mỹ

1960-1998

Tốc độ tăng sản lượng

cao thường gắn liền

với tỉ lệ thất nghiệp

giảm

Ngược lại, tốc độ tăng

sản lượng thấp thường

gắn liền với tỉ lệ thất

nghiệp tăng

Các nhà kinh tế vi mô quan tâm đến nạn thất nghiệp vì hai nguyên nhân: Tỉ lệ thất nghiệp cho họ biết phải chăng một nền kinh tế đang vận hành trên hay dưới mức bình thường Và nạn thất nghiệp kéo theo những hậu quả xã hội quan trọng Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng lý do

Thất nghiệp và Hoạt động Ở đa số các nước, có một mối quan hệ rõ ràng giữa sự thay đổi của thất nghiệp và tăng GDP Mối quan hệ này được biết đến với tên gọi qui luật của Okun tên của nhà kinh tế học Arthur Okun, người đầu tiên xác định được và giải thích mối quan hệ này vào thập niên 60 Mối quan hệ giữa hai biến này ở Mỹ từ năm 1960 được biểu diễn ở Đồ thị 2-2, cho thấy sự thay đổi về tỉ lệ thất nghiệp ở trục tung và tỉ lệ tăng GDP ở trục hoanh Mỗi điểm trong hình cho biết tỉ lệ tăng trưởng và sự thay đổi trong tỉ lệ thất nghiệp của một năm cho trước (Các hình như Hình 2-2, để vẽ thành đồ thị quan hệ giữa một biến so với một biến khác theo thời gian, được gọi là đồ thị phân tán)

Đồ thị này cho thấy tốc độ tăng sản lượng cao thường gắn liền với tỉ lệ thất nghiệp giảm, và tốc độ tăng sản lượng thấp thường gắn liền với tỉ lệ thất nghiệp tăng Điều này hợp lý: tốc độ tăng sản lượng cao dẫn đến số công ăn việc làm tăng cao, vì xí nghiệp thuê thêm công nhân để tăng sản xuất Số công ăn việc làm tăng cao dẫn đến giảm thất nghiệp

Trang 36

CÁC VẤN ĐỀ VĨ MÔ TOÀN CẦU

Có thật là Tây Ban Nha có tỷ lệ thất nghiệp 19%?

Năm 1998, tỉ lệ thất nghiệp chính thức ở

Tây Ban Nha ở mức rất cao 19% Tuy nhiên

đã không xảy ra bạo động và Tây Ban Nha

trông không hề giống nước Mỹ thời Đại Suy

thoái Hầu như không có người vô gia cư, và

hầu hết các thành phố trông thịnh vượng

Liệu chúng ta có thể thật sự tin rằng gần một

phần năm lực lượng lao động của Tây Ban

Nha đang tìm kiếm việc làm?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem

xét con số thất nghiệp của Tây Ban Nha đã

được tập hợp như thế nào Con số này xuất

phát từ một cuộc thăm dò 60.000 hộ dân,

cũng giống như ở Mỹ Người ta được xếp

vào loại thất nghiệp nếu họ cho biết họ

không làm việc nhưng đang tìm kiếm việc

làm

Chúng ta có thể chắc chắn rằng người ta

nói thật hay không? Không Mặc dù không

có động cơ rõ ràng để nói dối – các câu trả

lời cuộc điều tra được giữ bí mật và không

được sử dụng để quyết định liệu người ta có

hội đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thất

nghiệp – nhưng những người đang làm việc

trong nền kinh tế ngầm có lẽ thích an toàn

và họ lại nói rằng họ đang bị thất nghiệp

Nền kinh tế ngầm là một phần của hoạt

động kinh tế không được thể hiện trong

thống kê chính thức, vừa do các hoạt động

này không hợp pháp, vừa do các xí nghiệp

và công nhân không báo cáo hoạt động để

khỏi phải đóng thuế – nguyên nhân này

quan trọng hơn Qui mô của nền kinh tế

ngầm là một vấn đề cũ ở Tây Ban Nha Và

do điều này mà chúng ta thật sự biết về nó ở

Tây Ban Nha nhiều hơn ở nhiều nước khác Năm 1985, chính phủ Tây Ban Nha cố gắng khám phá nhiều điều hơn bằng cách tổ chức một cuộc thăm dò chi tiết 60.000 cá nhân Để cố gắng khám phá sự thật từ những người được phỏng vấn, bảng câu hỏi yêu cầu những người được phỏng vấn giải trình cực kỳ chính xác về việc sử dụng thời gian, làm cho họ khó có thể nói dối một cách dễ dàng Các câu trả lời thật thú vị Nền kinh tế ngầm ở Tây Ban Nha – được định nghĩa là số người làm việc không khai báo thu nhập cho cơ quan quản lý an sinh xã hội – chiếm từ 10%-15% số người có việc làm Tuy nhiên, kết quả này gồm đa số những người đã có việc làm và đang làm thêm công việc thứ hai hoặc thứ ba Ước lượng thú vị nhất thu được từ cuộc thăm dò này là chỉ khoảng 15% số người thất nghiệp là trên thực tế đang làm việc Điều này nói lên rằng tỉ lệ thất nghiệp, chính thức là 21% vào thời điểm đó, thật sự gần 18% hơn, và đó vẫn là một tỉ lệ cao Nền kinh tế ngầm của Tây Ban Nha đáng kể, nhưng nền kinh tế này không giải thích được tỉ lệ thất nghiệp cao

Phải chăng những người thất nghiệp tồn tại được là nhờ trợ cấp thất nghiệp ở Tây Ban Nha hào phóng một cách bất thường? Không Trừ những hệ thống trợ cấp thất nghiệp hào phóng ở hai khu vực, Andalusia và Extremadura (vốn có số người thất nghiệp cao hơn phần còn lại của Tây Ban Nha), thì trợ cấp thất nghiệp cũng theo sát các nước OECD khác Điển hình là trợ cấp bằng 70% lương trong sáu tháng đầu, 60% sau đó Các khoản trợ cấp được trả trong khoảng thời

Trang 37

gian từ 4 đến 24 tháng, phụ thuộc vào việc

người nhận trợ cấp đã làm việc bao lâu trước

khi bị thất nghiệp 30% những người đã thất

nghiệp được hai năm không được nhận trợ

cấp thất nghiệp

Vậy thì những người thất nghiệp tồn tại

bằng cách nào? Một điều cốt yếu của cầu

trả lời nằm ở cấu trúc gia đình Tây Ban Nha

Tỉ lệ thất nghiệp cao nhất ở giới trẻ: vượt

quá 40% ở độ tuổi 16-19, và khoảng 40% ở

độ tuổi 20-24 Giới trẻ điển hình là ngồi nhà

cho đến cuối tuổi hai mươi, và càng ngày càng rơi vào tình trạng này vì thất nghiệp gia tăng Nếu nhìn vào hộ gia đình thay vì vào từng cá nhân, thì phần các hộ gia đình không có ai đi làm trong năm 1994 chiếm dưới 10%; tỷ lệ các hộ gia đình không có thu nhập từ tiền lương lẫn trợ cấp thất nghiệp chiếm khoảng 3% Nói một cách ngắn gọn, chính là cấu trúc gia đình đã cho phép nhiều người trong số những người thất nghiệp sống qua ngày

Xem Hình 2-2, gắn

liền với tỉ lệ thất

nghiệp hầu như

không đổi, tốc độ

tăng sản lượng là bao

nhiêu?

Mối quan hệ này cho ta biết một điều đơn giản Nếu tỉ lệ thất nghiệp hiện tại quá cao (cái gì là quá cao hay quá thấp sẽ là chủ đề của nhiều chương sau; chúng ta có thể để chủ đề này lại đến lúc đó), thì phải mất một giai đoạn tăng trưởng cao hơn mới giảm tỉ lệ đó xuống được Thay vì như thế, nếu tỉ lệ thất nghiệp là vừa phải, thì sản lượng cần tăng với tốc độ phù hợp với một tỉ lệ thất nghiệp không đổi Do đó tỉ lệ thất nghiệp cung cấp cho các nhà kinh tế học vĩ mô tín hiệu cho thấy nền kinh tế đang ở vị trí nào và cần phải đạt tỉ lệ tăng trưởng là bao nhiêu Trở lại vấn đề tỉ lệ thất nghiệp hiện nay ở Mỹ tại Chương 1: Những nhà kinh tế tin rằng tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ hiện tại là quá thấp là những người muốn có tỉ lệ tăng GDP thấp hơn trong một thời gian để cho phép tỉ lệ thất nghiệp trở lại một mức cao hơn Đây là lí do tại sao họ chủ trương thực hiện các chính sách kinh tế

vĩ mô nhằm giảm nhịp độ tăng trưởng của Mỹ một thời gian

Tác động Xã hội của Thất nghiệp Các nhà kinh tế vĩ mô cũng chú ý đến thất nghiệp bởi vì ảnh hưởng trực tiếp của nó tới phúc lợi của người thất nghiệp Mặc dù trợ cấp thất nghiệp ngày này lớn hơn suốt thời Tổng Khủng hoảng, nhưng nạn thất nghiệp vẫn còn gắn liền với sự đau khổ về mặt tài chính và tâm lý Đau khổ nhiều hay ít tùy thuộc vào bản chất của tình trạng thất nghiệp Hình ảnh của người thất nghiệp là hình ảnh của ao tù nước đọng, của những người bị thất nghiệp trong thời gian dài Như chúng ta sẽ thấy sau này trong quyển sách này, hình ảnh này không phản ảnh điều gì xảy ra ở Mỹ Ở Mỹ mỗi tháng có nhiều người bị thất nghiệp và nhiều người trong số người thất nghiệp (trung bình 30% trong số họ) tìm được việc làm Tuy nhiên, ngay cả ở Mỹ, khi tỉ lệ thất nghiệp gia tăng, thì một số nhóm (thường là thanh niên, dân tộc thiểu số, và những người không có tay nghề) phải chịu thất nghiệp với một tỉ lệ mất cân đối, họ là những nhóm thất nghiệp kinh niên và là những người rất dễ trở nên thất nghiệp khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Trang 38

Chỉ số thường được

lấy là 100 hơn là 1 ở

năm cơ sở 100 là các

dùng tắt của 100%,

trong thập phân, bằng

1 Nếu bạn xem

(Bảng B3), bạn sẽ

thấy hệ số khử lạm

phát GDP bằng 100

trong năm 1992 (năm

cơ sở), 102,6 năm

Hệ số khử lạm phát GDP Giả sử GDP danh nghĩa, $Y t , tăng, nhưng GDP thực, Y t , không đổi Vậy thì tăng GDP danh nghĩa phải xuất phát từ tăng giá Điều này đã thúc đẩy phải định nghĩa hệ số khử lạm phát GDP Hệ số khử lạm phát GDP ở năm t, P t , được định nghĩa là tỉ số của GDP danh nghĩa trên GDP thực tế ở năm t:

t

t t

Y

Y

thựcGDP

nghĩadanhGDP

t

Lưu ý rằng, vào năm GDP thực tế bằng với GDP danh nghĩa xuất phát từ cách tính của chúng ta (1992 tại Mỹ như trong ví dụ), thì theo định nghĩa này mức giá bằng 1 Đây là điều đáng phải nhấn mạnh: Hệ số khử lạm phát GDP là cái được người ta gọi là chỉ số (index) Mức độ của chỉ số được chọn một cách tùy tiện - ở đây bằng 1 vào năm 1992 - và nó không có ý nghĩa gì về kinh tế Tuy nhiên, tốc độ thay đổi của nó lại có ý nghĩa kinh tế rõ ràng: Nó cho ta tốc độ mà mặt bằng chung của giá cả leo thang theo thời gian – hay đó chính là tỉ lệ lạm phát

Một thuận lợi của việc định nghĩa mức giá là hệ số khử lạm phát GDP là điều đó cho ta biết mối quan hệ đơn giản giữa GDP danh nghĩa, GDP thực, và mức giá Để hiểu điều này, biến đổi công thức trên, ta có

$Y t = P t Y t GDP danh nghĩa bằng hệ số khử lạm phát GDP nhân với GDP thực Chỉ số Giá cả Tiêu dùng

Hệ số khử lạm phát GDP cho ta mức giá trung bình của hàng hóa bao gồm trong GDP - các hàng hóa cuối cùng được nền kinh tế sản xuất

ra Thế nhưng người tiêu dùng lại quan tâm đến giá trung bình của các hàng hóa mà họ tiêu dùng Hai giá này không bắt buộc phải giống nhau Tập hợp hàng hóa do nền kinh tế sản xuất ra không giống y như tập hợp hàng hóa do người tiêu dùng mua Điều này đúng do hai lý do Một số hàng hóa trong GDP được bán cho xí nghiệp (ví dụ như công cụ máy móc) chứ không phải cho người tiêu dùng Và một số hàng hóa

Trang 39

Không nên nhầm CPI

với PPI, or chỉ số giá

sản xuất (produce

price index), là chỉ số

giá cả của hàng hóa

được sản xuất trong

nước trong công

nghiệp, khai khoáng,

nông nghiệp, đánh cá,

lâm nghiệp, và các

ngành sử dụng điên

Cũng như hệ số khử

lạm phát GDP, CPI

cũng thường được lấy

là 100 hơn là 1 trong

giai đoạn cơ sở (do

đó, ví dụ, bằng 163

Giống như hệ số khử lạm phát GDP, CPI cũng là một chỉ số Nó được cho giá trị bằng 1 trong giai đoạn được chọn làm giai đoạn cơ sở và

do đó nó không có mức tự nhiên Giai đoạn cơ sở hiện nay là

1982-1984, do đó trung bình của giai đoạn 1982-1984 bằng 1 Năm 1998, CPI

ở mức 1,63; do đó, phải chi thêm 60% tiền dollar để mua cùng một rổ tiêu dùng như của giai đoạn 1982-1984

Bạn có thể tự hỏi tỉ lệ lạm phát khác nhau thế nào do việc sử dụng hệ số khử lạm phát GDP hay CPI để tính toán Câu trả lời ở Đồ thị 2-3, biểu diễn hai tỉ lệ lạm phát của Mỹ kể từ 1960

Đem vẽ thành đồ thị các con số này cho ta hai kết luận:

• CPI và hệ số khử lạm phát GDP di chuyển gần nhau trong hầu hết thời gian Trong đa số các năm, hai tỉ lệ lạm phát khác nhau chưa đến 1%

• Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ rõ ràng Cả năm 1974 và

1979-1980, sự gia tăng CPI lớn hơn sự gia tăng hệ số khử lạm phát GDP một cách đáng kể Không khó tìm ra lí do Hãy nhớ lại hệ số khử lạm phát GDP là giá của các hàng hóa sản xuất tại Mỹ, trong khi CPI là giá hàng hóa tiêu thụ tại Mỹ Điều đó có nghĩa là khi giá hàng nhập khẩu tăng so với giá hàng hóa sản xuất ở Mỹ, thì CPI tăng nhanh hơn hệ số khử lạm phát GDP Đây chính là những

gì đã xảy ra cả vào năm 1974 và giai đoạn 1979-1980 Trong cả hai

Trang 40

ĐỒ THỊ 2-3

Tỷ lệ lãm phát của

Mỹ, sử dụng CPI và

GDP Deflator để

tính, 1960 – 1968

Các tỷ lệ lạm phát,

được tính bằng cách

sử dụng CPI hoặc hệ

số khử lạm phát GDP,

gần như tương tự nhau

Đường cong Phillips:

Thất nghiệp thấp ⇒

Trong những phần tiếp theo, tôi sẽ không phân biệt giữa hai chỉ số trừ phi việc giảng bài đòi hỏi chúng ta tập trung vào sự khác biệt của chúng Do đó, tôi sẽ đơn giản là nói về mức giá và gọi nó là P t , mà không chỉ ra tôi đang nghĩ về CPI hay hệ số khử lạm phát GDP

Lạm phát và Thất nghiệp

Có quan hệ nào giữa lạm phát và sản lượng hay thất nghiệp không? Hoặc lạm phát có cuộc đời của bản thân nó không? Câu trả lời: Có một mối quan hệ, nhưng không có tính máy móc - mối quan hệ này thay đổi

ở các thời gian và ở các quốc gia khác nhau

Mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát ở Mỹ từ 1970 được biểu diễn ở Đồ thị 2-4 Sự thay đổi tỉ lệ lạm phát (sử dụng CPI) - cụ thể là, tỉ lệ lạm phát năm nay trừ đi tỉ lệ lạm phát năm trước - được biểu diễn ở trục tung Tỉ lệ thất nghiệp được biểu diễn ở trục hoành Hình này cho

ta các cặp kết hợp giữa tỉ lệ thất nghiệp và sự thay đổi của tỉ lệ lạm phát của mỗi năm kể từ 1970

Đồ thị 2-4 cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa tỉ lệ thất nghiệp và sự thay đổi của lạm phát Khi tỉ lệ thất nghiệp thấp, thì lạm phát có khuynh hướng gia tăng Khi tỉ lệ thất nghiệp cao, lạm phát có khuynh hướng giảm Mối tương quan nghịch biến này được gọi là tương quan

Ngày đăng: 29/08/2020, 23:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN