Trả lời: Ngày 10 tháng 10 năm 1949, Ban Thường vụ Liên khu uỷ 10 ra Nghị quyết số NQ/NS-LK10 về thành lập Ban cán sự Đảng Lai Châu gồm 3 đồng chí: Nguyễn Bá Lạcbí danh là Trần Quốc Mạnh
Trang 1BÀI DỰ THI Cuộc thi Tìm hiểu 110 năm thành lập tỉnh, 70 năm thành lập Đảng bộ tỉnh, 15
năm chia tách, thành lập tỉnh Lai Châu mới Câu 1:
Tỉnh Lai Châu được thành lập vào ngày, tháng, năm nào? Nêu những thay đổi
về địa giới hành chính của tỉnh Lai Châu từ năm 1909 đến nay?
Trả lời:
Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, phía Bắc giápnước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía Tây và phía Tây Nam giáp tỉnh ĐiệnBiên, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Đông Nam giáp tỉnh Yên Bái, và phía namgiáp tỉnh Sơn La
* Lai Châu có khí hậu gió mùa chí tuyến Nhiệt độtrung bình năm khoảng 21ºC-23ºC chia làm hai mùa, mùa mưa và mùa khô
* Địa hình được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Pu Sa Leng cao 3.096 m Núi đồi cao và dốc,xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều cao nguyên, sông suối Sông có nhiềuthác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn
Nơi đây là địa bàn có con người cư trú từ rất sớm Cũng như nhiều vùngđất khác trên cả nước, trải qua thời gian Lai Châu đã có nhiều thay đổi về địagiới hành chính
Xưa kia Lai Châu đặt dưới quyền điều hành của tù trưởng các dân tộc Thái,quy phục triều đình Việt Nam
Trang 2Đây vốn là một châu thuộc phủ Điện Biên, tỉnh Hưng Hóa xưa.
Tiểu quân khu phụ Lai Châu gồm châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai,châu Phong Thổ được thành lập theo Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1893 của Toànquyền Đông Dương và trực thuộc tỉnh Vạn Bú từ ngày 10 tháng 10 năm 1895 TỉnhVạn Bú đổi tên thành tỉnh Sơn La năm 1904, do đó Lai Châu lại thuộc tỉnh Sơn La
* Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị định ngày 28 tháng 6 năm
1909 của Toàn quyền Đông Dương Klobukowwski.
* Những thay đổi về địa giới hành chính của tỉnh Lai Châu từ năm 1909 đến nay:
Ngày 28/06/1909, Toàn quyền Đông Dương Klobukowwski ra Nghị địnhthành lập tỉnh Lai Châu (gồm Đạo Lai và châu Điện Biên), dân số ước khoảng 4vạn người Lúc đó tỉnh Lai Châu gồm các châu Lai, châu Quỳnh Nhai, châu ĐiệnBiên tách ra từ tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Lai Châu (nay là thị xã MườngLay thuộc tỉnh Điện Biên) Từ đó địa danh Lai Châu mới được xác định chính thức
là đơn vị hành chính với đầy đủ chế độ dân sự, có bộ máy hành chính và chế độngân sách ở hàng cấp tỉnh, ngang với các tỉnh khác trong cả nước
Ngày 16 tháng 1 năm 1915 tỉnh Lai Châu bị thay thế bằng Đạo Quan binh 4Lai Châu dưới sự cai trị quân sự
- Ngày 27/03/1916, thực dân Pháp lại quyết định nhập tỉnh Lai Châu vàoĐạo Quan binh thư tư, thực hiện quản lý hành chính theo chế độ quân quản kéo dàiđến ngày 04/09/1943
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới chính thể mới của nướcViệt Nam dân chủ công hòa, Lai Châu có một số thay đổi về địa giới hành chính.Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Lai Châu nằm trong chiến khu 2 cùngvới Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Hòa Bình, Ninh Bình, Sơn La, sau đóLai Châu nhập vào chiến khu 10 và một phần chiến khu 1 thành liên khu Việt Bắc
- Năm 1948 Lai Châu và Sơn La hợp nhất thành tỉnh Sơn La
- Ngày 12/01/952, Thủ tướng Chính Phủ ra Nghị định số 145-TTg tái lập lạihai tỉnh Lai Châu và Sơn La Ngày 26/01/1953 để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mớigiải phóng, chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 134-SL thành lập khu Tây Bắcgồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu tách khỏi liên khu Việt Bắc
Trang 3Đồng thời khu ủy Tây Bắc cũng ra quyết định chuyển huyện Thuận Châu từ tỉnhSơn La sang tỉnh Lai Châu.
- Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Lai Châu được giải phóng, hòa bình đượclập lại trên Miền Bắc Việt Nam
- Ngày 29 tháng 04 năm 1955, chủ tịch nước ký sắc lệnh về việc thành lậpKhu tự trị Thái Mèo, theo đó Chính quyền Khu tự trị là một cấp chính quyền địaphương, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chính phủ Trung ương, không còn tổchức chính quyền cấp tỉnh, 6 Châu của tỉnh Lai Châu (Mường Tè, Mường Lay,Sình Hồ, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo) trực thuộc khu tự trị Thái mèo, theo
đó, Chính quyền Khu tự trị là một cấp chính quyền địa phương, đặt dưới sự lãnhđạo của Chính Phủ Trung Ương, không còn tổ chức chính quyền cấp tỉnh, 6 Châucủa tỉnh Lai Châu (Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ, Điện Biên, Quỳnh Nhai,Tuần Giáo) trực thuộc Khu tự trị Thái, Mèo
- Ngày 27/10/1962, kỳ họp thứ năm Quốc Hội khóa II đã ra Nghị Quyết đổitên Khu tự trị Thái, Mèo thành khu tự trị Tây Bắc và thành lập lại 3 tỉnh trong khulà: Lai Châu, Nghĩa Lộ và Sơn La Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện Biên,Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Tè, Mường Lay, Phong Thổ, Sình Hồ và thị trấn LaiChâu
- Ngày 27/12/1975, Khu tự trị Tây Bắc giải thể Tháng 12/1977, thành lập thịtrấn Mường Lay và Sìn Hồ
- Ngày 18/04/1992, thành lập thị xã Điện Biên Phủ Ngày 07/10/1995, thànhlập huyện Điện Biên Đông Ngày 26/09/2003 Chính phủ ra Nghị định thành lậpthành phố Điện Biên Phủ
- Ngày 14/01/2002 Chính phủ ra Nghị định số 08/2002/NĐ-CP về việc “Điềuchỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, huyện Mường Lay để thành lập huyệnMường Nhé”
- Thực hiện Nghị quyết số 22/2003/QH11, ngày 26/11/2003 của Quốc Hộikhóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc chia và điều chỉnh địagiới hành chính một số tỉnh, tỉnh Lai Châu cũ được chia tách thành tỉnh Lai Châumới và tỉnh Điện Biên Ngày 0/01/2004, tỉnh Lai Châu mới chính thức được thànhlập gồm 4 huyện của tỉnh cũ (Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường) và sátnhập thêm huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai Ngày 10/10/2004, Thị xã Lai Châuđược thành lập theo Nghị định số 176/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày
Trang 430/10/2008, Chính phủ ra Nghị định số 04/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giớihành chính huyện Than Uyên để thành lập huyện Tân Uyên Ngày 02/11/2002,Huyện Nậm Nhùn được thành lập theo Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính Phủ vềviệc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, huyệnthuộc tỉnh Lai Châu Ngày 27/12/2013, Chính Phủ ra Nghị quyết sô 131/NQ-CP vềviệc thành lập thành phố Lai Châu thuộc tỉnh Lai Châu trên cơ sở 7 đơn vị hànhchính xã, phường của thị xã Lai Châu.
Câu 2: Ban Cán sự Đảng Lai Châu được thành lập ngày, tháng , năm nào? Nêu bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Lai Châu? Nhiệm vụ cấp bách của Ban Cán sự Đảng Lai Châu sau khi được thành lập là gì?
Trả lời:
Ngày 10 tháng 10 năm 1949, Ban Thường vụ Liên khu uỷ 10 ra Nghị quyết số NQ/NS-LK10 về thành lập Ban cán sự Đảng Lai Châu gồm 3 đồng chí: Nguyễn Bá Lạc(bí danh là Trần Quốc Mạnh) - Tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Yên Bái làm Trưởng Ban, đồng chíHoàng Đông Tùng - đội trưởng đội xung phong Lai Châu và đồng chí Tạ Nhật Tựu (bídanh Hoàng Hoa Thưởng) - Thường vụ Huyện uỷ huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) làm uỷviên
34-* Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban cán sự Đảng Lai Châu
Tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trênphạm vi cả nước, ở Lai Châu chỉ có châu Quỳnh Nhai (lúc đó thuộc Lai Châu) do
có sự lãnh đạo của Đảng và hướng dẫn của cán bộ Việt Minh nên nhân dân đã đứnglên khởi nghĩa giành được chính quyền
Với bản chất phản động, hiếu chiến và được sự hỗ trợ từ bên ngoài, tháng11/1945 thực dân Pháp lại đưa quân quay trở lại đánh chiếm Lai Châu và phá hoạiphong trào cách mạng ở Châu Quỳnh Nhai Trước tình hình đó, Trung ương Đảngthấy cần phải xây dựng cơ sở cách mạng và tổ chức Đảng ở Lai Châu để lãnh đạophong trào
Tháng 3 năm 1948 Liên khu uỷ 10 đã cử “đội xung phong Quyết Tiến” vàođịa bàn Lai Châu để gây dựng cơ sở cách mạng Sau 2 năm tích cực bám dân, bám
cơ sở, gây dựng, phát động phong trào, “đội xung phong Quyết Tiến” đã gây dựngđược một loạt cơ sở cách mạng kéo dài từ Quỳnh Nhai sang Tuần Giáo, Điện Biên
và một số tỉnh bắc Lào Cai Để tổ chức quần chúng nhân dân thành một khối thốngnhất và đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, Lai Châu cầnphải có một tổ chức Đảng Cộng sản, nhưng lúc này Uỷ ban kháng chiến hành chínhLiên tỉnh Sơn-Lai (Sơn La và Lai Châu) chưa đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ đó
Trang 5Chính vì vậy, Liên khu uỷ 10 đã trực tiếp chỉ đạo toàn diện đối với Lai Châu, thànhlập “tiểu ban Miền núi vận” để nghiên cứu tình hình kinh tế - chính trị - xã hội củatỉnh Lai Châu
Tháng 7 năm 1949, Bộ Tư lệnh Liên khu 10 đã tập hợp những thanh niên củachâu Quỳnh Nhai tại Đan Hà, tỉnh Phú Thọ để thành lập đội xung phong Lai Châu(còn gọi là đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Lai Châu) và cử đồng chí Hoàng Đông Tùnglàm đội trưởng
Ngày 27/8/1949, Ban Chấp hành Liên khu 10 ra Nghị quyết điều động một
số cán bộ đang công tác tại 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai vào công tác tại Lai Châu
Ngày 01/10/1949 chính uỷ Liên khu 10 ra quyết định thành lập Chi hội vũtrang Lai Châu, gồm các đồng chí đảng viên của đội xung phong Lai Châu, dođồng chí Hoàng Đông Tùng làm Bí thư chi bộ (chi bộ này là tiền thân của Đảng bộ Bộchỉ huy Quân sự tỉnh ngày nay)
Ngày 10/10/1949, Ban Thường vụ Liên khu uỷ 10 ra Nghị quyết thành lậpBan cán sự Đảng Lai Châu (tiền thân của Đảng bộ tỉnh Lai Châu ngày nay) gồm 3đồng chí: Nguyễn Bá Lạc (bí danh là Trần Quốc Mạnh), Tỉnh uỷ viên tỉnh Yên Báilàm trưởng ban, đồng chí Hoàng Đông Tùng, đội trưởng đội xung phong Lai Châu
và đồng chí Tạ Nhật Tựu (bí danh là Hoàng Hoa Thưởng) - uỷ viên Văn phòng khu
uỷ 10 làm uỷ viên
Theo quyết định của Liên khu uỷ 10, tất cả cán bộ và đội viên võ trang tuyêntruyền là đảng viên được cử vào công tác tại Lai Châu đều sinh hoạt trong Chi bộLai Châu Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng Lai Châu, ngày2/12/1949 tại Bản Lướt xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Yên Bái, Ban cán
sự Đảng Lai Châu đã triệu tập Hội nghị để công bố quyết định của Liên khu uỷ 10
về việc thành lập chi bộ Đảng Lai Châu gồm 20 đồng chí, trong đó có 18 đảng viênchính thức, 2 đảng viên dự bị Ban cán sự đã cử 3 đồng chí: Trần Quốc Mạnh,Hoàng Hoa Thưởng, Nguyễn Hữu Trí vào Ban chi uỷ, đồng chí Trần Quốc Mạnhđược cử làm Bí thư chi bộ Mặc dù số đảng viên ít, số cán bộ của đảng lúc đó chưanhiều, nhưng với ý chí sắt đá, lòng dạ kiên trung với Đảng, với dân tộc và nhândân, các cán bộ, đảng viên lặn lội đi vào quần chúng vận động, tổ chức xây dựnglực lượng được đồng bào các dân tộc tin tưởng, ủng hộ nên không ngừng trưởngthành và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng ở Lai Châu từng bướctiến lên
Việc ra đời của Ban cán sự Đảng Lai Châu đã đánh dấu một bước tiếnquan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Từ đây,phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc Lai Châu đã có sự lãnh đạo trựctiếp của Đảng, Bác Hồ và nhờ có sự lãnh đạo đó phong trào cách mạng ở Lai
Trang 6Châu đã phát triển không ngừng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng
vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc của dân tộc
* Nhiệm vụ cấp bách của Ban Cán sự Đảng Lai Châu sau khi được thành lập:
Nhiệm vụ của Ban Cán sự Đảng Lai Châu lúc này là: “Gây dựng cơ sở quầnchúng tiến tới tập hợp lực lượng, lãnh đạo nhân dân Lai Châu võ trang đấu tranh thu phụclại toàn bộ đất đai thực dân Pháp và tay sai chiếm đóng” Nghị quyết cũng đã nêu “BanCán sự Đảng Lai Châu thuộc quyền trực tiếp chỉ huy của Liên khu uỷ 10, nhưng phải mậtthiết liên lạc với các Ban Tỉnh uỷ Sơn La, Lào Cai, Yên Bái để được sự giúp đỡ trong khitiến hành công tác và phối hợp kế hoạch hành động với các đội xung phong hiện đanghoạt động trong đất hoặc giáp với Lai Châu”, đây là bản Nghị quyết rất kịp thời và đúngđắn Liên khu uỷ 10, đồng thời nó cũng là cơ sở cho việc hình thành tổ chức Đảng ởLai Châu
Chỉ sau 2 ngày (12/10/1949) Liên khu uỷ 10 ra chỉ thị “kế hoạch công tácLai Châu” trong đó nêu lên 6 nhiên vụ mà ban cán sự Đẩng Lai Châu cần thiết phẩinắm vững và ttriển khai ngay, đó là:
1 Gây dựng và phát triển cơ sở quần chúng mạnh mẽ, lúc đầu từ rẻo cao saulan xuống vùng thấp
2 Phá nguỵ quyền, thành lập chính quyền dân chủ
3 Làm tốt công tác địch vận
4 Đào tạo cán bộ người đại phương
5 Tổ chức tốt công tác giao thông liên lạc
Thực hiện nghị định của liên khu chi uỷ 10, ngày 02/12/1949 tại bản Lướt xãMường Kim, huyện Than Uyên, Ban cán sự Đảng tỉnh Lai Châu triệu tập hội nghị
để thành lập chi bộ gồm 20 Đảng viên (18 chính thức, 02 dự bị) và chỉ định 03đồng chí vào ban chi uỷ là: Trần Quốc Mạnh, Hoàng Hoa Thưởng và Nguyễn HữuChí đồng chí Trần Quốc Mạnh được cử làm bí thư chi bộ
Câu 3: Chi bộ Lai Châu được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ở đâu? Gồm bao nhiêu đảng viên? Những đồng chí nào được chỉ định vào Ban Chi ủy? Đồng chí nào được cử làm Bí thư chi ủy? Hãy cho biết số lượng tổ chức đảng và đảng viên của Đảng bộ tỉnh Lai Châu tính đến 31/12/2018?
Trả lời:
Theo quyết định của Liên khu uỷ 10, tất cả cán bộ và đội viên võ trang tuyêntruyền là đảng viên được cử vào công tác tại Lai Châu đều sinh hoạt trong Chi bộ
Trang 7Lai Châu Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng Lai Châu, ngày02/12/1949 tại Bản Lướt, xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Yên Bái, Ban cán
sự đảng Lai Châu đã triệu tập Hội nghị để công bố quyết định của Liên khu uỷ 10
về việc thành lập Chi bộ Đảng Lai Châu gồm 20 đồng chí, trong đó có 18 đảng viênchính thức, 2 đảng viên dự bị Ban cán sự đã cử 3 đồng chí: Trần Quốc Mạnh,Hoàng Hoa Thưởng, Nguyễn Hữu Trí vào Ban chi uỷ, đồng chí Trần Quốc Mạnhđược cử làm Bí thư chi bộ
Tính đến ngày 30/6/2017, Đảng bộ tỉnh có 13 đảng bộ trực thuộc; 548 tổchức cơ sở đảng; 02 đảng bộ bộ phận; 2.164 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở Với26.033 đảng viên, trong đó đảng viên nữ là 8.126 đảng viên (chiếm tỷ lệ 31,21%),đảng viên người dân tộc thiểu số 13.271 đảng viên (chiếm tỷ lệ 50,98%), đảng viên
là công nhân 885 (chiếm tỷ lệ 3,4%), đảng viên là nông dân 7.287 (chiếm tỷ lệ28%), đảng viên là trí thức 15.419 (chiếm tỷ lệ 59,2%), đảng viên là đoàn viênthanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 10.844 (chiếm tỷ lệ 41,65%)
Độ tuổi bình quân là 35,64 tuổi Tính riêng 3 năm (từ 2015 đến 2017), toàntỉnh đã kết nạp được 6.209 đảng viên, trong đó riêng ở đảng bộ xã, phường, thị trấn
là 3.737 đảng viên (chiếm 60,2%); một số dân tộc ít người trước đây có ít đảngviên, đến nay số lượng đã tăng lên như dân tộc Si La, Mảng, Cống ; tỷ lệ trưởng,thôn, bản, tổ dân phố là đảng viên tăng lên trên 50%
Câu 4: Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Lai Châu đã tổ chức bao nhiêu nhiệm kỳ đại hội? Hãy nêu thời gian, đại điểm tổ chức, số lượng đại biểu tham gia từng kỳ đại hội và họ, tên các đồng chí Bí thư Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ?
Đảng viên Đảng bộ
3 dự khuyết
Trang 8II 28/3-5/4/1970
143 chínhthức
13 dự khuyết
~7000 Nguyễn
Văn Xã
20 chínhthức
3 dự khuyết
III 26/4-1/5/1975
159 chínhthức
3 dự khuyết
~8000 Nguyễn
Văn Xã
23 chínhthức
4 dự khuyết
V 27-29/10/1980
184 chínhthức
16 dự khuyết
10283 Hoàng Tinh
37 chínhthức
2 dự khuyết
VI 20-24/1/1983
185 chínhthức
15 dự khuyết
~10500
NguyễnNiệm
39 chínhthức
2 dự khuyết
VII 8-14/10/1986
232 chínhthức
8 dự khuyết
~11000
NguyễnNiệm
41 chínhthức
Trang 90 Biên
0
NguyễnMinhQuang
Kể từ khi thành lập (10/10/1949) đến nay, Đảng bộ tỉnh Lai Châu đã trải qua
13 kỳ đại hội đã được đưa ra trong bảng trên
Mỗi kỳ Đại hội là một mốc son lịch sử quan trọng ghi nhận những thắng lợi,thành tựu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế- văn hóa – xã hội và an ninh - quốc phòng,thể hiện ý chí, nguyện vọng và tâm huyết của Đảng viên, cán bộ và đồng bào cácdân tộc tỉnh Lai Châu
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I được tiến hành từ ngày 15 đến
ngày 21/10/1963, tại hội trường của tỉnh (Khu đồi cao) Về dự đại hội có 118 đạibiểu Đại hội bầu ban chấp hành gồm 22 đồng chí (19 Ủy viên chính thức, 03 ủyviên dự khuyết) Ban chấp hành bầu 07 đồng chí vào Ban thường vụ tỉnh ủy Đồngchí Trần Quốc Mạnh được bầu làm bí thư tỉnh ủy
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ II được tiến hành từ ngày 28/03
đến ngày 05/04/1970, tại hội trường lớn của tỉnh về dự đại hội có 156 đại biểu Đạihội bầu ban chấp hành gồm 23 đồng chí (20 Ủy viên chính thức, 03 Ủy viên dựkhuyết) Ban chấp hành bầu 07 đồng chí vào ban thường vụ tỉnh ủy Đồng chíNguyễn Văn Xã được bầu làm bí thư tỉnh ủy
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ III được tiến hành từ ngày 26/04
đến ngày 01/05/1975, tại Hội trường lớn của tỉnh dự đại hội có 162 đại biểu Đạihội bầu ban chấp hành gồm 28 đồng chí (23 Ủy viên chính thức, 05 Ủy viên dựkhuyết) Ban chấp hành bầu 07 đồng chí vào ban thường vụ tỉnh ủy Đồng chíNguyễn Văn Xã tiếp tục được bầu làm bí thư tỉnh ủy
Trang 10* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ IV được tiến hành thành 2 vòng:
Vòng 1: Diễn ra từ ngày 11 đến ngày 20 tháng 11 năm 1976, Tại hội trường
Ủy ban nhân dân tỉnh (thị xã Lai Châu) về dự đại hội có 209 đại biểu
Vòng 2: Diễn ra từ ngày 07 đến 12/03/1977, Tại hội trường ủy ban nhân dântỉnh (thị xã Lai Châu) về dự Đại hội có 220 đại biểu Đại hội bầu ban chấp hànhgồm 35 đồng chí (31 Ủy viên chính thức, 04 Ủy viên dự khuyết) Ban chấp hànhbầu 11 đồng chí vào ban thường vụ tỉnh ủy Đồng chí Hoàng Tinh được bầu làm bíthư tỉnh ủy
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ V được tiến hành từ ngày 27 đến
ngày 29/10/1980, tại Hội trường lớn của tỉnh dự đại hội có 18 đại biểu Đại hội bầuban chấp hành gồm 39 đồng chí (37 Ủy viên chính thức, 02 Ủy viên dự khuyết)Ban chấp hành bầu 13 đồng chí vào ban thường vụ tỉnh ủy Đồng chí Hoàng Tinhtiếp tục được bầu làm bí thư tỉnh ủy
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ VI được tiến hành thành 2 vòng:
Vòng 1: Diễn ra từ ngày 08 đến ngày 15 tháng 1 năm 1982,
Vòng 2: Diễn ra từ ngày 20 đến 24/01/1983, Tại hội trường ủy ban nhân dântỉnh (thị xã Lai Châu) về dự Đại hội có 202 đại biểu Đại hội bầu ban chấp hànhgồm 41 đồng chí (39 Ủy viên chính thức, 02 Ủy viên dự khuyết) Ban chấp hànhbầu 13 đồng chí vào ban thường vụ tỉnh ủy Đồng chí Nguyễn Niệm được bầu làm
bí thư tỉnh ủy
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ VII được tiến hành từ ngày 08
đến ngày 14/10/1986, tại Hội trường lớn của tỉnh dự đại hội có 240 đại biểu Đạihội bầu ban chấp hành gồm 49 đồng chí (41 Ủy viên chính thức, 08 Ủy viên dựkhuyết) Ban chấp hành bầu 12 đồng chí vào ban thường vụ tỉnh ủy Đồng chíNguyễn Niệm tiếp tục được bầu làm bí thư tỉnh ủy
* Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lần thứ VIII được tiến hành thành 2
vòng:
Vòng 1: Diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 4 năm 1991,
Vòng 2: Diễn ra từ ngày 23 đến 27/09/1991, về dự Đại hội có 248 đại biểu.Đại hội bầu ban chấp hành gồm 45 đồng chí Ban chấp hành bầu 13 đồng chí vào