Quán triệt và vận dụng thực hiện tư tưởng của Người, trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã xác định quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách Xây dựng khung pháp lý vữn
Trang 1THANH TRA CHÍNH PHỦ
BAN TỔ CHỨC CUỘC THI
TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ
PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
Họ tên người dự thi: ĐỖ THỊ HUẾ
Ngày tháng năm sinh: 27/07/1993
Số căn cước công dân: 012193000976 do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/04/2021
Địa chỉ: Bản Máy Đường, thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Đơn vị công tác: Ủy ban nhân dân xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Số điện thoại: 0968178993
A PHẦN TRẮC NGHIỆM
B PHẦN TỰ LUẬN
Anh (Chị) hãy trình bày và phân tích các giai đoạn của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta từ năm 1945 đến nay?
Trả lời
1 Trình bày và phân tích các giai đoạn của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta từ năm 1945 đến nay:
Trang 21.1 Khái quát quan điểm của Hồ chí Minh về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, khái niệm tham nhũng
Tham nhũng và chống tham nhũng là hiện tượng xã hội đã có từ lâu trong lịch
sử Tham nhũng nổi lên như căn bệnh ác tính bùng phát đe dọa cả nền kinh tế, văn hóa đạo đức của loài người có sức tàn phá và ngăn cản rất nhiều đối với sự phát triển của mọi quốc gia, nhiều quốc gia coi tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm, một quốc nạn trực tiếp tàn phá sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, gây mất ổn định xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ Trong hơn 30 năm đổi mới nhiều quốc gia, nhiều khu vực đã hao tâm, tổn trí rất nhiều vào việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng tuy nhiên hiệu quả vẫn còn chưa cao
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: biểu hiện trong 10 hành vi bất liêm
của cán bộ đó là: “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên; Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư” Tham ô, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng” và biện pháp quan trọng hàng đầu để đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí chính là giáo dục tư tưởng cho quần chúng Chống tham ô, lãng phí là cách mạng, là dân chủ Sự nghiệp cách mạng
do toàn thể quần chúng nhân dân tiến hành, Người nói: “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, quan liêu còn chỗ ẩn nấp Tham ô và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và
của chính phủ” nó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm vì nó không mang gươm, mang súng mà
nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng mọi việc của ta” Bên cạnh đó, công tác
chống tham ô, lãng phí rất quan trọng, cần phải có sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành quan tâm và tiến hành thường xuyên, phải nắm được quan điểm chỉ đạo cuộc đấu tranh trên mặt trận này mới đạt được hiệu quả Vì vậy, quan điểm của Người trong chỉ đạo phòng, chống tham ô, lãng phí là: “phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải
có lãnh đạo và trung kiên”; đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí cần phải bằng hệ thống các biện pháp đồng bộ, cả trước mắt và lâu dài, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và
“chống”; cùng với việc xây dựng cơ chế phòng, chống, tấn công tham ô, lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, cần xác định và tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm
Quán triệt và vận dụng thực hiện tư tưởng của Người, trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã xác định quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách Xây dựng khung pháp lý vững chắc, có cơ chế quản lý Nhà nước công khai, minh bạch
để không thể tham nhũng, nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng vừa đảm bảo tính giáo dục, răn đe, trừng trị thích đáng những cán bộ vi phạm để không dám tham nhũng và đề ra những giải pháp cơ bản, có tính chiến lược
về phòng, chống tham nhũng phù hợp với thực tiễn trong tình hình mới
Vậy khái niệm Tham nhũng được hiểu như thế nào? Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về khái niệm Tham nhũng Có quan điểm xem xét “tham nhũng
là việc sử dụng hoặc chiếm đoạt trái phép của công Có quan điểm nhận định: “tham nhũng là một hiện tượng xã hội trong đó tổ chức, tập đoàn, cá nhân lợi dụng những ưu thế về chức vụ, cương vị, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để làm lợi bất chính”1 Liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế (WB, tổ chức minh bạch quốc tế -TI) định nghĩa tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ công vì lợi ích tư, cần chú ý là “Chức vụ công” trong định nghĩa cũng
1 Phan Xuân Sơn: Quyền lực công cộng, sự tha hóa quyền lực công cộng và tham nhũng, tạp chí nghiên cứu luật,
số 3/2008
Trang 3được hiểu rất rộng, bao gồm tất cả những chức vụ của mọi tổ chức (nhà nước và phi nhà nước) với nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên chúng ta có thể
hiểu khái niệm tham nhũng một cách chung nhất ““Tham nhũng là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” 2
Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng,
do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm
vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó
Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn
nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng
1.2 Các giai đoạn của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta từ năm 1945 đến nay:
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 giai đoạn đánh dấu bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời.
Cuộc cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ
Nhận rõ tầm quan trọng của Hiến pháp, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời vào ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị sớm tổ chức tuyển
cử và xây dựng Hiến pháp nhằm trước hết ban bố quyền dân chủ của nhân dân và hợp thức hóa chính 2 quyền do nhân dân lập nên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Nhà nước Việt Nam đã ban hành 479 văn bản pháp luật, trong đó có 243 sắc lệnh, 172 nghị định, 46 thông tư và 12 văn bản khác Ngày 23 tháng 11 năm 1945, nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt Bản Sắc lệnh là văn kiện mang tính pháp lý
về công tác thanh tra cũng như về công việc xét xử của tòa án, là cơ sở pháp lý cho
viên của các UBND và các cơ quan của Chính phủ
Sắc lệnh đã trao cho Ban Thanh tra đặc biệt "Thượng phương bảo kiếm" với các chức năng:
- Nhận đơn khiếu nại của nhân dân
- Điều tra, hỏi chứng, xem xét tài liệu, giấy tờ của các UBND hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát
2 Quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Trang 4- Đình chỉ bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay của Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng Chính phủ hay Toà án đặc biệt xét xử
Ngày 19/11/1946 Quốc hội khoá I thông qua Hiến pháp năm 1946 - bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh Với Hiến pháp năm 1946, nhân dân ta đã có cơ sở hiến định để được hưởng các quyền tự do dân chủ, được tham gia tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Hiến pháp năm 1946 đã củng cố nền độc lập vừa giành được, hợp thức hóa chính quyền mới
Ngày 27/11/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 223 về việc: "xử phạt đối với tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ, biển thủ công quỹ hoặc của công dân"
Sắc lệnh 223 là Đạo luật chống tham nhũng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Chỉ có 5 điều với 300 chữ nhưng Sắc lệnh 223 hội đủ nội dung cơ bản của một văn bản quy phạm pháp luật về việc chống tham nhũng và cũng thể hiện tính nghiêm minh và nhân đạo của một Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân Việc xử Trần Dụ Châu, nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu Bộ Quốc phòng là một trong những minh chứng điển hình cho hiệu lực và tính khả thi của văn bản pháp quy này
Vào năm 1950 ngày 5/9, tại chiến khu Việt Bắc diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi Kết thúc phiên tòa Trần Dụ Châu bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình Sự việc được báo cáo lên Hồ Chủ tịch Người đã cân nhắc kỹ và quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu
Trong giai đoạn này đã xây dựng được một số sắc lệnh, văn bản có nội dung liên quan Tuy nhiên văn bản riêng biệt về phòng, chống tham nhũng thời kỳ này chúng ta chưa có
1.2.2 Giai đoạn từ cuối năm 1954 đến trước khi ban hành Hiến pháp năm 1959
Đây là thời kỳ miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào khôi phục kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa; chuẩn bị cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Trong thời kỳ này Nhà nước ta đã ban hành 8 đạo luật, 30 sắc lệnh, 70 nghị định, 36 nghị quyết, 60 quyết định, 920 thông tư, 97 chỉ thị và 74 văn bản có tính pháp quy khác Có thể nhận thấy những năm thực hiện cải cách ruộng đất về cơ bản, Đảng lao động Việt Nam và Nhà nước ta đã đạt được mục tiêu đề ra là đem lại ruộng đất cho dân cày Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bộc lộ nhiều bất cập Cần ban hành nhiều đạo luật bảo đảm các quyền tự do thân thể, bất khả xâm phạm về nhà ở
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Hiến pháp năm 1959 đến năm 1975
Ngày 31/12/1959 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1959 quy định chế độ chính trị, kinh tế và xã hội của nước ta; quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân, nhằm phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng nước nhà, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc
Một số văn bản pháp luật, chủ yếu là do Chính phủ ban hành, có quy định rải rác về các biện pháp phòng ngừa và chống tham nhũng như:
Trang 5- Chỉ thị số 84/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/9/1964 về việc tổng hợp tình hình tham ô, lãng phí quan liêu;
- Quyết định số 207/CP ngày 6/12/1962 về việc vận động nêu cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô lãng phí, quan liêu;
Pháp lệnh số 149/LCT ngày 21/10/1970 pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1976 đến trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 1980
Tháng 7/1976 nước ta thực hiện sự thống nhất về mặt Nhà nước Từ năm 1976 đến trước khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua Nhà nước ta đã ban hành trên 800 văn bản pháp luật, trong đó có một luật, 3 pháp lệnh 532 văn bản của Chính phủ, 241 văn bản của các Bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ Trong giai đoạn
1976-1980 đây là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn chuẩn bị cho các bước phát triển tiếp theo của pháp luật nước ta
1.2.5 Giai đoạn từ năm 1980 đến trước khi ban hành Hiến pháp năm 1992
Ngày 18/12/1980 Hiến pháp mới đã được Quốc hội thông qua Năm 1986, tại Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam chính thức tuyên bố việc đề ra và thực hiện đường lối đổi mới ở Việt Nam Từ thời điểm này pháp luật Việt Nam dường như
có sự lột xác và có sự đổi mới rất cơ bản Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm
vụ mới cần sửa đổi Hiến pháp năm 1980 Giai đoạn này Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật quy định rải rác các nội dung về phòng, chống tham nhũng3 Tuy nhiên trong giai đoạn này hoạt động xây dựng pháp luật không có được khởi sắc cần thiết
1.2.6 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1998
Trong bối cảnh đó Hiến pháp năm 1992 đã ra đời trong nội dung của bản Hiến pháp này có nhiều điểm mới Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước tôn trọng quyền con người, quyền công dân; Nhà nước ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước đã được Hiến pháp năm 1992 điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn, thực quyền hơn Một số văn bản pháp luật có nội dung phòng, chống tham nhũng ra đời 4 Một thành tựu nổi bật trong hoạt động lập pháp trong giai đoạn này là việc thông qua
Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước ta dưới chính thể mới vào năm 1995 Trước khi ban hành pháp lệnh phòng, chống tham nhũng là thời kỳ luật pháp, chính sách còn nhiều bất cập không theo kịp với sự vận động, phát triển của đời sống xã hội đang chuyển mạnh từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường sản xuất bung ra nhưng thiếu vốn, cơ chế cứng nhắc Quyền lực ở các địa phương bắt đầu được tăng cường, các địa phương đều lấy Nghị quyết cấp ủy Đảng, nghị quyết HĐND làm văn bản pháp lý cao nhất để
3 Quyết định số 240/HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng; Chỉ thị số 416/CT ngày 3/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Chỉ thị số 08/CT-TATC ngày 06/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao về việc chống tham nhũng, buôn lậu qua biên giới và một số tội phạm kinh tế khác;
4 Quyết định số 114/TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tham nhũng, buôn lậu; Chỉ thị số 171/TTg ngày 16/12/1990 của Thủ tướng Chính phủ về việc chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản…
Trang 6thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội Thời kỳ này hiện tượng phổ biến là các cấp từ xã, huyện đến tỉnh thi nhau “chạy” dự án; “chạy” kinh phí được cấp phát từ ngân sách nhà nước; bán đất Trong phạm vi cả nước năm 1997 cơ quan điều tra các cấp đã phát hiện, khởi tố 3856 vụ án kinh tế (tăng 5,6% so với năm 1996) trong đó các tội phạm về tham nhũng tăng đáng kể Năm 1998 khởi tố 3546 vụ án kinh tế, đa số có liên quan đến tham nhũng.5 Tình hình tham nhũng diễn biến ngày càng phức tạp trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, quản lý đất đai, ngân sách đến đầu tư xây dựng, văn hóa xã hội Yêu cầu bức thiết của giai đoạn cần có một văn bản quy định riêng về công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng hội
nhập quốc tế Nâng cao hiệu quả của việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng,
tăng cường kỷ cương pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2005
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; ngày 26/02/1998 Pháp lệnh số 02-L/CTN Pháp lệnh của ủy ban thường vụ Quốc Hội
về việc chống tham nhũng ra đời đánh dấu bước đột phá về nhận thức trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước
Đây là văn bản pháp lý đầu tiên chuyên biệt về chống tham nhũng, trong đó đưa
ra định nghĩa về hành vi tham nhũng, người có chức vụ quyền hạn, các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng cũng như qui định cụ thể có tính chất "lượng hoá" để phân biệt các hình thức xử lý người có hành vi tham nhũng
Năm 1999 chúng ta ban hành Bộ Luật hình sự , trong đó quy định một nhóm tội tham nhũng bao gồm 07 tội danh Vì vậy đến năm 2000, Pháp lệnh số 22/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 4 năm 2000 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh chống tham nhũng cho phù hợp với Bộ luật hình sự)
Trên có sở các quy định của Pháp lệnh chống tham nhũng, các cấp, các ngành
đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời nhiều vụ việc tham nhũng, thu hồi một số lượng lớn tiền, tài sản cho nhà nước
và nhân dân kiến nghị thu hồi tài sản và xử lý hành chính 7584 trường hợp, xử lý hình
sự 319 vụ với 712 đối tượng Theo báo cáo thực hiện pháp lệnh chống tham nhũng của
47 tỉnh, thành phố và 20 bộ ngành từ năm 2000 đến 2004 đã phát hiện và xử lý 8.851
vụ tham nhũng với trên 12.438 người Tổng số cán bộ có hành vi tham nhũng bị xử lý hành chính là 9665 người6 Trên quy mô toàn quốc thiệt hại về vật chất trong các vụ tham nhũng đã được khám phá tăng dần Năm 1993 là 319 tỷ đồng, năm
2004 là 712 tỷ đồng.Trong năm năm (2001-2005, Thanh tra Chính phủ và thanh tra các cấp đã tiến hành 58.664 cuộc thanh tra chủ yếu trong các lĩnh vực đầu
tư xây dựng, quản lý, sử dụng đất đai và các Tổng công ty nhà nước có dấu hiệu tiêu cực được dư luận quan tâm
Tuy nhiên qua thực tiễn triển khai thực hiện, Pháp lệnh chống tham nhũng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tham nhũng, cũng như các biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn chưa đầy đủ, chưa cụ thể; quy định trách nhiệm chung cho các cơ quan nhà
5 WWW.chungta.com , 30/11/2006, Nguyễn Ngọc Chí, ĐHQG Hà Nội, đặc điểm Tham nhũng ở Việt Nam
6 Thanh tra tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu, hiện trạng và giải pháp PCTN, chuyên đề phục vụ dự án FLC 08-01,2008
Trang 7nước trong phòng, chống tham nhũng mà chưa có qui định về cơ chế phối hợp để lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng trong đấu tranh chống tham nhũng
Mặt khác, việc xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn cụ thể của từng cơ quan có nhiệm vụ chống tham nhũng chưa được phân định rõ ràng, thiếu cơ chế điều phối hoạt động; chưa có các quy định để tạo điều kiện cho cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát áp dụng các biện pháp có hiệu quả để đấu tranh chống tham nhũng; cơ chế tiếp nhận và xử lý tố cáo tham nhũng chưa hợp lý; thiếu các quy định tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khuyến khích tố cáo tham nhũng; chưa có qui định nhằm tạo ra
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, đoàn thể xã hội, cơ quan báo chí, cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, công dân nhằm phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng; Mặt khác yêu cầu của quá trình hội nhập nói chung, trong lĩnh vực pháp luật nói riêng, đặc biệt là việc chúng ta ký kết và tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu ban hành đạo luật mới, tạo ra một khuôn khổ pháp luật đầy đủ và mạnh mẽ hơn để nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Vì những lý do đó, ngày 29/11/2005, Quốc hội khoá
XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng
1.2.5 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2006, là đạo luật đầu tiên do Quốc hội ban hành có hiệu lực pháp luật cao Thời gian đầu triển khai Luật PCTN (2006-2007) các cơ quan bảo vệ pháp luật trong cả nước như: Thanh tra, Tòa Án, Công an, Kiểm sát đã hoạt động rầm rộ thanh tra, điều tra xử lý nhiều vụ tham nhũng Thanh tra Chính phủ tiến hành nhiều cuộc thanh tra dự
án, công trình có vốn đầu tư lớn Theo số liệu báo cáo chỉ trong tám tháng đầu năm
2006 trên cả nước, cơ quan cảnh sát điều tra về tội phạm kinh tế đã phát hiện 5.855 vụ trong đó 489 vụ xâm phạm sở hữu, làm thiệt hại 700.013 triệu đồng, thu hồi 82.429 triệu đồng; 5366 vụ buôn lậu và tội phạm kinh tế thu giữ hàng hóa trị giá hơn 90.570 triệu đồng Cơ quan điều tra khởi tố 456 vụ với 815 bị can; xử phạt hành chính 3.075
vụ Việc hoạt động tích cực này đã mang lại những kết quả một mặt răn đe người có điều kiện tham nhũng tham nhũng bước đầu được ngăn chặn so với trước khi có luật phòng chống tham nhũng Bên cạnh Luật phòng chống tham nhũng Chính phủ cũng ban hành hàng loạt các văn bản triển khai luật phòng, chống tham nhũng7
7 - Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng.
- Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.
- Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/ 2007 của Chính phủ quy định về minh bạch tài sản, thu nhập Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số 37/2007/NĐ-CP.
- Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng.
- Nghị định số 102/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ quy định thời hạn không được kinh doanh trong lĩnh vực có trách nhiệm quản lý đối với những người là cán bộ, công chức, viên chức sau khi thôi giữ chức vụ.
- Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định về danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Trang 8Tuy nhiên sau hai năm triển khai hiệu quả vẫn chưa cao có biểu hiện ngưng trệ
Tiếp theo đó, ngày 04/8/2007, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng Nhằm điều chỉnh công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi cá nhân Nhằm kịp thời khắc phục một số bất cập trong quá trình thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và thể chế hóa các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3 khóa X, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng Chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2013 với việc bổ sung 9 điều mới, sửa đổi, bổ sung 15 điều và bãi bỏ 1 điều Việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, theo hướng thực chất hơn Đồng thời giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng để xác minh làm rõ Trong giai đoạn này chính phủ cũng ban hành một số văn bản mới để triển khai các nội dung luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi 20128
Sau hơn 10 năm thi hành Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi bổ sung 2007, 2012) đã đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu, số
vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện còn ít, một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm, thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta Kết quả thực hiện Luật PCTN cho thấy, những bất cập của Luật là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Để khắc phục tình trạng này, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, bộ luật cho công tác PCTN Từ sau hội nghị toàn quốc về công tác PCTN năm 2014, thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng Bộ chính trị (khóa X) ra Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 7/12/2015 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng; Nghị quyết hội nghị trung ương 4 (khóa XII) ‘Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.Từ năm 2014 đến 6 tháng đầu năm 2018 Quốc hội đã xây dựng, bổ sung, sửa đổi 94 luật, pháp lệnh 88 nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội và PCTN Chính phủ, thủ tướng chính phủ đã ban hành 694 Nghị định, 518 Nghị quyết, 281 quyết định Cấp ủy, UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức Đảng và 58.120 đảng viên vi phạm trong đó 2720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng,
cố ý làm trái
Thanh tra Chính phủ đã triển khai 29.429 cuộc thanh tra hành chính, 872.941 cuộc thanh tra kiểm tra chuyên ngành Kiến nghị thu hồi 188.476 tỷ đồng, 9221 ha đất, chuyển điều tra xử lý hình sự 338/436 đối tượng Kiểm toán nhà nước đã tiến hành kiểm toán 829 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi 74.897 tỷ đồng Cơ quan điều tra trong cả nước đã khởi tố 971/2010 bị can Viện kiểm soát nhân dân các cấp đã truy tố
8 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/06/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2012; Nghị định số 78/2013/NĐ-CP quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/08/2013 quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước trong thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.
Trang 91060 vụ án/2444 bị can Tòa án nhân dân các cấp xét xử sơ thẩm 968 vụ án/2297 bị cáo về các tội tham nhũng nổi lên trong số đó vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm, Đinh La Thăng và đồng phạm, Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm…
Trong thời gian qua Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng có liên quan đến PCTN như Luật Ngân Sách Nhà nước, Luật Đầu Tư, Luật đầu tư công, Luật doanh nghiệp, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự Các đạo luật này đã đưa ra nhiều quy định có liên quan như quy định về công khai, minh bạch trong lĩnh vực tài chính, ngân sách, đấu thầu, quản lý doanh nghiệp Nhà Nước, các quy định về tội phạm tham nhũng và các tội phạm về chức vụ (mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả khu vực ngoài Nhà nước đối với tội tham ô, đưa hối lộ…)
Kết quả đánh giá thực thi Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng trong chu trình đầu tiên đối với chương III về hình sự hóa thực thi pháp luật và chương IV
về hợp tác quốc tế cho thấy Việt Nam đáp ứng phần lớn các yêu cầu của Công ước, Đặc biệt là các yêu cầu mang tính bắt buộc Chu trình đánh giá tiếp theo đối với Chương II về phòng ngừa tham nhũng và Chương IV về thu hồi tài sản bắt đầu từ năm
2016 đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam Theo đó cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong cả khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước một cách toàn diện sâu sắc
Từ những lý do trên Việc ban hành Luật PCTN năm 2018 để thay thế Luật PCTN năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012) là rất cần thiết
Ngày 20/11/2018, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2019, là đạo luật có hiệu lực pháp luật cao, phù hợp với tình hình của đất nước, quốc tế, được dư luận đánh giá là một đạo luật quy định khá toàn diện, đầy đủ, và hiện đang có hiệu lực thi hành
Chúng ta có thể điểm qua kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng năm 2020 để thấy Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 đã phát huy tốt tạo khung pháp lý vững chắc
Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ trình Quốc hội tháng 10 các bộ, ngành, địa phương đã tiến hành hơn 3.940 cuộc kiểm tra việc thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, phát hiện 394 vụ việc và 521 người vi phạm (tăng hơn 38% số vụ và hơn 80% số người vi phạm so với năm 2019) đã xử lý kỉ luật 65 người, xử lý hình sự 64 người; Kiến nghị thu hồi và bồi thường hơn 44 tỉ đồng, đã được thu hồi và bồi thường trên 24 tỷ đồng Các bộ, ngành, địa phương đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức tại hơn 4.640 cơ quan, tổ chức, đơn vị (tăng gần 59% so với năm 2019) phát hiện, chấn chỉnh các sai phạm và xử lý 192 cán bộ9
Năm 2020 có 69 người đứng đầu và cấp phó bị xử lý kỉ luật tăng 39 người so với năm 2019 và 12 người bị xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng
9 Có 8 trường hợp bị đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giáo do có xung đột lợi ích 3 trường hợp nộp lại quà tặng trị giá gần 32 triệu đồng qua hoạt động thanh tra phát hiện một cơ quan (sở công thương tỉnh Tây Ninh) nhận quà tặng không đúng quy định đã thu hồi tiền vi phạm 210 triệu đồng và tiến hành
xử lý vi phạm.
Trang 10- Toàn ngành thanh tra đã triển khai gần 6.900 cuộc thanh tra hành chính và hơn 210.000 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành Qua thanh tra phát hiện vi phạm về kinh tế hơn 119.500 tỉ đồng, hơn 9.000 ha đất; kiến nghị thu hồi hơn 44.500 tỉ đồng và trên 1.400 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính hơn 2.650 tập thể và nhiều cá nhân…
- TAND các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 436 vụ với 1.175 bị cáo, đã xét
xử sơ thẩm 269 vụ/645 bị cáo phạm các tội tham nhũng Trong đó có tám bị cáo bị tuyên phạt tù chung thân hoặc tử hình; xét xử phúc thẩm 158 vụ, 326 bị cáo
- Về kết quả thi hành án liên quan đến việc thu hồi tài sản tham nhũng nói chung, số thi hành xong là hơn 3.600 việc (đạt tỉ lệ hơn 84% số
vụ việc có điều kiện thi hành) Số tiền thu được là hơn 15.000 tỉ đồng, đạt
tỉ lệ 43,42% số có khả năng thi hành
- Năm 2020, các cấp, các ngành đã tiến hành chuyển đổi vị trí công tác nhằm phòng ngừa tham nhũng đối với hơn 17.900 cán bộ, công chức, viên chức (tăng hơn 50% so với năm 2019)
Trên đây là nội dung trình bày và phân tích các giai đoạn của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta từ năm 1945 đến nay Với trình độ nhận thức của bản thân em còn hạn chế Thời gian nghiên cứu, tìm hiểu không dài nên không tránh khỏi những thiếu xót Kính mong Ban tổ chức cuộc thi, Ban giám khảo sau khi công bố kết quả sẽ công khai đáp án câu hỏi để nhân dân trong cả nước biết và
có tài liệu chính thống về các giai đoạn phát triển của pháp luật về phòng chống tham nhũng ở nước ta từ năm 1945 đến nay
2 Một số giải pháp của bản thân đưa ra sau khi nghiên cứu về Pháp luật phòng chống tham nhũng ở nước ta
Công tác phòng chống tham nhũng đã đạt được những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên trong thời gian tới tình hình tham nhũng còn tiềm ẩn nhiều nguy
cơ phát sinh nó được ví như một căn bệnh hiểm ác tiềm ẩn trong nhận thức của con người Vậy để ngăn chặn và giữ vững thành quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, củng cố lòng tin của nhân dân, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính Theo em cần chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp:
2.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng
Người đứng đầu phải phát huy được vai trò, trách nhiệm, gương mẫu, quyết liệt, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phòng ngừa, phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí và hành vi bao che, dung túng, cản trở việc chống tham nhũng của các cá nhân, tổ chức Chủ động lắng nghe nắm bắt thông tin dư luận xã hội Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói “Cán bộ cấp cao phải gương mẫu, nghiêm khắc với bản thân”