1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ 70 NĂM THÀNH LẬP HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

121 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 30,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nêu bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ: Bối cảnh lịch sử ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ: Sau khi chiếm được Lai Châu tháng 4-1890, thực dân Pháp ra s

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Tổ chức, Ban Giám khảo đã nghiên cứu, xây dựng và tổ chức nên cuộc thi hay và vô cùng ý nghĩa với nội dung câu hỏi bao quát rộng, đề cập nhiều vấn đề, nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của Đảng bộ huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay Cuộc thi là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có tác dụng giáo dục sâu sắc đối với cá nhân tôi, cũng như toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn huyện.Giúp người tham gia bài dự thi có nhận thức và có cái nhìn tổng quát về lịch sử địa phương.

Tự hào về truyền thống lịch sử của Đảng bộ huyện;hun đúc cho thế hệ trẻ thanh niên tình yêu quê hương, yêu mảnh đất nơi sinh ra và lớn lên với những trang lịch sử hào hùng Hiểu biết, có nhận thức đúng đắn về đặc điểm tình hình, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tiềm năng thế mạnh của từng xã từ đó tập trung khai thác, phát huy thế mạnh góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Củng cố lòng tin vững chắc vào vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong lịch

sử, hiện tại và tương lai

Đối với riêng bản thân sau khi nghiên cứu làm bài dự thi, tôi đã hiểu biết thêm về lịch sử của huyện nhà, về vai trò to lớn của Huyện ủy trong công tác lãnh, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Huyện ủy luôn đổi mới tư duy về kinh tế, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng Ra sức đào tạo cán bộ tại chỗ nhằm phát huy vai trò quy tụ, tập hợp đoàn kết nhân dân các dân tộc Huyện ủy luôn xác định những yếu tố có tính đột phá để phát triển địa phương đó là giao thông, sản xuất hàng hóa, giáo dục và thông tin; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, bộ mặt của huyện nhanh chóng được thay đổi theo hướng tích cực, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Tự hào về những thành tích đã đạt được trong lao động, sản xuất, xây dựng và bảo vệ quê hương Tôi tự nhủ sẽ

cố gắng thật nhiều đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển của huyện thông qua việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được cấp trên giao phó; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Tôi hi vọng trong thời gian tới Ban Thường vụ Huyện ủy sẽ phát động và

tổ chức nhiều cuộc thi viết, liên quan đến nhiều vấn đề như tìm hiểu về lịch sử Đảng bộ huyện Tam Đường, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện, các sản phẩm, các làng nghề truyền thống, để tôi và tất cả cán

bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện

có cơ hội được tìm hiểu về lịch sử, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh – quốc phòng, về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Phát huy lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" Phải hiểu rõ được lịch sử bởi lẽ lịch sử là những gì thuộc về quá khứ nếu không có quá khứ sẽ không có hiện tại và tương lai “Biết” quá khứ để rút kinh nghiệm và vận dụng cho hiện tại và tương lai.Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

BÀI DỰ THI CUỘC THI “TÌM HIỂU LỊCH SỬ 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP

ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM ĐƯỜNG”

Đáp án đúng: Đáp án C Năm 1950; Tỉnh ủy Lào Cai

Câu 2 Khu du kích Bình Lư và Tam Đường được thành lập vào thời gian nào?

bầu làm bí thư châu ủy

Câu 6 Phong Thổ là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh lai châu

từ năm nào?

Đáp án đúng: Đáp án C: Năm 1962

Câu 7 Cán bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang huyện Phong Thổ đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu gì?

Trang 3

Câu 8 Huyện Tam Đường được chia tách thành lập năm nào? Khi mới thành lập huyện Tam Đường có bao nhiêu xã, thị trấn?

Đáp án đúng: Đáp án B: 2002; có 14 xã và 01 thị trấn

Câu 9 Tính đến 31/3/2020 huyện Tam Đường có bao nhiêu xã (thị trấn), bản?

Đáp án đúng: Đáp án C: 13 xã, thị trấn và 126 bản

Câu 10 Sau khi thành lập, huyện ủy lâm thời Tam Đường chính thức

ra mắt, đi vào hoạt động ngày, tháng, năm nào?

Đáp án đúng: Đáp án C: Ngày 21/9/2002

Câu 11: Từ khi chia tách thành lập huyện đến tháng 6 năm 2020, Đảng bộ huyện Tam Đường có mấy lần tổ chức Đại hội?

Đáp án đúng: Đáp án B: 4 lần

Câu 12 Tính đến 31/3/2020 Đảng bộ huyện Tam Đường có bao nhiêu

tổ chức cơ sở Đảng, bao nhiêu tổ chức Đảng trực thuộc Đảng bộ cơ sở?

Đáp án đúng: Đáp án A: 50 chi, Đảng bộ cơ sở; 198 chi bộ trực thuộc

Đảng bộ cơ sở

Câu 13 Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tam Đường lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra những chương trình trọng điểm nào?

Đáp án đúng: Đáp án C: Cả hai phương án trên

Câu 14 Chủ đề: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, dịch vụ, xây dựng nông thôn mới; tăng cường quốc phòng – an ninh; đưa Tam Đường thành huyện phát triển khá trong tỉnh” được Đại hội đại biểu

Đảng bộ huyện lần thứ mấy đề ra?

Đáp án đúng: Đáp án C: Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX Câu 15 Tính đến 31/3/2020, huyện Tam Đường có những xã nào được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới?

Đáp án đúng: Đáp án A: Bình Lư, Bản Bo, Bản Giang, Bản Hon, Nùng

Nàng, Hồ Thầu

II PHẦN THI VIẾT

Câu 1: Ban Cán sự Đảng Phong Thổ được thành lập ngày, tháng, năm nào? gồm bao nhiêu đồng chí, ai là Trưởng Ban Cán sự đầu tiên? Nêu bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ?

Trang 4

Cai về thành lập Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ Ngày 1-10-1950, Ban cán

sự Đảng huyện Phong Thổ ra đời

Vậy Ban cán sự đảng huyện Phong Thổ ra đời trong hoàn cảnh ra sao?Cuộc tấn công lên Việt Bắc Thu Đông năm 1947 với âm mưu chiến lược

“ Đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp hoàn toàn bị phá sản Địch lâmvào thế bị động buộc phải chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực thi chínhsách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người việt Từ đầunăm 1948, địch đã đẩy mạnh âm mưu trên tại Tây Bắc Chúng lập ra khu quân

sự Tây Bắc, phía dưới có phân khu và tiểu khu, ra sức bắt lính, xây dựng ngụyquân, ngụy quyền, thành lập các tiểu đoàn người Thái, củng cố các vị trí chiếmđóng, đẩy mạnh việc vơ vét nhân tài, vật lực để nuôi dưỡng cuộc chiến tranhxâm lược

Sau chiến thắng Việt Bắc, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị mởrộng từ 15-17/01/1948 nhằm kiểm điểm tình hình mọi mặt sau hơn một nămkháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn mới

Đối với Tây Bắc nơi có vị chí chiến lược quan trọng Trung ương đã đề ranhiệm vụ xây dựng vùng Tây Bắc thành căn cứ địa vững chắc nối liền Việt Bắc

Để thống nhất lực lượng, thống nhất sự chỉ huy tác chiến, kịp thời đối phó với

âm mưu, thủ đoạn mới của thực dân pháp, ngày 25/01/1948, Chính phủ ra sắclệnh số 20/SL chính thức sát nhập khu X, Khu IV thành liên khu X (Liên khu Xbao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang,Phú Thọ và Vĩnh Yên;đồng chí Bùi Quang Tạo được cử làm bí thư liên khu ủy;đồng chí Bằng Giang được chỉ định làm Liên khu trưởng; đồng chí Song Hào làchính ủy Liên Khu; đồng chí Lê Trọng Tấn là Liên khu phó)

Tiếp đó Bộ tổng tư lệnh quyết định thành lập Bộ chỉ huy Quân khu X vàchỉ đạo Liên khu nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa và giải phóng đồng bào Tây Bắc

là nhiệm vụ căn bản của liên khu X

Thực hiện chỉ thị của Bộ tổng tư lệnh và Nghị quyết hội nghị Đảng bộLiên khu X, sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 31/03/1948, Liên khu ủy X

đã chỉ thị về việc thành lập “Ban xung phong Quyết Thắng” (còn gọi là banxung phong Tây Bắc ở Lào Cai) gồm đồng chí Tiến Thanh, trung đoàn trưởngtrung đoàn 97 và đồng chí Trần Khánh cán bộ Việt Minh Cùng làm nhiệm vụxây dựng căn cứ địa Tây Bắc còn có Ban xung phong Trung Dũng (Sơn La),Ban xung phong Quyết tiến (Yên Bái)

Hướng xung phong từ Yên Bái tiến vào Phong Thổ dự kiến theo hai Đường:

- Qua Thủy Vỹ, Cam Đường, Sa Pa vào Bình Lư, Tam Đường, Phong Thổ

- Hoặc từ Thủy Vĩ, Cam Đường hướng về Bảo Thắng, Bát Xát, MườngHum sang Phong Thổ

Sau khi cân nhắc kỹ, Liên khu ủy X đã quyết định đường thứ hai là đườngtiến quân của đội vũ trang tuyên truyền vì đường này đông dân, dễ nắm dân và

Trang 5

tiếp tục thuận lợi hơn

Nhằm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở cơ sở Một phần đội ngũ vũ trangtuyên truyền từ vùng tự do Yên Bái hoạt động lên phía đông nam Phong Thổ,tiến vào Tam Đường, thu hút nhiều quần chúng trung kiên tham gia vào đội ngũ

vũ trang tuyên truyền và làm chủ địa phương trong vòng nửa tháng Khi lựclượng bộ đội rút khỏi Tam Đường Một số dân đã đi theo hoặc rút vào rừng đểtránh sự khủng bố của địch

Cuối năm 1949, đại đội độc lập Kim Sơn (là đại đội 520 thuộc trung đoànYên Bái do đồng chí Đinh Kim Sơn và Võ Thiết Cương phụ trách) từ ThanUyên được điều động lên hoạt động ở phía đông nam huyện Phong Thổ đượcnhân dân hưởng ứng và ủng hộ Đội du kích Tả Lèng, Hồ Thầu đã được thànhlập, phối hợp cùng đại đội đánh địch ở Giang Ma, Bình Lư và hoạt động xungquanh thị trấn Phong Thổ, bắt mối với nhiều cơ sở ở các bản xung quanh thịtrấn Chưa đầy một năm nhiều cơ sở đã hình thành từ Bình Lư qua Tam Đườngđến Thị trấn Phong Thổ

Kết quả hoạt động của Ban xung phong Quyết Thắng và đại đội độc lậpKim Sơn đã tạo được một vùng ảnh hưởng cách mạng rộng lớn Đó là tiền đềquan trọng để tổ chức Đảng đầu tiên của Phong Thổ ra đời

Tháng 1/1950 Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về việc mởchiến dịch Tây Bắc đặt tên là Chiến dịch Lê Hồng Phong I với mục tiêu làm tan

rã khối ngụy binh, tiêu diệt một số vị trí địch, lấy ảnh hưởng chính trị với quốc

tế và nhân dân để nuôi dưỡng lực lượng ta từ đó khôi phục lại phong trào ở LàoCai mở thông đường Quốc tế

Phương hướng tác chiến và mục tiêu trên đã chọn Lào Cai là hướng chínhcủa Chiến dịch Tỉnh Ủy Lào Cai đã đề ra nhiệm vụ cho tỉnh là “Huy động sứcngười, sức của phục vụ chiến dịch Lê Hồng Phong” mở rộng khu tự do, phá tanhàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền của địch Nhiều đồng chí trong cấp ủy đượcphân công đi sát mặt trận để chỉ đạo các mặt công tác ở địa phương

Tham gia chiến dịch Lê Hồng Phong I có lực lượng của Trung đoàn 102 của

Bộ, Trung đoàn 165 của Khu và sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương

Mở đầu chiến dịch là trận công kiên tiêu diệt vị trí Phố Lu (Từ 8 đến13/02/ 1950) thắng lợi Trên đà tiến công, các đơn vị bộ đội nhanh chóng giảiphóng Bản Lầu, chợ Châu, lập khu du kích, bức địch rút chạy khỏi các vị trí BếnĐền, Làng Cù, giải phóng hai xã Gia Phú, Xuân Giao và một phần các xã Phong

Dụ, Võ Lao cùng thôn Cam Cọn (Kim Sơn)

Cuối tháng 3/1950 đợt một chiến dịch Lê Hồng Phong I kết thúc bộ đội đượclệnh rút ra ngoài Quân Pháp đã tái chiếm Than Uyên, thiết lập hệ thống phòng thủmới, từ tháng 4 đến tháng 8/1950 chúng tăng cường càn quét các khu du kích

Trước âm mưu và những thủ đoạn hoạt động đối phó của kẻ thù, tỉnh ủyLào Cai một mặt chủ trương phối hợp lực lượng quân sự mở rộng vùng giảiphóng, củng cố các chi, đảng bộ, các cấp ủy và chính quyền ở các huyện, mở

Trang 6

rộng khu du kích và cơ sở cách mạng Mặt khác kịp thời đề ra các biện phápchống địch càn quét, tích cực chuẩn bị cho đợt hai chiến dịch Lê Hồng Phong.

Tháng 6/1950 Ban thường vụ Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịchBiên giới Căn cứ vào thực tế chiến trường, Bộ chỉ huy chiến dịch chọn hướngchính là Đông Bắc (Cao-Bắc-Lạng), hướng phụ là Tây Bắc (Lào - Yên) Đâychính là bước 2 của chiến dịch Lê Hồng Phong Với nhiệm vụ kiềm chế, thu hútlực lượng ứng chiến và phối hợp mặt trận Đông Bắc, tiêu diệt một bộ phận sinhlực địch; phá vỡ khối ngụy quân, ngụy quyền

Đêm 16/09/1950 quân ta nổ súng đánh Đông Khê, sau hai ngày chiến đấu

ác liệt, quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn

Trong không khí chiến thắng và nhằm chuẩn bị đợt hai chiến dịch LêHồng Phong, ngày 01/10/1950 Tỉnh Ủy Lào Cai ra Quyết Nghị số 005/QN-LK

về thành lập Ban cán sự đảng huyện Phong Thổ

Kết luận: Ban Cán sự Đảng huyện Phong Thổ ra đời trong bối cảnh và giai đoạn lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt cho địa phương tạo tiền đề cho cuộc chiến cách mạng ác liệt sau này quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Phong Thổ.

Ban Cán sự Đảng Phong Thổ gồm 05 đồng chí, Trưởng Ban Cán sự đầu tiên là:

- Ban Cán sự Đảng Phong Thổ gồm 05 đồng chí: Nguyễn Chương (Tỉnh

uỷ viên dự khuyết) trực tiếp làm Trưởng ban; Tô Vũ, Tiến Phương (Văn phòngTỉnh uỷ), Đỗ Đức Lữ (huyện Bắc Hà), Đinh Hải (cán bộ Hoa vận) làm Uỷ viênBan cán sự

- Đồng chí Nguyễn Chương (Tỉnh uỷ viên dự khuyết) làm Trưởng ban cán

sự đầu tiên

BAN CÁN SỰ ĐẢNG HUYỆN PHONG THỔ (01/10/1950)

Trang 7

Nêu bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ:

 Bối cảnh lịch sử ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ:

Sau khi chiếm được Lai Châu (tháng 4-1890), thực dân Pháp ra sức thiếtlập bộ máy cai trị, duy trì chế độ thổ ty, lập ra xứ Thái tự trị, xứ Nùng tự trịnhằm lừa bịp, mua chuộc dân tộc Thái, gây mâu thuẫn hằn thù giữa các dân tộc;xây dựng hệ thống đồn bốt, cứ điểm quân sự dày đặc trên đất Tam Đường Cùngvới đó, thực dân Pháp và quan lại phong kiến tăng cường bóc lột Nhân dân, thihành các chính sách sưu cao thuế nặng, vơ vét của cải, thực hiện chính sách ngudân, khuyến khích phát triển các tệ nạn xã hội Đời sống của Nhân dân TamĐường lúc này vô cùng khổ cực, mâu thuẫn giữa Nhân dân với thực dân Pháp vàtay sai ngày càng gay gắt Đồng bào các dân tộc với lòng căm thù giặc sâu sắc,nóng lòng chờ đón cán bộ cách mạng đến giác ngộ, lãnh đạo để đi theo cáchmạng giải phóng quê hương

Đêm 9-3-1945 Nhật tiến hành đảo chính Pháp, tháng 4-1945 quân Nhật từ

Sa Pa tiến vào Phong Thổ, vấp phải sự kháng cự của trung đội quân Pháp tại km

21 Bình Lư Quân Pháp bị đẩy gần xuống km 8, km 5 rồi đóng chốt tại các đồixung quanh Một cánh quân Pháp chặn đường rừng cấm Nậm Xe nhưng quânNhật chia làm hai mũi tiến theo hướng Hồ Thầu - gần thác nước Bình Lư với lựclượng khoảng gần 1 tiểu đoàn Một trận kịch chiến đã diễn ra ở km 5 Viên sĩ quanPháp là Ecuse bị giết tại trận Được tin, viên quan ba Pháp là Renesabônô dẫn một

Trang 8

trung đội xuống Bình Lư ứng cứu nhưng bộ phận quân Pháp ở đây bị đánh rệu rã,

đã rút chạy Toàn bộ quân Pháp ở Phong Thổ chia làm hai mũi tháo lui Mũi thứnhất sang Pu Sam Cáp, tiếp tục bị quân Nhật truy kích, phải theo đường Sình Hồ,

Pa Tần qua Huổi Luông sang Trung Quốc Mũi thứ hai theo đường Bình Lư, bịquân Nhật bắt sống rất nhiều Bọn tay sai trong đó có Đèo Văn Ân, sang nươngnhờ con rể Đào Gia Trụ ở Mường Là (Trung Quốc) để cùng quan thầy chờ thời

cơ quay lại địa phương

Tàn quân Pháp chạy sang Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) đã lập raPhái bộ Pháp ở Côn Minh (gọi tắt là Phái đoàn 5) mà thực chất là một tổ chứctình báo, biệt động tìm cách tung lực lượng hoạt động sát biên giới Việt -Trung điều tra tình hình chuẩn bị trở lại Việt Nam khi có điều kiện Trong số

đó nhóm mang tên Gasenhơ lấy địa bàn Pa Nậm Cúm (Phong Thổ) làm mụctiêu Đèo Văn Ân được giao nhiệm vụ nội ứng cho Pháp trong trường hợp Nhậtvẫn mời ra giúp việc

Sau khi chiếm được Phong Thổ, quân Nhật vẫn duy trì sự thống trị như

cũ nhưng bằng những tên mới như tỉnh trưởng, phủ trưởng, châu trưởng; tổchức "Đoàn thanh niên" được thành lập do Lý Ngọc Dung đứng đầu, thu húthầu hết lực lượng tiểu thương ở Phong Thổ tham gia, được trang bị vũ khí đểbảo vệ Nhật còn gọi Đèo Văn Ân - nguyên tri châu về giao cho chức tri phủ.Tuy làm việc cho Nhật, nhưng Đèo Văn Ân vẫn ngấm ngầm liên lạc với viênquan hai Pháp đang ở nhà Đào Gia Trụ - thổ ty Mường Là (Trung Quốc) Nhậtcũng nắm được tình hình, bố trí người giám sát và thu dần quyền hành của têntay sai này Cuối tháng 6-1945, Đèo Văn Ân có cuộc họp kín với các con cháu

họ Đèo ở Phong Thổ để bàn tính loại trừ lực lượng của Nhật Ân còn cử trưởngbản Nậm Chom sang Mường Là liên hệ với con rể đem quân sang đánh Nhật,tìm cách phá bằng được tổ chức "Đoàn thanh niên" Âm mưu chống đối này bịbại lộ, Đèo Văn Ân một lần nữa lại phải sang nương náu ở Mường Là để đónchờ cơ hội mới

Sau khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh (ngày 14-8-1945) vàCách mạng Tháng Tám thắng lợi, quân Nhật đã rút khỏi Phong Thổ Liền theo

đó, ngày 28-8-1945 quân đội Tưởng Giới Thạch đã có mặt ở Phong Thổ dướidanh nghĩa quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật Đi tới đâu chúng cũngchia ra từng bộ phận để bắt bớ, tra tấn, giết người, cướp của Đèo Văn Ân đượcphong làm tổng đốc xứ Thái, trực tiếp cai quản Phong Thổ và Than Uyên, đượcphép tổ chức quân đội riêng tuyển từ các cựu binh, với quân số gần 200 tên, giaocho Đèo Văn Khâu và Đèo Văn Hen chỉ huy đóng tại Phong Thổ

Tháng 10-1945, lợi dụng việc thông tin liên lạc giữa Chính phủ Việt NamDân chủ Cộng hòa với vùng núi xa xôi bị gián đoạn, quân đội Tưởng GiớiThạch dùng thủ đoạn để lừa bịp, tuyên truyền Việt Nam Quốc dân Đảng đãgiành được chính quyền Mọi công việc tổ chức và xây dựng chính quyền mớiđều do Việt Nam Quốc dân Đảng đảm nhiệm Chúng đã cho Nguyễn Xuân Tôn

- một tên Việt Nam Quốc dân Đảng vào Phong Thổ bắt tay với Đèo Văn Ân

Trang 9

Tháng 11-1945, cấp trên đã cử hai cán bộ của Mặt trận Việt Minh làđồng chí Thanh và Hồng vào Phong Thổ để tiếp xúc, gặp gỡ với Đèo Văn Ân,tuyên truyền về đường lối của Mặt trận Việt Minh và thương lượng để lậpchính quyền cách mạng Do thái độ không hợp tác của Đèo Văn Ân và thái độthù nghịch của Việt Nam Quốc dân Đảng nên cuộc tiếp xúc và thương lượng

đã không thành công

Cùng trong thời gian này, hai tiểu đoàn tàn quân Pháp ở Vân Nam (TrungQuốc) kéo vào Lai Châu đem theo tên tay sai Đèo Văn Long, câu kết với quânđội Tưởng Giới Thạch và lực lượng Việt Nam quốc dân đảng âm mưu chiếmđóng lâu dài Lai Châu và Thượng Lào Đèo Văn Ân đã cử Đèo Văn Khâu sangtận Mường Là đón quân Pháp Toán thứ nhất có khoảng 300 quân, chúng nghỉlại Phong Thổ ba ngày rồi tiếp tục tiến vào Lai Châu Chúng tuyên bố chỉ mượnđường, không có ý định chiếm Phong Thổ Thực ra mọi mưu đồ đã được tínhtoán từ trước Khi toán thứ hai với lực lượng hơn 100 quân qua Phong Thổ vàotháng 1-1946, chúng đã gợi ý cho Đèo Văn Ân yêu cầu quân Pháp đóng lại, liềnchớp ngay thời cơ để chốt giữ các vị trí quan trọng Trong đội quân này có thiếu

tá Puaxanchat, đại uý Đruniu đã từng có mặt ở Phong Thổ trước đây Hai tiểuđội Việt Nam quốc dân đảng đồn trú ở đây không đủ sức chống lại phải rút về

Sa Pa Pháp chiếm được Phong Thổ, phong cho Đèo Văn Ân chức châu uý, hứahẹn khi nào chiếm xong Lào Cai sẽ cho giữ chức tỉnh trưởng Quân Pháp tiếptục tiến ra Bình Lư, rồi dừng lại để củng cố lực lượng

Tháng 9-1946, Xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng tỉnhLào Cai gồm ba đồng chí do đồng chí Ngô Minh Loan làm Trưởng ban (có lúcgọi là Bí thư), hai đồng chí Lê Thanh và Đào Đình Bảng làm uỷ viên

Ban cán sự Đảng tỉnh Lào Cai ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọngtrong lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng ở địa phương, có tác dụngthúc đẩy phong trào cách mạng, tăng thêm niềm tin của quần chúng nhândân trong quá trình đấu tranh

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời và trực tiếp của Ban cán sự Đảng tỉnh, hoạt độngquân sự ở Lào Cai đã có bước phát triển Ngày 12-11-1946, bộ đội tiến vào giảiphóng thị xã, đánh đuổi lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng chạy sang TrungQuốc Tuy nhiên, Phong Thổ vẫn nằm trong tay quân Pháp

Với bản chất hiếu chiến, phản động, thực dân Pháp ngang nhiên xóa bỏHiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946, ngày càng lún sâu

vào con đường mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Ngày 19-10-1946, Nghị quyếtHội nghị quân sự toàn quốccủa Đảng nhận định: "nhất định không sớm thì

muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp" Đêm

19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Hưởng ứng

lời kêu gọi thiêng liêng của Người, cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàndân, toàn diện, trường kỳ, gian khổ và tự lực cánh sinh

Trước những chuyển biến quan trọng của đất nước và nhằm tăng cường

sự lãnh đạo, tháng 1-1947, Khu uỷ Khu 10 quyết định thành lập Tỉnh uỷ lâm

Trang 10

thời tỉnh Lào Cai thay cho Ban cán sự Đảng tỉnh để nhận nhiệm vụ cách mạngnặng nề hơn trong giai đoạn mới Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lâm thời gồm bađồng chí: Lê Thanh - Bí thư Tỉnh ủy, Đặng Châu Tuệ và Lý Bạch Luân - Tỉnh

ủy viên Ngày 5-3-1947, Hội nghị toàn thể đảng viên của Đảng bộ tỉnh Lào Cai

đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ chính thức gồm bảy đồng chí, đồngchí Lê Thanh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ

Ngay từ đầu năm 1947, sau khi đánh chiếm xong Tây Bắc, thực dân Pháp

ra sức tuyển mộ thêm binh lính, xây dựng thêm đồn bốt, tổ chức các đơn vị ngụybinh người Thái, liên lạc với thổ ty, phìa tạo và bọn tay sai phản động cũ chuẩn

bị tiến công ra vùng tự do, đánh chiếm Lào Cai làm bàn đạp bao vây và tấn côngcăn cứ địa Việt Bắc Lực lượng của địch ở Sơn La, Lai Châu, Phong Thổ, ThanUyên thường xuyên uy hiếp các huyện thuộc vùng tự do Lào Cai

Nhằm chống lại những âm mưu của địch, ta bố trí các Tiểu đoàn 272,

273, 274 thuộc Trung đoàn 171 ở Bát Xát, Sa Pa và thị xã Lào Cai vừa làmnhiệm vụ huấn luyện, vừa sẵn sàng đánh địch, bảo vệ địa phương Một đại độiđược bố trí đóng ở Ô Quy Hồ (Sa Pa) để án ngữ địch đóng tại Bình Lư Một sốđại đội khác đóng ở Rừng Cấp (Mường Hum) đề phòng hướng Phong Thổ

Trong tháng 6 và tháng 7-1947, quân Pháp đã có những cuộc hành quânthăm dò lực lượng ta ở phía Bình Lư - Nậm Xe

Trung tuần tháng 9-1947, Khu ủy 10 chủ trương mở mặt trận Tây Tiếnchủ động đánh địch để ngăn cản không cho chúng tiến ra vùng tự do Thựchiện chỉ thị trên, Tỉnh uỷ Lào Cai đề ra nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc Trungđoàn 171 (trước là Trung đoàn 117) cùng dân quân du kích tiến đánh PhongThổ bằng hai mũi: một mũi từ Sa Pa đánh vào Bình Lư và một mũi từ đườngMường Hum tiến qua rừng Cấp, Nậm Xe đánh vào Phong Thổ Tại Sa Pa, quân

ta đánh thắng một số trận và đã tiến đến cách Bình Lư 5 km Tại Mường Hum,

ta cũng đánh tan các vị trí địch ở dọc đường Nậm Xe cách Phong Thổ 16 km

Có trận đánh, địch bị tiêu diệt tới 50 tên

Ngày 29-9-1947, địch phản công ta ở Bình Lư, mở đầu cho chiến dịchđánh chiếm Lào Cai Bị bộ đội ta chặn đánh, chúng phải rút lui, nhưng lạichuyển quân lên Phong Thổ để đề phòng ta ở Bát Xát, Mường Hum

Ngày 6-10-1947, địch tập trung quân chia thành hai bộ phận Bộ phận thứnhất gồm 400 tên đánh qua Nậm Xe - Đèo Mây về Mường Hum Bộ phận thứ haigồm 300 tên theo đường Bình Lư tiến đánh Sa Pa Đi tới đâu, quân Pháp cũng

cố tranh thủ sự ủng hộ của bọn thổ ty phản động để tiếp tế lương thực, đưađường Tiểu đoàn chủ lực của ta chỉ còn hơn một đại đội, không chống giữ nổi

đã phải lui dần Ngày 16-10-1947, địch chiếm Bát Xát Ngày 17-10-1947, địchchiếm Sa Pa và đến ngày 28-10-1947, chúng chiếm được thị xã Lào Cai

Nhận định về thời kỳ này Liên khu ủy 10 đã chỉ rõ:

"Thời kỳ thứ nhất: Địch tiến đánh, ta rút lui mất đất, mất dân (cuối năm

1946 đến tháng 10-1947)

Trang 11

Đầu năm 1947, ở Lào Cai địch tiến đánh Bình Lư, Phong Thổ Riêng LàoCai, tháng 10-1947 địch tập trung lực lượng đánh mạnh ra Mường Hum rồi tiếnthẳng ra Bát Xát Chiếm được Bát Xát địch dừng lại đợi cánh quân từ Bình Lưtiến ra phối hợp Sau đó chúng huy động thêm lực lượng từ Bình Lư vào phốihợp mở hai gọng kìm Bát Xát - thị xã, đánh chiếm Cốc Lếu và thị xã Lào Cai(cuối tháng 10-1947).

Thời kỳ thứ hai: Chiến sự Thu Đông (từ tháng 10 đến tháng 12-1947)

Ở Lào Cai, sang tháng 11-1947 địch tiến xuống Gia Phú và Cam Đường.Cuối tháng 11-1947, địch liên lạc được với thổ ty ở Bắc Hà (Hoàng A Tưởng)kéo các thổ ty này công khai mang quân đánh lại ta ở Bắc Hà làm bộ đội phải rút

về án ngữ căn cứ cuối cùng của Lào Cai là xã Xuân Quang

Về phía ta, kỹ thuật chiến đấu còn rất non, bộ đội chưa được rèn luyện, kếhoạch phòng ngự hầu như không có, giặc đến chỉ biết chia quân giữ đất, rải bộđội theo lối mành mành, hễ bị địch đánh gọng kìm là rút lui Hơn nữa còn nặng

tư tưởng trận địa chiến trong lúc thực lực chưa đủ Việc bảo tồn chủ lực khôngđược hiểu thấu, lúc hành quân chỉ do dự, địch đến thì tìm cách rút lui ngay

Một nguyên nhân rất quan trọng nữa là không chú ý nắm dân, coi thườnglực lượng của dân, không làm cho dân hiểu ta, chỉ chú ý lôi kéo mấy tên trùmthổ ty mà rút cục chúng không theo ta Bởi vậy khi chiến sự xảy ra là mất ngaydân Bộ đội, cơ quan không có chỗ nương tựa nên phải rút hoài

Địch chú ý dân, nắm dân và đã lôi kéo được dân Hơn nữa lại biết rõ địathế cho nên khi chúng đi tới đâu là hoàn thành bình định được vùng đó"

Liên khu uỷ 10 đã kịp thời có Chỉ thị số 49 về chủ trương đối với thổ ty

và đồng bào miền núi gửi các cấp bộ Đảng nhằm uốn nắn các lệch lạc và sailầm trên:

"Đối với thổ ty: Các cấp bộ Đảng địa phương chưa có kế hoạch cụ thể, tỉ

mỉ nên chính sách đề ra lúc thì tả khuynh, khi thì hữu khuynh (đề cao để chothổ ty khinh nhờn, sao nhãng làm cho họ bất mãn) Cán bộ công tác ở các vùng

có thổ ty làm công tác vận động quần chúng chưa tốt, quan liêu làm cho họthiếu tin tưởng Một số nơi lại cho thổ ty độc quyền bán muối tạo điều kiện để

họ bóc lột dân hoặc để họ tích trữ chống lại ta Những thổ ty bị kẹp trong vùngđịch kiểm soát ta chưa tìm cách liên lạc với họ hoặc với gia đình Chỉ chú ý lôikéo một vài thổ ty có tiếng tăm mà không chú ý nâng đỡ những thổ ty nhỏ,những thổ ty kém thế lực cảm tình với ta Một số thổ ty làm việc cho ta nhưngvẫn muốn phản lại hoặc đồng tình với bọn phản động để bắt cán bộ, tố cáonhân viên Chính phủ, mưu sát vệ quốc đoàn, giết hại người Kinh, cũng chưa cóbiện pháp kiên quyết trừng trị

Muốn làm tốt công tác này, các cấp bộ Đảng phải đề ra một kế hoạch tỉ

mỉ và thống nhất nhằm hạn chế tác hại mà họ gây ra về chính trị, quân sự, tạo raniềm tin và sự trung thành của họ đối với Chính phủ, phải săn sóc, nâng đỡ cácthổ ty nhỏ Những thổ ty lừng chừng, ít tín nhiệm thì liên lạc, lôi kéo bằng nhiều

Trang 12

biện pháp thích hợp Trấn áp những thổ ty phản động, không cải tạo được.

Giữ gìn sự đoàn kết giữa các thổ ty với Chính phủ và công cuộc trường kỳkháng chiến là một chính sách quan trọng Đội ngũ cán bộ được cử đi làm việcnày cần có kinh nghiệm và năng lực dân vận Có kế hoạch đào tạo con cháu thổ

ty, thân hào, thân sĩ thành cán bộ cơ sở Có thể đưa một số thổ ty ra vùng tự dohoặc những thổ ty có uy tín hoặc đang làm việc trong cơ quan, chính quyền taviết thư, viết hiệu triệu kêu gọi thổ ty lầm đường và đồng bào các dân tộc trongvùng tạm chiếm, đấu tranh chống địch, tham gia du kích ủng hộ bộ đội và dukích Cần tổ chức các phái đoàn gồm các thổ ty có tín nhiệm đi các địa phươngvận động đồng bào tham gia kháng chiến

Đối với đồng bào miền núi: Nhược điểm chung là các cấp bộ Đảng khôngchú ý gây dựng cơ sở quần chúng, vận động đồng bào tham gia kháng chiến, chưagiải thích về chính thể dân chủ cộng hoà, không chú ý đem lại quyền lợi dân chủ,nâng cao mức sống Khi chiến sự lan tới, không vạch kế hoạch để đồng bào cấtgiấu lương thực, làm vườn không nhà trống, làm lán trên rừng để tản cư, tránhđịch khủng bố cướp bóc Chưa lập ra được những tiểu tổ bí mật thu hút thanh niêntrung kiên, do đó khi địch tràn đến đã để quần chúng ở lại trong tình thế bỡ ngỡ,hoang mang Ở vùng địch kiểm soát cán bộ chưa có kế hoạch vận động đồng bàochống đi phu, đi lính và không tiếp tế cho địch"

Từ những thực tế trên, bản chỉ thị đã đề ra nhiều biện pháp nhằm cải thiệnđời sống cho đồng bào, xây dựng đời sống mới trên cơ sở coi trọng phong tụctập quán của từng dân tộc, xây dựng các đoàn thể cứu quốc, đào tạo cán bộngười địa phương, đưa cán bộ vũ trang tuyên truyền và cán bộ đảng vào hoạtđộng trong vùng địch

Như vậy, trong khoảng thời gian gần ba năm, nhân dân các dân tộchuyện Phong Thổ vẫn còn trong cảnh bị nhiều kẻ thù (quân đội Tưởng GiớiThạch, quân đội Pháp, Việt Nam Quốc dân Đảng, thổ ty phản động và tay saicủa chúng) áp bức bóc lột Nhân dân các dân tộc chưa được hưởng không khíđộc lập và luôn sống trong cảnh chiến sự do kẻ thù gây ra

Cuộc tấn công lên Việt Bắc năm 1947 với âm mưu chiến lược "đánhnhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp hoàn toàn bị phá sản Địch lâm vào thế

bị động phải chuyển sang chiến lược chiến tranh lâu dài, thực thi chính sách "lấychiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"

Đầu năm 1948, địch xúc tiến âm mưu trên tại Tây Bắc, lập ra khu quân sựTây Bắc, phía dưới có phân khu và tiểu khu Chúng ra sức bắt lính, xây dựngngụy quân, ngụy quyền, thành lập các tiểu đoàn người Thái, củng cố các vị tríchiếm đóng, đẩy mạnh việc vơ vét nhân tài, vật lực để nuôi dưỡng cuộc chiếntranh xâm lược

Về chính trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị với mức độcao hơn và quy mô lớn hơn Tháng 3-1948, chúng thành lập "xứ Thái tự trị" và

"xứ Nùng tự trị"nhằm lừa bịp, mua chuộc dân tộc Thái, gây mâu thuẫn hằn thù

Trang 13

giữa các dân tộc.

Tỉnh Phong Thổ gồm 5 châu: Mường So, Sình Hồ, Cốc Lếu - Bát Xát,Văn Bàn (Mường Chăn), Mường Than (Than Uyên) do Đèo Văn Ân làm tỉnhtrưởng, Đèo Văn Ngảnh (con trai Đèo Văn Ân) làm phó tỉnh trưởng, cố vấnngười Pháp là Đờlaven (Delavel), phó cố vấn là Tusa (Touchard) Trụ sở củatỉnh trưởng Đèo Văn Ân được đặt tại Mường So, có ba thư ký giúp việc (Lệnh

Bá Cổn - phụ trách nhân sự và kế toán; Đèo Văn Hiên - thư ký, đánh máy;Hoàng Bá Ma - tiếp phát công văn) Ngoài ra còn có châu đoàn Phong Thổ doNông Văn Kiếm trông coi lính dõng; hành chính do bang tá Đèo Văn Lứn phụtrách; tư pháp do Đèo Văn Tư và Đèo Văn Thêm chịu trách nhiệm giữ trật tự vàthu thuế; giáo dục có một trường dạy chữ Thái và tiếng Pháp từ lớp 3 đến lớp 5,

có 3 giáo viên; phòng phát thuốc có 2 người; phòng thương mại làm nhiệm vụchuyển hàng hóa lên để đồn khố xanh bán cho binh lính và nhân dân

Hệ thống quân sự còn phải kể tới đồn khố xanh thuộc đội Gfot do viênchánh giám binh Wifinl chỉ huy với quân số một đại đội Dưới quyền điềukhiển của giám binh còn có phòng thông tin do viên thư ký bàn giấy giám binhphụ trách, hàng ngày có nhiệm vụ đi dán tranh ảnh để tuyên truyền

Tham gia vào đội ngũ ngụy quyền ở Phong Thổ đa số là con cháu họĐèo, tùy theo địa vị lớn hay nhỏ mà được hưởng một số ruộng hay nương HọĐèo cha truyền con nối làm thổ ty ở Phong Thổ nên có uy quyền và tạo ra ânhuệ cho nhiều người Chúng bóc lột nhân dân một cách khéo léo làm cho họnghĩ đó là bổn phận phải đóng góp của mình Nếu có kiện cáo về sự bóc lộtnặng nề, Đèo Văn Ân đã vỗ về bằng cách không cho một số thổ ty làm việchoặc chuyển sang làm việc khác để mua chuộc lại tình cảm của dân Bên cạnh

đó, Đèo Văn Ân không quên răn đe, làm cho dân chúng khiếp sợ, không dámkêu ca hoặc chống lại chúng

Xứ Thái tự trị được tổ chức như một nhà nước thu nhỏ bao gồm các cơquan hành chính, lập pháp, tư pháp, ngân hàng, hội đồng dân biểu toàn xứ Tháibao gồm hơn 70 nghị viện đại diện cho các sắc tộc xuất thân từ tri châu, trưởngphìa, phó phìa tạo ở các địa phương Tuy nhiên, thực chất bên trong mọi quyềnhành đều do thực dân Pháp nắm giữ Các thổ ty chỉ là bọn tay sai để thi hànhmọi chính sách do quan thầy đề ra

Sau chiến thắng Việt Bắc, từ ngày 15 đến ngày 17-1-1948, Trung ươngĐảng triệu tập Hội nghị mở rộng nhằm kiểm điểm tình hình mọi mặt sau mộtnăm kháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn mới Để kiện toàn bộ máylãnh đạo, Trung ương Đảng quyết định sáp nhập Khu 10 và Khu 14 thành Liênkhu 10 Trên cơ sở đó, Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ thị cho Liên khu nhiệm vụ xâydựng căn cứ địa là giải phóng đồng bào Tây Bắc, coi đó là nhiệm vụ căn bảnnhất của Liên khu 10

Chỉ thị 114/BT của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20-1-1948 về xây dựng căn

cứ địa Tây Bắc đã được Ban Thường vụ Liên khu uỷ chấp hành một cáchnghiêm túc và khẩn trương Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 31-3-

Trang 14

1948, Liên khu uỷ 10 đã ra Chỉ thị số 22-KU/CT về việc thành lập "Ban xungphong Quyết Thắng"(còn gọi là Ban xung phong Tây Bắc ở Lào Cai) gồm cácđồng chí: Hoàng Quy - Tỉnh uỷ viên Lào Cai; Tiến Thanh - Trung đoàntrưởng Trung đoàn 97; Trần Khánh - cán bộ Việt Minh.

Hướng xung phong được ấn định từ vùng tự do Yên Bái tiến vào PhongThổ bằng hai đường:

- Qua Thuỷ Vĩ, Cam Đường, Sa Pa vào Bình Lư, Tam Đường, Phong Thổ

- Hoặc từ Thuỷ Vĩ, Cam Đường hướng về Bảo Thắng, Bát Xát, MườngHum sang Phong Thổ

Sau khi cân nhắc kỹ, Liên khu uỷ 10 đã quyết định chọn đường thứ hai làđường tiến quân của đội vũ trang tuyên truyền vì đường này đông dân, dễ nắmdân và tiếp tế thuận lợi hơn

Ban xung phong Quyết Thắng bao gồm:

- Tổ xung phong phát triển tiến vào trước có nhiệm vụ điều tra tình hình

địa dư, tình hình địch, bọn việt gian, hội tề cũng như đời sống, nguyện vọng củanhân dân nhằm gây cơ sở, tiếp tế cho dân cải thiện sinh hoạt của họ Đối với thổ

ty, kỳ hào thì tìm cách thuyết phục

- Đội võ trang tuyên truyền tổ chức các cuộc mít tinh, giải thích, triển lãm

để tuyên truyền sâu rộng trong dân chúng; phá ngụy quyền, quét hội tề để lậpchính quyền của ta; lôi kéo lính dõng, thổ ty và đánh địch khi cần thiết

- Tổ xung phong củng cố tìm cách bắt liên lạc với những cơ sở do đội võ

trang tuyên truyền giới thiệu để đào tạo cán bộ địa phương; nắm vững thổ ty, kỳhào; phát triển dân quân du kích Sau khi đã củng cố vững chắc các cơ sở, đạiđội độc lập mới vào hoạt động, đặt kế hoạch tiêu diệt địch để thu lại đất đai, bảo

vệ dân chúng

- Liên lạc, giao thông dùng một số quần chúng ở địa phương để lập các

trạm liên lạc giữa các tổ với cơ quan chỉ đạo (liên lạc với Ban Thường vụ Liênkhu uỷ, với Tỉnh uỷ để nhận chỉ thị, tài liệu và giới thiệu cơ sở quần chúng chocấp bộ ở vùng tự do)

Đồng chí Phạm Văn Học - Khu uỷ viên được Liên khu uỷ trực tiếp phụtrách Ban xung phong Quyết Thắng, đồng thời là Bí thư chi bộ của Ban

Liên khu uỷ còn đề ra phương châm hoạt động cho Ban là nhằm thẳnghướng chính, củng cố vững chắc chỗ đứng chân, khi cần mở đường nhanh chóng

có thể nhảy cách quãng Trên đường tiến quân, cứ vài ba chục cây số đặt trạmthu dung một trung đội vũ trang tuyên truyền và chú ý công tác vận động đồngbào Dao, Mông Các đội xung phong cần phải tiến sâu, len lỏi vào vùng saulưng địch và những nơi chúng ít hoặc không chú ý đến

Bản chỉ thị đặc biệt nhấn mạnh: "Khu Tây Bắc là căn cứ hết sức quantrọng về mặt chiến lược đối với Liên khu 10 và đối với cục diện kháng chiến

Trang 15

tác xung phong tiến nhanh hay chậm sẽ quyết định một phần thắng lợi nhanhhay chậm của ta ở Bắc Bộ".

Ngày 10-4-1948, Ban xung phong Quyết Thắng được lệnh xuất phát.Trên đường tiến quân, các đội công tác gặp muôn vàn khó khăn nhưng nhờ ýchí tiến công không sợ hy sinh, gian khổ nên đã hoàn thành được những nhiệm

vụ cơ bản Để uốn nắn những thiếu sót và khuyết điểm, ngày 2-8-1948, Liênkhu uỷ 10 ra Chỉ thị số 68-KU/CT gửi Ban xung phong Quyết Thắng, nêu rõcác điểm cần phải sửa chữa sau:

- Thiếu sự bĩnh tĩnh, nhất là lúc Lào Cai bị mất đã tỏ ra chán nản, bi quan,không có kế hoạch trở về Khi quay trở lại hoạt động, thấy nhân dân ta, lại quálạc quan

- Chủ quan khinh địch, khi gây được một số cơ sở quần chúng, không đềphòng địch, vội vàng tổ chức việc trừ gian mà không chuẩn bị đối phó với tìnhthế bị khủng bố nên có chỗ như ở Xuân Giao bị thiệt hại nặng nề

- Chủ trương tranh đấu không hợp thời, cơ sở chưa vững chắc đã dùngquân sự diệt tề để địch khủng bố, phá cơ sở làm cho quần chúng hoang mangkhông dám tham gia phong trào và nuôi giấu cán bộ

- Giữ gìn bí mật kém nên bị Pháp càn quét ở Thái Vu, lý trưởng bắt đượcgiao thông viên nộp cho địch

Liên khu uỷ 10 đã nhắc nhở phải kiên quyết tẩy bỏ những bệnh chủ quan,coi thường và đánh giá thấp lực lượng địch, chủ trương tranh đấu bừa bãi Khi

đã gây được cơ sở phải có kế hoạch chống càn, nắm quần chúng trung kiên, tùyhoàn cảnh mà ấn định hình thức đấu tranh Phải áp dụng nguyên tắc bí mật trongtừng bước công tác

Để hoàn thành nhiệm vụ tiến vào Phong Thổ, Ban xung phong QuyếtThắngphải củng cố bàn đạp Xuân Giao, nối với Cam Đường để củng cố CốcLếu, Bát Xát và tiến sang gây cơ sở ở phía nam Mường Hum như Tà Lềnh, Tam

Lô, Tả Áng Phình Cũng có thể tiến theo đường Ngòi Hum, Bản Lênh, Sai Na ở

Sa Pa Tránh tiến theo đường Thái Bô thẳng đến Bình Lư như dự định Chỉ khinào những căn cứ bàn đạp Bát Xát, Mường Hum, Sa Pa đã ổn định thì mới vàoPhong Thổ, Bình Lư, tránh địch chia cắt làm cho cán bộ, bộ đội không có chỗđứng chân

Nhờ có sự uốn nắn kịp thời của Liên khu uỷ 10, công tác vũ trang tuyêntruyền mở đường vào Phong Thổ đã có những chuyển biến quan trọng Trongviệc bắt mối đã tận dụng lợi thế của sự quen thuộc và đội ngũ quần chúngtrung kiên Ngay cả đối với những tên hội tề bất mãn nhất cũng là đối tượng đểliên lạc Một vài địa bàn xa lạ đã kết hợp hình thức vũ trang xung phong để hỗtrợ Nguyên tắc bí mật được quán triệt hơn, nên cũng hạn chế sự tổn thất củaphong trào

Đối với việc gây cơ sở đã bám sát và nắm chắc địa bàn hơn nên kế hoạchcông tác đề ra khá phù hợp Một vài nơi còn lập được tổ trung kiên Những khu

Trang 16

vực dân cư đông đúc được chú trọng gây cơ sở để từ đó tỏa ảnh hưởng đến cácvùng xung quanh Hạn chế được tư tưởng phát triển tràn lan, chỉ chú trọng đếndiện rộng Có kế hoạch về thành lập dân quân du kích, chống khủng bố đã đượcquán triệt và tuân thủ chặt chẽ.

Nhìn trên đại thể, lực lượng quân sự của Pháp lúc này khá mạnh và LàoCai đã trở thành mặt trận chính của Liên khu 10 Sau khi chuyển vận binh lực từYên Bái, Sơn La, Lai Châu sang chiếm được thị xã Lào Cai, được sự hỗ trợ củathổ ty, thổ phỉ ở Bắc Hà, Mường Khương, Pha Long địch đã mở đợt tấn côngxuống phía nam và chiếm nhiều vùng thuộc biên giới Bước sang đầu năm 1949,

ở những vùng tạm chiếm, địch chú trọng dùng quân sự thực hiện kế hoạch kinh

tế, qua đó để gây ảnh hưởng và củng cố địa vị chính trị của mình Hàng hóađược vận chuyển lên và đưa tới nhiều bản làng xa xôi

Nhằm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở cơ sở, một phân đội vũ trangtuyên truyền từ vùng tự do Yên Bái hoạt động lên phía đông nam Phong Thổ,tiến vào Tam Đường Thu hút nhiều quần chúng trung kiên tham gia vào đội vũtrang tuyên truyền và làm chủ địa phương trong vòng nửa tháng Khi lực lượngquân đội rút khỏi Tam Đường, một số người dân đã đi theo hoặc rút vào rừng đểtránh sự khủng bố của địch

Cuối năm 1949, đại đội độc lập Kim Sơntừ Than Uyên được điều độnglên hoạt động ở phía đông nam huyện Phong Thổ, được nhân dân hưởng ứng vàủng hộ Đội du kích Tả Lèng, Hồ Thầu đã được thành lập phối hợp cùng đại độiđánh địch ở Giang Ma, Bình Lư và hoạt động xung quanh thị trấn Phong Thổ,bắt mối với nhiều cơ sở ở các bản xung quanh thị trấn Chưa đầy một năm,nhiều cơ sở đã hình thành từ Bình Lư qua Tam Đường đến thị trấn Phong Thổ

Kết quả hoạt động của Ban xung phong Quyết Thắng và đại đội độc lậpKim Sơn đã có ý nghĩa rất quan trọng, tạo ra được một vùng ảnh hưởng cáchmạng rộng lớn Đó là tiền đề quan trọng để tổ chức Đảng đầu tiên của huyệnPhong Thổ ra đời

Ngày 6-1-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về mở chiếndịch Tây Bắcvà chuẩn bị chiến trường Đông Bắcvới mục tiêu là: "Làm tan rãkhối ngụy binh và phá ngụy quyền Tiêu diệt một số vị trí địch Khôi phục lạiLào Kay mở thông đường quốc tế"

Phương hướng tác chiến và mục tiêu trên đã chọn Lào Cai là hướng chínhcủa chiến dịch Xác định rõ nhiệm vụ của mình, Tỉnh uỷ Lào Cai đã đề ra nhiệm

vụ cho tỉnh là: "huy động sức người, sức của phục vụ chiến dịch Lê Hồng Phong , mở rộng khu tự do, phá tan hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền của địch".Nhiều đồng chí trong cấp uỷ được phân công đi sát mặt trận để chỉ đạo các mặtcông tác ở địa phương

Tham gia vào chiến dịch này có lực lượng của Trung đoàn 102 của Bộ,Trung đoàn 165 của khu và sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương

Mở đầu chiến dịch là trận tấn công tiêu diệt vị trí Phố Lu (từ ngày 8 đến

Trang 17

ngày 13-2-1950) Phát huy thắng lợi, các đơn vị bộ đội nhanh chóng giải phóngBản Lầu, Chợ Châu, lập khu du kích, bức địch rút chạy khỏi vị trí Bến Đền,Làng Cù, giải phóng hai xã Gia Phú, Xuân Giao và một phần các xã Phong Dụ,

Võ Lao cùng thôn Cam Cọ (Kim Sơn) Cuối tháng 3-1950, màn một của chiếndịch Lê Hồng Phongkết thúc, bộ đội được lệnh rút ra ngoài Quân Pháp táichiếm Than Uyên, thiết lập hệ thống phòng thủ mới Từ tháng 4 đến tháng 8-

1950, chúng tăng cường càn quét các khu du kích

Trước âm mưu và những hoạt động đối phó của kẻ thù, Tỉnh ủy Lào Caimột mặt chủ trương phối hợp với lực lượng quân sự mở rộng vùng giải phóng,củng cố các chi bộ đảng, các cấp ủy và chính quyền ở các huyện, mở rộng khu

du kích và cơ sở cách mạng, mặt khác kịp thời đề ra các biện pháp chống địchcàn quét, tích cực chuẩn bị cho màn hai chiến dịch

Tháng 6-1950, Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịchBiên giới thuđông Căn cứ vào thực tế chiến trường, Bộ chỉ huy chiến dịch chọn hướng chính

là Đông Bắc (Cao - Bắc - Lạng), hướng phụ là Tây Bắc (Lào - Yên)đây chính làmàn hai của chiến dịch Lê Hồng Phong với nhiệm vụ:

- Kiềm chế, thu hút lực lượng ứng chiếm và phối hợp mặt trận Đông Bắc

- Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch

- Phá vỡ khối ngụy quân, ngụy quyền

Đêm 16-9-1950, quân ta nổ súng đánh vị trí Đông Khê (Cao Bằng) Sauhai ngày chiến đấu ác liệt, quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn

Trong không khí chiến thắng và sự chuẩn bị màn hai của chiến dịch LêHồng Phong, ngày 24-9-1950, Tỉnh uỷ Lào Cai ra Quyết nghị số 005-QN/LK vềthành lập Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ gồm các đồng chí: NguyễnChương (Tỉnh uỷ viên dự khuyết) trực tiếp làm Trưởng ban; Tô Vũ, TiếnPhương (Văn phòng Tỉnh uỷ), Đỗ Đức Lữ (huyện Bắc Hà), Đinh Hải (cán bộHoa vận) làm Uỷ viên Ban cán sự

Ngày 1-10-1950, Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ ra đời, khẳng định

sự trưởng thành của phong trào cách mạng ở địa phương đã đến lúc đòi hỏi phải

có một tổ chức đảng thì mới đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trựctiếp sát sao đối với cơ sở

 Ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ:

Việc ra đời của Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ (tổ chức tiền thân củaĐảng Bộ huyện Phong Thổ) là một sự kiện lịch sử chính trị trọng đại, đánh dấubước ngoặt quan trọng đối với đồng bào và nhân dân các dân tộc huyện PhongThổ;thể hiện sự trưởng thành trong phong trào cách mạng của huyện; tạo ra sựchuyển biến mạnh mẽ trong phong trào đấu tranh cách mạng của đồng bào cácdân tộc trong huyện, đưa cuộc đấu tranh giành quyền độc lập, tự do của huyện

từ tự phát lên tự giác; từ đây mỗi bước đi, mỗi thắng lợi giành được của huyệnđều gắn liền với sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng huyện, tiền thân của

Trang 18

Đảng bộ ngày nay; đưa phong trào đấu tranh cách mạng của đồng bào các dântộc Phong thổ trở thành một bộ phận quan trọng trong công cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, thực hiện công cuộc đổi mới.

Ban Cán sự Đảng Phong Thổ ra đời thể hiện truyền thống đoàn kết, yêunước và truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc tronghuyện, đồng thời qua đó, động viên nhân dân, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trongtoàn huyện đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu thực hiện hoànthành xuất sắc các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, anninh, đối ngoại

Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ Ra đời sát cánh cùng nhân dân trong đấu tranh chống các thế lực thù địch đạt được một số kết quả to lớn:

Ngay sau khi thành lập, Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ đã bám sátđịa bàn, cùng các đơn vị bộ đội tiến vào địa bàn mình phụ trách (Khi vào nộiđịa, Ban cán sự gồm 9 đồng chí đều là Đảng viên gồm: Đồng chí NguyễnCương, Tô Vũ, Tiến Phương, Đỗ Đức Lữ, Nguyễn Khắc Mẫn, Tường Loan,Nguyễn Văn Hậu, Lê An, Hạnh)

Trong tình hình kháng chiến phức tạp Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ

đã phân công cán bộ đến các xã vận động thành lập các đoàn thể quần chúngnhư chi hội liên việt ở Bình Lư, một số đội dân quân và tổ công an được xâydựng Tàn quân địch ở Dào San có 80 tên với nhiều vũ khí đạn dược chúng đã

cử người đến Phong Thổ xin gặp Bộ đội để đầu hàng, xin nộp vũ khí Khi đơn vị

cử một số chiến sĩ lên Dào San để tiếp nhận thì mới biết Đèo Văn Hen đã bí mậtcho hai xã đoàn người mông đến thu nhận từ trước với số lượng 20 khẩu súngtrường Ngày 17/11/1950 Bộ đội rút khỏi Phong Thổ về Bình Lư Lợi dụng cơhội đó Đèo Văn Hen đã triệu tập một cuộc họp kín với bọn kỳ hào còn lại ngày19/11/ 1950 chúng tổ chức một cuộc họp nữa ở Bản Lang bàn cách huy độngthanh niên Thái cùng tàn quân địch để lập một lực lượng giữ Phong Thổ, thunhặt vũ khí trang bị cho người Thái và cho họ tản cư vào các bản cách PhongThổ 10 Km Trong ngày hôm đó, bọn tàn quân và phản động đóng trên một quảđồi cách Tam Đường 500 m đã bắn xuống phố 20 phát súng trường và tìm cáchbắt liên lạc với bọn phản động ở địa phương Tại Mường Là Trung Quốc cáchphong Thổ 32 Km, tàn quân Trung hoa dân quốc cũng tập hợp một lực lượnggồm 230 tên (có 32 người Việt Nam) do Đào Gia Trụ chỉ huy bắt liên lạc đượcvới Đèo Văn Ân ở Lai Châu để tìm cách khôi phục lại địa vị của mình

Trước tình hình trên, Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ tìm mọi Biệnpháp đưa cán bộ vào nắm cơ sở và tình hình ở Tam Đường, Phong Thổ Ngày20/11/ 1950 một số cán bộ đã vào được Tam Đường và các xã xung quanhPhong Thổ, vận động thành lập chính quyền và xây dựng được một số Trungkiên (Các trung kiên đã có nhiều công giúp đỡ cán bộ, bộ đội: Tại Phong Thổ cócác ông Nguyễn Văn Đức, Huỳnh Đình Chấn, Vũ văn Thị và Trần Ngọc Vượng.Tại Tam Đường có các ông Phạm Xuân Chỉ, Lù Văn Giăng (Dân tộc Nhắng)Lý

Trang 19

Sáng, Lý Mục (Hoa kiều, thương nhân).

Ngày 21/11/1950 cán bộ đã liên lạc được với Đèo Văn Hen chuyển thưcủa đồng chí trưởng ban cán sự Chiều ngày 22/11/1950 Đèo Văn Hen cử bangười ra Tam Đường để gặp và mời đồng chí trưởng ban cán sự vào Phong Thổ

để bàn kế hoạch Nắm được sự liên lạc qua lại sáng ngày 23/11/1950 quân phápđiều 60 lính vừa Âu- Phi và lĩnh dõng do tên cố vấn Tusaga chỉ huy bất ngờ độtnhập Phong Thổ tiến thẳng vào nhà Đèo Văn Hen Chúng buộc Đèo Văn Henđưa đi tìm bắt bộ đội thuộc đại đội độc lập kim sơn Đồng chí Nguyễn Chươngcùng một số cán bộ và 3 người của Đèo Văn Hen nhận được tin đã quay trở Lại.Không tìm được bộ đội chúng bắt Đèo Văn Hen phải nộp lại 20 khẩu súng đãthu ở Dào San Sáng hôm sau chúng theo đường thủy rút về Pa Tần chốt lại một

bộ phận phần lớn rút về đóng ở Sìn Hồ

Trước tình hình diễn biến mới Ban cán sự Đảng huyện được tăng cườngthêm cán bộ để bám sát cơ sở Đồng chí Lò Tiến Phương được phân công phụtrách khu vực Phong Thổ, Đồng chí Tô Vũ khu vực Bình Lư, đồng chí Đỗ Đức

Lữ ở khu vực Tam Đường Cán bộ của Đảng đã kết hợp với bộ đội quân báo vậnđộng nhân dân nắm bắt tình hình để đón bộ đội vào giải phóng quê hương

Qua hai tháng hoạt động Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ đã cố gắngthâm nhập vào địa bàn để gây dựng cơ sở, giác ngộ cách mạng cho quần chúng.Tuy nhiên các đồng chí còn tỏ ra bị động, bỡ ngỡ khi đề ra những đối sách phùhợp để lôi kéo thổ ty họ Đèo Đồng bào thái cũng tỏ ra hoang mang lo sợ bộ độivào Phong Thổ chỉ để bảo vệ người Kinh làm hại người mình nhiều gia đình đãchạy tản cư vào rừng tìm cách đối phó với bộ đội Còn đối với đồng bào kinhthấy bộ đội vào ở một ngày đã rút nên cũng chạy về Tam Đường, Sa Pa, LàoCai Việc Pháp quay trở lại chiếm đóng Phong Thổ càng làm cho mối nghi kỵtrên trở nên phức tạp, gây không ít khó khăn cho việc gây dựng và phát triểnphong trào cách mạng trong vùng

Trước những diễn biến mới và phức tạp của địa phương Bộ chỉ huy mặttrận Tây Bắc đã điều động tiểu đoàn 120 thuộc trung đoàn 165 tiến thẳng vàogiải phóng Phong Thổ Đơn vị đã tiến quân theo hướng Sa Pa- Bình Lư, đượcmột đại đội bộ đội địa phương đang làm nhiệm vụ tiễu phỉ ở cham Cho (BátXát) phối hợp tác chiến Đây là hướng mà địch tập trung binh lính và hỏa lựctương đối mạnh Nằm cách Bình Lư 10 Km địch bố trí một hệ thống gồm cácđồn Pin Hồ, Sin Cao, Ma Pho với 150 tên thuộc tiểu đoàn 2BT Thái do sĩ quanpháp chỉ huy có cố đạo ở Sa Pa làm cố vấn các đồn này án ngữ ngả Lào Cai,than Uyên vào Phong Thổ và là tiền đồn bảo vệ Lai Châu Nhưng với quyết tâmcao 16h10 phút ngày 17/02/1950 bộ đội chia làm 3 mũi nổ súng mạnh mẽ vàocác đồn kể trên giặc hoàn toàn bị bất ngờ lúc đầu cố sức chống trả nhưng đến17h30 phút phải bỏ chạy về Tam Đường rồi theo đường Nậm Loỏng đi Lai Châu

Trưa ngày 18/12/1950 bộ đội tiến vào Tam Đường chia làm hai mũi truykích địch theo hướng Nậm Loỏng - Lai Châu, Bản Mấn-Lai Châu Lực lượngđịch hầu như còn nguyên vẹn (đại đội nùng Mường Khương), đại đội thái Lai

Trang 20

Châu, đại đội thái Phong Thổ (Tiểu đoàn 2BT thái) dưới quyền chỉ huy của 10 sĩquan pháp, trong đó có một quan 3 hai quan 2 nhưng tinh thần bac nhược, chỉchạy dài khi bộ đội truy kích.

Ngày 19/12/1950 một bộ phận bộ đội xuất kích từ Tam Đường đến trưahôm sau các đơn vị đã áp sát rồi làm chủ thị trấn Phong Thổ mặc dù ở Đông Paomột vị trí cách Bình Lư 12 Km địch vẫn còn 40 lính khố xanh và dõng NùngNàng có 40 quân do một sĩ quan pháp cầm đầu Hoàng Chu Pho cách PhongThổ 12 km do Tàn quân ở Tam Đường chạy về chiếm giữ Châu Pho có khoảng

100 quân có sĩ quan pháp chỉ huy Vàng Bó chừng 100 quân gồm tàn binh dõng,khố đỏ chạy từ Phong Thổ về dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp đó là chưa kểđịch còn đóng dải rác ở Nậm Pây, Dào San, Pa Nậm Cúm tổng số quân địch cómặt trên đất Phong Thổ còn đông tới 500 tên

Về phía ta đại đội độc lập Kim sơn tiếp tục làm nhiệm vụ vũ trang tuyêntruyền 4 đại đội thuộc tiểu đoàn 120 đóng giữ và bảo vê trị trấn Phong Thổ cònđại đội bộ đội địa phương 926 đóng giữ địa bàn Tam Đường- Bình Lư

Thực hiện sự chỉ đạo của trung ương và Bộ chỉ huy mặt trận Tây Bắc vềviệc khẩn trương củng cố vùng mới giải phóng tỉnh ủy Lào Cai đã bổ sung thêmlực lượng nâng số cán bộ của Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ lên 10 đồngchí (Ngày 03/01/1951 Tỉnh ủy Lào Cai ra quyết nghị điều động hai đồng chíNông Đức Vân và Ngọc Vũ về tham gia Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ).Tranh thủ sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang Ban cán sự đã tăng cường xây dựng

và phát triển cơ sở cách mạng ở Bình Lư, Tam Đường, Khun Há và bắt mối vớinhững cơ sở do đại đội Kim Sơn bàn giao lại

Kết luận: Trên đây là một số hoạt động của Ban cán sự đảng huyện Phong Thổ sau khi được thành lập dù là tổ chức đảng đầu tiên vẫn còn thiếu về lực lượng, yếu về kinh nghiệm thực tế nhưng Ban cán sự Đảng Phong Thổ đã lãnh đạo nhân dân đạt được một số thắng lợi to lớn tạo tiền đề cho những thắng lợi vẻ vang sau này của nhân dân và dân tộc huyện Phong Thổ.

Câu 2: Tên huyện Tam Đường có từ khi nào? Nêu những điều chỉnh

về địa giới, đơn vị hành chính của huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay? Giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện?

Trả lời:

2.1 Tên huyện Tam Đường có từ khi:

Ở Tam Đường, Phong Thổ dấu tích sinh sống của con người có từ khásớm Nhiều dấu vết khảo cổ học đã được tìm thấy như ở Thẩm Cung (MườngXo), trống đồng ở Bản Giang Ngoài ra các tài liệu khảo sát về dân tộc cũng

đã minh chứng sự cư ngụ từ khá sớm của người Thái, người Mông, Dao trênvùng đất này

Vào thời Lý, vùng đất Tam Đường năm trong Châu Đăng sang thời trần –

Hồ kéo đến tận Lê - Nguyễn, Châu đăng đổi tên là châu Chiêu Tấn (hoặc Châu

Trang 21

Mường Xo Luông tới (Thế kỉ XV thời Tà Ngần) Trong Bộ sử thi “Quắm TốMường” (“kể chuyện Bản Mường”) cho biết người địa phương còn gọi làMường Pá Phạn (mường miệng trời) hoặc Mường Pá Phạng (mường trời thét) vìnơi này hay có sấm sét, cũng có khi được gọi là Mường Tiến (tiến là tiếng tượngthanh chỉ tiếng sét trong ngôn ngữ Thái).

Theo Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” và Hoàng Trọng Chính trong

“Hưng hóa phong thổ lục” thì chiêu tấn có thổ âm là Mường Thu hoặc Mường

Xo, phía trên giáp huyện Kiến Thủy nước Thanh phía dưới giáp Châu QuỳnhNhai, phía đông giáp với Lai Châu Phía tây giáp Thủy Vĩ, gồm 14 động, sốđinh 201 xuất địa thế rộng rãi, ruộng đất màu mỡ, dân cư đông đúc, thôn Lâm(tục gọi là Mường Khóa) có kim sa, thổ sản, nhiều cá đàn ông, đàn bà đều thạoviệc săn, bắn, bơi lội, đan lát, thêu thùa

Nguyễn Thiên Tích trong lời cẩn án cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãicho biết châu Chiêu Tấn thuộc phủ Yên Tây của thừa tuyên Hưng Hóa đến thờinguyễn triều đình đặt châu lỵ tại Dương Đạt (có tài liệu gọi là Dương Quỳ).Châu chiêu Tấn hay Mường Tiến được tạo thành bởi nhiều mường nhỏ gộp lạinhư Mường chiêu (chiềng Pung), mường Than, Mường kim, Mường Cang,Mường Mả (lương tiên), mường sát (dương đạt), Mường Bo san thàng (TamĐường), mường kim, mường khóa (thông lâm)

Sách “Lịch triều kiến chương loại chí” của Phan Huy Chú ghi châu chiêutấn có 14 động còn sách Các tổng, trấn, xã danh bị lãm lại ghi có 11 động trạithôn, nhưng khi thống kê chỉ có 10 gồm: Thanh Quỳ, Minh Lang, Phong Thu,Ngo Phúc, Làng Nam, Li Bô, Dương Đạt, Than Nguyên Sách đại Nam nhấtthống trí cho biết năm Minh Mệnh thứ 19 (1824) mới đặt lưu quan, đổi độnglàm xã và đặt tên tổng nay lãnh 2 tổng, 5 xã 2 trại và 4 thôn

Dưới thời pháp thuộc Châu chiêu tấn nằm dưới chế độ quân quản bắtnguộc từ chính sách (Thực dân bằng quân sự) của Galieeni, chủ trương khônglập chế độ cứng rắn càng lâu, càng tốt Sau một thời gian nằm trong quân khutây đến ngày 24/05/1886 châu chiêu tấn được cắt khỏi tỉnh Hưng Hóa sát nhậpvào tỉnh Lào Cai (nguyên tên là Lão Nhai - tức phố cũ) thành lập cùng ngày, đặtdưới quyền tài phán quân sự đứng đầu là một phó công sứ quân sự

Ngày 15/04/1988, theo nghị định của toàn quyền Đông Dương, Lào Caitrở thành quân khu I do thiếu tá VanhKenMaye chỉ huy Ngày 23/01/1890 Làocai được trở lại chế độ cai trị dân sự, đứng đầu là một công sứ người pháp Hơnmột năm sau ngày 20/08/1891 Lào Cai lại bị đưa vào đạo quan binh trở thànhtiểu quân khu Lào Cai sát nhập với tiểu quân khu Yên Bái thành đạo quan binh4; Ngày 11/04/1900 tỉnh Yên Bái được thành lập Đạo quan binh 4 chỉ còn lạiLào Cai (Thủy Vĩ, Chiêu Tấn, Văn Bàn, Lục yên); Ngày 28/03/1903 Đạo quanbinh 4 chia làm 3 tiểu quân khu Lào Cai, Cố Lưu, Bảo Hà

Ngày 28/02/1904 chỉ còn lại Lào Cai, Cố Lừu Ngày 20/06/1905 chỉ cònlại Lào Cai do đó đạo quan binh 4 đổi tên là Đạo quan binh Lào Cai gồm ChâuChiêu Tấn, Thủy Vĩ

Trang 22

Ngày 12/07/ 1907 tỉnh Lào Cai Được thành lập phần lớn đất đai của ChâuChiêu tấn chuyển thành đại lý Phong Thổ nằm dưới chế độ quân quản, do một sĩquan cấp úy phụ trách.

Ngày 9/3/1944 theo Nghị định do thống sứ Bắc kỳ ký đại lý Phong Thổđược đổi tên là Châu Phong Thổ trên cơ sở phủ Thủy vĩ trả lại một số vùngtrước đây Chiêu Tấn nhập vào Theo đó Châu Phong Thổ gồm 4 xã Phong Thổ(Mường Xo), Tam Đường (San Thàng), Dào San, Bình Lư (Mường Lự) Baogồm 193 bản, 4085 đinh xuất với diện tích 1400km2 lỵ sở đạt tại Phong Thổ Từsau cách mạng tháng tám năm 1945 thành công cho đến khi cuộc kháng chiếnchống thực dân pháp kết thúc nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn côngnhận Phong Thổ là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Lai Châu

Ngày 24/12/1962 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa II quyết định thành lậplại tỉnh Sơn La, Lai Châu và thành lập tỉnh mới Nghĩa Lộ, Phong Thổ lúc nàytrở thành một trong 8 huyện của tỉnh Lai Châu

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới có những biến đổi nhanhchóng Khả năng duy trì hòa bình, ổn định trên thế giới và khu vực đã tạo điềukiện thuận lợi cho các quốc gia tập trung phát triển kinh tế nhưng đồng thờicũng đòi hỏi phải đề cao cảnh giác chủ động đối phó với các tình huống phứctạp có thể xảy ra

Với đường lối đúng đắn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đưa nước ta vượt qua khó khăn, thách thức,nắm bắt được thời cơ vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trongthế kỷ XXI Thành công của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lànguồn sức mạnh to lớn, cổ cũ, động viên và tăng cường hơn nữa sự đoàn kếtthống nhất trong toàn Đảng bộ và khối đoàn kết các dân tộc của tỉnh Lai Châunói chung, huyện Tam Đường nói riêng hướng vào thực hiện thắng lợi sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo bước chuyển biến mới trong nhữngnăm đầu thế kỷ XXI

Ngày 14/01/2002 chính phủ ban hành nghị định số 08/2002/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, Huyện Mường Lay để thành lập huyện Mường Nhé và chia tách huyện Phong Thổ để thành lập huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Theo nghị định này, huyện Phong Thổ được chia thành 2 huyện Tam Đường và Phong Thổ như ngày nay.

Theo quyết định này huyện Tam Đường được thành lập với 82.843,7 hadiện tích tự nhiên 52.567 nhân khẩu, 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm cácxã: Lản Nhì Thàng, Thèn Sin, Sùng Phài, Nậm Loỏng, Nùng Nàng, San Thàng,

Tà Lèng, Bản Hon, Bản Giang, Hồ Thầu, Bình Lư, Bản Bo, Khun Há, Nà Tăm,

Trang 23

về trách nhiệm phát huy những giá trị đó trong bối cảnh lịch sử mới Tình đoànkết gắn bó đặc biệt giữa Phong Thổ và Tam Đường là một nguồn sức mạnh đểĐảng bộ và nhân dân hại huyện tiếp tục vươn lên mạnh mẽ đóng góp ngày càngnhiều vào tiến trình phát triển của tỉnh và của đất nước.

Tam Đường được thành lập trong bối cảnh công cuộc đổi mới toàn diệnđất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử cả nướcđang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hộinhập quốc tế Bước vào thời kỳ mới Đảng bộ và nhân dân Tam Đường có nhữngthuận lợi căn bản Huyện có vị trí chiến lược quan trọng đồng thời có vị trí thuậnlợi để phát triển kinh tế - xã hội có tiềm năng và thế mạnh về đất đai lao động,nhân dân có truyền thống cách mạng kiên cường

2.2 Những điều chỉnh về địa giới, đơn vị hành chính của huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay.

Ngày 14/01/2002 chính phủ ban hành nghị định số 08/2002/NĐ-CP, vềviệc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, Huyện Mường Lay đểthành lập huyện Mường Nhé và chia tách huyện Phong Thổ để thành lập huyệnTam Đường, tỉnh Lai Châu Theo nghị định này, huyện Phong Thổ được chiathành hai huyện: Tam Đường và Phong Thổ ngày nay

Theo quyết định này huyện Tam Đường được thành lập với 82.843,7Hadiện tích tự nhiên 52.567 nhân khẩu, 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm cácxã: Lản Nhì Thàng, Thèn Sin, Sùng Phài, Nậm Loỏng, Nùng Nàng, San Thàng,

Tà Lèng, Bản Hon, Bản Giang, Hồ Thầu, Bình Lư, Bản Bo, Khun Há, Nà Tăm,

và thị trấn Phong Thổ

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI nước cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 vềviệc điều chỉnh địa giới một số tỉnh Trong đó có Lai Châu Thực hiện Nghịquyết trên tỉnh Lai Châu cũ được chia thành hai tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnhĐiện Biên, huyện Tam Đường trở thành một trong năm huyện thuộc tỉnh LaiChâu mới Đồng thời, tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu đặt tại thị trấn Phong Thổ thuộchuyện Tam Đường

Ngày 10 tháng 10 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định176/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập thị xã LaiChâu và thành lập thị trấn Tam Đường; huyện Tam Đường lúc này có 13 xã và 01thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 756,7 km2, dân số 4,3 vạn người, gồm 12dân tộc anh em cùng chung sống Việc chia tách địa giới hành chính của huyệnPhong Thổ cũ thành hai huyện Phong Thổ và Tam Đường và thành lập thị xã LaiChâu mới, thì đồng thời thị trấn Tam Đường cũng được thành lập Theo đó:

+ Thành lập thị xã Lai Châu, thị xã tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu trên cơ sở toàn

bộ diện tích và dân số của thị trấn Phong Thổ và 2 xã: Nậm Loỏng, Tam Đường

và một phần diện tích, dân số của xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường

Trang 24

+ Thành lập thị trấn Tam Đường trên cơ sở một phần diện tích và dân sốcủa xã Bình Lư (nguyên là một phần của xã Bình Lư trước kia).

Huyện Tam Đường còn lại 75.760,70 ha diện tích tự nhiên và dân số42.131 người

Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Chính phủ ra Nghị định số

156/2006/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; Thành lập xã thuộc cáchuyện Phong Thổ, Tam Đường, Sìn Hồ và Than Uyên, tỉnh Lai Châu Chia xãBình Lư thành hai xã Bình Lư và Sơn Bình; chuyển xã Lản Nhì Thàng về huyệnPhong Thổ quản lý Huyện Tam Đường thời điểm này có 68.656,56ha diện tích

tự nhiên và 40.685 nhân khẩu có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các

xã Sùng Phài, Nùng Nàng, Bản Giang, Bản Hon, Thèn sin, Tả Lèng, Hồ Thầu,Bình Lư, Sơn Bình, Nà Tăm, Bản Bo, Khun Há và Thị trấn Tam Đường

Ngày 8 tháng 4 năm 2008, chính phủ ra Nghị định số 41/2008/NĐ-CP, vềviệc điều chỉnh địa giới hành chính xã; thành lập xã, thị trấn thuộc huyện ThanUyên, huyện Tam Đường, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Theo Nghị định nàythành lập xã Giang Ma thuộc huyện Tam Đường trên cơ sở điều chỉnh 3.671,60

ha diện tích tự nhiên và 2877 nhân khẩu của xã Hồ Thầu Huyện Tam Đườnglúc này có 68.472,56 ha diện tích tự nhiên và 46.271 nhân khẩu có 14 đơn vịhành chính trực thuộc gồm 01 thị trấn và 13 xã (Thị trấn Tam Đường, SùngPhài, Nùng Nàng, Bản Giang, Bản Hon, Thèn sin, Tả Lèng, Hồ Thầu, Bình Lư,Sơn Bình, Nà Tăm, Bản Bo, Khun Há, Giang Ma

Bản đồ hành chính huyện Tam Đường trước khi sát nhập xã Sùng Phài vào

thành phố Lai Châu

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 banhành Nghị quyết số 866/NQ -UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hànhchính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Lai Châu Theo đó, điều chỉnh toàn bộ21,60km2 diện tích tự nhiên và 1898 người của xã Sùng Phài thuộc huyện Tam

Trang 25

Đường vào thành phố Lai Châu Chuyển xã Sùng Phài về thành phố LaiChâu quản lý.

Ủy ban thường vụ Quốc Hội xem xét sắp xếp các đơn vị hành chính xã

Sùng Phài chuyển về thành phố Lai Châu

Sau khi điều chỉnh, huyện Tam Đường còn lại 662,92 km2 diện tích tựnhiên và 52.470 người, có 13 đơn vị hành chính cấp xã (12 xã và 01 thị trấn)nhưhiện nay

Tổng quan về các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tam Đường:

1 Thị Trấn Tam Đường

1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

- Vị trí địa lý: Thị trấn Tam Đường là trung tâm kinh tế văn hoá chính trịcủa huyện, diện tích tự nhiên 1.772,86ha Dân số 6.008 khẩu, có 11 dân tộc sinhsống gồm: Dân tộc Thái, Kinh, Giấy, Hoa, Mông, Dao, Lào, Lự, Kháng, Lô Lô

và dân tộc khác Mật độ dân số 399 người/km2

+ Phía Đông Bắc giáp xã Bình Lư huyện Tam Đường;

+ Phía Nam giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường;

+ Phía Đông giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường;

+ Phía Tây Nam giáp với xã Bản Hon huyện Tam Đường;

+ Phía Tây Bắc giáp xã Hồ Thầu huyện Tam Đường

- Địa hình: Chủ yếu thung lũng và đồi núi thấp đã hình thành cánh đồngBình Lư với diện tích lớn, đất đai màu mỡ để chuyên canh trồng lúa nước

- Khí hậu: Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa miền bắcViệt Nam

Trang 26

- Sông suối: Trên địa bàn có 1 hệ thống sông suối chính, phân bố đồngđều, nguồn nước dồi dào phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp theohướng tập trung với đa dạng các sản phẩm chất lượng cao.

1.2 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai mầu mỡ thuận lợi cho phát triển nông, lâmnghiệp Thị trấn nằm tiếp giáp với xã Bình Lư cùng có cánh đồng Bình Lư bằngphẳng, diện tích lớn thuận lợi để tạo vùng chuyên canh lúa nước

- Tiềm năng nguồn nước: Trên địa bàn có một hệ thống sông suối chính,nguồn nước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thuỷ sản

- Tiềm năng về du lịch: Là trung tâm huyện nhưng thị trấn có Thác ThácTình đã được công nhận là thắng cảnh du lịch cấp tỉnh với cảnh quan đẹp, đượcmệnh danh là thác nước đẹp nhất vùng Tây Bắc tạo điều kiện để phát triển dulịch và khám phá

Thác tác tình với vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa hoang sơ lại gắn với câu truyện tìnhyêu huyền thoại nhắc nhở cho thế hệ trẻ về lòng thủy chung son sắt cho lời hứa

thủa ban đầu

- Tiềm năng dịch vụ: Nằm ở trung tâm huyện nơi có điều kiện giao thôngthuận lợi có trục quốc lộ 4D đi qua tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch

vụ, thương mại cũng như phát triển đồng bộ về cơ sở vật chất hạ tầng, kinh tế

Trang 27

-Trên địa bàn thị trấn thuận tiện giao thông đi lại và các dịch vụ nghỉ

dưỡng với giá cả hợp lý

- Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp: Nhân dân của thị trấn cótruyền thống phát triển các ngành nghề như: dệt thổ cẩm và sản xuất các ngànhnghề truyền thống,…

Một góc của thị trấn Tam Đường hôm nay

Trang 28

Sự phát triển của Thị trấn Tam Đường sau 2 năm thực hiện Nghị quyết đại hội

Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020.

2 Xã Bình Lư

Bình Lư là xã có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa Tháng 1 năm

2002, xã Bình Lư chuyển từ huyện Phong Thổ về huyện Tam Đường (mớithành lập) Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh LaiChâu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên; huyện Tam Đường thuộctỉnh Lai Châu mới Tháng 10 năm 2004, 2.300 ha diện tích tự nhiên và 4.456người của xã Bình Lư được tách ra để thành lập thị trấn Tam Đường Xã Bình

Lư còn lại 14.839 ha diện tích tự nhiên và 6.208 người Năm 2006, một phầndiện tích và dân số, bao gồm 10.936,6 ha diện tích tự nhiên và 2.292 người của

xã Bình Lư được tách ra để thành lập xã Sơn Bình

2.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

- Vị trí địa lý: Bình Lư là xã nằm ở phía đông nam huyện Tam Đường,diện tích tự nhiên 4.580,86 ha Cách trung tâm huyện về Phía tây, Dân số: Xã có1.049 hộ, 4.409 khẩu, có 4 dân tộc cùng sinh sống (Trong đó: Dân tộc thái 2.245khẩu, chiếm 49%; Dân tộc kinh 1.427 khẩu, chiếm 32%; dân tộc giấy 463 khẩu,chiếm 10%; dân tộc Lự 420 khẩu, chiếm 9%) Mật độ dân số 103 người/km2

+ Phía Bắc giáp xã Trung Hồ Lèng, huyện Bát Xát, thành phố Lào Cai,tỉnh Lào Cai;

+ Phía Nam giáp với xã Bản Hon, Nà Tăm, Khun Há huyện Tam Đường;+ Phía Đông giáp với xã Sơn Bình huyện Tam Đường;

+ Phía Tây giáp với xã Hồ Thầu và thị trấn huyện Tam Đường

- Địa hình: Chủ yếu thung lũng và đồi núi thấp đã hình thành cánh đồngBình Lư với diện tích lớn, đất đai mầu mỡ để chuyên canh lúa nước

- Khí hậu: Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa miền bắcViệt Nam

Trang 29

- Sông suối: Trên địa bàn có 3 hệ thống sông suối chính, phân bố đồngđều, nguồn nước dồi dào phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp theohướng tập trung với đa dạng các sản phẩm chất lượng cao.

2.2 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai mầu mỡ thuận lợi cho phát triển nông, lâm

nghiệp Xã có cánh đồng Bình Lư bằng phẳng, diện tích lớn thuận lợi để tạovùng chuyên canh lúa nước

- Tiềm năng nguồn nước: Trên địa bàn có 3 hệ thống sông suối chính,

nguồn nước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thuỷ sản và thuỷ điệnvừa và nhỏ

- Tiềm năng về du lịch: Xã có động Tiên sơn với cảnh quan đẹp, suối

nước nóng tại khu vực bản Nà Đon với chất lượng nước tốt tạo điều kiện đểphát triển du lịch

Động Tiên Sơn Bình Lư chốn bồng lai tiên cảnh

Trang 30

Sản xuất Miến dong tại xã Bình Lư

- Tiềm năng dịch vụ: Xã có điều kiện giao thông thuận lợi, tiếp giáp thị

trấn huyện Tam Đường thuận lợi cho phát triển dịch vụ, thương mại

- Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp: Nhân dân trong xã có truyền

thống phát triển các ngành nghề như: Làm miến dong, dệt thổ cẩm, sản xuất vậtliệu xây dựng đặc biệt là sản xuất gạch và khai thác đá,

Khai thác đá tại xã Bình Lư, huyện Tam Đường

Trang 31

Nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, bà con xã Bình Lư sáng tạo ramiến dong đậu xanh, đậu đen Sản phẩm miến mới này đang được khách hàng

cả nước ưa chuộng, bởi khi nấu chín sợi miến mềm hơn và có mùi thơm của

đỗ, khác với loại miến thông thường trước đó Đây là cơ hội để địa phương xâydựng nhãn hiệu, thương hiệu cho sản phẩm miến dong Bình Lư Thời gian tới,

xã Bình Lư tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi một số diện tích trồng lúanăng xuất thấp sang trồng dong để đảm bảo nguồn nguyên liệu; phối hợp vớicác đơn vị đẩy nhanh tiến độ thực hiện các quy trình cấp mã vạch cho sảnphẩm; chỉ đạo nhân dân thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường,cam kết sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm Để sản phẩm miến dong trên địabàn xã có thể vươn tới tất cả các siêu thị trên phạm vi cả nước và các cửa hàngtạp hóa lớn nhỏ Có như vậy kinh tế của địa bàn mới ngày càng phát triển đảmbảo đời sống cho nhân dân

Miến dong được sản xuất từ những củ dong tươi ngon

3 Xã Bản Hon

3.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

- Bản Hon là xã nông nghiệp, nằm ở phía Tây Nam huyện Tam Đường,

có tổng diện tích đất tư nhiên là 5.443,06 ha;dân số 2.471 người, gồm 5 dân tộccùng chung sống, nhưng chủ yếu là dân tộcLự, với một nền văn hóa đặcsắc, ; mật độ dân số 45 người/km2

- Có vị trí địa lý:

+ Phía Bắc giáp xã Hồ Thầu huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu;

+ Phía Nam giáp với xã Khun Há huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu;

+ Phía Tây giáp với xã Bản Giang huyện Tam Đường và huyện Sìn Hồ;+ Phía Đông giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

Trang 32

- Xã Bản Hon có địa hình đa dạng với nhiều đồi núi cao, độ dốc lớn vàthung lũng sen kẽ.

- Bản Hon nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Khí hậu phân chia 2 mùa

rõ rệt mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 kết thúc vào tháng 9, mùa khô bắt đầu từtháng 10 và kết thúc vào tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22oC, nhiệt độ cao nhất trong nămkhoảng 35oC và nhiệt độ thấp nhất dưới 6oC

3.2 Tiềm năng phát triển

Xã có nhiều loại phục vụ cho ngành công nghiệp khai khoáng, thủy điện

Cụ thể: Có mỏ đất hiếm phân bố chủ yếu tại các bản Đông Pao I, bản Đông Pao

II, bản Thẳm, bản Bãi Trâu, bản Nà Khum với trữ lượng lớn;

Có mỏ đá đen ở Bản Thẳm với trữ lượng khá lớn;có hai con suối khá lớnchảy qua (Suối Nậm Hon chảy từ bản Hoa Dì Hồ xuống Bản Hon và suối Nậm

Mu chảy từ xã Bản Giang sang) có điều kiện phát triển thủy điện Ngoài ra, vớinhiều cảnh quan đẹp, văn hóa đặc sắc của dân tộc Lự, thuận lợi cho phát triển dulịch cộng đồng

Cuộc sống sinh hoạt và lao động của người dân tộc Lự, xã Bản Hon

Trang 33

Bản Thẳm - điểm du lịch hấp dẫn tại xã Bản Hon

4 Xã Bản Bo

4.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

Bản Bo là xã miền núi nằm ở phía Đông Nam của huyện Tam Đường, cótổng diện tích tự nhiên là 7.638,94 ha Dân số 4.663 người, gồm 8 dân tộc anh

em cuàng chung sống là: Kinh, Thái, Mông, Dao, Giấy, Lào, Kháng …., mật độdân số 58 người/km2 Có địa giới hành chính:

- Phía Bắc giáp xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu;

- Phía Nam giáp huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu;

- Phía Đông giáp huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;

- Phía Tây giáp xã Nà Tăm và Khun Há, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Xã có quốc lộ 32 đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và pháttriển kinh tế - xã hội

Địa hình xã Bản Bo được chia thành 2 vùng rõ rệt:

- Khu vực vùng thấp có độ cao từ 500 - 800m, chiếm 2/3 diện tích tự nhiêncủa xã, tập trung chủ yếu từ Quốc lộ 32 đến khu vực giáp ranh với xã Khun Há vàhuyện Tân Uyên, đây là vùng có tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp

- Khu vực đồi núi cao chủ yếu tập trung ở phía Đông Bắc, có độ cao từ1.100 - 2.200m so với mực nước biển, đây là khu vực có địa hình tương đốiphức tạp nên tập trung chủ yếu cho phát triển lâm nghiệp

Xã nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa pha lẫn á nhiệt đới.Nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 26oC, nhiệt độ cao nhất trong năm là 35oC vànhiệt độ thấp nhất là 6 - 8oC Lượng mưa trung bình hàng năm lớn, trung bình2.600 mm/năm, cao nhất 3.600 mm/năm, thấp nhất 1.800 mm/năm Lượng mưa

Trang 34

phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7 và 8 Độ ẩm khôngkhí trung bình là 85%, độ ẩm thấp nhất là 58% Số giờ nắng trung bình 1900giờ/năm Bản Bo cũng giống như các xã thuộc vùng núi phía Bắc thường xuyênxảy ra sương mù và sương muối Sương mù xuất hiện khoảng 15 ngày/năm.

4.2 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai màu mỡ thuận lợi cho sự phát triển nông lâmnghiệp, diện tích đất nông nghiệp lớn với hệ thống nước tưới tiêu đáp ứng nhu cầusản xuất, có tiềm năng để sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh hàng hóa,hình thành vùng sản xuất các mặt hàng nông sản chu lực như chè, ngô, lúa

- Tiềm năng phát triển dịch vụ: Là xã cửa ngõ của huyện Tam Đường, với

hệ thống giao thông thuận lợi, phong cảnh đẹp, kết hợp với bản sắc văn hóa dântộc Thái đặc trưng, nên rất thuận lợi cho phát triển du lịch, dịch vụ

Nông dân xã thu hoạch chè búp tươi tại vùng chè chất lượng cao xã Bản Bo

Trang 35

Cọn nước Nà Khương - một trong những điểm nhấn du lịch của xã Bản Bo

5 Xã Sơn Bình

5.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

Sơn Bình là xã cửa ngõ phía Đông Bắc thuộc huyện Tam Đường, có tổngdiện tích tự nhiên là 10.829,14 ha,với 3.279 nhân khẩu và 9 dân tộc cùng sinhsống, trong đó chủ yếu là dân tộc Mông, mật độ dân cư 30 người/km2 Có địagiới hành chính:

+ Phía Bắc giáp xã Bản Khoang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai;

+ Phía Nam giáp xã Bản Bo, xã Nà Tăm, huyện Tam Đường, tỉnh LaiChâu;+ Phía Đông giáp xã San Xả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai;

+ Phía Tây giáp xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Trên địa bàn xã có Quốc lộ 4D và 32 đi qua, tạo điều kiện thuận lợi choviệc đi lại và phát triển kinh tế xã hội

Xã được thành lập năm 2006 trên cơ sở điều chỉnh 10.936,6 ha diện tích

tự nhiên và 2.292 người của xã Bình Lư

Địa hình bị chia cắt lớn, chủ yếu là thung lũng và đồi núi cao Khu vựcđồi núi cao được phân bổ đều trong toàn xã có độ cao từ 1.100 tới 2.900m so vớimực nước biển

Xã Sơn Bình nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa pha lẫn á nhiệtđới Nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 26oC, nhiệt độ cao nhất trong năm 35oC vànhiệt độ thấp nhất là 6 - 8oC Lượng mưa trung bình hàng năm lớn, trung bình2.600 mm/năm, cao nhất 3.600 mm/năm, thấp nhất 1.800 mm/năm Lượng mưaphân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7 và 8 Độ ẩm khôngkhí trung bình là 85%, độ ẩm thấp nhất là 58% Số giờ nắng trung bình 1.900

Trang 36

giờ/năm Sơn Bình cũng giống như các xã thuộc vùng núi phía Bắc, thườngxuyên xảy ra sương mù và sương muối vào mùa đông.

5.2 Tiềm năng phát triển

- Có tiềm năng đất đai phát triển kinh tế rừng: Xã có tổng diện tích đấtlâm nghiệp là 7.090,99 ha chiếm 65,4% diện tích đất tự nhiên,trong đó, đất rừngsản xuất là 210,76 ha chiếm 1,95 %, đất rừng phòng hộ là 6.880,23 ha chiếm63,53 %;tỷ lệ che phủ rùng đạt 49% Đồng thời, có tiềm năng phát triển lâm sản,đặc biệt là các loại cây thảo quả, sa nhân, cây thảo dược khác,… là một trongnhững nguồn thu quan trọng của người dân

- Có tiềm năng phát triển thủy điện: Xã có 2 dòng suối Nậm Giê và Huổi

Hú với lưu lượng nước trương đối lớn, rất thuận lợi cho phát triển các nhà máythủy điện vừa và nhỏ, tạo nguồn thu rất lớn cho địa phương

- Tiềm năng phát triển du lịch: Là xã nằm trên nền địa hình cao với khíhậu đặc trưng của khu vực đèo, các dãy núi cao và có diện tích rừng lớn đã tạonên cảnh quan thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng; đồng thời, nằm tiếp giápvới khu du lịch Sa Pa, nên có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, đặc biệt là

du lịch mạo hiểm và du lịch sinh thái

- Tiềm năng phát triển nuôi cá nước lạnh: Với nhiệt độ khá thấp, độ caophù hợp, nguồn nước có độ lạnh và sạch; Sơn Bình có tiềm năng lớn phát triểnnuôi cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi,…)

Phong cảnh xã Sơn Bình

6 Xã Khun Há

6.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

Trang 37

Xã Khun Há xã nằm ở phía Đông Nam huyện Tam Đường;có diện tích tựnhiên 9.489,38 ha;dân số gồm 4.342 người gồm 4 dân tộc cùng sinh sống, trong

đó chủ yếu là dân tộc Mông (chiếm trên 93%);mật độ dân số 46 người/km2

Có vị trí đia lí:

+ Phía Bắc giáp xã Bản Hon và Xã Nà Tăm huyện Tam Đường;

+ Phía Nam giáp với huyện Sìn Hồ và huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu;+ Phía Tây giáp với huyện Sìn Hồ;

+ Phía Đông giáp xã Bản Bo

Địa hình chủ yếu là đồi núi đá cao phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãynúi xen kẽ các khe nước nhỏ Xã Khun Há nằm trong khu vực nhiệt đới giómùa;do địa hình của xã cao nên có thời tiết rét đậm,phân chia 2 mùa rõ rệt làmùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 22oC, nhiệt độ caonhất trong năm là 35oC và nhiệt độ thấp nhất là dưới 6oC Lượng mưa trung bìnhhàng năm khá lớn khoảng 2.800mm/năm, phân bố không đều vào các tháng, tậptrung chủ yếu vào tháng 5,6 Độ ẩm không khí trung bình 84%;số giờ nắng trungbình năm khoảng 2.002 giờ

6.2 Tiềm năng phát triển

- Có tiềm năng đất đai phát triển kinh tế rừng, dược liệu, cây ăn quả ônđới: Tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã là 5.048,85 ha chiếm 53,21 diện tíchđất tự nhiên; cho nên có tiềm năng phát triển rừng Đồng thời, có tiềm năng pháttriển lâm sản, đặc biệt là các loại cây thảo quả, các loại dược liệu quý hiếm nhưSâm Lai Châu,… là một trong những nguồn thu lớn của người dân địa phương

- Có tiềm năng phát triển thủy điện: Xã có dòng suối Nậm Đích với lưulượng nước trương đối lớn, rất thuận lợi cho phát triển các nhà máy thủy điệnvừa và nhỏ, tạo nguồn thu lớn cho địa phương

- Tiềm năng phát triển du lịch: Là xã nằm trên nền địa hình núi cao vớikhí hậu mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, có bản sắc văn hóa dân tộcMông, nên có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộngđồng và du lịch sinh thái

- Tiềm năng phát triển nuôi cá nước lạnh: Với nhiệt độ khá thấp, độ caophù hợp, nguồn nước có độ lạnh và sạch; Khun Há có tiềm năng phát triển nuôi

cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi,…)

- Có các điểm tài nguyên khai khoáng như: Vàng (Pu Sam Cáp), Đồng,Chì, mỏ Sắt (Thèn Thầu, Khèo Thầu, Can Hồ), có giá trị kinh tế cao

Trang 38

Hình ảnh cây Sâm Lai Châu - Một loại dược liệu quý hiếm được tìm thấy trên

địa bàn xã Khun Há

Không gian đẹp, thơ mộng vàyên bình tại bản Lao Chải, xã Khun Há

7 Xã Bản Giang

7.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

Bản Giang là xã vùng cao nội địa của huyên Tam Đường, nằm cách trungtâm huyện về phía Đông khoảng 26 km với, tổng diện tích tự nhiên 3.560,22 ha(đất sản xuất nông nghiệp 913,46 ha;đất lâm nghiệp 1.549,4 ha; đất phi nôngnghiệp 91,19 ha; đất chưa sử dụng là 969,54 ha); gồm 7 dân tộc cùng sống với3.429 nhân khẩu, trong đó chủ yếu là dân tộc Giáy; mật độ dân số 96 người/km2

- Có vị trí địa lý:

+ Phía Bắc giáp xã San Thàng, thành phố Lai Châu;

+ Phía Nam giáp xã Pu Sam Cáp, huyện Sìn Hồ;

Trang 39

+ Phía Đông giáp xã Bản Hon, huyện Tam Đường;

+ Phía Tây giáp xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường

Địa hình của xã có một phần tương đối bằng phẳng và phần lớn là đồi núicao trung bình 800-1500m, có nhiều suối và mó nước nằm rải rác

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, về khí hậu xã Bản Giang có hai mùa

rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa trung bình hàng năm là1.600mm/năm, cao nhất là 2.500mm/năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đếntháng 3 năm sau, thời tiết khô hanh, ít mưa, lạnh và thường xuyên xuất hiệnsương mù Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 27oC, nhiệt độ cao nhất khoảng

35oC, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 5oC Độ ẩm không khí trung bình là85%, độ ẩm thấp nhất khoảng 56%

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Xã Bản Giang có tổng diện tích đất tự nhiên là 3.560,22 ha chiếm 5,19%diện tích đất của huyện Tam Đường Đất đai của xã Bản Giang chủ yếu là cácnhóm đất phù sa, đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat, nhóm đất mùn vàng

đỏ trên núi

Các nhóm đất phù sa ngòi suối, đất đen trên sản phẩm bồi tụ củacacbonat, nhóm đất vàng được hình thành va tập trung chủ yếu ở khu vực đồithấp, các thung lũng có độ dốc 25o, hàm lượng chất hưu cơ, tầng mặt rất cao vàchủ yếu là lớp mùn thô, rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây hàng năm

và cây công nghiệp

Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, được hình thành và tập trung chủ yếu ởnhững dẫy núi cao có độ dốc trên 25o, tầng dày trung bình, thành phần cơ giớinhẹ đến trung bình, thích hợp cho việc phát triển rừng

7.2 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai màu mỡ, địa hình tương đối bằng phẳng nêntạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trồng các loại cây công nghiệp và cây

ăn quả mang tính chất hàng hoá như cam canh, quít

- Tiềm năng về đất đai và khí hậu đã tạo cơ sở cho xã hình thành các khuchuyên canh hàng hóa chất lượng cao như vùng sản xuất hoa xứ lạnh, vùngtrồng rau sạch

- Tiềm năng nguồn nước: Trong xã có con suối chính Nà Lần cùng cáccon suối nhỏ tương đối dồi dào kể cả vào mùa khô nên đây là nguồn nước chínhphục vụ cho sinh hoạt, sản xuất và chăn nuôi thuỷ sản trong xã Đặc biệt là khu

mó nước tại Bản Giang với nhiệt độ luôn luôn duy trì ở 24 – 28o C nên có tiềmnăng lớn để phát triển các mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao

Trang 40

- Tiềm năng phát triển dịch vụ: Là xã có vị trí liền kề với thị xã Lai Châu,

hệ thống giao thông và vị trí thuận lợi nên có tiềm năng lớn để phát triển thươngmại, dịch vụ, giao thương hàng hóa với các khu vực phụ cận như xã Bản Hon

- Tiềm năng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn

xã có tiềm năng về khai thác vật liệu xây dựng, chế biến gỗ và phát triển làngnghề tiểu thủ công nghiệp như mây tre đan, sản xuất chổi chít

- Tiềm năng về nguồn lao động: Dân số đông với nguồn lao động dồi dào,người dân chăm chỉ, sáng tạo trong lao động sản xuất là cơ sở để phát triển kinh

tế xã hội

Xã Bản Giang có tổng số diện tích theo km2 là 36,03 km², tổng số dânvào năm 1999 là 2586 người, mật độ dân số tương ứng 72 người/km²

Phát huy được tiềm năng, lợi thế, xã tập trung chỉ đạo bà con chuyển đổi

cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, đưa máy móc, nông cụ vào sảnxuất, giảm chi phí, ngày công lao động Đến nay, xã Bản Giang bước đầu hìnhthành một số vùng sản xuất tập trung: chè (bản Nà Bỏ, Hà Giang, Nà Sài); mía(bản Nà Cơ, Tẩn Phủ Nhiêu); cam (Bản Giang, Nà Bỏ, Cốc Pa) Từng bước mởrộng các loại hình kinh doanh, xây dựng mô hình hợp tác xã liên kết sản xuấtrượu ngô, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản Phát triển các ngànhnghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như: Hợp tác xã chế biến chè QuyếtTiến sản xuất vật liệu xây dựng gạch, cát, sỏi; nghề đan chổi chít (bản HàGiang)

Bà con nhân dân xã Bản Giang thu hoạch Mía

8 Xã Nà Tăm

8.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

- Vị trí địa lý: Nà Tăm có tổng diện tích tự nhiên là 2.416,98 ha Hiện nay,trên địa bàn xã có 9 bản với 613 hộ gồm 3.274 nhân khẩu, mật độ dân số trungbình 135 người/km2 và dân tộc Lào chiếm 99,3%, dân tộc kinh chiếm 0,6%, cònlại là 0,05% dân tộc Thái và 0,05% dân tộc Mường

Có địa giới hành chính như sau:

Ngày đăng: 10/09/2020, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w