Chú ý rằng ở mặt cắt này tĩnh mạch gan phải nằm vuông góc với sóng âm và do đó có thể biểu hiện là một thành mỏng khác chỉ thấy được ở các nhánh tĩnh mạch cửa 11 ở hình 36.2 b.. Những kh
Trang 1Chương 3 bao gồm gan và túi mật Cả 2 bộ phận này
nên được quét một cách hệ thống ở 2 mặt phẳng với sự
kiểm tra toàn diện khi bệnh nhân hít sâu Chúng tôi
khuyên bạn luôn luôn làm theo một hệ thống tiêu chuẩn:
bắt đầu từ mặt cắt dọc giữa sử dụng tĩnh mạch chủ dưới
làm ranh giới Từ đó, quét sang trái và trở lại để thấy được
hình ảnh thuỳ gan trái Sau đó dừng lại để cho bệnh nhân
thở ra và bắt đầu nhịp thở mới, tiếp tục quét sang thuỳ gan
phải bằng cách tương tự, chậm và liên tục quét đầu dò
(Hình 35.1 a) Vấn đề chính của người khảo sát là phần
gan phía trên ngay dưới cơ hoành Bệnh nhân phải hít sâu
nhất có thể và đầu dò phải được nghiêng một góc thích
hợp (Hình 35.1 b) Vì kích thước gan phải lớn hơn, do đó
thường phải tiến hành khảo sát phần trên gan phải trước,
sau đó cho bệnh nhân thở bình thường và tiếp tục lặp lại với phần dưới gan phải.Nhớ rằng phải giảm độ phóng đại để có thể đánh giá tốt được phần sau của gan Và nhớ rằng các nhánh tĩnh mạch cửa (11) trong nhu mô gan (9) được bao quanh bởi một viền tăng âm (“embankment”), do các ống mật liền kề, các động mạch và tổ chức liên kết Phụ thuộc vào góc
‘insonation’, các tĩnh mạch gan (10) thường ko thấy viền tăng âm (chỉ có thể thấy ở góc ‘embankment’ 90 Những năm gần đây, việc đo kích thước gan đã giảm
do độ kém tin cậy của phương pháp đo này Chiều cao gan đặc trưng đc đo ở mặt cắt dọc giữa đòn phải (Hình 35.2) Chiều cao gan bình thường ở người lớn là từ 11 đến 15cm nhưng thay đổi lớn khi hít sâu vì sự thích nghi đàn hồi của nhu mô gan (9) với hình dạng lồng ngực Góc dưới gan phải nhỏ hơn 45° sẽ dễ dàng đánh giá hơn Góc này xuất hiện ở gan bị xung huyết hoặc gan to với bất kì nguyên nhân khác Góc dưới gan trái nhỏ hơn 30° thường là cấp tính hơn mép đuôi gan Túi mật (14) ở mép đuôi gan có thể đánh giá được cùng lúc Túi mật nên được đánh giá ở bệnh nhận nhịn ăn (Hình 35.3) vì khi đó sẽ dễ dàng đánh giá độ dày thành túi mật (80) hơn, cái mà không vượt quá 4mm
Sự co bóp của túi mật xảy ra ngay sau khi ăn không cho phép loại trừ một cách đáng tin cậy sự dày thành túi mật do phù nề, sỏi, polyp hay khối u
Trang 2Sau khi gan được quét ở mặt cắt dọc, thuỳ trái bây giờ
được quét một cách hệ thống từ trên xuống dưới ở mặt
cắt ngang để phát hiện bất kì một bất thường nào có
thể có Do thực tế khảo sát, thuỳ phải gan được quan
sát tốt nhất ở mặt cắt chéo song song với bờ dưới sườn
phải (Hình 36.1) Lỗi thường gặp khi cầm đầu dò là gì?
Câu trả lời nằm ở góc trên bên trái trang này
Mặt cắt dưới sườn phải này (Hình 36.2 a) đặc biệt hữu
dụng trong khảo sát chiều dài các tĩnh mạch gan (10)
cho tới vị trí hợp nhất của chúng là một hình bầu dục
của mặt cắt chéo qua tĩnh mạch chủ dưới Đặc trưng
của các tĩnh mạch gan là chúng dài thẳng và chỉ thay
đổi khi có sự hiện diện của các mass trong gan hoặc
suy tim phải
Suy tim phải
Trong trường hợp đường kính tĩnh mạch chủ dưới ở số
đo ranh giới và kiểm tra độ xẹp của tĩnh mạch chủ khi hít vào hết sức không thể kết luận được thì đường kính của tĩnh mạch gan ngoại vi có thể cung cấp thêm bằng chứng để củng cố hoặc loại trừ suy tim phải Đường kính lớn nhất của tĩnh mạch gan ngoại vi ( ở góc trên bên trái của hình ảnh) không quá 6mm Đo lường tĩnh mạch gan ở trung tâm gần với tĩnh mạch chủ (16) là khó đánh giá vì phạm vi thay đổi sinh lý lớn; 10 đến 12mm có thể là hoàn toàn bình thường ở vị trí này Hình 36.3 chỉ ra hình ảnh điển hình của suy tim phải với sự sung huyết, ứ máu tĩnh mạch gan và ứ máu tĩnh mạch chủ dưới (16)
Chú ý rằng ở mặt cắt này tĩnh mạch gan phải nằm vuông góc với sóng âm và do đó có thể biểu hiện là một thành mỏng khác chỉ thấy được ở các nhánh tĩnh mạch cửa (11 ở hình 36.2 b) Mặt cắt này cũng rất thích hợp để đánh giá các tĩnh mạch gan với ‘color duplex studies’ nơi nghi ngờ có huyết khối Trong nhiều trường hợp, cảnh giác với sự giảm bớt mạch máu ngoại
vi của gan vì đây là thể là dấu hiệu gián tiếp của sự biến đổi xơ gan ở nhu mô gan
Tràn dịch màng phổi phải cũng có thể xác định ở mặt cắt này (hình ảnh phía dưới) ở dưới cơ hoành (13) Ở
vị trí này, bình thường chỉ có bóng lưng (45) do không khí ở phổi hoặc hình ảnh soi gương phản chiếu bởi nhu
mô gan (9)
Trang 3Kiểm tra hệ thống gan có thể phát hiện những
thay đổi bình thường giả u Ví dụ, ở bệnh nhân
điền kinh đôi khi có cấu trúc tăng âm (m) dọc
theo vòm gan, cái mà xuất hiện mở rộng từ cơ
hoành (13) và làm lõm nhu mô gan (Hình 37.1)
Những tổn thương rõ ràng này đặc trưng cho sự
dày lên của các dải cơ của cơ hoành, kéo dài từ
khoảng trống giữa gan tới xương sườn và các
đốt sống ngực, tạo thành 1 dải hằn lên gan
Chúng không có ý nghĩa lâm sàng và không
được nhầm lần với quá trình bệnh lý Một dải
cơ có thể xuất hiện đơn độc (Hình 37.2) và có
thể hiểu lầm như một một hình ảnh phản chiếu
(51) của nhu mô phổi (47) phía bên kia cơ
hoành
Gan nhiễm mỡ
Một gan nhiễm mỡ được đặc trưng bởi hình ảnh
tăng âm trong nhu mô gan (Hình 37.3) Sự tăng
âm này được chứng tỏ rõ nhất khi so sánh với
nhu mô thận gần kề (29) Bình thường không
có khó khăn gì khi so sánh sự khác biệt hình
ảnh của 2 tạng (xem hình 47.3) Trong những
trường hợp gan nhiễm mỡ nặng, hồi âm từ nhu
mô gan (9) có thể gây ảnh hưởng ngăn cản đánh
giá nhu mô gan ở sâu hơn Hình 37.4 chỉ ra sự
tăng âm ngay phía sau túi mật (14) Tuy nhiên,
nhu mô gan phía sau túi mật không thể quan sát
được mặc dù đã điều chỉnh gain bù trừ độ sâu
Bạn có còn nhớ nguyên nhân của hiên tượng
tăng âm vùng ngoại vi không? Nếu không hãy
quay lại trang 16 và đọc lại phần đó
Trang 4Gan nhiễm mỡ vùng
Gan nhiễm mỡ không nhất thiết là một quá
trình trên toàn bộ gan; thâm nhiễm mỡ có thể
chỉ xảy ra ở một khu vực riêng lẻ Gan nhiễm
mỡ vùng (63) được chỉ ra ưu tiên ở giường túi
mật và khu vực trước tĩnh mạch cửa (11)
Những khu vực này tăng thâm nhiễm mỡ tăng
âm hơn so với nhu mô gan còn lại (9) và luôn
luôn phân ranh giới rõ nét Chúng có hình
dạng kì quái (Hình 38.1) nhưng không có dấu
hiệu ảnh hưởng như của 1 khối u Các tĩnh
mạch gan (10) và các tĩnh mạch cửa (11) liền
kề không bị đè đẩy
Những khu vực gan nhiễm mở này cần phân
biệt với dây chằng liềm (8) cái mà là mô liên
kết và chất béo xung quanh có thể xuất hiện
như một cấu trúc ranh giới rõ nét phân chia
nhu mô gan bình thường (Hình 38.2)
Vùng gan bảo tồn
Thâm nhiễm mỡ cũng có thể không xuất hiện ở một số vùng riêng biệt của gan, tạo thành những khu vực gan bảo tồn (62) Những khu vực này thường xuất hiện ở vùng lân cận tĩnh mạch cửa và túi mật (14 trong hình 38.4) Điều quan trọng
ở đây là không có dấu hiệu ảnh hưởng như của 1 khối u Các tĩnh mạch gan liền kề (10) không bị đè đẩy (Hình 38.3) và thể hiện dòng chảy thẳng bình thường Khu vực ngoại vi cuả vùng gan bảo tồn không gây phình ra bên ngoài hay lồi vào túi mật như thường quan sát thấy ở 1 khối u ác tính
Các nhánh của tĩnh mạch cửa (11) có thể phân
biệt với với các tĩnh mạch gan bằng đường viền
tăng âm Dấu hiệu “embankment” được giải
thích là do sự khác biệt về trở kháng âm của
thành các nhánh tĩnh mạch cửa, các ống mật đi
kèm và các động mạch Dấu hiệu
“embankment” (5) thường xuất hiện dày hơn ở
khu vực xung quanh tĩnh mạch cửa (Hình 38.2)
và không được nhầm lẫn với gan nhiễm mỡ
vùng Bởi vì các tĩnh mạch gan chạy trong nhu
mô gan (9) không đi kèm với các động mạch,
chúng không thể hiện sự khác biệt trở kháng âm
này Thành mạch chỉ xuất hiện hồi âm sáng khi
các tĩnh mạch gan chính vuông góc với chùm
tia siêu âm
Trang 5Tổn thương thường gặp nhất ở gan là các nang lành tính (64) Đây có thể là bẩm sinh (dysontogenetic) hoặc mắc phải Nếu mắc phải cần phải phân biệt với giãn đường mật bẩm sinh (hội chứng Caroli) vì chúng không có mật mà chỉ có huyết thanh (Hình 39.1) Trong u nang là dịch thuần nhất nên có hình ảnh trống âm trừ khi có chảy máu trong nang Nang gan bẩm sinh thường không có ý nghĩa lâm sàng
Tiêu chuẩn của 1 nang
Những nét đặc trưng tiếp theo giúp phân biệt dễ dàng nang lành tính với những khối u giảm âm: toàn bộ trống âm, hình cầu, ranh giới rõ và nhẵn, và tăng âm ở ngoại vi trong trường hợp nang lớn ( xem p.6) Thỉnh thoảng có bóng lưng bên (p.17) và and accentuated entry and exit echoes (where the incident sound waves hit the cysts at a 90° angle) Hồi âm bên trong nang xuất huyết có thể gây khó khăn trong chẩn đoán Những nang này cũng có thể có những vách ng ngăn lồi lõm hoặc nhẵn Đây là một trường hợp, cần phải chẩn đoán phân biệt để loại trừ kí sinh trùng trong gan (Hình 39.4) Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh kí sinh trùng trong gan là nhiễm sán dây chó ( Echinococcus cysticus), được đặc trưng bởi hình thành nhiều nang con trong 1 nang lớn Những nang như vậy không nên hút để tránh vỡ và sau đó gieo mầm bệnh vào ổ bụng Ít phổ biến hơn là sán dây cáo (Echinococcus alveolaris) khó xác định trên siêu âm Những phát hiện điển hình là một khối hỗn hợp rắn, lỏng và nang (54 trong hình 39.4 a) Nó gần như không thể phân biệt những tổn thương này với một khối u nguyên phát
ở gan, một khối di căn hay một ổ áp xe
U máu ở gan (61) là một khối tăng âm đồng nhất (sáng) khi so sánh với nhu
mô gan (9), có ranh giới rõ và không có viền giảm âm (Hình 39.2) Chúng thường xuất hiện ở khu vực lân cận của tĩnh mạch gan (10) như hình 39.3
U máu gan thường nhỏ (Hình 39.2) nhưng cũng có thể đa diện và khá lớn Những u máu lớn hơn thường trở nên không thuần nhất, khiến chúng khó phân biệt với những khối u khác Chụp CT bổ sung sau đó được chỉ định (xem ở trang tiếp theo)
Trang 6Quá trình viêm trong gan có thể do viêm đường mật,
nhiễm nấm ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc mầm
bệnh lan truyền theo đường máu Hình thái học nhìn
thấy trên siêu âm rất đa dạng
Phụ thuộc vào giai đoạn tổn thương và tình trạng miễn
dịch của bệnh nhân, những ổ áp xe gan có thể thấy hoá
lỏng ở trung tâm (Hình 40.2), những vùng không đồng
nhất với viền giảm âm hoặc thậm chí cấu trúc tăng âm
(Hình 40.1) Những hình ảnh đa dạng của ổ áp xe khiến
chúng khó phân biệt với tăng sản hạch khu trú (focal
nodular hyperplasia – FNH, Hình 40.3), cái mà cũng
không đồng nhất, giống với những khối u ác tính gan
FNH là một khối u nguyên phát lành tính ở gan xuất
hiện thường xuyên hơn ở phụ nữ sử dụng thuốc tránh
thai Các nghiên cứu đặc biệt tương phản (special
contrast studies) thường cho thấy một hình sao ở trung
tâm trong pha động mạch sớm (Hình 40.4)
Khi nghi ngờ, một nghiên cứu CT xoắn ốc có
thể phân biệt những tổn thương này với u máu
lớn, không thuần nhất U máu cho hình ảnh
dấu hiệu mống mắt sau khi tiêm bolus chất
cản quang, khi chất dần dần từ khi chất dần
dần từ ngoài vào trong u giống như đang đóng
mống mắt, tạo thành một dấu hiệu đặc trưng
(Hình 40.5)
Các khối u trong gan có thể chèn ép các nhu mô gan lân cận Ứ mật do chèn ép vào các đường mật lân cận
có thể được giải phóng tạm thời thông qua đặt một stent vào tá tràng hoặc đặt một ống dẫn lưu qua da vào một túi đựng
Không khí trong đường mật Thỉnh thoảng những bóng khí nhỏ (60) có thể quan sát được trong đường mật (66) thứ phát sau nhiễm trùng hoặc sau ERCP, cắt cơ nhú hay sau khi nối mật ruột (Hình 40.2) thậm chí không có nhiễm trùng ERCP là
từ viết tắt cho kĩ thuật nội soi mật tuỵ ngược dòng Một máy nội soi hiện đại hoạt động bằng cách một ống đi qua tá tràng tới nhú lớn, một ống con thứ hai đi thụt lùi vào lỗ thông tới đường mật Vết sẹo do cắt cơ nhú làm hẹp nhú
Trang 7Không chỉ do lạm dụng rượu, xơ gan có thể xảy ra ở giai
đoạn di chứng do viêm gan virus, rối loạn chuyển hoá
hay tiếp xúc với các chất độc môi trường Xơ gan mất bù
tiến triển âm thầm mà không có triệu chứng có thể không
có biểu hiện thay đổi hình thái trên các nghiên cứu siêu
âm Do đó, xơ gan không thể chỉ dùng siêu âm để loại
trừ Tuy nhiên, có nhiều tiêu chuẩn cho các giai đoạn tiến
triển của xơ gan
Tiêu chuẩn xơ gan
Trong khi một gan bình thường (9) có hình ảnh một
đường bờ tăng âm mỏng dọc ranh giới của nó (xem hình
35.3), bề mặt của xơ gan thường không đều với những u
cục nổi lên gồ ghề Điều này làm tăng tán xạ dẫn đến mất
hồi âm từ bề mặt gan trở về đầu dò Bề mặt gan chỉ quan
sát được một phần hoặc không Đường ranh giới không
rõ kết hợp đồng thời với cổ trướng (68) có giá trị chẩn
đoán cao (Hình 41.1) Một đặc trưng nữa có thể thấy
trong xơ gan là giảm mạch máu ngoại vi (Hình 41.1) Các
tĩnh mạch gan vẫn có thể quan sát được với đường kính
thay đổi và góc hợp lưu rộng hơn (>45°) Các tĩnh mạch
gan bình thường (10) đa phần chạy theo đường thẳng và
nối với nhau tạo thành một góc nhọn, và có thể lần theo
tới ngoại vi gan như trong hình 36.2
Các nhánh của tĩnh mạch cửa gần rốn gan thường có dấu
hiệu “embankment” và đột ngột thay đổi đường kính đôi
khi được gọi là “pruned portal tree” Các nốt tân tạo
thường đồng âm với nhu mô gan bình thường nên chỉ có
thể suy ra từ sự thay đổi vị trí của các mạch máu gần kề
Gan dày lên, giảm khả năng đàn hồi khi ấn đầu dò và gan trái hoặc thuỳ đuôi dày và to đều gợi ý xơ gan
Biến chứng của xơ gan Biến chứng của xơ gan có thể bao gồm tăng áp lực tĩnh mạch cửa ( xem p.33), cổ chướng (68) và các khối u gan
ác tính (54) cái mà phát triển trên nền xơ gan mạn (Hình 41.2) Do đó, rất quan trọng cần phải xem xét mỗi gan xơ cẩn thận và kỹ lưỡng tìm xem có các khối u không Gan teo (Hình 41.2) chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn của xơ gan Đôi khi các khối u đồng âm với nhu mô gan còn lại (9) và chỉ có thể suy ra từ sự thay đổi vị trí của các tĩnh mạch gan gần kề (10 trong hình 41.3)
Trang 8Những khối u thứ phát ác tính (di căn) phát sinh trong
gan không chỉ từ những khối ung thư đường tiêu hoá theo
đường tĩnh mạch cửa, mà còn thường được thấy từ ung
thư vú và ung thư phế quản Không may, kết quả siêu âm
thay đổi rất lớn Ung thư trực tràng thường di căn những
ổ tăng âm (56) trong gan (Hình 42.2) vì sự phát triển
tương đối chậm của những ổ di căn nên mạch máu có thể
phát triển trong chúng Những khối u di ăn nhanh từ ung
thư vú hay ung thư phế quản bao gồm hầu hết toàn bộ
các tế bào ung thư và do đó có xu hướng giảm âm
Vì có nhiều loại di căn hỗn hợp, không thể xác định chắc
chắn tương quan khối di căn với một loại u nguyên phát
nhất định, mặc dù thực tế hình ảnh cấu trúc mạch máu và
ước lượng độ đàn hồi của tổn thương khu trú trên các
nghiên cứu “color duplex” sẽ hứa hẹn triển vọng mới
trong chẩn đoán phân biệt
Những khối di căn (56) điển hình có đường viền giảm
âm (đen) hay dấu hiệu “halo” như thấy trong hình 42.1
và 42.2 Dấu hiệu “halo” này có thể đặc trưng cho phù
khu trú ngoại vi hoặc một vùng tăng sinh tế bào nhanh
Di căn cũng biểu hiện hoại tử trung tâm dạng nang lỏng
do tăng sinh nhanh hoặc hoá trị (Hình 42.3)
Những di căn lớn hơn thường cho thấy đặc điểm của 1
khối u, đè đẩy các mạch máu gần kề và đôi khi là nguyên
nhân đè đẩy vào hệ thống ống mật dẫn đến ứ mật trong
gan (Hình 43.2) Những khối di căn nằm gần bề mặt gan
có thể làm bề mặt gan lồi lên tại vị trí u và dễ dàng quan
sát được khi soi ổ bụng
Hoá trị có thể làm những dấu hiệu của khối u thoái triển thay đổi pụ thuộc vào hiệu quả điều trị Chúng bao gồm sẹo không đồng nhất, vôi hoá, hay biến đổi 1 phần khối
di căn thành nang Những khối di căn thoái triển như vậy hoặc những hạch di căn nhỏ khó phân biệt với quá trình xơ gan Các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá sự phát triển của di căn rất quan trọng là siêu âm và sinh thiết dưới hướng dẫn CT Nhiều khối di căn với kích thowcs khác nhau và độ hồi âm khác nhau cho thấy sự lan truyền theo đường máu ở những thời điểm khác nhau
Câu hỏi tự kiểm tra
Sử dụng những hỉnh ảnh trong trang này để kiểm tra kiến thức cơ bản của bạn bạn có nhớ tại sao lại có những đường (45) giảm âm (đen) đi ngang qua gan ở hình 42.1 và tại sao khu vực giữa chúng (70) xuất hiện tăng âm hơn 1 chút (sáng hơn) so với nhu mô gan còn lại (9)? Nhớ rằng túi mật (14) nằm giữa đầu dò và 2 ảnh giả và chùm tia siêu âm đi tiếp tuyến với thành của
nó (80) Nếu bạn vẫn chưa nghĩ ra lời giải thích thoả đáng, hãy quay lại đọc trang 16 và 17
Về chủ đề của hình ảnh: Bạn đã không chú ý đến ở trang thứ 3 trước đó hình 39.3 khu vực trống âm (đen), cái
mà sinh lý bình thường không thể xuất hiện như vậy? Nếu bạn chưa tìm ra đáp án, hãy xem lại hình ảnh thật
kĩ Bạn sẽ thấy đáp án của câu hỏi này ở trang 125
Trang 9Ở những vị trí có ít mạch nối tĩnh mạch cửa, ống mật chủ (66) đo được
đường kính dưới 6mm, mặc dù đường kính trong khoảng 7-9 mm vẫn nằm
trong giới hạn bình thường, đặc biệt ở những bệnh nhân sau cắt túi mật
(Hình 43.1) Ống mật hầu như đều ở phía trước bên (trên) tĩnh mạch cửa
Mặc dù ống mật ở ngoại vi gần với đầu tuỵ bị che lấp bởi hơi trong tá tràng
(xem hình 29.1), siêu âm có thể phân biệt chắc chắn vàng da do tắc nghẽn
trong gan ( như do khối di căn gan đè ép đường mật trong gan) hay vàng
da do tắc nghẽn ngoài gan ( như do sỏi mật tại nhú hay ung thư đầu tuỵ)
Ở những tắc nghẽn trong gan, cả túi mật và ống mật chur đều không bị
giãn
Ứ mật tắc nghẽn
Những ống mật nhỏ trong gan đi song song với các nhánh của tĩnh mạch
cửa (11) và thường quan sát được khi cấu trúc tốt hoặc hoàn toàn không
Trong trường hợp ứ mật, những ống mật giãn này được quan sát thấy dọc
các tĩnh mạch cửa, tạo thành dấu hiệu “súng ngắn 2 nòng” (double barrel
shotgun sign) (Hình 43.2 và 44.3) Trong 90% các trường hợp, siêu âm có
thể phân biệt ứ mật tắc nghẽn (với sự giãn các ống mật) với ứ mật tế bào
gan (không có tắc nghẽn)
Tắc nghẽn cơ học (Hình 43.2) điển hình dẫn đến giãn các ống mật trong
gan (66) tạo thành hình ảnh giống với gạc nai Hình ảnh này còn có thể có
thêm sự lắng đọng (67) cholesterol, canxi, và/hoặc bilirubin phụ thuộc vào
thành phần cụ thể của mật Hình ảnh “bùn” này (67) có thể xảy ra thứ phát
ở những người nuôi dưỡng ngoài ruột kéo dài mà không có tắc nghẽn
Trước khi chẩn đoán sự có mặt của “bùn”, bạn nên loại trừ một mặt cắt bị dày lên bằng cách tìm nhiều mặt phẳng hình ảnh khác nhau và thay đổi tư thế bệnh nhân Khi nghi ngờ, cố gắng lắc bùn với đầu dò và quan sát trực tiếp Trong ứ mật tắc nghẽn, ERCP (nội soi mật tuỵ ngược dòng) có thể tiến hành đưa một catheter (59) để dẫn lưu mật vào tá tràng (Hình 43.4) Ngoài ra có thể đặt một ống thông qua da để dẫn lưu mật vào một túi bên ngoài
Trang 10Sỏi trong túi mật (sỏi mật) hình thành do sự thay đổi thành
phần của mật bài tiết Phụ thuộc vào thành phần, sỏi mật
(49) có thể gần như hấp thu hoàn toàn sóng âm, do đó có
thể nhìn thấy trên siêu âm (Hình 44.3), chúng có thể trôi
nổi trong túi mật (sỏi cholesterol), hay hàm lượng canxi
trong sỏi gây ra phản xạ khiến sỏi không thể quan sát được
toàn bộ (Hình 44.1)
Một viên sỏi có thể dễ dàng thấy khác một polyp (65) khi
nó có thể rời khỏi thành túi mật (80) khi bệnh nhân thay
đổi tư thế (Hình 44.2) hay khi di động nó với đầu dò Tuy
nhiên, một số sỏi bám chặt vào thành túi mật do quá trinh
viêm trước đó hoặc nằm trong phễu túi mật, làm cho
chúng ta khó khăn trong chẩn đoán phân biệt
Bóng lưng (45) phía sau như một tổn thương (Hình 44.1
và 44.3) cũng gợi ý đến sỏi Ở đây, điều rất quan trọng khi
cần phân biệt bóng lưng bên của thành túi mật (45 trong
hình 44.2) với bóng lưng của sỏi để tránh bất kỳ một giải
thich sai nào Hình 44.2 cho thấy polyp ở thành túi mật
không có bóng lưng nhưng lại có bóng lưng bên Những
polyp như vậy nên được theo dõi để loại trừ khối đang
phát triển Điều này cho phép phát hiện sớm một khối u
ác tính Cũng có thể lựa chọn phẫu thuật cắt bỏ để dự
phòng sự biến đổi ác tính
Ứ mật trong gan (Hình 43.2) không nhất thiết là kết quả
của sự chèn ép đường mật bởi một khối u ác tính Sỏi mật
(49) trong đường mật trong gan (66 trong hình 44.3) cũng
có thể là nguyên nhân gây bít tắc
Tỷ lệ sỏi mật ở dân số Đức là 15% và cao hơn ở phụ nữ lớn tuổi Khoảng 80% bệnh nhân sỏi mật không có triệu chứng, chỉ phát hiện được sỏi mật trên lâm sàng khi đã có biến chứng (viêm túi mật, viêm đường mật, đau bụng hoặ ứ mật do sỏi chè ép) Nhưng yếu tố nguy
cơ phổ biến được liệt kê trong bảng 44.4 Phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, lấy sỏi có thể được thực hiện bằng sóng xung kích ngoại bào (ESWL), ERCP hoặc phẫu thuật Thành phần của mật cũng có bị ảnh hưởng bởi thuốc và thay đổi bởi chế độ ăn, làm cho sỏi nhỏ lại và biến mất
Chú ý một lớp mỏng, tăng âm ở thành (80) của 2 túi mật (14) trog hình 44.1 và 44.2 Không phát hiện sự viêm dày của thành túi mật Khảo sát siêu âm túi mật nên luôn được thực hiện ở bệnh nhân nhịn ăn để tạo điều kiện thuận lợi phát hiện dày thành hoặc nội mạc
Sự co bóp của túi mật sau ăn ngăn cản đánh giá đầy đủ đường kính của nó HÌnh ảnh điển hình của viêm túi mật được chỉ ra ở trang tiếp theo