Việc thay sách này kéo theo sự thay đổi trong cách dạy, cách học ở tất cả các môn học trong đó có phân môn Tập đọc.. Đây là một phân môn có vai trò hết sức quan trọng không thể thiếu đợc
Trang 1Phần thứ nhất: Mở đầu
I Lý do chọn viết sáng kiến kinh nghiệm
1 Cơ sở lí luận
Tôi còn nhớ có một nhà văn đã từng nhắc nhở chúng ta: “ Ngôi trờng Tiểu học, ngời thầy giáo Tiểu học là những hình ảnh thân thiết sẽ theo suốt cuộc đời mỗi con ngời nh một thứ hành trang tinh thần có sức dìu đỡ, động viên để vợt khó khăn
và sống cho xứng đáng Trình độ văn hoá của chúng ta có thể bộc lộ rõ và phổ biến ở các ngôi trờng Tiểu học, hãy chăm lo tỉ mỉ và chu đáo hơn nữa cho con ngời ngay từ tuổi thơ Hãy bắt đầu từ trờng Tiểu học Ta muốn khắc sâu trong tâm trí những ngời dân Việt Nam về sự giàu có, về rừng vàng, biển bạc của đất nớc ” Có lẽ khởi nguồn của lời nhắc nhở này chính bởi bậc Tiểu học là bậc học đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách học sinh Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên, xã hội, trang bị những phơng pháp và kĩ năng ban
đầu về hoạt động nhận thức thực tiễn Bên cạnh đó nó còn bồi dỡng, phát huy tình cảm đạo đức và nhân cách tốt đẹp của con ngời trong tơng lai Các môn học ở Tiểu học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau Đặc biệt môn Tiếng Việt
có vị trí quan trọng vào bậc nhất trong tất cả các môn học ở Tiểu học Ngay từ đầu ngày đến trờng, các em đã đợc làm quen với bộ môn này Đó là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức đa các em đến với kho tàng văn hoá của nhân loại Cùng với sự phát triển của xã hội, năm học 2002 - 2003 cũng đánh dấu một bớc ngoặt lớn trong lịch sử giáo dục Việt Nam, đó là việc thay sách Việc thay sách này kéo theo sự thay đổi trong cách dạy, cách học ở tất cả các môn học trong đó có phân môn Tập
đọc Đây là một phân môn có vai trò hết sức quan trọng không thể thiếu đợc, bởi vì:
Phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về
hệ thống tiếng nói và chữ viết Tiếng Việt Học tốt phân môn Tập đọc sẽ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng đọc - nghe - nói - viết và còn tạo điều kiện cho học sinh học tốt các môn học khác Sự thay đổi, nâng cao hiểu biết về ngôn ngữ, vẻ đẹp của đất nớc, con ngời và nền văn hoá dân tộc mình cũng nh trên thế giới Từ đó, các em có vốn sống, vốn tri thức vững chắc để tiếp tục học lên bậc học cao hơn
Bớc đầu hình thành phơng pháp học của phân môn Tập đọc, tìm hiểu nội dung nghệ thuật, cảm thụ văn học, luyện đọc Từ việc cảm nhận đợc nét đẹp của
đất nớc và con ngời qua các bài Tập đọc, khơi dậy trong các em lòng ham hiểu biết,
Trang 2ham học hỏi tiếng mẹ đẻ, biết vận dụng ứng xử trong cuộc sống, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn
Qua phân môn Tập đọc còn giáo dục học sinh lòng yêu thiên nhiên, quê
h-ơng đất nớc, truyền thống dân tộc, yêu tiếng mẹ đẻ và có ý thức bảo vệ, giữ gìn trong sáng của Tiếng Việt, làm cho ngôn ngữ Tiếng Việt ngày càng phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc dân tộc
2 Cơ sở thực tiễn:
Trong chơng trình thay sách giáo khoa mới ở Tiểu học thì việc đổi mới
ph-ơng pháp dạy học đánh dấu một bớc nhảy vọt đáng kể trong việc dạy và học ở tất cả các môn học, trong đó có phân môn Tập đọc Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bản thân tôi cũng nh nhiều giáo viên khác có rất nhiều những ý kiến tranh luận, trao đổi, bàn bạc Trớc thực tế đó nhiều chuyên đề về Tập đọc đợc mở ra
Điều đó đã giúp chúng tôi hiểu đợc phần nào những điều còn để ngỏ Song ở mỗi khoá học, mỗi vùng, mỗi trờng, mỗi đối tợng học sinh khác nhau lại có một khả năng khác nhau
Thực ra, phân môn Tập đọc đã có từ lâu song việc dạy nó nh thế nào để học sinh lớp 2 nói riêng đọc bài trơn tru, rành rọt, nắm đợc nội dung văn bản tiến tới
đọc hay văn bản một cách có ý thức là một việc làm khó khăn
Tuy rằng việc đổi mới phơng pháp dạy học của chơng trình SGK mới đã đẩy cao hơn chất lợng của môn học nhng không hẳn là không tồn tại những học sinh rất hạn chế về kĩ năng đọc (nhất là đọc những văn bản ngoài luồng tiếp xúc) Từ việc
đọc văn bản không rõ ràng, mạch lạc kéo theo hàng loạt các môn học khác của các
em kém đi
Ví dụ:
ở những em đọc yếu, đọc ngọng thì khi viết Chính tả, các em sẽ viết sai lỗi rất nhiều Nếu học sinh phát âm không không chuẩn, không phân biệt đúng các phụ
âm đầu nh: l/n; ch/tr; s/x…thì khi nhớ lại để viết hoặc nghe thầy cô giáo đọc để viết, các em sẽ viết sai rất nhiều Hoặc ở bài toán có lời văn, nếu một học sinh đọc
đúng, đọc rõ ràng thì sẽ nắm đợc nội dung dữ kiện, phát hiện ra ẩn số cần tìm nhanh hơn học sinh đọc yếu
Phần thứ hai: nội dung
I Thực trạng tình hình
Trang 3ở bậc Tiểu học, môn Toán và môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và khả năng học tập của
HS Đặc biệt, Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa quan trọng trong chơng trình giảng dạy môn Tiếng Việt Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn tồn tại hiện t ợng “ Bệnh thành tích” mà một số GV vẫn cho điểm đọc của HS khá cao mà thực tế HS lại cha đạt đợc mức độ đánh giá đó hoặc điểm đọc tuy cùng với điểm viết để tạo nên điểm kiểm tra chung của môn Tiếng Việt nhng phần kiểm tra đọc lại nằm trong phạm vi “ quyền riêng” của GV chủ nhiệm từng lớp, nên điểm kiểm tra đọc thờng
đợc đánh giá theo cảm tính chủ quan chính lẽ đó mà một số Gv nhiều khi chỉ chú trọng dạy Tiếng Việt ở các phân môn nh Chính tả, Tập Làm văn, Luyện từ và Câu,
bỏ bẵng phân môn Tập đọc Thậm chí có GV chỉ ghi ghi đầu bài, cho học sinh đọc qua loa rồi yêu cầu HS về nhà đọc mà không quan tâm đến việc chỉnh sửa cho HS các lỗi sai về âm, vần, ngắt nghỉ sai, ngữ điệu cha chuẩn…Vì vậy, kĩ năng đọc của các em trong chơng trình thay sách mới tuy đã đẩy cao hơn trớc rất nhiều song theo tôi nhiều khi cha đợc cao một cách thực chất
Ví dụ: Học đến giữa lớp 2, thậm chí cuối lớp 2 vẫn còn có HS nếu lần đầu
tiên tiếp xúc với văn bản mới thì đọc chậm, cha đúng tốc độ, thậm chí nhiều tiếng còn phải dừng lại để đánh vần hoặc có HS còn đọc sai tiếng kéo theo sai cả nội dung văn bản Đặc biệt, nằm ở vùng có phơng ngữ lệch chuẩn nên việc ngọng các tiếng có chứa phụ âm đầu l/n còn khá phổ biến
Chẳng hạn, khi đọc bài: “ Bé nhìn biển” (Tiếng việt 2 tập 2 trang 65) ở khổ
thơ cuối là:
Nghìn con sóng khoẻ Lon ta lon ton Biển to lớn thế Vẫn là trẻ con
Thì có HS lại đọc:
Nghìn con sóng khoẻ Lon ta non ton Biển to nớn thế Vẫn nà trẻ con
Trang 4Ngoài ra cũng cha kể hết việc HS đọc ngọng các cặp phụ âm khác nh ch/tr; s/x hoặc thanh (~) sắc (/), đọc ngọng sai các vần: ang, ác, ăn, n, ân, ich,…Chẳng
hạn, ngay nh HS lớp tôi khảo sát, khi đọc bài “ Gọi bạn” ( Tiếng Việt lớp 2 tập 1
trang 28) có dòng thơ:
Lang thang quên đờng về
Thì một HS đọc sai từ “ lang thang” thành “ lác thác” Tôi cho em đó dừng lại để đánh vần thì em đó vẫn đánh vần thành “ a-ngờ-ac” nh vậy là sai hoàn toàn vần
Nh vậy chúng ta có thể thấy ngay rằng việc đọc sai sẽ dẫn đến nhiều tác hại
nh làm sai lệch nội dung của văn bản, viết sai, hiểu sai ý định biểu đạt của văn bản Bên cạnh đó, do cha hiểu rõ bản chất của việc đổi mới phơng pháp dạy học Tập
đọc, do thói quen thành phần giảng văn mà cha quan tâm đến yêu cầu cơ bản của tiết Tập đọc là rèn kĩ năng đọc
ở lớp 2, các thể loại văn bản ở các bài tập đọc đợc biên soạn theo các chủ đề với nội dung rất phong phú, đa dạng Không chỉ với mục đích rèn đọc mà nó còn giáo dục lòng yêu quê hơng đất nớc, yêu thiên nhiên, giáo dục đạo đức lối sống, giúp HS tiếp cận với những thông tin thời sự cập nhật qua các văn bản hành chính, giúp HS có kĩ năng ứng sử giao tiếp trong cuộc sống…Chính lẽ đó mà thông qua bài Tập đọc GV cần liên hệ thực tế và giúp các em rút ra những bài học sâu sắc nhất thì có GV lại còn vô tình quên việc này
Với HS lớp 2 tôi áp dụng sáng kiến, qua giảng dạy và khảo sát đầu năm, có một số thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi: Hầu hết các em thích môn Tiếng Việt mà phân môn Tập đọc có
tới trên 90% các em thích Trong đó các em thích đọc những mẩu chuyện, những bài thơ chiếm phần lớn Những bài tập đọc là những bài có nội dung rất gần gũi với cuộc sống thực của các em, phù hợp với tâm lý lứa tuổi nên có tác dụng khơi dậy trí
tò mò, lòng ham hiểu biết ở các em Các em có ham muốn tìm hiểu nhiều vấn đề
mà cuộc sống diễn ra xung quanh mình Đa phần HS lớp đó đều có ý thức đọc to,
rõ ràng Có một số em còn đọc diễn cảm khá hay
* Khó khăn: Địa bàn trờng nằm trong vùng phơng ngữ lệch chuẩn nên nhiều
em cha phân biệt đợc cách đọc các tiếng có phụ âm l/n, ch/tr ,s/x,…Ngay đầu năm, một số em có hiện tợng tái mù vần khó Một số em đọc to nhng lại ngắt nghỉ không
đúng chỗ, nhiều em do thói quen mà bất biết ngắt nghỉ có đúng không nhng cứ đến
Trang 5hết 1 dòng là phải nghỉ Hoặc ở những bài học thuộc lòng các em đọc làu làu liền mạch mà không chú ý đến việc ngắt nhịp thơ mà cô giáo vừa hớng dẫn Bên cạnh
đó phải có tới 2/3 số phụ huynh HS trong lớp đi làm kinh tế xa, gửi con lại cho ông
bà đã già Điều này tuy ảnh hởng gián tiếp với việc học nói chung và việc học phân môn Tập đọc nói riêng nhng tác hại thì không phải nhỏ
Trớc những vấn đề tồn tại nh đã nêu ở trên theo tôi đánh giá là do những nguyên nhân sau:
1 Đối với học sinh:
- Với HS nông thôn nh ở trờng tôi, với đại đa số HS thì việc nghỉ hè sẽ đồng nghĩa với việc vài tháng trời các em không hề quan tâm đến sách vở và việc học hành của bản thân Chính lẽ đó mà việc tái mù một số chữ hoặc một số vần khó sẽ hiển nhiên diễn ra Điều này sẽ gây cho GV lớp 2 rất vất vả trong giai đoạn đầu năm học
- Lợng thông tin, phim ảnh trên truyền hình tràn lan mỗi kênh có các chơng trình và phim truyện dành cho trẻ thơ vào các thời điểm khác nhau nên thời gian nghỉ ngơi, chuẩn bị sơ lợc bài ở nhà của các em bị cuốn hút vào đó Chính đó mà
HS ít chuẩn bị, ít đọc trớc bài học ở nhà
- HS ngoài đọc các nội dung có trong chơng trình SGK thì hầu nh ít đợc tiếp xúc với các văn bản lạ nh truyện, sách báo dành cho thiếu nhi
- Trong giờ học, cá nhân một số HS còn cha phát huy đợc tính tích cực, chủ
động trong học tập Quá trình bạn đọc bài là thời gian “ nghỉ ngơi” của những học sinh đó
2 Đối với giáo viên:
- Có GV trong khi dạy còn phụ thuộc hoàn toàn vào sách thiết kế bài giảng
mà cha xem xét tính khả thi của thiết kế tiết học đó có phù hợp đối với đối t ợng HS của mình hay không Thực tế có những bài dạy ta có thể áp dụng theo thiết kế nhng
có những bài dạy phải thay đổi cách tổ chức hoạt động Chính vì vậy mà sẽ có nhiều bài dạy mang tính áp đặt đơn điệu, cha phù hợp với đối tợng HS, làm giảm
đáng kể hiệu quả tiết học
- Nhiều khi do cha có chuẩn bị kĩ bài dạy nên ở thao tác đọc mẫu còn có GV cha đọc diễn cảm, cha thu hút đợc sự chú ý của HS Thậm chí có trờng hợp đọc còn cha đáp ứng đợc yêu cầu của câu văn có yếu tố khó đọc nh các câu đối thoại, cách ngắt nghỉ trong các câu dài và ngắt nhịp ở các dòng thơ
Trang 6- Quá trình hớng dẫn HS luyện đọc (nhất là các tiết có ngời dự) thì dờng nh lại “ quên” mất đối tợng HS trung bình, yếu còn những HS khá giỏi thì lại quá vất vả GV cha quan tâm sửa sai ngay những lỗi mà HS mắc phải
- Do hiện tợng “ bệnh thành tích” vẫn còn ngấm sâu vào trong nếp nghĩ của chúng ta nên việc kiểm tra đánh giá chất lợng đọc của HS vẫn còn ều ào, mang tính
định tính theo hớng chủ quan
Xuất phát từ những vớng mắc trong thực tế giảng dạy, tôi đã tìm ra đợc các giải pháp để giải quyết vấn đề nâng cao chất lợng đọc thực của HS lớp 2, cụ thể nh sau:
II
các giải pháp tiến hành :
Muốn nâng cao chất lợng giảng dạy của phân môn Tập đọc thì đòi hỏi ngời
GV phải nhận thức đúng về vị trí và tầm quan trọng của phân môn Tập đọc Bởi vì, phân môn này có ảnh hởng rất lớn đến quá trình học tập và ứng xử trong cuộc sống của các em
Chơng trình phân môn Tập đọc ở lớp 2 có 35 tuần mỗi tuần có 2 bài tập đọc
đợc chia thành 15 chủ điểm với những nội dung khác nhau song hình thức thể hiện
là những
Mẩu chuyện, những đoạn văn tả cảnh, những bài thơ và một số văn bản hành chính, báo chí khác
Khi dạy mỗi loại văn bản khác nhau thì bắt buộc GV phải có cách tổ chức luyện đọc khác nhau Tuy nhiên tuyệt đối không đợc thay đổi phần cứng của phơng pháp giảng dạy mà trong sách thiết kế đã trình bày rất cụ thể
1 Tổ chức cho HS luyện đọc nối tiếp câu:
- Nếu dạy những văn bản văn xuôi đơn thuần không có lời đối thoại nh bài “ Sông Hơng ( ” SGK Tiếng Việt 2 tập 2 trang 72 ), bài Mùa xuân đến “ ” ( TV 2 tập
2 trang 17) hoặc một số bài đọc khác thì GV tổ chức cho HS đọc nối tiếp mỗi em
một đơn vị câu Nhng cứ theo thói quen này thì khi dạy những văn bản văn xuôi có nội dung là những mẩu chuyện có lời thoại, ở những lời đối thoại gồm vài ba câu là
HS sẽ có ý tự chia lời thoại đó cho vài ba em đọc ngay Chẳng hạn với lời thoại “ ít
thế sao? Mình thì có hàng trăm” ( Một trí khôn hơn trăm trí khôn - TV2 tập 2
trang 31) sẽ có hai em đọc Hoặc với lời thoại: “ Cảm ơn bác sĩ Cháu đau chân
quá Ông làm ơn chữa giúp cháu Hết bao nhiêu tiền, cháu xin chịu” ( Bác sĩ Sói
-TV 2 tập 2 trang 41) Sẽ có tới 4 em đọc Vậy trớc hiện tợng đó, tôi đã yêu cầu một
Trang 7HS đọc lại cả câu trong lời thoại đó, hỏi HS xem tất cả các câu đó đều là lời của ai? Sau đó GV hớng dẫn: Vì tất cả các câu đó đều là lời của một nhân vật nên tuy là
đọc nối tiếp câu nhng đến lời của nhân vật thì chỉ có một em đọc Có nh vậy mới
đảm bảo yêu cầu liền mạch của một lời nói Vậy đến đây một vấn đề nữa nảy sinh
là nhiều HS không phân biệt đợc đọc đến chỗ nào thì kết thúc lời nhân vật đó ( nếu các em mới tiếp xúc lần đầu văn bản đó) Nếu đến đây mà GV lại dừng lại lại h ớng dẫn lời từng nhân vật từ đâu đến đâu rất mất thời gian, giảm tỷ lệ HS đợc luyện đọc xuống Trớc tình hình đó nên đã giải quyết bằng cách dặn dò, HS chuẩn bị đọc trớc
ở nhà 1-2 lần, dùng chì đánh dấu lời của các nhân vật và khi đọc nối tiếp nếu HS xác định chuẩn rồi thì thôi, nếu HS xác định cha chuẩn thì tôi mới sửa cho các em
Nếu dạy những văn bản thơ thì thờng thờng ở các bài GV hớng dẫn HS đọc nối tiếp mỗi em 2 dòng thơ Nhng có bài lại không thể áp dụng theo cách này đợc,
chẳng hạn bài “ Tiêngs chổi tre ” ( TV2 tập 2 trang 121 ) ở mỗi khổ thơ nên hớng
dẫn HS đọc nối tiếp nh sau:
- HS 1 đọc 3 dòng: Những đêm hè
Khi ve ve
Đã nghủ
- HS 2 đọc 2 dòng: Tôi lắng nghe
Trên đờng Trần Phú
- HS 3 đọc 3 dòng: Tiếng chổi tre
Xao xác Hàng me
- HS 4 đọc 3 dòng cuối cùng:
Tiếng chổi tre
Đêm hè Quét rác
Vậy với những văn bản kiểu này Gv cần nêu rõ ràng cái chung là mỗi em
đọc…dòng và nêu cụ thể là riêng dòng thơ thứ…thì chỉ do một bạn đọc Vậy HS sẽ
định hớng đợc việc đọc khá dễ dàng
- Còn nếu dạy các văn bản khác nh văn bản hành chính thì đọc nối tiếp theo nội
dung thông báo Chẳng hạn bài “ Tự thuật ” ( TV2 tập 1 trang 7)
- HS1: Họ và tên: Bùi Thanh Hà
Trang 8- HS2: Nam, nữ: Nữ
- HS3: Ngày sinh: 23/04/1996
- HS4: Nơi sinh: Hà Nội
……….
Tuy nhiên, cái chung của phần luyện đọc nối tiếp câu kết hợp sửa các từ mà
HS đọc sai là Gv phải luôn luôn thay đổi cách thức tổ chức luyện đọc Ví dụ: Hôm nay luyện đọc nối tiếp theo hàng ngang, ngày mai luyện đọc nối tiếp theo hàng dọc, ngày sau nữa theo chỉ định của GV…Nh vậy, ngay trong bản thân HS sẽ không thể ỷ lại, không thể coi thời gian đọc của bạn là thời gian nghỉ ngơi của mình bởi HS luôn phải theo dõi bạn đọc, để nếu đến lợt mình theo thứ tự hoặc đến lợt mình theo GV chỉ định thì các em sẽ đứng dậy, khích lệ các em nói lên ngay những ý kiến mà mình vừa phát hiện đợc ở việc đọc sai của bạn GV yêu cầu HS vừa đọc sai dừng lại, đọc lại từ sai và đọc lại cả câu đó Nếu trờng hợp trong một khoảng thời gian nhất định mà HS không đánh vần và đọc vần, đọc tiếng (hoạt
động này thờng chỉ xảy ra vào giai đoạn đầu lớp 2, khi GV “ chữa bệnh tái mù “ vần khó cho HS) Cuối cùng, qua việc đọc câu của HS, GV thấy từ nào mà các em thờng hay đọc sai thì GV mới ghi bảng và sửa chung cho HS cả lớp
Khi thực hiện theo cách này cho thấy cách sửa sai từ khó này có tính khả thi
và đạt đợc hiệu quả hơn, thực tế hơn so với cách hỏi HS từ nào thấy khó đọc hoặc
GV ấn định ngay từ khó, đọc mẫu từ khó, cho HS luyện đọc từ khó nh cách mà sách thiết kế thờng đa ra
2 Phần tổ chức cho HS luyện đọc đoạn kết hợp với tìm hiểu từ chú giải, rèn đọc câu dài.
Để phần luyện đọc này đạt kết quả cao thì trớc tiên phải hớng dẫn cho HS xác định bài có mấy đoạn, mỗi đoạn từ đâu đến đâu Với những bài tập đọc đầu tiên trong tuần hoặc những bài thơ đợc phân chia theo khổ thơ thì việc này đối với HS là việc đơn giản Nhng đối với những bài tập đọc cha ghi rõ các đoạn hoặc những bài thơ không viết theo từng khổ thơ thì việc xác định đoạn với HS lớp 2 là khó Do vậy, tuỳ vào hình thức và nội dung của từng bài mà GV cho HS tự nêu cách chia
đoạn hoặc Gv có thể nêu ngay cách chia đoạn Chẳng hạn, với bài “ Mùa xuân
đến ” ( TV2 tập 2 trang 17) thì HS phải giới thiệu: Bài đợc chia ra thành 2 đoạn,
đoạn 1 gồm 9 dòng thơ đầu, đoạn2 gồm 9 dòng thơ tiếp
Trang 9Khi HS xác định rõ ràng từng đoạn nh vậy rồi mới tiến hành cho các em đọc nối tiếp đoạn ( khổ thơ)
Trong quá trình đọc nh cách tiến hành ở phần luyện đọc nối tiếp câu, nếu giáo viên thấy học sinh lúng túng khi ngắt nghỉ ngơi hoặc ngắt nhịp ở câu văn, dòng thơ nào thì cũng cho HS dừng lại để chỉnh sửa ngay ở đó Khi chỉnh sửa cũng
có nhiều hình thức nh HS tự nêu cách ngắt nghỉ và GV kết luận đúng hay sai hoặc
Gv hay HS khá đọc, HS phát hiện chỗ ngắt nghỉ hơi Tuy nhiên trong việc rèn kỹ năng đọc câu cũng có khá nhiều vấn đề nảy sinh:
- Thứ nhất: Việc ngắt nghỉ hơi ở các câu dài của các em nhiều khi do thói
quen mà hoạt động nhìn ở mắt các em cha đạt đợc nhạy bén, các em hay đọc hết một dòng là lại dừng lại nghỉ mà không cần biết nghỉ hơi nh vậy là không đúng
Ví dụ: Rồi đến rằm tháng bảy./ Rằm tháng bảy n“ ớc chảy lên bờ/ Dòng/sông Cửu Long đã no đầy/ lại tràn qua bờ./ Nớc trong ao hồ,/ trong đồng/ ruộng của mùa ma hoà lẫn với nớc dòng sông Cửu Long /” ( Mùa nớc nổi, TV2
tập 2 trang 19)
Trớc thực trạng đó, ngoài việc hớng dẫn của GV thì phải thật khắt khe trong việc yêu cầu HS tuân thủ nguyên tắc ngắt nghỉ hơi sau các dấu câu Làm nh vậy sẽ
đã dần dần sửa đợc thói quen xấu của HS
- Thứ hai: Khi dạy ngắt nhịp trong thơ học sinh có thói quen láu cá, đọc
nhanh vắt từ dòng nọ sang dòng thơ kia ( Với thơ 4-5 chữ) và nhiều khi để dễ đọc với thể thơ lục bát thì các em ngắt nhịp 2/2 hết các dòng thơ Nếu cứ để nh vậy thì
sẽ khiến cho các em dần dần mất đi khả năng cảm nhận cái đẹp đợc biểu cảm trong bài thơ Do vậy, GV cần phải nghiên cứu kĩ cách ngắt nhịp trong bài thơ, trong từng dòng thơ cụ thể để khi hớng dẫn HS không mắc phải tình trạng cách ngắt nhịp đó
sẽ làm mất đi cái hay của nhịp điệu và nội dung bài
Ví dụ: Nếu không nghiên cứu kĩ, không tinh ý trong việc phát hiện nhịp thơ
mà HS đọc thì khi dạy bài “ Cây dừa ( ” TV2 tập 2 trang 88) GV sẽ dần dàng bỏ
qua khi HS đọc:
Cây dừa/xanh toả/nhiều tàu ( 2-2-2)
Dang tay/đón gió/gật đầu / gọi trăng / (2-2-2-2) Thân dừa / bạc phếch / tháng năm/ (2-2-2) Quả dừa/ đàn lợn/ con nằm/ trên cao/ (2-2-2-2)
Thực ra theo tôi đoạn thơ này phải đợc đọc nh sau:
Trang 10Cây dừa xanh/ toả nhiều tàu ( 3-3)
Dang tay đón gió / gật đầu gọi trăng / (4-4) Thân dừa / bạc phếch tháng năm/ (2-4) Quả dừa/ đàn lợn con/ nằm trên cao/ (2-3-3)
Trong phần luyện đọc đoạn này, có một phần mà nhiều khi giáo viên bỏ qua hoặc cha chú trọng lắm mà theo tôi cũng không kém phần quan trọng Đó là việc cần cho học sinh đọc phần chú giải trong giờ tập đọc Các văn bản đọc trong sách TV2 có phần giải nghĩa những từ ngữ khó với học sinh lớp 2 Ta nên quan niệm phần chú giải là một bộ phận cần đọc Đọc để HS hiểu nghĩa từ, hiểu nghĩa câu và hiểu hoàn toàn văn bản Đọc để học sinh ghi nhớ từ mới, tăng thêm vốn từ cho học sinh Đọc để biết cách giải thích nghĩa từ khi cần thiết.Đọc để biết cách tiếp cận các loại văn bản trong sách báo Vì vậy, trong giờ dạy tập đọc phải tổ chức cho học sinh đọc phần chú giải sao cho hợp lý Khi học sinh đọc nối tiếp đoạn trong nhóm
là lúc giáo viên yêu cầu học sinh đọc nối tiếp phần chú giải để hiểu nghĩa từ khó trong bài Thời điểm này có thể có các tình huống, học sinh đọc chú giải nhng cha hiểu hết nghĩa từ hoặc có thêm thắc mắc Giáo viên cần tập trung cơ hội này để giảng kỹ hơn nghĩa từ học sinh cha hiểu hoặc mở rộng thêm vốn từ cho học sinh
Ví dụ: Đọc chú giải bài “ Trên chiếc bè ” có học sinh thắc mắc : “ Em cha thấy bèo sen, chỉ mới thấy bèo cái thôi ạ!” , “ Em hay nghe mẹ nói da có váng, thế váng
ấy có to không ạ?” Nếu Gv không chuẩn bị trớc đồ dùng dạy học (Hình ảnh các loại bèo) hoặc không trang bị cho mình một vốn từ liên quan đến từ chú giải, chắc chắn sẽ lúng túng trớc những câu hỏi hồn nhiên ấy,
Sau khi học sinh đọc nối tiếp đoạn trong nhóm sẽ đến hoạt động đọc trớc lớp
Đây là lúc giáo viên vừa luyện cách đọc câu dài, vừa giảng từ mới Giáo viên có thể hỏi học sinh nghĩa những từ có trong chú giải Nếu học sinh cha nắm vững mới phải giảng thêm
Nh vậy ta thấy từ ngữ đợc chú giải trong các bài tập đọc là một phần từ vựng cung cấp cho HS lớp 2 theo yêu cầu của chơng trình TV Nếu khi dạy học tập đọc,
ta không lu ý cho học sinh đọc, hiểu, vốn từ của HS sẽ giảm thiểu đáng tiếc
3 Phần luyện đọc hiểu:
Đọc hiểu phải gắn liền việc đọc với việc tìm hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài, gắn việc đọc với việc tìm hiểu nội dung bài Để tăng hiệu quả của phần này, giáo viên nên sử dụng nhiều hình thức đọc thầm Đọc thầm là hình thức đọc không mấp