Giờ đây, chất lượng đất không còn phụ thuộc chủ yếu vào bàn tay cần cù củangười nông dân, ngược lại, đang phải oằn mình gánh chịu những hậu quả nặng nề từcác khu công nghiệp mọc lên như
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp từ bao đời nay với hơn 70% dân số sống dựavào ruộng vườn, canh tác Chính vì vậy, đất đai là tư liệu sản xuất, là tài sản vô cùngquí giá đối với người nông dân Tuy nhiên, đất nước ngày một đổi thay, hòa mình vào
xu thế phát triển chung của thời đại cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học – kỹthuật, với những quá trình tất yếu diễn ra như công nghiệp hóa – hiện đại hóa, dân số
có xu hướng tập trung đông tại các thành phố lớn đã gây ra nhiều tác động tiêu cực lênđất đai Giờ đây, chất lượng đất không còn phụ thuộc chủ yếu vào bàn tay cần cù củangười nông dân, ngược lại, đang phải oằn mình gánh chịu những hậu quả nặng nề từcác khu công nghiệp mọc lên như nấm, từ lượng chất thải sinh hoạt khổng lồ, và còn
từ chính những hoạt động canh tác của con người Đây chính là mặt trái của sự cảitiến đời sống theo hướng mà chúng ta đang sống và chứng kiến hiện nay Xu hướngvận động này của xã hội loài người nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng tất yếu sẽduy trì trong tương lai, nên hậu quả đối với đất đai chắc chắn càng thêm xấu đi nếukhông có những biện pháp cải tạo song song Nhưng đang phơi bày trước mắt là thực
tế, con người chỉ quan tâm nhiều nhất và trước nhất đến lợi ích của mình, rất ít người
có ý thức quan tâm đến việc môi trường, cụ thể ở đây là môi trường đất đã bị bàn taycon người hủy hoại, làm cho suy thoái nghiêm trọng đến như thế nào trong khi đất đai
là tài sản hữu hạn, con người không thể sống thiếu đất Vì những lí do trên, suy thoáimôi trường đất đã và đang là một vấn đề hết sức nhức nhối
Chính vì thế, chúng em lựa chọn đề tài “Phân tích nguyên nhân kinh tế gây suythoái đất nông – lâm nghiệp và đất ngập nước ở Việt Nam hiện nay” nhằm đưa ranhững tìm hiểu tổng quát về ba loại đất nêu trên, sau đó mới đi sâu phân tích banguyên nhân chính gây suy thoái môi trường đất, cuối cùng là đề xuất giải pháp ứngvới mỗi nguyên nhân đã được làm rõ
Trong quá trình làm tiểu luận, chúng em không tránh khỏi những hạn chế, và thiếusót Vì vậy, chúng em rất mong được cô góp ý để bài tiểu luận của nhóm hoàn thiệnhơn
Trang 2NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẤT VÀ SUY THOÁI MÔI
TRƯỜNG ĐẤT 1.1 Các loại đất chính ở nước ta
Nước ta có ba loại đất chính: ferralit, đất phù sa và đất mùn núi cao
1.1.1 Đất feralit
Đất feralit chiếm 65% diện tích đất tự nhiên, là nhóm đất có diện tích lớn nhất, hìnhthành trực tiếp ở vùng đồi núi thấp Nhóm đất này có đặc tính chua, nghèo mùn, nhiềusét và có màu đỏ, vàng do các hợp chất sắt, nhôm Đất bị xấu đi nhanh chóng vàkhông thể trồng trọt được Do đó, đất feralit thích hợp với các loại cây công nghiệpnhư cao su, cà phê, điểu,… ngoài ra cũng có thể trồng các loại cây lương thực như lúa,ngô, sắn,…
1.1.2 Đất phù sa
Đất phù sa chiếm 24% diện tích đất tự nhiên, tập trung tại các vùng đồng bằng, baogồm các loại đất như đất trong đê, đất ngoài đê khu vực sông Hồng; đất phù sa cổmiền Đông Nam Bộ; đất phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu; đất chua, mặn, phèn ởcác vùng trũng Tây Nam Bộ,… Nhóm đất này có đặc điểm phì nhiêu, dễ canh tác vàlàm thủy lợi, ít chua, tơi xốp và giàu mùn Đất phù sa thích hợp được sử dụng trongnông nghiệp để trồng lúc, hoa màu, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả,…
1.1.3 Đất mùn núi cao
Nhóm đất này chiếm 11% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu dưới thảm rừng ánhiệt đới hoặc vùng núi cao ôn đới Đất mùn núi cao có đặc điểm xốp, nhiều mùn, cómàu đen hoặc màu nâu Loại đất này thích hợp để trồng rừng phòng hộ đầu nguồn
1.2 Đất ngập nước là gì?
Công ước RAMSAR ra đời năm 1971 tại Iran nhằm bảo tồn những vùng đất ngậpnước và đã được quốc tế ghi nhận Theo Công ước, “Đất ngập nước bao gồm những vùngđầm lầy, đầm lầy than bùn, những vực nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùngngập nước tạm thời hay thường xuyên, những vực nước đứng hay chảy, là nước
Trang 3ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả những vực nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp”.
1.3 Vai trò của đất nông – lâm nghiệp và đất ngập nước
1.3.1 Vai trò đất nông – lâm nghiệp
Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở khônggian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuấtnhư cày, bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt,chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phìnhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất
1.3.2 Vai trò của đất ngập nước:
• Đảm bảo nguồn cấp nước cho thế giới: đất ngập nước chỉ chiếm 0.75% lượng nước ngọt thế giới nhưng lại trực tiếp cấp nước cho các hoạt động của con người
• Lọc các chất độc hại: 80% lượng nước thải thải thẳng ra ngoài môi trường tựnhiên mà không được xử lý Các loài thực vật, động vật sống trong vùng đất ngậpnước có thể lọc những chất độc hại ra khỏi môi trường nước ở một mức độ nhất định
• Lưu trữ carbon: Chỉ riêng đất mùn ở vùng đất ngập nước lưu trữ 30% lượngcarbon trong đất, gấp đôi lượng carbon lưu trữ trong các khu rừng, việc này có thểgiúp chống lại các tác động của biến đổi khí hậu
• Vùng phòng giảm thiểu thiên tai, giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực trongđiều kiện thời tiết cực đoan Chúng lưu trữ nước mưa, nước chảy tràn khi mưa bãogiúp giảm lũ lụt và hỗ trợ cấp nước khi hạn hán
• Vùng đảm bảo đa dạng sinh học: là môi trường sống của hơn 100.000 loài sinhvật
• Đảm bảo nguồn cung cấp thức ăn, nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp như
Trang 4Muốn đánh giá được chất lượng đất thì cần xác định, đánh giá mức độ dinh dưỡng của đất thông qua các chỉ tiêu như:
Đất sản xuất, kinh doanh
1.6 Thực trạng đất
Hiện nay, lớp đất mặt đang có nguy cơ bị biến mất một phần trong tương lai Liên Hợp Quốc đưa ra cảnh báo, khoảng 1/3 tài nguyên đất trên hành tinh đang bị suy thoái
Trang 5do xói mòn, ô nhiễm, quá trình axit hóa và suy giảm chất dinh dưỡng Hiện nay, 10% đất có tiềm năng nông nghiệp bị sa mạc hóa.
1.7 Tác động tích cực của con người lên tài nguyên đất nông nghiệp
Đối mặt với vấn đề môi trường đất bị ô nhiễm nặng nề, nhà nước và toàn dân đã cónhững biện pháp, hành động thiết thực, hữu ích giúp hạn chế sự thay đổi tiêu cực củamôi trường đất
1.7.1 Những chính sách kịp thời của chính phủ
Theo nghị định số 155/2016/NĐ-CP, nhà nước sẽ áp dụng hình thức phạt tiền tối đađối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ đất nói riêng và môitrường sống nói chung là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồngđối với tổ chức
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP được ban hành với khung và mức phạt cao, hìnhthức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm khắc (ngoài bồi thườngthiệt hại, khắc phục hậu quả vi phạm, buộc phải dừng hoạt động…), có tính răn đe cao
đã tạo sự chuyển biến tích cực đối với doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp đã có ý thứckhắc phục ngay các tồn tại, vi phạm, đã quan tâm đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạtquy chuẩn kỹ thuật về môi trường và vận hành thường xuyên hệ thống xử lý chất thảiđạt QCVN; thu gom, quản lý, xử lý chất thải…
1.7.2 Những hành vi tích cực của cá nhân và doanh nghiệp
Những năm gần đây, phong trào bảo vệ môi trường diễn ra rất mạnh mẽ, đặc biệt lànăm 2019 vừa qua
Cụ thể, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội Sở NN&PTNT Hà Nội đãphối hợp với các địa phương đôn đốc chủ rừng và các xã có rừng tích cực trồng rừng,trồng và chăm sóc cây xanh để tránh xói mòn đất Vào dịp xuân Kỷ Hợi năm 2019, toànthành phố đã có 30 quận, huyện, thị xã tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ
ơn Bác Hồ” Đến nay, toàn thành phố đã trồng mới được 81.908 cây xanh đô thị, câybóng mát, đạt 49,1% kế hoạch; trồng mới được 131.309 cây ăn quả, đạt 73% kế hoạch.Các quận, huyện đã tích cực trong việc thu gom và xử lý rác thải đúng cách Tiêubiểu có thể kể đến như huyện Củ Chi, Đến nay, toàn huyện có 128.077/129.247 hộ
Trang 6đăng ký thu gom và xử lý rác đạt 99,09% Tần suất thu gom rác từ 2 – 3 lần/tuần Bêncạnh đó, nhiều trường học, cơ sở giáo dục đã trang bị các thùng rác phân loại rác.Trên các trang mạng xã hội như: Facebook, Youtube… hay các trang thương mạiđiện tử như: Shopee, Lazada… có thể thấy rất nhiều mặt hàng thay thế cho đồ nhựadùng một lần như bình nước cá nhân, ống hút bằng thủy tinh, kim loại… được bán vớigiá thành hợp lý chỉ từ 20.000 đến 50.000 VNĐ có thể sử dụng trong rất nhiều năm vàvẫn đảm bảo độ an toàn cho người sử dụng.
Các doanh nghiệp, nhãn hàng đã có hàng loạt những chính sách nhằm khuyếnkhích người tiêu dùng bảo vệ môi trường như: giảm giá 1000 VNĐ cho những kháchhàng sử dụng túi cá nhân, không lấy túi nilon của chuỗi cửa hàng tiện lợi Circle K, dự
án sản xuất cốc có thể tái chế và phân hủy hoàn toàn của Starbucks…
CHƯƠNG 2: CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY SUY GIẢM TÀI NGUYÊN ĐẤT 2.1 Suy giảm tài nguyên đất do công nghiệp hóa
2.1.1 Chuyển đổi đất nông nghiệp và thu hẹp đất ngập nước phục vụ công nghiệp
Ở Việt Nam, quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh
mẽ trên khắp cả nước, gây áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên đất nông nghiệp
BIẾN ĐỔI TỶ SỐ ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN
2015-2018
0.139
0.1375 0.137
0.1365 0.136
0.134 0.133
(Tính toán dựa trên thống kê diện tích đất của Bộ Tài nguyên Môi trường)
Biến đổi trên cho thấy tốc độ tăng diện tích đất nông nghiệp thấp hơn so với tốc độ mởrộng diện tích đất phục vụ cho công nghiệp hóa Hiện nay chính phủ vẫn đang thực hiệnchính sách thu hồi đất nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp, giảm tỉ trọng ngànhnông nghiệp thì con số đó sẽ ngày càng tăng thêm nữa, làm cho đất nông nghiệp
Trang 7dần thu hẹp Chẳng hạn như tại tỉnh Vĩnh Phúc, hơn 13,7% diện tích của xã được thuhồi để xây dựng dự án Cụm công nghiệp Đồng Sóc, nhiều hộ ở thôn Vũ Di đã dành từ70%-80% diện tích đất nông nghiệp của gia đình cho dự án Hay Nghị quyết 80 củaChính phủ ngày 19.6.2018 cho phép TP HCM được chuyển đổi 26.000 ha đất nôngnghiệp sang đất phi nông nghiệp các loại, trong đó hơn 2.000 ha phục vụ cho côngnghiệp.
Bên cạnh đó, việc quai đê, lấn biển hoặc san lấp các ao, hồ để phát triển các khucông nghiệp, các hạ tầng du lịch, hay ngăn các dòng chảy để xây dựng các công trìnhthủy lợi, khai hoang, khai thác nước ngầm dẫn đến làm mất hoặc phá hủy nguồn lợiđất ngập nước, gây nên hiện tượng xâm nhập mặn lấn sâu vào nội đồng, hủy hoại tính
đa dạng sinh học vốn có ở các vùng đất ngập nước ngọt, mặn và nước lợ Do đó làmsuy thoái, thu hẹp một cách nhanh chóng các vùng đất ngập nước Điển hình là việcxây dựng công trình thuỷ điện Đắk Mi 4 trên phần thượng nguồn phía Phước Sơn -Quảng Nam dẫn đến không trả đủ lưu lượng mùa kiệt về sông Vu Gia (diễn ra từ năm2011-2012 đến nay) khiến vùng ven sông Vu Gia - Đà Nẵng nhiễm mặn rất nặng
2.1.2 Chất thải công nghiệp
Chất thải công nghiệp là chất thải được tạo ra từ hoạt động công nghiệp, bao gồmbất kỳ vật liệu nào không còn được sử dụng trong quá trình sản xuất tại các nhà máy,công nghiệp, luyện kim và hoạt động khai thác Các loại chất thải công nghiệp baogồm bụi bẩn, phế liệu, dầu, dung môi, hóa chất, và thường được phân loại thànhnhóm chất thải rắn, lỏng và khí
Theo báo cáo của Cục quản lý tài nguyên nước, khoảng 5 - 20% lượng nước sử dụng làcho ngành công nghiệp Một vài ngành công nghiệp có nhu cầu sử dụng nước rất cao, nhưsản xuất giấy, nhựa, chế biến thực phẩm Nhiều ngành công nghiệp đang được mở rộngquy mô sản xuất, cũng như phạm vi phân bố Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thảirất lớn, nhưng mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu Theo báoTài nguyên và Môi trường, tính đến tháng 6/2019, toàn TP Hà Nội có 70 cụm côngnghiệp đang hoạt động Trong đó, 49 cụm công nghiệp, chiếm 70% tổng số cụm côngnghiệp trên địa bàn Hà Nội chưa có trạm xử lý nước thải tập trung Nước thải từ các khucông nghiệp chủ yếu chứa chất lơ lửng, chất hữu cơ và kim loại nặng
Trang 8Tình hình KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung
trên cả nước những năm gần đây
300 250 200 150 100 50 0
lý nước thải tập trung
(Thống kê dựa trên số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Bên cạnh đó, tình trạng chất thải rắn công nghiệp những năm gần đây cũng phátsinh rất lớn Thống kê năm 2016 cho thấy riêng TP Hồ Chí Minh khối lượng chất thảirắn công nghiệp phát sinh khoảng 1.500 - 2.000 tấn/ngày từ hơn 2.000 nhà máy lớn vàkhoảng 10.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, nằm trong và ngoài các khu công nghiệp;tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát sinh khoảng 1.000 tấn/ngày, chủ yếu là xỉ thép, tạp chất
từ phế liệu thép nhập khẩu, xỉ than đá, bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải…
Khi các nhà máy không có một hệ thống xử lý nước thải hay chất thải rắn tốt, đạtchuẩn mà xả thải ra ngoài môi trường, đặc biệt là các chất thải kim loại nặng như chì,kẽm, đồng, Niken, Cadimi… có trong các chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, màu vẽ, côngnghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất, hay ở các khu khai thác
mỏ, các khu công nghiệp, thì sẽ tác động đến sự hoạt động của các vi sinh vật đất vàảnh hưởng đến số lượng cá thể, đa dạng về thành phần loài của chúng, gây thoái hóa
và làm giảm độ phì của đất
Giới hạn tối đa hàm
Kim lượng trong tầng đất
loại mặt (mg/kg đất khô) Ảnh hưởng đến đất
nặng Đất nông Đất lâm
nghiệp nghiệp
Trang 9- giảm số lượng vi khuẩn; giảm lượng CO2 giải phóng
Đồng - giảm sinh khối vi sinh vật đất đến 44% và 36% ở các đất hữu cơ
100 150 là đất khoáng so với đất không bị ô nhiễm
PM 2.5 Hay khi sản xuất 1 tấn thép sẽ thải ra từ 0,5-1 tấn xỉ, 10.000 m3 khí thải, 100kgbụi và các chất ô nhiễm như: axit, kiềm, các nguyên tố hợp kim, các oxit (FeO, MnO,Al2O3, SiO2, CaO, MgO) và các loại khí thải chứa CO, CO2, SO2, NO2 Các khí thảinày làm ô nhiễm không khí, khi mưa xuống, chúng kết hợp với nước tạo thành các axitmạnh như sulfuric, nitoric gây ra mưa axit, làm tăng quá trình chua hoá đất
Môi trường các vùng đất ngập nước cũng đối mặt với sự suy thoái ngày càng nặng nề
do chất thải công nghiệp Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia của Bộ Tàinguyên và Môi trường, các khu chế xuất và khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam mỗi ngày thải hơn 111.600m3 nước thải, trong đó có hơn 15 tấn chất rắn
lơ lửng, 20 tấn BOD5, 1,6 tấn nitơ và 500kg phốt pho xả vào hệ thống sông Đồng Nai-SàiGòn Hàm lượng lindan cao trong bùn đáy của lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn tới 6-32ug/kg Xu hướng tăng cao hàm lượng các chất hữu cơ kèm theo các chất dinh
Trang 10dưỡng, hóa chất độc hại thường gây hiện tượng tảo nở hoa, tảo độc (hiện tượng thủytriều đỏ) đe dọa tài nguyên sinh vật vùng đất ngập nước.
2.1.3 Hoạt động du lịch - giải trí phát triển
Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp mang lại những giá trị lớn về mặt kinh tếcũng như giá trị văn hóa, lịch sử cho mỗi quốc gia Vùng ven bờ được xem là địađiểm lý tưởng để phát triển tiềm năng du lịch, kèm theo đó là các hoạt động dịch vụphục vụ cho du lịch giải trí như là bơi thuyền, câu cá, ngắm san hô, Tuy nhiên, bêncạnh những lợi ích đem lại, thì du lịch giải trí đang gây ra những tác động ảnh hưởngđến môi trường ven bờ Các hoạt động của con người trong lĩnh vực này đã góp phầnlàm cho môi trường ven bờ bị suy thoái
Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động du lịch giải trí nhưkhách sạn, nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống và các bãi biển nhân tạo dọc bờ biển dẫn đếnviệc san ủi đất gây ra sự xói mòn và trôi chảy trầm tích gây tác hại đến vùng cửa sông
và rạn san hô, làm giảm dần diện tích đất và mặt nước Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, khoảng 5 năm về trước, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có hơn 5.100ha rừng ngậpmặn, nhưng đến nay diện tích chỉ còn khoảng 2.250ha
Hoạt động du lịch ở rừng ngập mặn ven bờ như tham quan đi bộ trong rừng, ngắmcảnh, chụp ảnh, săn bắn, khám phá, cũng làm ảnh hưởng đến số lượng, nơi cư trú vàsinh sản của một số loài chim sinh sống ở nơi đây, làm thay đổi tập tính và đời sốngcủa chúng Việc khai phá và chuyển đổi mục đích sử dụng của các vùng đất ven biểnlàm mất đi khu hệ cư trú của các loài hoang dã, phá vỡ các nhân tố sinh sản, nuôidưỡng, làm tuyệt chủng cục bộ, làm chết các cá thể sinh vật Do đó làm hạn chế sựduy trì môi trường đất ngập nước tự nhiên
Môi trường ven bờ cũng đang chịu sự tác động của những nguồn ô nhiễm từ đấtliền do chất thải sinh hoạt của du khách vãng lai: các chất thải này có nguy cơ làmthay đổi chất lượng nước, các hệ sinh thái vùng ven bờ
Trang 11(Biểu đồ số lượng du khách đến thăm hồ Ba Bể và lượng rác thải rắn thải tự
nhiên ra hồ từ năm 2014 đến năm 2018 – Tạp chí Môi trường số 7/2019)
Hồ Ba Bể là vùng đất ngập nước quan trọng của Việt Nam (được Công ước Ramsar công nhận năm 2011) với hệ sinh thái phong phú và đa dạng Đó cũng là lí do địa điểm này trở thành khu du lịch hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế Tuy
nhiên, lượng chất thải qua mỗi năm ở đây ngày càng tăng lên, cụ thể là tính đến năm
2018 lượng chất thải đã lên đến khoảng 50 tấn Kết quả là lưu vực sông Năng và 3 consuối Pác Ngòi, Nam Cường và Tả Han có hiện tượng bồi lắng phù sa; đồng thời tìnhtrạng chặt phá rừng, xâm lấn, sử dụng đất và xây dựng bất hợp pháp khu vực ven hồ
Ba Bể vẫn còn đang tiếp diễn
Neo đậu tàu thuyền không đúng nơi quy định cũng phá hủy nhiều rạn san hô có giátrị Những hành vi thiếu ý thức của khách du lịch khi khám phá các rạn san hô và việckhai thác san hô làm quà lưu niệm của người dân địa phương, ngoài việc phá hủy trựctiếp rạn san hô còn góp phần làm xói mòn nghiêm trọng vùng bờ, làm mất đi lớp bảo
vệ bờ biển Việc sử dụng nước thiếu tính toán cho nhu cầu du lịch dẫn đến tình trạngthiếu nước cục bộ và làm tăng khả năng bị nhiễm mặn ở khu vực ven biển, làm chếtcây cối
2.1.4 Hoạt động khai thác
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa, nhu cầu về sử dụng năng lượngcủa Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng Phần lớn các nguồn cung năng lượng hiện
Trang 12tại bắt nguồn từ các nguồn năng lượng không tái tạo được Điều này đã tác động làmgia tăng các vấn đề về môi trường, đặc biệt là môi trường đất.
Khai thác khoáng sản là quá trình con người sử dụng phương pháp khai thác bênngoài hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất để phục vụ cho sự phát triển kinh tế -
xã hội Các hình thức khai thác có thể bằng phương pháp thủ công, khai thác quy môvừa và nhỏ Nhưng bất cứ phương pháp nào thì cũng làm suy thoái môi trường đất.Khi đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, ngành khai thác khoáng sản đã và đang
để lại những khu đất công nghiệp cằn cỗi, ô nhiễm không phù hợp với trồng cây lươngthực Với các mỏ kim loại, nếu không chú ý đến các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm ramôi trường thì sẽ gây ra nhưng hậu quả khôn lường Tác động rõ nét nhất là tàn phámặt đất, ảnh hưởng lớn đến rừng và thảm thực vật
Hiện nay, việc khai thác khoáng sản theo kiểu tận thu, thiếu trách nhiệm với cộngđồng sau khai thác Việc khai thác đất đá trên địa bàn huyện Hòa Vang dẫn đến hàngtrăm hecta đất nông nghiệp bị bỏ hoang, trở nên cằn cỗi, không thể canh tác được nữa
11 xã ở huyện Hòa Vang đều có diện tích đất nông nghiệp không sản xuất được hoặcchỉ sản xuất 1 vụ Theo thống kê của UBND huyện Hòa Vang thì tổng diện tích đấtkhông sản xuất, đất không chủ động nguồn nước trên địa bàn là 537,4 ha Trong đó,126,13 ha bị ảnh hưởng bởi dự án khai thác than đá (101,69 ha không có khả năngchuyển đổi; 24,24 ha có khả năng chuyển đổi Diện tích đất bị ảnh hưởng bởi khaithác khoáng sản là 28,29 ha
Theo báo cáo của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường,đất đá thải loại trong khai thác khoáng sản là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhưng ô nhiễm
về môi trường đất, phá bỏ đi cảnh quan tự nhiên của đất Quá trình đào xới tự do, vậnchuyển đất đá làm địa hình khu khai trường bị hạ thấp, ngược lại quá trình đổ đất đá, chấtthải rắn làm bãi thải tâng cao lên làm cho môi trường đất bị thay đổi về cấu trúc cơ bản
Cụ thể, để sản xuất 1 tấn than, doanh nghiệp cần bóc đi từ 8 đến 10 m³ đất phủ và thải từ
1 đến 3 m³ nước thải mỏ Trung bình hàng năm, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệpThan và Khoáng sản Việt Nam đã thải ra môi trường 182,6 triệu m³ đất đá, các bãi đất đáthải thường có dạng chất đống, tiềm ẩn nhiều tai biến liên quan như các hiện tượng sạt lởcác bãi thải, lũ bùn đá liên quan đến bãi thải và sự cố vỡ bờ bao
Trang 13các bãi thải quặng đuôi Các chất thải vô cơ tích tụ nhiều trên bề mặt đất làm suy giảmchất lượng đất, gây thoái hóa lớp đất mặt.
Theo thống kê thì có hơn 170 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực khoángsản Do vốn đầu tư của các doanh nghiệp còn hạn chế, công cụ khai thác chưa đượccải tiến và chưa sử dụng những máy móc hiện đại nên việc khai thác còn khó khăn, dễ
để lại hậu quả Ví dụ như khoáng sản Titan nằm sau trong đất, sau khi khai thác xongkhông hoàn thổ nên mặt đất bị cày nát thành các hố sâu Bên cạnh đó, việc các doanhnghiệp chạy đau theo lợi nhuận nên dùng nước biển lọc quặng thô nên về lâu dài vùngđất đó bị nhiễm mặn không thể trồng trọt
Nghiêm trọng hơn nữa, do mang lại nhiều lợi ích to lớn, vùng đất ngập nước đang
bị con người khai thác quá mức mà không quan tâm tới hậu quả Chẳng hạn như diệntích thảm cỏ biển đang suy giảm từ 40-50% bời hàng loạt tác động của con người nhưhoạt động đánh bắt thủy sản theo lối hủy diệt, dùng các chất nổ
2.1.5 Ảnh hưởng của tràn dầu đến vùng đất ngập nước
Tràn dầu không chỉ ảnh hưởng đến môi trường biển mà nó còn có ảnh hưởng giántiếp đến các đầm lầy ven biển, rừng ngập mặn hoặc các vùng đất ngập nước khác.Dầu chứa độc tố làm tổn thương và có thể gây suy vong hệ sinh thái bởi dầu chứanhiều thành phần khác nhau, làm biến đổi, phá hủy cấu trúc tế bào sinh vật Đặc biệttrong thành phần dầu có lượng lưu huỳnh chiếm 0,1 – 0,5%, dầu tràn càng nhiều thìcác sinh vật trong môi trường đất ngập nước càng có khả năng bị nhiễm độc lưuhuỳnh, đồng thời làm giảm khả năng sức chống đỡ, tính linh hoạt và khả năng khôiphục của hệ sinh thái đất ngập nước
Bên cạnh đó, tràn dầu hạn chế việc vận chuyển oxy của rễ cây trong đất, ảnh hưởngđến quá trình trao đổi khí, quá trình trao đổi năng lượng mặt trời Dầu nhẹ hơn nước, haichất này không hòa tan trong nhau nên khi ngấm vào thì dầu đẩy nước ra ngoài làm chomôi trường đất hầu như không còn nước và chiếm hầu hết khoảng không khí trong đấtgây hại đến hệ sinh thái, làm cho môi trường đất trở nên cằn cỗi Việc loại bỏ dầu khỏi rễcây ngập mặn không dễ dàng, cần được làm sạch bằng tay và là quá trình tỉ mỉ,
Trang 14lâu dài Do đó, các diện tích rừng ngập mặn do bị nhiễm dầu đang chết dần chết mòn,dẫn đến động, thực vật nước lợ hầu như tuyệt chủng.
2.2 Suy giảm tài nguyên đất do đô thị hóa
2.2.1 Chất thải từ các khu đô thị, bệnh viện
2.2.1.1 Thực trạng rác thải sinh hoạt ở các khu đô thị và rác thải y tế hiện nay
Tính đến tháng 11/2018, Việt Nam nằm trong nhóm 20 nước thải rác nhiều nhất,bằng với Hoa Kỳ và Malaysia, cao hơn mức trung bình 10% của thế giới
Hội thảo Diễn đàn Chính sách Vai trò của phụ nữ và các bên phi chính thức trong quản lý rác thải nhựa và nền kinh tế tuần hoàn tài nguyên thống kê tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là 38.000 tấn/ngày, trong đó, tỉ lệ thu gom đạt khoảng
85%; lượng chất thải rắn đô thị là 11,5 triệu tấn/năm, dự báo năm 2020 là 30 triệu tấn/năm, năm 2025 là 40 triệu tấn/năm Hiện công nghệ xử lý chất thải chủ yếu chôn lấp,
ủ sinh học làm phân hữu cơ và công nghệ đốt
Hiện nay, tại các đô thị lớn ở Việt Nam, người dân sử dụng nhựa rất nhiều Lượngnhựa tiêu thụ bình quân đầu người năm 2019 là 41kg/người, gấp hơn 10 lần so vớilượng tiêu thụ 3,8kg/người vào năm 1990 Thống kê của Bộ TN&MT cũng cho thấy,mỗi ngày Hà Nội thải ra 4.000 - 5.000 tấn rác, trong đó rác thải ni lông chiếm 7 - 8%,chỉ tính riêng 2 TP lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, thải ra môi trường khoảng 80tấn nhựa và túi nilon/ngày Đáng chú ý, lượng chất thải nhựa và túi ni lông của cảnước chiếm khoảng 8 - 12% trong chất thải rắn sinh hoạt Nếu trung bình khoảng 10%lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn thìlượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ xấp xỉ khoảng 2,5 triệu tấn/năm, đây là gánhnặng cho môi trường, thậm chí dẫn tới thảm họa "ô nhiễm trắng"
Về rác thải y tế, khoảng 50% số bệnh viện tại Việt Nam vẫn chưa thể đem quy trình xử
lý rác đạt chuẩn vào áp dụng Trong khi đó, mỗi ngày có 120 nghìn m3 nước thải y tếđược thải ra, 42 tấn chất thải y tế độc hại cần được xử lý Nước thải của một số bệnh viện
ô nhiễm nặng vượt quá nhiều lần tiêu chuẩn cho phép: 82,54% tụ cầu vàng, 15% trựckhuẩn mủ xanh, 52% E.coli… Nước thải chưa qua xử lý ngấm vào đất, môi trường
Trang 15đất ẩm là điều kiện tốt cho vi khuẩn càng phát triển, khiến cho đất trở thành môitrường tích tụ vi khuẩn độc hại và ảnh hưởng lâu dài về sau.
2.2.1.2 Nguyên nhân
– Xử lý chất thải không đúng cách ở các hộ gia đình
Chất thải sinh hoạt được tạo ra từ các hoạt động gia đình như dọn dẹp nhà cửa, nấu
ăn, sinh hoạt,… Chất thải từ hộ gia đình gồm lượng rất lớn các túi đựng bằng nhựa.Chất thải này được trộn lẫn với chất thải y sinh từ bệnh viện và phòng khám Hơnnữa, không có hệ thống phân loại chất thải hữu cơ, vô cơ và tái chế ở cấp hộ gia đình.– Thiếu hệ thống quản lý chất thải rắn
Phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay gồm chôn lấp, sản xuất phânhữu cơ và đốt Đó là những biện pháp hết sức thô sơ, cộng thêm việc không được đầu
tư và nghiên cứu kỹ lưỡng đã gây ra những ảnh hưởng nặng nề không chỉ đối với môitrường đất
Rác thải sinh hoạt chủ yếu được xử lý dưới dạng chôn lấp Cả nước có 660 bãi chônlấp quy mô trên 1ha, mỗi ngày tiếp nhận 52.538 tấn rác thải trong đó có 30% bãi hợp vệsinh, còn lại không hợp vệ sinh Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh có thể gây ra ônhiễm môi trường đất, không khí và đặc biệt là nước thải rỉ rác từ các bãi chôn lấp
– Sự thiếu quan tâm của chính quyền
Sự thiếu quan tâm, thờ ơ đối với việc xử lý chất thải là một vấn đề đã dẫn đếnnhững khó khăn trong việc thực hiện các quy định về chất thải sinh hoạt
2.2.1.3 Hậu quả của chúng đối với môi trường đất
Rác thải sinh hoạt là một trong những nguồn ô nhiễm môi trường đất lớn nhất Đất
bị ô nhiễm do chất thải đổ vào nó, làm cho “đất vô sinh”
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đô thị ở Việt Nam hiện nay có chất lượng môitrường đất bị ô nhiễm ngày càng gia tăng do chịu tác động các chất độc hóa học tồn lưu
từ chất thải Chẳng hạn, nước thải từ khu vực sản xuất, các khu dân cư không qua xử lý
xả thẳng ra môi trường theo kênh, mương ngấm vào đất, gây ô nhiễm và làm thay đổihàm lượng các chất hóa học trong đất Một số kênh, mương, hồ, ao trong các
Trang 16khu vực đô thị đã trở thành những nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt, thường xuyên bị ônhiễm, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Mặt khác, nhiều cơ sở sảnxuất không xử lý nước thải, một số bệnh viện và cơ sở y tế lớn với hệ thống xử lý nướcthải hoạt động không hiệu quả đã góp phần gây ô nhiễm nguồn nước Nguồn nước mặt bị
ô nhiễm này ngấm vào đất, gây ô nhiễm đất Ngoài ra, một số khu vực là nơi chứa đựng
và lưu trữ các chất thải của quá trình sản xuất, hay chất thải rắn sinh hoạt tiềm tàng nhiềunguy cơ gia tăng ô nhiễm đất Tại khu vực đô thị, chỉ có khoảng 15% số bãi chôn lấp chấtthải rắn bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh Nước rỉ từ các hầm ủ, bãi chôn lấp không được xử lýtheo quy định sẽ ngấm xuống đất gây ô nhiễm đất và nước ngầm
Theo các nhà khoa học, chất thải gây ô nhiễm đất ở mức cao tại các đô thị hiện naychủ yếu là chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, màu vẽ, hóa chất Nhiều loại chất hữu cơ cótrong nước cống, rãnh thành phố, nước thải công nghiệp được sử dụng làm nguồnnước tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, cũng là tác nhân gây ô nhiễm đất
2.2.2 Mở rộng diện tích đất xây nhà ở, các cơ sở vật chất khác
Đô thị hóa luôn đi kèm với mở rộng đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, khiến tỉ lệ đấtnông nghiệp giảm sút, đồng thời, đất phi nông nghiệp cũng làm giảm độ phì nhiêu cótrong đất, có thể gây xói mòn đất, làm thiệt hại về nguồn đất Tình trạng mở rộng là donhững nguyên nhân sau:
2.2.2.1 Dân số đông:
Dân số đông và liên tục tăng tất yếu kéo theo nhu cầu mở rộng đất để đảm bảo an sinh
xã hội Theo thống kê Tổng dân số và nhà ở năm 2019, Sau 10 năm, quy mô dân số ViệtNam tăng thêm 10,4 triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009 - 2019
là 1,14%/năm Mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so vớinăm 2009 Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam
Á, sau Phi-li-pin (363 người/km2) và Xin-ga-po (8.292 người/km2)
Cụ thể, Thành phố Hà Nội:
- Dự báo dân số đến năm 2030, khoảng 9,0-9,2 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa khoảng65-68%, tổng diện tích đất xây dựng đô thị chiếm khoảng 28,3% diện tích tự nhiên, đất dân dụng khoảng 34.900ha; chỉ tiêu đất xây dựng dân dụng khu vực nội đô khoảng 60-
Trang 1765m2/người, khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng khoảng 90-95 m2/người, đấtngoài dân dụng khoảng 20.300ha Đến năm 2050, dân số tối đa khoảng 10,8 triệungười, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 70-80%.
- Khu vực đô thị trung tâm được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về phíaTây, Nam đến đường vành đai 4 về phía Tây, Nam đến đường vành đai 4 và về phíaBắc với khu vực Mê Linh, Đông Anh; phía Đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên
Một số điểm nóng của hiện tượng quy hoạch treo đó là: Khu liên hợp thể thao tỉnhKhánh Hòa tại Phước Đồng, Nha Trang (Khánh Hòa) được quy hoạch trên diện tích 63ha,thuộc 2 thôn Phước Lợi và Phước Hạ, mục đích xây dựng khu dịch vụ thể dục thể thao,phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu cho các vận động viên trong tỉnh và khu vực xungquanh Dù được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 từ tháng 8 năm 2012, nhưng đến nay,
dự án vẫn chưa có dấu hiệu khởi động Trên địa bàn TPHCM, tình trạng quy hoạch treo,
dự án treo diễn ra khá phổ biến tại những quận, huyện vùng ven Tại huyện Củ Chi, dọcQuốc lộ 22, qua rà soát hiện còn hơn 20.000 hộ dân mắc kẹt trong vùng quy hoạch Khu
đô thị Tây Bắc rộng 5.000ha, Khu công nghiệp (KCN) Bàu Đưng 175ha, Khu viện trường
y tế 105ha và KCN hóa dược 220ha… Đây được coi là những điểm nóng về quy hoạchtreo mà người dân phản ánh trong nhiều năm liền Trong khi đó, tại quận Bình Thạnh, dự
án Khu đô thị du lịch, sinh thái Bình Quới - Thanh Đa tính đến nay “ngủ quên” đã qua 2thập niên, kể từ khi phê duyệt vào năm 1992 Đến thời điểm này, dù dự án đã 2 lần đổichủ đầu tư nhưng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
Trang 18vẫn dở dang Ngoài ra rất nhiều khu đất đã duyệt quy hoạch nhưng không kêu gọiđược nhà đầu tư, hoặc nhà đầu tư xí đất làm dự án “ma”.
Hệ quả người dân mất đất canh tác, mất đất ở, trong khi đất đai hoang hóa rất lãngphí
2.2.2.3 Do nhu cầu phát triển của đất nước
Vì đô thị hóa thường gắn với tăng trưởng kinh tế và tăng thu cho ngân sách nênnhiều chính quyền địa phương nước ta muốn đẩy nhanh đô thị hóa hơn nữa, nâng loại
đô thị hiện có, chuyển thị trấn, đôi khi là cả huyện (như Chí Linh) thành thị xã, thậmchí muốn chuyển cả tỉnh (như Bắc Ninh) hoặc tách đô thị lớn (như Đà Lạt, Vinh)thành thành phố trực thuộc Trung ương Đến tháng 12/2012, cả nước có 765 đô thị(nguồn: Bộ XD) Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam (phê duyệtnăm 2009) dự kiến đến năm 2025 cả nước sẽ có khoảng 1000 đô thị với 52 triệungười, đưa tỷ lệ đô thị hóa lên 50%
Trong quá trình đô thị hóa, việc tăng dân số đô thị đều đi đôi với tăng diện tích đất
đô thị, tức là nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sẽ được chuyển đổithành đất đô thị Nếu đô thị ở giữa vùng trồng lúa thì chắc chắn diện tích đất trồng lúa
và trồng rau vùng ven nội sẽ giảm đi, dù có được bảo vệ bằng cách nào đi nữa Đấy làchưa kể đến hiện tượng đô thị hóa không chính thức không được thống kê, diễn ratheo dạng đô thị lan tỏa dọc các quốc lộ, đã cùng với các nhà máy bám theo đườngvừa chiếm dụng vừa làm ô nhiễm khá nhiều đất trồng lúa, đồng thời gây trở ngại chogiao thông khu vực
Không những thế, để phục vụ nhu cầu của dân đô thị, nhiều diện tích đất nôngnghiệp ngoại thành đã phải nhường chỗ cho các trung tâm giải trí (như Thiên đườngBảo Sơn) hay sân gôn (như ở Vân trì, Hà Nội), thể hiện thế lực đáng nể của thị trườngbất động sản Điều này khiến lãng phí nguồn đất
2.3 Suy giảm tài nguyên đất do hoạt động nông nghiệp
2.3.1 Trồng trọt: Sử dụng nông dược chưa phù hợp
2.3.1.1 Khái niệm