LỜI NÓI ĐẦU Trong công cuộc đổi mới này, vấn đề phát triển một nền Kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo là một mục tiêu hết sức quan trọng. Thực tế cho thấy, qua gần 15 năm phát triển kinh tế theo đường lối này, nền kinh tế thị trường nước ta đã bước đầu thu được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, nền kinh tế của chúng ta vẫn còn là một nền kinh tế thị trường ở dạng sơ khai và trước mắt còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thử thách. Một trong những khó khăn, bất ổn mà chúng ta cần phải nói tới đó là sự yếu kém của khu vực kinh tế Nhà nước nói chung mà nói riêng là là hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước(DNNN). Có thể nói trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã thực sự bộc lộ những yếu kém của mình như: công nghệ lạc hậu, tài sản manh mún, cơ chế quản lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, tinh thần người lao động sa sút.... Nói chung phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước đều lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ, làm ăn cầm chừng. Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu vực kinh tế Nhà nước như cổ phần hoá một bộ phận DNNN, sắp xếp lại các DNNN, giải thề các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả... trong đó cổ phần hoá được coi là giải pháp hàng đầu, có khả năng mang lại lợi ích hài hoà cho Nhà nước cũng như nhiều bộ phận xã hội khác. Chính vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hoá trong thời điểm hiện nay tuy không phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết, đặc biệt là đối với những sinh viên ngành Luật kinh tế. Thông qua việc tìm hiều nội dung của chính sách cổ phần hoá và các vấn đề có liên quan, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan hơn về những hiệu quả cũng như những khó khăn hạn chế của cổ phần hoá, từ đó có thể đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế đó.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới này, vấn đề phát triển một nền Kinh tế thị trườngvới sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩatrong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo là một mục tiêu hết sức quantrọng Thực tế cho thấy, qua gần 15 năm phát triển kinh tế theo đường lối này,nền kinh tế thị trường nước ta đã bước đầu thu được nhiều thành tựu rất đángkhích lệ Tuy nhiên, nền kinh tế của chúng ta vẫn còn là một nền kinh tế thịtrường ở dạng sơ khai và trước mắt còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vàthử thách
Một trong những khó khăn, bất ổn mà chúng ta cần phải nói tới đó là sựyếu kém của khu vực kinh tế Nhà nước nói chung mà nói riêng là là hệ thốngcác doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) Có thể nói trong điều kiện cơ chế quản lýthay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗidoanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã thực sựbộc lộ những yếu kém của mình như: công nghệ lạc hậu, tài sản manh mún, cơchế quản lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, tinh thần người lao động sasút Nói chung phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước đều lâm vào tình trạngkhủng hoảng, trì trệ, làm ăn cầm chừng
Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã cónhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu vực kinh tế Nhànước như cổ phần hoá một bộ phận DNNN, sắp xếp lại các DNNN, giải thề cácdoanh nghiệp làm ăn không hiệu quả trong đó cổ phần hoá được coi là giảipháp hàng đầu, có khả năng mang lại lợi ích hài hoà cho Nhà nước cũng nhưnhiều bộ phận xã hội khác
Chính vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hoá trong thời điểm hiện nay tuykhông phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết, đặc biệt là đối với những sinh viênngành Luật kinh tế Thông qua việc tìm hiều nội dung của chính sách cổ phầnhoá và các vấn đề có liên quan, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan hơn
Trang 2về những hiệu quả cũng như những khó khăn hạn chế của cổ phần hoá, từ đó cóthể đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế đó.
Trang 3NỘI DUNG
1 Khái niệm cổ phần hoá:
Về bản chất pháp lý, cổ phần hóa là việc chuyển các doanh nghiệp mộtchủ thành doanh nghiệp nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhấtsang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệpcho những tổ chức, cá nhân khác
Với góc độ tiếp cận này, cổ phần hóa không chỉ làm xuất hiện công ty cổphần trên nền tảng của doanh nghiệp được cổ phần hóa mà còn có thể làm xúâthiện công ty TNHH Bản chất pháp lý nêu trên không phải lúc nào cũng đượchiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về cổ phần hoá
- Có quan điểm đồng nhất cổ phần hóa với tư nhân hóa
- Có quan điểm đồng nhất lại cho rằng cổ phần hóa chỉ liên quan đếnDNNN
Thực chất, cổ phần hóa có thể áp dụng đối với mọidoanh nghiệp thuộc sởhữu của một chủ duy nhất, gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước (theo luật DNNN 2003 hiểu là Công ty nhànước)
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của một nhàđầu tư nước ngoài
Chẳng hạn: Doanh nghiệp A có vốn là 20 tỷ (Bản chất của cổ phần hóa làcông ty hóa ) đồng nghĩa:
+ Cách 1: (3tỷ: X; 4 tỷ: Y; 5 tỷ: Z; 2 tỷ: K; 6 tỷ: T) chuyển thành công
ty TNHH
+ Cách 2: Chia thành các phần bằng nhau chuyển thành công ty CP.Các văn bản pháp luật về cổ phần hóa DNNN trước đây và hiện hành củaViệt Nam đều tiếp cận cổ phần hóa DNNN theo cách thứ thứ 2
Theo đó, "Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là chuyển DNNN thành
Trang 4Cần phân biệt cổ phần hóa với tư nhân hóa:
- Tư nhân hóa là việc chuyển tư liệu sản xuất trở thành phần kinh tế kinh
tế nhà nước vào tay tư nhân Tư nhân hoá là đối cực của quốc hữu hóa
Nếu quốc hữu hoá là chuyển tư liệu sản xuất từ sở hữu tư nhân thành sởhữu nhà nước thì tư nhân hóa là chuyển TSSX từ sở hữu nhà nước thành sở hữu
tư nhân
Tuy nhiên tư nhân hóa có 2 cấp độ:
+ Tư nhân hóa một phần: chuyên 1 phần tài sản thuộc sở hữu nhà nướcthành sở hữu tư nhân
+ Tư nhân hóa toàn bộ tài sản thuộc sở hữu nhà nước thành sở hữu tưnhân
Phương thức tư nhân hóa áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới(Ba Lan, Rumani, Hungari, Bun ga ry, Séc và các nước Cộng hoà Liên bangLiên Xô cũ như Extônia, Lavia, Mônđavi, Ucraina ) bao gồm:
- Trả lại cho các chủ cũ những doanh nghiệp của họ bị quốc hữu hoá trướcđây (tái tư nhân hoá)
- Phân phối (cho không) hoặc bán (với giá rẻ) các cổ phần của các doanhnghiệp nhà nước cho nhân dân lao động
Cổ phần hóa khác với tư nhân hóa:
1 TNH được coi là là chính sách mà mục tiêu của nó là hạn chế đến mứctối đa thành phần kinh tế công, trong khi đó cổ phần hóa được coi là một giảipháp phương thức thực hiện
2 Tư nhân hóa được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau, trong
đó có cả phương thức phi quốc hữu hóa (tái tư nhân hóa) trong khi đó cổ phầnhóa chỉ thực hiện qua phát hành cổ phần ra công chúng (nhiều quốc gia: cổ phầngồm cả ở công ty cổ phần và phần vốn góp ở Công ty TNHH)
3 Mức độ và tính chất của tư nhân hóa khác cổ phần hoá là:
+ Tư nhân hóa: dần dần thay đổi hình thức sở hữu các doanh nghiệp nhànước chuyển thành sở hữu tư nhân với tư cách một chính sách, tư nhân hóa tácđộng đến toàn bộ nền kinh tế
Trang 5+ Cổ phần hoá: có tác dụng làm giảm sở hữu của nhà nước trong cácDNNN Với tư cách một giải pháp thực hiện, cổ phần hóa chủ yếu tác động đếncác doanh nghiệp nhà nước bị cổ phần hoá.
Tư nhân hoá thường tiến hành trên cơ sở của Luật về tư nhân hóa (đượcban hành để thực hiện các chính sách tư nhân hóa do chính phủ đề ra)
Cổ phần hoá được thực hiện trên cơ sở của Luật về công ty (Luật DN 99) (Phần lớn các nước XHCN ở Đông Âu trước đây khi tiến hành tư nhânhóa đều ban hành Luật về tư nhân hóa)
2 Mục tiêu đối tượng cổ phần hoá DNNN.
a Mục tiêu.
Mục tiêu cổ phần hoá DNNN là mục đích nhằm đạt được khi tiến hành cổphần hoá DNNN Việc xác định đúng mục tiêu có ý nghĩa rất lớn, quyết định sựthành bại của công việc Với chủ trương cổ phần hóa DNNN có xác định đượcđúng mục tiêu thì mới có thể xác định được đối tượng và mức độ cổ phần hóa,
đề ra được các hình thức và bước đi thích hợp để thực hiện cổ phần hóa thànhcông
Qua các văn bản pháp luật về cổ phần hóa được ban hành trong nhiều nămqua, có thể thấy về cơ bản các mục tiêu chính vẫn được giữ nguyên đó là mụctiêu huy động vốn và tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanhnghiệp Tuy nhiên, do tình hình kinh tế, chính trị và xã hội, cũng như nhận thức
về chủ trương cổ phần hoá tại từng thời điểm khác nhau mà việc xác định cácmục tiêu này cũng có những khác biệt Chẳng hạn Quyết định 202/TTg ngày08/6/1992 của Thủ tướng chính phủ nêu ra 3mục tiêu cổ phần hóa là:
- Nâng cấp hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 6- Tạo điều kiện cho người lao động góp phần nâng cao vai trò làm chủthực sự, hình thành động lực thúc đẩy kinh doanh hiệu quả.
Nghị định 44/CP (29/6/1998) cũng đề ra 2 mục tiêu nhưng được diễn đạt
rõ ràng hơn, nhấn mạnh mục đích huy động vốn là nhằm đầu tư đổi mới côngnghệ, phát triển doanh nghiệp; đồng thời với việc người lao động thực sự làmchủ đã nhấn mạnh việc thay đổi phương thức quản lý, thúc đẩy doanh nghiệpkinh doanh hiệu quả
Hiện nay, Nghị định 187/2004/NĐ -CP xác định rõ ràng hơn 3 mục tiêu
cổ phần hoá sau:
- Chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100%vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu huy động vốn của cá nhân,các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và nước ngoài để tăng cườngnăng lực tài chính, đổi mới về công nghệ, về phương thức quản lý, nâng caohiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
- Đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư vàngười lao động trong doanh nghiệp
- Thực hiện công khai minh bạch theo nguyên tắc thị trường, khắc phụctình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, gắn liền với pháttriển thị trường vốn, thị trường chứng khoán
b Đối tượng cổ phần hoá DNNN.
Theo điều 2 Nghị định 187/2004/NĐ - CP thì cổ phần hoá áp dụng đối vớicác doanh nghiệp và đơn vị phụ thuộc của các doanh nghiệp quy định tại điều 1của Luật doanh nghiệp nhà nước (trừ những doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tụcnắm giữ 100% vốn điều lệ), không phụ thuộc vào thực trạng kết quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên việc cổ phần hóa đơn vị phụ thuộc củacác doanh nghiệp chỉ được tiến hành khi:
- Đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạch toán độc lập
- Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận của doanh nghiệp
Trang 7Ngoài ra cần chú ý, những doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc đốitượng nêu trên có vốn nhà nước trên sổ sách kế toán dưới 5 tỷ đồng nếu không
cổ phần hoá được thì giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê theo quy định củapháp luật
Hiện nay danh mục phân loại DNNN được quy định trong quyết định số58/2002/GD - TTg của chính phủ
Theo quyết định này đối tượng cổ phần hoá DNNN được chia thành cácloại sau:
Thứ nhất: Loại DNNN (gồm DNNN độc lập và doanh nghiệp thành viên
của tổng công ty nhà nước) mà nhà nước nắm giữ 100% vốn, những doanhnghiệp này hiện tại nhà nước chưa tiến hành cổ phần hoá Đó là các doanhnghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sau:
Những DNNN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền Nhà nước,gồm có: sản xuất, cung ứng vật liệu nổ, sản xuất, cung ứng hóa chất độc, sảnxuất cung ứng chất phóng xạ, hệ thống truyền tải quốc gia, mạng lưới thông tinquốc gia và quốc tê; sản xuất thuốc lá điếu
Những DNNN hoạt động kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện sau: vốnnhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên; mức thu nộp ngân sách nhà nước bình quân của
3 năm trước liền kề từ 3 tỷ đồng trở lên; đi đầu trong việc ứng dụng công nghệmũi nhọn, công nghệ cao; góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và hoạtđộng trong các ngành, lĩnh vực như: sản xuất điện; khai thác các khoáng sảnquan trọng; sản xuất một số sản phẩm cơ khí; bán buôn xăng dầu; vận tải đườngkhông, đường sắt, đường biển; dịch vụ viễn thông cơ bản; kinh doanh tiền tệ bảohiểm Những DNNN hoạt động kinh doanh bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho pháttriển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào nông thôn,đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xá
- Những DNNN hoạt động kinh doanh có tính đặc thù như các nhà xuấtbản (trừ xuất bản sách giáo khoa, sách báo chính trị, sách cho thiếu nhi, sáchtiếng dân tộc), xổ số kiến thiết
Trang 8- Những DNNN hoạt động công ích trong các lĩnh vực: in bạc và chứngchỉ có giá, điều hành hay đảm bảo hàng hải; thoát nước đô thị; ánh sáng đườngphố
Thứ hai: Những DNNN khi tiến hành cổ phần hoá nhà nước nắm giữ trên
50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp Đó là các doanh nghiệp sau:
- Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có vốn nhà nước
từ 10 tỷ đồng trở lên; mức thu nộp ngân sách nhà nước bình quân trong 3 nămtrước liền kề từ 1 tỉ đồng trở lên hoạt động trong các ngành, lĩnh vực mà Nhànước cần nắm giữ 100% vốn
- Những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: sản xuấtđường sữa, dầu ăn thực vật, kiểm định hàng hoá, in các loại, dịch vụ hợp tác laođộng; kinh doanh các mặt hàng bằng hội chợ triển lãm
- Những DNNN hoạt động công ích trong các lĩnh vực: sản xuất giốngcây trồng vật nuôi, dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ, quản lý khai thác các côngtrình thủy nông
- Thứ ba: những DNNN hoạt động trong một số lĩnh vực quan trọng khi
tiến hành cổ phần hoá không nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần của doanhnghiệp, nhưng sẽ nắm giữ cổ phần đặc biệt để quyết định một số vấn đề quantrọng, theo quyết định của Thủ tướng chính phủ
- Thứ tư: Những DNNN còn lại, khi tiến hành cổ phần hoá, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền căn cứ điều kiện cụ thể của doanh nghiệp quyết định nhànước nắm giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ cổ phần
3 Hình thức cổ phần hoá.
Xuất phát từ chủ trương cổ phần hóa DNNN của Đảng, đồng thời đứngtrên quan điểm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và xử lý hài hoà lợi ích nhànước, doanh nghiệp và người lao động, Nhà nước đã đề ra mô hình cổ phần hóavới các hình thức qui định tại điều 3 Nghị định 187/2004/NĐ - CP
1 Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếuthu hút thêm vốn
2 Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
Trang 93 Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
4 Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thuhút thêm vốn
Bán một phần vốn nhà nước tại DN kết hợp với phát hành cổ phiếu thuhút thêm vốn hoặc bán toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp kết hợp phát hành
cổ phiếu thu hút thêm vốn
Hình thức thứ nhất áp dụng cho các doanh nghiệp mà nhà nước cần giữ cổphần nhất định trong doanh nghiệp và doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả,cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Trường hợp bán một phần vốn ápdụng chủ yếu cho các doanh nghiệp chưa cần huy động thêm vốn mà chỉ cơ cấulại quyền sở hữu về vốn và biện pháp quản lý doanh nghiệp Khi nhà nướckhông cần nắm giữ cổ phần chi phối thì áp dụng hình thức bán toàn bộ vốn nhànước hiện có tại doanh nghiệp
Trong quá trình thực hiện, tùy từng điều kiện cụ thể của doanh nghiệp cóthể kết hợp giữa các hình thức trên Song, dù áp dụng theo bất cứ hình thức nàothì người lao động trong doanh nghiệp cổ phần cũng được mua một phần nhấtđịnh theo mức giá ưu đãi của nhà nước và ưu tiên mua trước theo giá bìnhthường
4 Đối tượng và điều kiện mua cổ phần.
* Đối tượng mua cổ phần:
Để khuyến khích các tổ chức cá nhân mua cổ phần của DNNN cổ phầnhóa Điều 4 Nghị định 187/2004/NĐ - CP qui định rất rộng rãi các đối tượngđược quyền mua cổ phần, bao gồm:
- Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cá nhân người Việt Nam ở nướcngoài (gọi nhà đầu tư trong nước)
- Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cá nhân người nước ngoài, kể cảngười Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài định cư ở Việt Nam(gọi nhà đàu tư nước ngoài)
Trang 10* Cơ cấu mua cổ phần lần đầu của doanh nghiệp cổ phần hóa được xác định theo thứ tự.
+ Giữ lại sổ cổ phần của nhà nước ở những doanh nghiệp thuộc đối tượngnhà nước cần nắm giữ cổ phần
+ Dành cổ phần để bán theo giá ưu đãi của người lao động trong doanhnghiệp theo qui định tại các khoản 1 và 2 Điều 27 Nghị định 187/2004/NĐ - CP
- Bán tối đa 10 cổ phần/1năm công tác với giá giảma 30% so với mệnhgiá ban đầu cho người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanhnghiệp
- Người lao động nghèo được mua giá ưu đãi được hoãn trả trong 3 nămđầu và trả dần trong 7 năm tiếp theo không phải chịu lãi suất
+ Dành cổ phần để bán theo giá ưu đãi cho người sản xuất và cung ứngnguyên liệu ở những doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản theo qui định tạikhoản 1 điều 29 Nghị định 187/2004/NĐ- CP (tổng không quá 10% giá trị phầnvốn NN tại doanh nghiệp)
+ Dành tối thiểu 30% số cổ phần còn lại (nếu có) để bán cho các đốitượng ngoài doanh nghiệp, trong đó ưu tiên bán cho nhà đầu tư có tiềm năng vàcông nghệ, thị trường vốn và kinh nghiệm quản lý
Theo Nghị định 187/2004/NĐ - CP, nhà nước đã dành một bộ phận cổphần trong các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến nông, lâm, thủy sản để báncho người sản xuất và cung cấp nguyên liệu Đây là một điểm mới và rất phùhợp của Nghị định 187/2004/NĐ - CP so với các văn bản pháp luật trước đó, tạolên sự liên minh chặt chẽ hơn giữa người sản xuất công nghiệp và người cungcấp nguyên liệu
* Điều kiện mua cổ phần:
Khác với Nghị định số 44/1998/NĐ - CP, nghị định số 187/2004/NĐ - CPkhông hạn chế tỉ lệ bán cổ phần lần đầu tiên cho các đối tượng mua
Điều 5 Nghị định số 187/2004/NĐ - CP qui định, các nhà đầu tư trongnước đều có quyền mua cổ phần lần đầu tại các doanh nghiệp nhà nước cổ phầnhoá với số lượng không hạn chế, nhưng phải đảm bảo các qui định hiện hành
Trang 11của nhà nước về số lượng cổ đông tối thiểu, cổ phần chi phối của nhà nước tạicác doanh nghiệp mà nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối.
Các nhà đầu tư nước ngoài được mua số lượng cổ phần có tổng giá trịkhông quá 30% vốn điều lệ của các doanh nghiệp hoạt động trong những ngànhnghề do Thủ tướng Chính phủ qui định Hiện nay, việc bán cổ phần cho nhà đầu
tư nước ngoài được qui định trong qui chế bán cổ phần cho nhà đầu tư nướcngoài kèm theo quyết định 36/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày11/3/2003 Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu mua cổ phần ở các doanhnghiệp nhà nước phải mở tài khoản tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toánđang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Mọi hoạt động mua, bán cổ phần: nhận,
sử dụng cổ tức và các khoản thu khác từ đầu tư mua cổ phần đều phải thông quatài khoản này
Qui định này của pháp luật hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp nhànước phù hợp với thời kỳ mà chúng ta đang cần có vốn đầu tư nhằm đổi mớicông nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNN Đồng thời giải quyếtvướng mắc trong nghị định 44/CP về vấn đề này Ví dụ:
- Việc khống chế mua cổ phần lần đầu của các cổ đông Qui định nàytưởng chừng là nhằm tránh tình trạng độc quyền, biến CPH thành tư nhân hoánhưng thực tế đã hạn chế, không cởi mở trong chính sách CPH DNNN, dễ dẫnđến tâm lý dè dặt của các nhà đầu tư (đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài)
- Việc qui định hạn chế quyền mua cổ phần của các đối tượng là cán bộlãnh đạo, vợ hoặc chồng của họ làm việc tại DNNN thực hiện cổ phần hoá cũng
là điều không hợp lý, thiếu tác dụng động viên và gắn bó quyền lợi của nhữngngười có nhiều cống hiến và ảnh hưởng lớn đến tiến độ cổ phần hóa và sự pháttriển của doanh nghiệp sau cổ phần hóa
- Sự xoá bỏ khống chế về quyền mua cổ phiếu lần đầu và mở rộng đốitượng mua cổ phiếu là một điểm mới trong pháp luật về CPH DNNN ở ViệtNam Qui định này đã tạo tâm lý thoải mái cho các nhà đầu tư khi đầu tư vàodoanh nghiệp cổ phần hoá Mặt khác, đây cũng là một sự ưu đãi của nhà nước