1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích những yếu tố ảnhhưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay

14 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 87,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc này xuất phát từ việc bản thân thuế GTGT là một loại thuế mới với các quy định về những phương pháp khấu trừ cũng như hệ thống hóa đơn, chứng từ phức tạp so với hệ thống hóa đơn chứ

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Qua nhiều năm thực hiện tại Việt Nam, đến nay Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã dần đi vào đời sống và có những tác động tích cực đến tình hình kinh tế

xã hội đất nước ta cũng như góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc áp dụng thuế GTGT trên thực tế là một vấn đề khó và còn không ít những “kẽ hở” pháp luật dẫn đến việc gian lận, trốn thuế của các đối tượng nộp thuế và các hành vi vi phạm pháp luật khác Theo thông báo của tổng cục thuế, tình hình các vụ án hình sự liên quan đến thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay ngày càng phức tạp với những thủ đoạn ngày càng tinh vi Việc này xuất phát từ việc bản thân thuế GTGT là một loại thuế mới với các quy định về những phương pháp khấu trừ cũng như hệ thống hóa đơn, chứng từ phức tạp so với hệ thống hóa đơn chứng từ cũ của Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá lại những quy định pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng trong thời gian

tới Vì những lý do trên, em đã quyết định trọn đề tài: “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay” để

nghiên cứu với mục đích đánh giá khách quan thực trạng bạn hành và thực hiện các quy định về thuế GTGT, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam

Trang 2

B NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.

1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng.

a Khái niệm.

Thuế là một khoản thu của Nhà nước với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội Khoản thu đó mang tính chất bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp mà được dùng vào các mục tiêu công cộng Để hiểu được thế nào là Thuế GTGT trước

hết cần tìm hiểu khái niệm giá trị gia tăng: “Giá trị gia tăng là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hóa thu vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm ” Nói cách khác, đây là số

chênh lệch giữa “ giá đầu ra ” và “ giá đầu vào ” do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ Theo cách hiểu trên về giá trị gia tăng như trên,

Thuế GTGT được định nghĩa như sau:“ Thuế GTGT là loại thuế gián thu được tính trên phần tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” (Điều 1 Luật thuế

GTGT 2008)

b Đặc điểm.

Thuế GTGT có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế đánh vào hàng hóa dịch vụ khác (như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu) nhưng có thể nhận diện được thuế GTGT thông qua những đặc điểm của nó như:

Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng Mọi đối tượng tồn tại

trong xã hội, cho dù là tổ chức hay cá nhân, người nghèo hay người có thu nhập cao đều phải chi trả thu nhập của mình để hưởng thụ kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội Việc đánh thuế với mọi đối tượng trên phạm vi lãnh thổ thể hiện rõ nét sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội

Trang 3

Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ.

Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cho người tiêu dùng Đặc điểm này của thuế GTGT còn yêu cầu pháp luật điều chỉnh phải tìm ra cách thức, phương thức phù hợp, có tính khả thi để xác định chính xác phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế

Thứ ba, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Đánh

thuế ở tất cả các khâu cảu quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa ở trong nước, khâu nhập khẩu và lưu thông hàng nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đã được xác định trước và không thay đổi, các phần hàng hóa dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu Đây vừa

là được điểm vừa là ưu việt của thuế GTGT so với thuế hàng hóa dịch vụ thông thường (thuế doanh thu) mà Việt Nam và nhiều quốc gia đã áp dụng trong giai đoạn trước đây

2 Khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng.

a Định nghĩa

Trên thế giới, để đưa ra được thuế GTGT và áp dụng trong thực tế không dễ dàng thực hiện Nhiều quốc gia phát triển cho đến nay vẫn không ban hành Luật thuế GTGT với nhiều lý do khác nhau, Hoa Kỳ là một đại diện Sự bạn hành luật thuế GTGT cần phải có sự cân nhắc, lựa chọn thời điểm, tên gọi của luật thuế, các quy định cụ thể để không gây ra những xáo trộn trong đời sống kinh tế, xã hội

Trang 4

Pháp luật thuế giá trị gia tăng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, quản lý và quyết toán thuế giá trị gia tăng.

Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT thay thế Luật thuế doanh thu được ban hành và

áp dụng từ năm 1990 đến 1998, xuất phát từ một số lý do sau:

Thứ nhất, việc áp dụng Luật thuế GTGT giải quyết tình trạng đánh chồng thuế qua các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa

Thứ hai, áp dụng Luật thuế GTGT với quy định thuế suất đơn giản, đảm bảo ở mức

độ tương đối về tính đơn giản và tính trung lập của thuế

Thứ ba, Luật thuế GTGT với những điều kiện và phương pháp tính thuế không chỉ tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách, đảm bảo bình đẳng về nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế mà còn là biện pháp chống gian lận, trốn lậu thuế ở các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa

Pháp luật thuế GTGT có hai đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, pháp luật thuế GTGT có tác động trong phạm vi rộng, đến tất cả

các đối tượng trong xã hội Xuất phát được nội dung được pháp luật điều chỉnh cho thấy, pháp luật thuế GTGT áp dụng đối với mọi đối tượng có thu nhập, sử dụng một phần thu nhập phục vụ đời sống Phạm vi áp dụng pháp luật thuế GTGT có tính phổ biến so với pháp luật thuế tiêu dùng khác

Thứ hai, pháp luật thuế GTGT chỉ có thể được ban hành khi các điều kiện

áp dụng đạt đến mức độ nhất định Những điều kiện chủ yếu ở đây là các tiêu chuẩn về kế toán, chế độ chứng từ hóa đơn và khả năng quản lý của chính các cơ quan tham gia quản lý, thu thuế GTGT Điều này lý giải việc ban hành Luật thuế GTGT tại sao cần phải phải được xem xét đến hiều yếu tố như trên; một số trường hợp, việc ban hành Luật thuế GTGT kèm theo đó là khoảng thời gian dài, đủ hội tụ điều kiện áp dụng

Trang 5

Quy phạm pháp luật thuế GTGT quy định về các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế GTGT, các quyền và nghĩa vụ đối với mỗi loại chủ thể; những căn cứ pháp lý xác định số thuế GTGT phải nộp và quy định mang tính thủ tục đảm bảo các chủ thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ

b Yêu cầu đối với pháp luật thuế giá trị gia tăng.

Ban hành Luật thuế GTGT được coi là bước đột phá trong quá trình cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật Để đảm bảo tính hiệu quả, pháp luật thuế GTGT cần đáp ứng một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính thống nhất, tính ổn định và tính khả thi Thuế GTGT là loại thuế phức tạp, các vấn đề có liên quan đến thuế GTGT được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, với hiệu lực pháp lý khác nhau, mức độ điều chỉnh trực tiếp hay gián tiếp khác nhau Tất cả sự khác nhau này chỉ có thể là khác nhau về trật tự áp dụng nhưng về nội dung phải đảm bảo tính thống nhất; phù hợp với thực tế đời sống kinh tế, có tính ổn định, tạo niềm tin cho các chủ thể kinh doanh

- Đảm bảo tính đơn giản trong quá trình áp dụng Tính đơn giản thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như:

+ Đơn giản về cách hiểu, áp dụng đối với cơ quan quản lý, thu thuế;

+ Đơn giản về cách hiểu, tuân thủ đối với đối tượng nộp thuế GTGT;

+ Đơn giản về trình tự thủ tục trong suốt quá trình quản lý và chịu sự quản

lý về thuế GTGT

- Hệ thống pháp luật thuế GTGT cần hướng tới người nộp thuế Thể hiện yêu cầu này, những quy định về việc kê khai, nộp thuế phải thể hiện sự tôn trọng người nộp thuế: tối đa hóa cơ hội tự kê khai, tự nộp thuế của đối tượng nộp thuế Bên cạnh đó, đối với trường hợp vi phạm, quy định các chế tài thực sự nghiêm khắc: bao gồm chế tài hành chính với mức phạt cao; chế tài hình sự

áp dụng đối với nhiều loại hành vi vi phạm khác nhau

Trang 6

II THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.

1 Kết quả đạt được.

Đối chiếu với các mục tiêu và yêu cầu đề ra qua các năm thì Thuế GTGT đã đạt được những kết quả rất khả quan, góp phần đảm bảo nguồn thu ổn định và chủ yếu cho NSNN, đáp ứng được yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích

mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong

và ngoài nước và quan trọng nhất là đã hình thành một hệ thống pháp luật thuế tương đối đầy đủ, hợp lí, áp dụng thống nhất và bình đẳng với mọi thành phần kinh

tế, mọi loại hình doanh nghiệp

Thứ nhất, thuế GTGT đã góp phần đáng kể vào trong sự phát triển của nền kinh tế Thuế GTGT thu trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở các khâu sản

xuất, lưu thông nên khắc phục được nhược điểm cơ bản của Luật thuế doanh thu là thu trùng lặp qua các khâu sản xuất, kinh doanh, tạo sự công bằng hơn về thuế, từ

đó góp phần thực hiện hợp tác và chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển và mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hoá Điều này đã góp phần tích cực vào việc lấy lại đà tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao

Thứ hai, thuế GTGT thu được nhiều hiệu quả đáng kể trong công tác thu ngân sách nhà nước Mục tiêu khi áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu đó là

không chỉ ổn định mà còn phải làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Thuế GTGT hàng năm liên tục tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu

về thuế, phí Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra ở đây là theo xu hướng hiện nay thì chúng ta đang cố gắng giảm tỷ trọng thuế gián thu trong cơ cấu thuế, bởi vậy việc

tỷ trọng thuế GTGT tăng thì ít hay nhiều cũng ảnh hưởng đến mục tiêu chung Chính vì vậy cần phải có các biện pháp để vừa tăng được số thuế GTGT thu vào lại vừa giảm được tỷ trọng thuế gián thu trong cơ cấu thuế nói chung

Thuế GTGT thu được từ nội địa chiếm phần lớn trong tổng thu của thuế GTGT Cùng với quá trình tăng dần của kim ngạch nhập khẩu, thuế GTGT hàng

Trang 7

nhập khẩu cũng tăng Đây là kết quả đáng mừng cho cả hoạt động nhập khẩu và thu ngân sách của nước ta

Thứ ba, về hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư Những mặt hàng xuất khẩu

được hưởng mức thuế suất thuế GTGT là 0%, do đó các doanh nghiệp xuất khẩu được hoàn lại toàn bộ số tiền thuế đã nộp trước cho hàng hóa xuất khẩu, như vậy

mà đã bù đắp được phần nào các chi phí xuất khẩu, nâng cao kả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế, kết hợp với nhiều biện pháp khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước ta trong thời gian qua, khiến tình hình xuất khẩu không ngững tăng cao

Còn đối với hoạt động nhập khẩu Việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu làm tăng giá bán hàng nhập khẩu trong nước, do vậy góp phần hạn chế và điều tiết nhập khẩu, đồng thời Nhà nước cũng cho một số mặt hàng nhập khẩu không thuộc diện chịu thuế GTGT, đó đều là những mặt hàng công nghiệp nặng, trong nước chưa sản xuất được hoặc có chăng là sản xuất với số lượng ít, không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, những mặt hàng đó rất cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do vậy, mà mục đích điều tiết nhập khẩu thông quan thuế lại được thể hiện rõ ràng trong thuế GTGT

Thứ tư, tế áp dụng thuế GTGT cũng góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam Thuế GTGT là một sắc thuế tiến bộ và việc nghiên cứu, xây

dựng và triển khai luật thuế này đã góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của Việt Nam Để đạt được hiệu quả cao nhất từ luật thuế này thì Chính phủ, Quốc hội đồng thời phải xây dựng đồng bộ các luật thuế có liên quan, điều này đánh dấu bước tiến mới trong hệ thống chính sách thuế ở Việt nam, sự đổi mới đó phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng phù hợp với thông

lệ quốc tế Khi các nước trong khu vực và trên thế giới hầu hết đều đã hoặc đang nghiên cứu áp dụng thuế GTGT thì chúng ta cũng không thể giữ mãi luật thuế

Trang 8

doanh thu chồng chéo, nhiều mức thuế suất Bởi vậy, thay đổi cũng là một yếu tố tất nhiên

Thứ năm, việc áp dụng thuế GTGT còn thúc đẩy tăng cường quản lý, hạch

toán kinh doanh của các doanh nghiệp; nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành luật thuế của các đối tượng nộp thuế; hiện đại hóa công tác quản lý thuế, cải cách hành chính thuế, nâng cao năng lực quản lý thuế

2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng.

Bên cạnh những thành tựu trên cũng không thể tránh khỏi những bất cập và hạn chế đang tồn tại xung quanh Việc tìm ra những bất cập và hạn chế đó không phải để lên án hay chỉ trích việc ban hành và áp dụng luật Thuế GTGT mà mục đích là để tìm ra phương hướng cũng như giải pháp để hoàn thiện, từ đó định ra con đường đúng đắn nhằm phát triển hơn những thành quả đã đạt được

a Đối tượng chịu thuế.

Điều 5 Luật thuế GTGT quy định có 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế Số lượng như vậy là quá nhiều, trong khi mục tiêu của chính sách thuế GTGT là mở rộng diện chịu thuế và thu hẹp các đầu mối Một số mặt hàng đưa vào diện này còn chưa hợp lý, chưa thực sự khuyến khích xuất khẩu gây gián đoạn trong công tác thu nộp thuế và khó khăn cho doanh nghiệp

Chính sách hiện hành cũng quy định hàng hóa thủy sản chưa qua chế biến không chịu thuế GTGT, do đó nếu các doanh nghiệp thu mua trực tiếp của người sản xuất không có hóa đơn thì được lập hóa đơn mua hàng Nông - lâm - thủy sản nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào Khi xuất bán cho các nhà máy chế biến thủy sản, doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế GTGT 5% vào ngân sách nhà nước Từ đặc điểm này, một số doanh nghiệp đã mua bán hóa đơn GTGT khống để làm chứng từ đầu vào khấu trừ thuế GTGT, chiếm đoạt 5% tiền thuế Điều 5 và Điều 8 của luật GTGT đã quy định rõ ràng những đối tượng nào không phải chịu thuế, đối tượng chịu thuế suất 0%, 5%, 10% Trong bối cảnh nền

Trang 9

kinh tế mở cửa và hội nhập như hiện nay thì không những chỉ có những đối tượng như vậy mà còn xuất hiện nhiều đối tượng mới, vậy những trường hợp này thì sẽ

xử lý như thế nào? Điều này tạo ra sự thiếu công bằng trong việc áp thuế và không bao quát hết các hàng hóa, dịch vụ

b.

Về thuế suất.

Từ khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, số lượng mức thuế suất giảm đi rất nhiều so với 11 mức thuế suất trước kia của thuế doanh thu, mặt khác lại còn thường xuyên được xem xét sửa đổi (giảm từ 4 mức thuế suất xuống còn 3 mức thuế suất như hiện nay), bởi vậy đã thu được nhiều thành công đáng kể Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng xuất hiện nhiều hạn chế cần phải xem xét của hệ thống nhiều mức thuế suất này

Thứ nhất, việc có nhiều mức thuế suất làm cho công tác xây dựng chính sách của các cơ quan có chức năng gặp nhiều khó khăn Lúc này, muốn tạo ra một sắc thuế thật công bằng thì cơ quan hoạch định chính sách phải xây dựng các tiêu chuẩn phân loại hàng hóa, dịch vụ để từ đó mà áp vào các nhóm thuế suất khác nhau Điều này không phải lúc nào cũng được thực hiện thuận lợi vì sự khác nhau giữa các loại hàng hóa là rất khó phân định, sẽ có nhiều ý kiến phản hồi từ các đối tượng chuyển đến, đặt ra một vấn đề là lại phải tốn một khoản chi phí nhất định để

tổ chức trả lời giải thích cụ thể…

Thứ hai là đối với các doanh nghiệp, không phải doanh nghiệp nào cũng chỉ sản xuất kinh doanh một loai hàng hóa nhất định và cũng không phải tất cả nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp đều chịu một mức thuế suất như nhau, bởi vậy nên công tác tính toán thuế của họ sẽ trở nên rất phức tạp với nhiều mức thuế suất Giữa các khâu của quá trình sản xuất thuế phải thu khác nhau làm cho đối tượng nộp thuế bị phân biệt đối xử Chính vì lý do như vậy mà khi doanh nghiệp xác định hướng sản xuất kinh doanh của mình phải hao tốn thêm một lượng chi phí để xây dựng chiến lược mặt hàng, tính toán thuế cho từng sản phẩm, từng giai đoạn

Trang 10

c Phương pháp tính thuế.

Phương pháp tính thuế là yếu tố quyết định đến việc thuế tính có bị trùng lắp, chồng chéo hay không Hiện nay, ở nước ta đang thực hiện hai phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp

Khi áp dụng nhiều phương pháp như quy định hiện hành thì sẽ có những hạn chế và bất hợp lý, gây ra sự không thống nhất về giá tính thuế, đối với phương pháp khấu trừ thì giá là giá chưa có thuế GTGT, còn phương pháp trực tiếp là giá đã có thuế GTGT, điều này làm cho tính liên hoàn của thuế GTGT bị đứt đoạn, không công bằng giữa các địa bàn tỉnh Do quy định Cục thuế tỉnh xác định tỷ lệ % GTGT tính trên doanh thu làm căn cứ tính thuế, dẫn đến mỗi tỉnh ban hành một biểu tỷ lệ thuế suất riêng không thống nhất trong cả nước Điều này làm mất đi ý nghĩa của thuế GTGT vì đối tượng nộp thuế trong trường hợp này không quan tâm đến tỷ lệ GTGT trên doanh thu mà họ chỉ quan tâm đến doanh thu và số thuế phải nộp

Hơn nữa, tính thuế theo phương pháp trực tiếp không khắc phục được hiện tượng trùng thuế vốn là ưu điểm nổi bật của thuế GTGT Theo công thức của phương pháp trực tiếp thì giá bán và giá vốn của hàng hóa đều đã là giá có thuế GTGT, trong trường hợp nếu doanh số bán ra lớn hơn giá vốn (thường phổ biến) thì phần chênh lệch đã bị đánh trùng thuế

d Chế độ hóa đơn chứng từ.

Một trong những yếu tố ảnh hướng lớn nhất trong quá trình thực hiện

luật thuế GTGT ở nước ta là vấn đề về hóa đơn chứng từ Luật thuế GTGT quy định quá nhiều loại hóa đơn, bên cạnh hóa đơn dành cho các cơ sở áp dụng theo phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ còn có các loại hóa đơn đặc thù kể

cả bảng kê mua hàng hóa của người không có hóa đơn,… Các hóa đơn đều có tính pháp lý như nhau do Luật thuế quy định Nhưng điểm đáng chú ý ở đây là việc khấu trừ thuế lại khác nhau, chỉ có hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn đặc thù tại các đơn vị nộp thuế theo phương pháp khấu trừ mới được khấu trừ thuế theo quy định

Ngày đăng: 30/01/2016, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w