1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn tập chủ nghĩa mac lê nin

62 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 120,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quy luật lượng và chất trên cương vị người cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chi Minh tôi nhận thấy những thách thức và cơ hội với lực lượng đoàn thanh niênnhư sau; Đảng và Nhà nướ

Trang 1

BÀI THI 1: ÔN TRỌNG TÂM MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ

NGHĨA MÁC – LÊ NIN

Câu 1 Chủ nghĩa duy vật Mác xít - cơ sở khoa học cho nhận thức và cải tạo thế giới Cần nắm rõ: Vật chất là gì, ý thức là gì, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, rút ra

ý nghĩa, phương pháp luận Trong lĩnh vực công tác của mình đã quán triệt và vận dụng quan điểm trên như thế nào.

Trả lời:

* Quan điểm duy vật mác xít về vật chất:

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lạicho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh,

và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

* Quan điểm duy vật mác xít về ý thức:

- Nguồn gốc ý thức (bổ sung thêm)

Ý thức là một thuộc tính của một dạng vất chất sống đặc biệt, có tổ chức cao đó là

bộ óc con người Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Ýthức là hình ảnh của sự vật được thực hiện ở trong bộ óc con người Nhưng đây là sựphản ánh năng động, sáng tạo; sự phản ánh có chọn lọc, phản ánh cái cơ bản nhất mà conngười quan tâm; là sự phản ánh không nguyên xi mà còn được cải biến trong bộ óc conngười Phán ánh của ý thức có thể là phản ánh vượt trước hiện thức, có thể dự báo được

xu hướng biến đổi của thực tiễn; ý thức là ý thức của con người nhưng con người là conngười hiện thực của một xã hội cụ thể Do vậy, ý thức luôn mang bản chất xã hội

* Quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (Sử dụng nội dung Sgk)

Vật chất suy cho cùng quyết định ý thức:

- Vật chất có trước ý thức, quyết định ý thức, ý thức là cái phản ánh cho nên là cái

có sau, là cái bị quyết định

- Vật chất quyết định nội dung của ý thức, nó quyết định cả xu hướng phát triểncủa ý thức

- Mọi sự sáng tạo của ý thức đều phải xuất phát từ những tiền đề vật chất và phảituân thủ các quy luật khách quan

Trang 2

- Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được biểu hiện ở mốiquan hệ giữa kinh tế và chính trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tồn tại xã hội vàý thức xã hội.

Vai trò của ý thức đối với vật chất:

- Thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có thể làm biến đổi nhữngđiều kiện hoàn cảnh vật chất, phục vụ cho đời sống của con người

- Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán 1 cách chính xáccho hiện thực

- Ý thức không chỉ tác động tích cực mà còn có tác động tiêu cực, những tư tưởngphản động cản trở sự phát triển của lịch sử

- Tuy nhiên, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất dù đi đến đâu đi chăngnữa cũng phụ thuộc vào các điều kiện vật chất Cho nên xét cho cùng, vật chất luôn quyếtđịnh ý thức

Tóm lại: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng, vật chất

quyết định ý thức nhưng ý thưc cũng có vai trò hết sức to lớn đối với vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người

* Ý nghĩa của quan điểm duy vật mác xít về quan hệ giữa vật chất và ý thức trong nhận thức và cải tạo hiện thực

Từ quan hệ biện chức giữa vật chất và ý thức, triết học mác xít rút ra quan điểmkhách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm khách quan yêu cầu trongnhận thức phải nhận thức sự vật vốn như nó có, không “tô hồng, bôi đen”

Trong hoạt động thực tiễn, phải luôn luôn: Xuất phát từ thực tiễn khách quan, tôntrọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan; không thể lấy mongmuốn chủ quan hay thế cho thực tế khách quan, không thể hành động trước không đúngquy luật Vì như vậy sẽ phải trả giá

Quan điểm khách quan cũng yêu cầu trong hoạt động thực tiễn phải biết phát huytính năng động, sáng tạo của ý thức, tinh thần trong cải tạo thế giới Nghĩa là phải cốgắng, tích cực vươn lên, biết phát huy tối đa lực lượng vật chất hiện có Đồng thời phảitránh không rơi vào chủ nghĩa khách quan, tức là trông chờ, thụ động, ỷ lại điều kiệnkhách quan, không cố gắng, tích cực vượt khó vươn lên

Quan điểm khách quan cũng yêu cầu chống bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đốihóa ý thức, tinh thần trong hoạt động thực tiễn Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta trước đổi mới 1986 cho thấy: Chúng ta đã mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chítrong xây dựng, cải tạo xã hội chủ nghĩa Khắc phục những sai lầm này, trong quá trình

Trang 3

đổi mới, Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ thực tiễn đất nước vận dụng sáng tại chủnghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối phát triển kinh tế phù hợp.

Do vậy mọi mặt đời sống của nhân dân được nâng lên, vị thế của đất nước được nângcao

* Vận dụng và quán triệt quan điểm Chủ nghĩa duy vật mắc xít vào lĩnh vực công tác của mình:

* Tôn trọng khách quan:

- Khi đề ra hoặc thực hiện nhiệm vụ (đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch ).có xuất phát từ thực tế, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống không?

- Khi có đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch phù hợp có tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện có hiệu quả không?

- Có nhận xét, đánh giá công việc dựa trên nghiên cứu, khảo sát kĩ lưỡng để có thông tin đúng về sự vật, hiện tượng không? Có biểu hiện áp đặt hoặc kết luận có tính chất suy diễn không?

- Có nắm vững các qui luật khách quan trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách không? Khi tổng kết các mặt hoạt động thực tiễn có khách quan, không bóp méo, xuyên tạc không?

* Phát huy tính năng động chủ quan, sáng tạo của ý thức:

- Có coi trọng, đề cao nhận thức khoa học, phát huy nhân tố con người không?

- Có kế hoạch học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ như thế nào?

- Có nói đi đôi với làm, có thường xuyên tự đổi mới, đề ra những sáng kiến kinh nghiệm trong công việc không?

- Có biện pháp tránh thái độ chủ quan, nóng vội hoặc bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào?

Xã Tân Hợp là xã vùng 2 của huyện Văn Yên, với diện tích đất tự nhiên 6.290,97

ha, dân số: 4.357 khẩu với 1.180 hộ, xã còn 2 thôn thuộc thôn đặc biệt khó khăn Địahình rộng, dân cư không tập trung, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 67%, đã ảnhhưởng không nhỏ tới công tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của

xã Là ủy viên BCH Đảng ủy – Chủ tịch Hội LHPN xã Tân Hợp, trong quá trình côngtác, tôi đã vận dụng và quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vào thựctiễn công việc của mình:

Trang 4

Là cán bộ dân vận, để thực hiện tốt công tác dân vận cũng như các nhiệm vụ màcấp trên giao, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bản thân luôn làm việc với thái độkhách quan nhất, nhìn nhận vấn đề từ nhiều phía Từ đó phân tích, tìm hiểu nguyên nhân

và đề ra những giải pháp thực hiện

Là cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc, địa bàn công tác rộng và đa dân tộc Trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ, tôi luôn cố gắng gần gũi, học hỏi ở đồng nghiệp, hội viên và nhândân cách thức làm việc, tích lũy thêm nhiều kiến thức Để nâng cao trình độ, nghiệp vụ,bản thân đã chủ động đăng ký học các lớp chuyên môn, các lớp tập huấn, đồng thời, tìmhiểu về bản sắc, phong tục tập quán của các dân tộc, tôn giáo, học tiếng nói, ngôn ngữcủa họ để gần gũi và thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và thực hiện nhiệm vụ củamình Nhờ tích cực tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của bà con nhân dân và hội viên phụ

nữ, những năm qua, bản thân đã tổ chức nhiều hoạt động để thu hút đông đảo phụ nữtrong độ tuổi tham gia sinh hoạt Hội như: Thành lập 2 câu lạc bộ cha mẹ hướng tới giađình toàn mỹ, thành lập các đội văn nghệ, các sân chơi như: Tổ chức giao lưu văn nghệ,bóng chuyền, bóng đá, hội thi, nhờ vậy tỷ lệ hội viên tham gia vào sinh hoạt Hội tăngqua các năm Đến nay, số hội viên tham gia sinh hoạt đạt 805 hội viên, tỷ lệ thu hút đat79% tăng 3% so với nhiệm kỳ trước

Ngoài ra, bản thân luôn quan tâm đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên và nhândân Như chủ nghĩa duy vật Mác xít đã nêu: Vật chất quyết định ý thức, vì vậy để đờisống và ý thức của người dân được nâng cao, cần quan tâm phát triển đời sống vật chấtcủa người dân Đời sống vật chất nâng lên, đời sống tinh thần cũng từ đó phát triển theo.Hiểu rõ điều đó, cùng với các cấp các ngành, trong những năm qua, tôi đã phối hợp tạođiều kiện để cho hội viên phát triển kinh tế: Mở 5 lớp dạy nghề ngắn hạn cho hội viên vànhân dân, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên 80% hội viên, ủy thác với ngân hàngchính sách xã hội cho hội viên vay vốn với trên 8 tỷ đồng, thành lập 6 tổ hợp tác trồngdâu nuôi tằm và trồng cây ăn quả có múi với 40 thành viên Với những hoạt động củaHội đã cùng với chính quyền địa phương giúp nhân dân vươn lên thoát nghèo, năm 2020,số hộ nghèo của xã còn 94 hộ, giảm 92 hộ so với 2019, tỷ lệ hộ nghèo còn 7,9% Tỷ lệ hộkhá và giàu tăng lên Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã là 40 triệu đồng

Câu 2 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Vận dụng nguyên lý đó trong công tác đánh giá, sắp xếp tổ chức cán bộ ở cơ sở.

Trả lời:

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

*Khái niệm sự liên hệ phổ biến nói lên sự ràng buộc, phụ thuộc, tác động lẫn nhau

giữa các sự vật hiện tuợng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố cấu thành của chúng, trong đó

Trang 5

sự tác động lẫn nhau là nội dung quan trọng nhất của sự liên hệ.

* Tính chất: Sự liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tuợng có tính khách quan vì

những mối liên hệ hiện thực của bản thân thế giới vật chất là tự có, là thuộc tính cố hữucủa vật chất chứ không do thần linh thuợng đế hay " ý niệm tuyệt đối" nào đó sinh ra cả

Sự liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tuợng có tính phổ biến Mọi sự vật đều tồn tạitrong trong mối quan hệ giữa các sự vật hiện tuợng khác nhau Sự liên hệ giữa các sự vậthiện tuợng trong thế giới là rất phong phú và đa dạng: liên hệ bên trong và liên hệ bênngoài, liên hệ cơ bản và liên hệ không cơ bản, liên hệ chủ yếu và liên hệ thứ yếu, liên hệchung và liên hệ đặc thù, liên hệ trực tiếp và liên hệ gián tiếp, liên hệ không gian và liên

hệ thời gian

* Nội dung nguyên lý:

- Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều luôn luôn tồn tại trong các mối liên hệ xácđịnh (tồn tại trong các mối liên hệ phổ biến) và trong vô vàn các mối liên hệ khác nhautức là luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến đổi tác động tới

nó Như vậy mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng khách quan tất yếu tácđộng đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…

- Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thì cácmối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò Đó là các mối liên hệ bêntrong và bên ngoài.Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hoálẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật Mối liên hệ này giữ vaitrò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệgiữa các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ này nói chung không giữ vai trò quyết định đốivới sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật

* Ý nghĩa phuơng pháp luận:

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm toàn diệntức là khi nghiên cứu sự vật hiện tuợng thì phải xem xét chúng trong tất cả các mối liên

hệ, tất cả các tác động qua lại giữa chúng, hoặc tât cả các mối liên hệ, các tác động qualại các mặt, các bộ phận cấu thành của chúng, phải đặt sự vật hiện tuợng trong các điềukiện không gian, thời gian nhất định, phải nghiên cứu quá trình vận động, phát triển trongquá khứ, hiện tại, tuơng lai

2 Nguyên lý về sự phát triển.

* Khái niệm:

Theo quan điểm siêu hình thì phát triển là sự tăng lên hay giảm xuống thuần tuý vềmặt số luợng mà không có sự thay đổi về chất, hoặc nếu có sự thay đổi về chất thì diễn ra

Trang 6

trong phạm vi khép kín giản đơn Quan điểm duy tâm nói chung cũng đều phủ nhận sựphát triển nếu có thừa nhận cũng quy nguồn gốc của sự phát triển về các lực luợng siêunhiên như ý niệm tuyệt đối, thần linh, thuợng đế phủ nhận nguồn gốc vật chất kháchquan của sự phát triển Theo phép biện chứng duy vật thì phát triển là một phạm trù triếthọc dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phứctạp, từ kém hoàn hiện đến hoàn thiện hơn.

- Phát triển là những quá trình biến đổi với 3 đặc trưng sau:

+ Sự biến đổi về chất ở trình độ mới cao hơn

+ Quá trình biến đổi về mặt cơ cấu tổ chức hệ thống và về cơ chế phương thứchoạt động của hệ thống

+ Là sự biến đổi diễn ra một cách toàn diện hoá

* Tính chất:

- Tính khách quan của sự phát triển: Nguồn gốc và động lực của sự phát triển nằmngay trong bản thân các sự vật hiện tuợng, do các mâu thuẫn của chúng quy định, nhờvào sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong của sự vật hiện tuợng đãquy định quá trình vận động và phát triển của chúng Tính khách quan của sự phát triểnthể hiện trong các quy lụât lượng -chất, quy luật phủ định của phủ định

- Tính phổ biến của sự phát triển: phát triển là khuynh huớng chung nhất, chủ yếunhất của sự vật hiện tuợng trong thế giới, cả trong tự nhiên, xã hội, tư duy Trong giới tựnhiên hữu sinh sự phát triển càng ngày càng rõ rệt của các loài sinh vật từ thấp tới cao,cấu trúc cơ thể ngày càng phức tạp, từ đơn giản đến đa bào, từ động vật bậc thấp đếnđộng vật bậc cao Các chức năng của sự sống cũng phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.TRong xã hội sự phát triển biểu hiện ở việc nâng cao khả năng lao động và tư duy, thôngqua sự phát triển của các phuơng thức sản xuất giúp con người nâng cao năng lực chinhphục tự nhiên, cải tạo thế giới

* Nội dung nguyên lý:

- Phát triển là những khuynh hướng khách quan và phổ biến ở trong mọi lĩnh vựccủa tự nhiên xã hội, nhận thức, tư duy trong giới tự nhiên đó là quá trình phát triển từ vậtchất đơn giản đến phức tạp hơn, trong nhận thức từ chưa biết chính xác đến chính xáchơn

- Tính khách quan và phổ biến ở các quá trình phát triển còn thể hiện ở chỗ: trongcác quá trình biến đổi luôn luôn bao hàm khả năng, cơ hội tạo ra cái mới ở trình độ caohơn

- Mọi con đường của sự phát triển dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau

Trang 7

do đó không bao giờ là con đường thẳng, luôn luôn quanh co phức tạp Trên con đườngphát triển bao hàm nhiều giai đoạn không loại trừ những bước thụt lùi tạm thời.

- Quy luật phát triển: Mọi quá trình phát triển dù diễn ra với những con đường và

mô hình khác nhau nhưng tất cảđều tuân theo những quy luật chung trong đó có 3 quyluật cơ bản của mọi quá trình phát triển:

+ Quy luật thay đổi dần về lượng dẫn đến thay đổi nhảy vọt về chất ( quy luật vềphương thức phát triển )

+ Quy luật vè nguồn gốc vàđộng lực của sự phát triển ( quy luật về thống nhấtvàđấu tranh các mặt đối lập )

+ Quy luật về hình thức có tính chu kỳ của sự phát triển ( quy luật phủđịnh củaphủđịnh)

* Ý nghĩa phương pháp luận

Nguyên lý về sự phát triển đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm phát triển trongnhận thức khoa học và trong hoạt động thực tiễn Khi nhận thức các sự vật hiện tuợngchúng ta chúng ta không chỉ vạch ra quá trình vận động mà còn phải vạch ra khưynhhuớng phát triển của chúng, đặt chúng trong phạm vi rộng lớn của thế giới và trong điềukiện lịch sử cụ thể để thấy đuợc khuynh huớng phát triển thông qua những buớc quanh

co, phức tạp phải thấy đuợc quá trình phát sinh, phát triển, diệt vong của sự vật hiệntuợng, xây dựng niềm tin khoa học vào sự tất thắng của cái mới, cái tiến bộ

Liên hệ thực tiễn

+ Nhiệm vụ chính trị của cơ quan hoặc đặc thù của địa phương.

+ Có quán triệt quan điểm toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể khi thực hiện công tác cán bộ không?

+ Xây dựng phương pháp cách thức làm việc khoa học, có kế hoạch, vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong nhận thức và giải quyết các vấn đề của công tác cán bộ như thế nào? (Có xem xét một cách toàn diện, nhìn nhận trong xu hướng phát triển, có trọng tâm trọng điểm, có đột phá có cách làm hay, sự sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn không? Có chống lại các sự phiến diện một chiều, bảo thủ, định kiến, trì trệ không? ) +Có những giải pháp nào để nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị, giữ vững bản lĩnh chính trị trước những bước quanh co, phức tạp của sự phát triển của lịch sử? (sử dụng đồng bộ các biện pháp như thế nào? Sự nỗ lực phấn đấu của bản thân? ) + Đã có những giải pháp nào để vận dụng các quan điểm toàn diện, phát triển trong xem xét, đánh giá quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ ?

Đảng ta đã và đang vận dụng 2 nguyên lý vào trong đánh giá xắp xếp cán bộ rất tốtđánh giá từ cao đến đến thấp, dần dần hoàn thiện hơn về trình độ mọi mặt của cán bộcông chức từ cấp cơ sở đến cấp lãnh đạo cao hơn Dần dần hoàn chỉnh hơn về trình độ

Trang 8

đưa ra yêu cầu nhiệm vụ từ thấp đến cao Từ đơn giản đến phức tạp, đáp ứng được yêucầu đó cũng bắt nguồn từ trình độ học vấn.

Như tỉnh ta cũng đang hoàn thiện dần dần hơn về trình độ của cán bộ công chức.thực hiện tốt các đề án xây dựng cán bộ, từ khâu tuyển chọn đầu vào Yêu cầu về trình độcao hơn Trình độ chuyên môn đúng hơn với yêu cầu từng nhiệm vụ

Câu 3 Quy luật Lượng - chất và vận dụng trong lĩnh vực công tác của mình (cho ví

dụ cụ thể)

Trả lời:

Sử dụng nội dung lý thuyết trong sgk

- Khái niệm chất, lượng

- Mqh

- Ý nghĩa pp luận

Theo quan điểm của Triết học Mác - Lenin, bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũngbao gồm mặt chất và mặt lượng Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật,hiện tượng Phép biện chứng duy vật đưa ra khái niệm chất, lượng và quan hệ qua lạigiữa chúng như sau:

Chất

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sựvật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiệntượng khác Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nênchính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác

Chất có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, do những thuộc tính,những yếu tố cấu thành quy định Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạngthái, những yếu tố cấu thành sự vật Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật đượcsinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó Tuy nhiên nhữngthuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lạivới các sự vật, hiện tượng khác

Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính trong đó mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chấtcủa sự vật Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ,không tách rời nhau Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất

và không thể có chất nằm ngoài sự vật Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc

Trang 9

tính của nó Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật.Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản.

Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật Chính chúngquy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổihay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi Những thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ quacác mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác Sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơbản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính chất tương đối, tùy theo từng mốiquan hệ Chất của sự vật không những quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành màcòn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật.Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tố như nhau, song chất của chúnglại khác nhau

Mỗi sự vật có vô vàn chất: vì sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩatương đối, song sự vật có vô vàn thuộc tính nên có vô vàn chất Chất và sự vật khôngtách rời nhau: chất là chất của sự vật, còn sự vật tồn tại với tính quy định về chất của nó.Chất biểu hiện trạng thái tương đối ổn định của sự vật, là sự kết hợp tương đối trọn vẹn,hoàn chỉnh, bền vững các thuộc tính của sự vật, làm cho sự vật này không hòa lẫn với sựvật khác mà tách biệt cái này với cái khác Chất luôn gắn liền với lượng của sự vật

Lượng

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số

của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó Lượng là cáikhách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó Lượng của sự vật không phụthuộc vào ý chí, ý thức của con người Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hayngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanhhay chậm…

Những lượng không tồn tại mà những sự vật có lượng hơn nữa những sự vật có vôvàn lượng mới tồn tại

Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lượng

cụ thể như vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây hay một phân tử nước baogồm hai nguyên tử hydrô liên kết với một nguyên tử oxy,… bên cạnh đó có những lượngchỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độ nhận thức tri của mộtngười ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một công dân, trong những trường hợp đóchúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và kháiquát hoá

Trang 10

Có những lượng biểu thị yếu tố kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tửhợp thành nguyên tố hoá học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội) có nhữnglượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của

sự vật) Bản thân lượng không nói lên sự vật đó là gì, các thông số về lượng không ổnđịnh mà thường xuyên biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của sự vật, đó là mặtkhông ổn định của sự vật

Nội dung quy luật

Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất bao gồm chất và lượng nhất định,trong đó chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi Sự biến đổi này tạo ramâu thuẫn giữa lượng và chất Lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong nhữngđiều kiện nhất định thì lượng phá vỡ chất cũ, mâu thuẫn giữa lượng và chất được giảiquyết, chất mới được hình thành với lượng mới, nhưng lượng mới lại biến đổi và phá vỡchất đang kìm hãm nó Quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng tạo nên

sự vận động liên tục, từ biến đổi dần dần đến nhảy vọt, rồi lại biến đổi dần để chuẩn bịcho bước nhảy vọt tiếp theo Cứ căn cứ thế, quá trình động biện chứng giữa chất vàlượng tạo nên cách thức vận động, phát triển của sự vật

Nói ngắn gọn hơn, bất cứ sự vật nào trong quá trình phát triển đều là quá trình biếnđổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất Biến đổi về lượng đến một mức nhất định sẽ dẫnđến biến đổi về chất, sản sinh chất mới Rồi trên nền tảng của chất mới lại bắt đầu biếnđổi về lượng Biến đổi về lượng là nền tảng và chuẩn bị tất yếu của biến đổi về chất Biếnđổi về chất là kết quả tất yếu của biến đổi về lượng Quy luật biến đổi về chất và lượngcho thấy trạng thái và quá trình phát triển của sự vật

Khái niệm độ

Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giớihạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật, sựvật chưa biến thành cái khác Trong giới hạn của độ, lượng và chất tác động biện chứngvới nhau, làm cho sự vật vận động

Chu trình thay đổi

Từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Trong mối quan hệ giữachất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn định, còn lượng là mặt biến đổi hơn Sự vậnđộng và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Song khôngphải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc,mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật

So với lượng thì chất thay đổi chậm hơn Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn

Trang 11

nhất định (độ) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất, sự vật không còn là nó nữa, một sựvật mới ra đời thay thế nó.

Tại thời điểm lượng đạt đến một giới hạn nhất định để vật thay đổi về chất gọi làđiểm nút Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi vềlượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật

Khi có sự thay đổi về chất diễn ra gọi là bước nhảy Bước nhảy là sự kết thúc mộtgiai đoạn biến đổi về lượng, là sự đứt đoạn trong liên tục, nó không chấm dứt sự vậnđộng nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng vận động cụ thể, tạo ra một bước ngoặt mớicho sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong một độ mới

Các hình thức cơ bản của bước nhảy Bước nhảy để chuyển hoá về chất của sự vậthết sức đa dạng và phong phú với những hình thức rất khác nhau Những hình thức bướcnhảy khác nhau được quyết định bởi bản thân của sự vật, bởi những điều kiện cụ thểtrong đó sự vật thực hiện bước nhảy

Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật, có thể phân chiathành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần Bước nhảy đột biến là bước nhảy đượcthực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của

sự vật Chẳng hạn, khối lượng Uranium 235(Ur 235)được tăng đến khối lượng tới hạn thì

sẽ xảy ra vụ nổ nguyên tử trong chốc lát Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thựchiện từ từ, từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và nhữngnhân tố của chất cũ dần dần mất đi Bước nhảy dần dần khác với sự thay đổi dần dần vềlượng của sự vật Bước nhảy dần dần là sự chuyển hoá dần dần từ chất này sang chấtkhác còn sự thay đổi dần dần về lượng là sự tích luỹ liên tục về lượng để đến một giớihạn nhất định sẽ chuyển hoá về chất

Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật có bước nhảy toàn bộ, có bướcnhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, cácyếu tố cấu thành sự vật Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của từng mặt,những yếu tố riêng lẻ của sự vật

Khi lượng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời thay thếcho chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng mới này tiếptục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới Cứ như vậy, quá trình vận động,phát triển của sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay đổi về lượng dẫn đến nhữngthay đổi về chất một cách vô tận Đó là quá trình thống nhất giữa tính tuần tự, tiệm tiến,liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận động, phát triển

Tác động ngược

Trang 12

Sự thay đổi về chất tác động trở lại đối với sự thay đổi về lượng Lượng thay đổiluôn luôn trong mối quan hệ với chất, chịu sự tác động của chất Song sự tác động củachất đối với lượng rõ nét nhất khi xảy ra bước nhảy về chất, chất mới thay thế chất cũ, nóquy định quy mô và tốc độ phát triển của lượng mới trong một độ mới Khi chất mới rađời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, đượcbiểu hiện ở chỗ: chất mới sẽ tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có sự thống nhấtmới giữa chất và lượng Sự quy định này có thể được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ vàmức độ phát triển mới của lượng.

Liên hệ thực tiễn

- Nêu lĩnh vực công tác của bản thân

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn có thống nhất giữa chất và lượng không?

- Trong hoạt động của bản thân có những chương trình, kế hoạch, có những phương hướng, giải pháp, cách thức thực hiện như thế nào để đạt kết quả cao (Tích lũy lượng để chuyển hóa về chất…), có những bước nhảy như thế nào…

- Có chủ quan nóng vội đốt cháy giai đoạn hay bảo thủ trì trệ trong thực hiện nhiệm vụ không?

- Có chấp hành những nội quy, quy chế, quan điểm đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước như thế nào để luôn giữ đúng chuẩn mực, bản lĩnh của người cán

bộ đảng viên, từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao….

Qua quy luật lượng và chất trên cương vị người cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản

Hồ Chi Minh tôi nhận thấy những thách thức và cơ hội với lực lượng đoàn thanh niênnhư sau;

Đảng và Nhà nước ta khẳng định vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niêntrong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá VII) chỉ rõ: "Sự nghiệp đổi mới

có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trên cộngđồng thế giới hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên; vào việc bồidưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc,

là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng"

Thanh niên là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khoẻ, có trình độ học vấn, có tiềmnăng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại Trong giai đoạn cáchmạng mới, với bối cảnh thế giới biến động phức tạp, trước những thách thức to lớn của

xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, sự phát triển của kinh tế tri thức, Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX khẳng định: Thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, là nguồn nhân lựcquyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Hiện nay, thanh niên nước ta đang đứng trước những thời cơ, thách thức là:

Trang 13

- Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp, xây dựng, khai thác và cáckhu công nghệ cao là cơ hội để cho hàng vạn thanh niên trở thành người lao động cóchuyên môn, đứng vào hàng ngũ của giai cấp công nhân.

- Sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức là cơ hội để tuổi trẻthể hiện tài năng, cống hiến trí tuệ cho đất nước Việc mở rộng hợp tác và giao lưu quốc

tế tạo điều kiện cho tuổi trẻ tiếp cận nhiều và nhanh hơn kinh nghiệm, tri thức quốc tế,tinh hoa văn hoá nhân loại

- Bước trưởng thành của thanh niên và tổ chức Đoàn, sự phát triển mạnh mẽ củaphong trào "Thanh niên tình nguyện", cùng với tính tích cực chính trị - xã hội của đôngđảo thanh niên được khơi dậy và phát huy là thời cơ để đẩy mạnh công tác đoàn kết, tậphợp thanh niên vào tổ chức

có chuyên môn, nghề nghiệp và thiếu năng lực sáng tạo Tác động của mặt trái nền kinh

tế thị trường, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội tác động mạnh mẽ vào giới trẻ, lànhững thách thức lớn đến giá trị đạo đức và lối sống của thanh niên nước ta

Đảng ta xác định nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là: Kiên định conđường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Tiếp tục đường lối đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trang 14

Trên cơ sở nhiệm vụ cách mạng của Đảng và thực tiễn công tác Đoàn và phong tràothanh niên hiện nay, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII đã xác định nhiệm vụ chính trịcủa thanh niên Việt Nam là: "Rèn luyện về lý tưởng, đạo đức cách mạng, về trình độ họcvấn, chuyên môn, nghề nghiệp, về thể chất, xung kích đi đầu tham gia phát triển kinh tế -

xã hội, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếuniên Tiền phong Hồ Chí Minh vững mạnh, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanhniên, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh"

Khẩu hiệu hành động là: "Tuổi trẻ Việt Nam thi đua học tập, rèn luyện, lao động sángtạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"

Phong trào thi đua lớn là: "Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", với 4nội dung:

1 Thi đua học tập, đi đầu xây dựng xã hội học tập và tiến quân vào khoa học công

nghệ

Trong giai đoạn phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức, việchọc tập để đáp ứng với sự phát triển đó trở thành yêu cầu và nhu cầu thiết thân đối vớimỗi thanh niên

- Tinh thần và thái độ học tập của thanh niên phải là: Học để làm người, học đểphụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân; học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau, học ởnhân dân, học suốt đời, thanh niên phải đi đầu trong một xã hội học tập

- Học tập toàn diện: Văn hoá, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học…Tích cực nghiên cứu khoa học, tuyên truyền ứng dụng khoa học kỹ thuật, hăng hái thamgia các hoạt động sáng tạo

2 Thi đua lập nghiệp, lao động sáng tạo, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu

lao động và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện mới

- Thi đua lập thân, lập nghiệp, xoá đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.Phát triển rộng rãi phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi; đẩy mạnh phong trào tiết kiệm,tích luỹ trong thanh niên

- Đẩy mạnh hoạt động lao động sáng tạo với tri thức và công nghệ mới, với năng suất

và chất lượng sản phẩm cao hơn trước Đẩy mạnh hoạt động “Sáng tạo trẻ”, phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới

3 Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, xung kích thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã

hội Đặc biệt ở những lĩnh vực, địa bàn và đối tượng khó khăn

Trang 15

- Tổ chức và tích cực tham gia các phong trào tình nguyện Tổ chức thường xuyêncác hoạt động tình nguyện tại chỗ, ngày thứ bảy tình nguyện, chủ nhật xanh; thành lậpcác đội hình thanh niên tình nguyện đảm nhận các việc khó, việc mới, những vấn đề bứcxúc; tích cực tham gia bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai Tình nguyện giúp đỡngười già, gia đình chính sách, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Tích cực và gương mẫutham gia xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

- Xung kích thực hiện các chương trình dự án Tham gia thực hiện các dự án quốc gia

về phát triển kinh tế biển đảo, xây dựng đường Hồ Chí Minh, xây dựng cầu nông thônmới và khu dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long Chủ động đề xuất đảm nhận các dự án,các công trình, phần việc thanh niên tham gia phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

4 Xung kích bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội.

- Hăng hái tham gia các hoạt động xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gương mẫuthực hiện luật nghĩa vụ quân sự, thường xuyên học tập nâng cao nhận thức về tình hình,nhiệm vụ mới, ý thức cách mạng, nhận rõ âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lựcthù địch

- Tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữgìn an toàn giao thông, đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội

- Tham gia có hiệu quả phong trào "Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”,

“Khoẻ để giữ nước” và cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới, hải đảo"

- Trong thanh niên Quân đội, đẩy mạnh phong trào "Giành 3 đỉnh cao quyết thắng"

và cuộc vận động "Thanh niên Quân đội mẫu mực xây dựng chính qui” với 5 nội dung:Mẫu mực về đạo đức, lối sống; mẫu mực về hành động theo điều lệnh; mẫu mực về lễtiết, tác phong quân nhân; mẫu mực về nội vụ vệ sinh; mẫu mực về kỷ luật tự giác,nghiêm minh

- Trong thanh niên Công an, thi đua thực hiện tốt phong trào "Thanh niên Công anhọc tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy" cụ thể là phong trào "2 thi đua, 2 tình nguyện", với

4 nội dung là: Thi đua rèn đức, luyện tài; thi đua xung kích lập công; tình nguyện tăngcường cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở; tình nguyện chung sức cùngcộng đồng

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, người thanh niên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đạihoá phải là người có lý tưởng và đạo đức cách mạng; có lối sống văn hoá; có ý chí tự tôn,

tự cường dân tộc, có trình độ học vấn, giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp; có sức khoẻ tốt;

có năng lực, tiếp cận và sáng tạo công nghệ mới, có ý chí chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu,phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy,mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải:

Trang 16

- Trau dồi về lý tưởng, rèn luyện đạo đức Sống có văn hoá, chấp hành nghiêm chỉnhcác chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước Gương mẫu trong cộngđồng, làm tròn bổn phận của người công dân.

- Tích cực học tập nâng cao trình độ về chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ

Ra sức nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, trình độ ngoại ngữ, tin học Vươn lên nắmvững khoa học, kỹ thuật, công nghệ

- Hăng hái tham gia các hoạt động tình nguyện, ngày thứ bảy tình nguyện; tham giacác đội hình thanh niên tình nguyện, sẵn sàng đảm nhận việc khó, việc mới, những vấn

đề bức xúc; chủ động tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn quốc phòng, an ninh ởmỗi địa phương, đơn vị

- Phấn đấu nâng cao chất lượng của người đoàn viên; tích cực tham gia các hoạt độngcủa Đoàn, Hội, Đội; mỗi đoàn viên gắn hoạt động của mình với hoạt động của tập thểthanh niên nơi mình sinh sống hoặc công tác

Người đoàn viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trước hết phảilà:

Người công dân tốt;

Người bạn tốt của thanh niên;

Là tấm gương tốt của thiếu nhi;

Là người có uy tín trong tập thể thanh niên và cộng đồng dân cư

Qua vai trò, nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, từ đó Đoàn thanh niên xã cũng có nhữngđịnh hướng về chính trị, cũng như định hướng phát triển kinh tế bằng các lớp bồi dưỡngcủa Đoàn cũng như các tổ chức chính trị,các doanh nghiệp từ đó thanh niên cũng địnhhướng tìm ra con đường phát triển của bản thân, gia đình góp phần xây dựng quê hươngđất nước ngày càng giàu mạnh

Câu 4 Vấn đề giữa lý luận và thực tiễn Vận dụng nguyên tắc đó trong lĩnh vực công tác của mình như thế nào.

Trả lời:

I Khát quát về lý luận và thực tiễn (sử dụng sgk)

( - Khái niệm: Thực tiễn, lý luận

- Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa PPL)

Trang 17

1 Thực tiễn:

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là những hoạt động vật chất-cảmtính, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Thực tiến có 3 đặc trưng sau:

Một là: Thực tiễn không phải tất cả các hoạt động của con người, mà chỉ là nhữnghoạt động vật chất-cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng vật chất,lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng

Hai là: Thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt độngthực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia đông đảongười và trải qua những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định

Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục

vụ con người tiến bộ

Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, song có thể chia thành ba loại cơ bản:

- Hoạt động sản xuất vật chất: Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chấtthỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người

- Hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội

- Hoạt động thực nghiệm khoa học: Đây là hoạt động thực tiễn đặc biệt, bởi lẽtrong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vậndụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới

Trong ba loại trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quyết định đối với cácloại hoạt động thực tiễn Còn hoạt động chính trị - xã hội là hình thức cao nhất của thựctiễn Hoạt động khoa học là loại hình đặc biệt nhằm thu nhận kiến thức từ tự nhiên và xãhội

2 Lý luận

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là những tri thức được khái quát từkinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quyluật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý,quy luật, phạm trù

Như vậy, lý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức về bản chất, quyluật của hiện thực khách quan Nhưng do là sản phẩm của nhận thức, nên lý luận là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan.Lý luận càng vững, ta càng có cơ hội thành côngtrong sự nghiệp

Lý luận có những đặc trưng sau:

Trang 18

Một là, Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ.

Hai là, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn, không có tri thứckinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận

Ba là, Lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật hiện tượng

II Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

1 Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận.

Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là hoạt động vật chất, sản xuất ra mọi thứ; còn lý luận làsản phẩm tinh thần, phản ánh thực tiễn

Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận Tức là, thực tiễn là bệ phóng, cung cấpcác nguồn lực cho lý luận Thực tiễn còn vạch ra tiêu chuẩn cho lý luận

Thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sứcmạnh cải tạo thế giới khách quan

2 Tuy nhiên, lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thựctiễn

Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làmbiến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người

Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn.Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cáchmạng”

Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất

Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra nhữngphương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn Lý luận khoa học làm cho hoạt độngcủa con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát Vì vậy, Bác

Hồ đã ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”

Tuy nhiên, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao của sự phản ánh hiện thực nên lýluận có thể xa rời thực tiễn và trở nên ảo tưởng

Khả năng tiêu cực đó càng tăng lên nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi những tưtưởng không khoa học hoặc phản động Vì vậy, phải coi trọng lý luận, nhưng không đượccường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn.Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễntrong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng

Như Bác Hồ đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên

Trang 19

tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.

III Ý nghĩa phương pháp luận

Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từthực tiễn của địa phương, thực tiễn ngành, đất nước

Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn bó với hành

Ba là, phải đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp cácluận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước Lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng saicủa lý luận

- Không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận tronglao động, công tác, sản xuất Nếu không coi trọng vai trò của lý luận, ta sẽ rơi vào chủnghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm Nếu không có lý luận, ta sẽ ở vào tình trạng mòmẫm, không phương hướng, không xác định được các chương trình, kế hoạch khả thi.Ngược lại, ta không được đề cao vai trò của lý luận đến mức xem nhẹ thực tiễn, rời vàobệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí Việc xa rời thực tiễn sẽ đưa đến những chương trình,

kế hoạch viển vông, lãng phí nhiều sức người, sức của

Liên hệ thực tiễn:

- Công việc cụ thể của bản thân Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa nói và làm, có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn không? Có mắc bệnh kinh nghiệm và giáo điều không?

- Trong nhận thức và thực hiện nhiệm vụ có căn cứ vào điều kiện cụ thể, hoàn cảnh thực tế, có xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người, của ngành của tỉnh không?

- Cá nhân học tập và vận dụng lý luận vào thực tiễn như thế nào? Có tích cực nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận để áp dụng và thực tiễn hay không?

- Có tích cực học tập nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn để vận dụng một cách sáng tạo, chủ động, phù hợp vào công việc không? Có chủ động đánh giá kết quả công việc để rút kinh nghiệm trong công tác ở cơ quan, đơn vị hay không? Có lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng như nhận thức không? Cá nhân có gương mẫu thực hiện nói đi đôi với làm không?

- Bản thân có biện pháp gì để chống bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm?

Trang 20

- Đã học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin sâu rộng từ

đó làm cho thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật đóng vai trò chủ đạo trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, thâm nhập thực tiễn để tổng kết thực tiễn như thế nào?

Viễn Sơn là một xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiệnkinh tế-xã hội đặt biệt khó khăn, xã có dân số vào khoảng 3800 nhân khẩu, trong đó đồngbào dân tộc dao chiếm 70%, dân tộc kinh chiếm 25%, dân tộc khác chiếm 5% Xã có địahình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều khe suối, trình độ dân trí còn thấp, kinh tế chậm pháttriển, dân cư phân bố không tập trung Bộ máy cấp xã gồm: Đảng ủy, HĐND, UBND,UBMTTQ, các đoàn thể chính trị-xã hội và các tổ chức xã hội Đảng bộ xã có 210 đảngviên chính thức, trong đó đảng viên có trình độ Đại học 60 đồng chí, đảng viên có trình

độ cao đẳng 20 đồng chí, đảng viên có trình độ trung cấp 10 đồng chí; trình độ lý luậnchính trị trung cấp: 35 đồng chí, sơ cấp 185 đồng chí Trong những năm qua, Đảng ủy xãViễn Sơn đã quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị-tư tưởng cho đảng viên, qua đónâng cao nhận thức của đảng viên

Tại xã Viễn Sơn các hoạt động thực tiễn gồm 3 dạng cơ bản là hoạt động sản xuất,hoạt động chính trị-xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học

Đối với hoạt động của Đảng, các đoàn thể và hoạt động quản lý nhà nước củachính quyền luôn gắn liền giữa lý luận và thực tiễn Đảng bộ xã đã gắn lý luận với thựctiễn trong công tác giáo dục và rèn luyện theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ ChíMinh thông qua Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với Chỉ thị05-CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ,

đảng viên xã hàng năm đều xây dựng bản cam kết tu dưỡng rèn luyện phấn đấu của đảngviên, đảng viên luôn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn một số đảng viên còn lười học lý luận, còn mắcbệnh kinh nghiệm, khinh lý luận Do vậy, cần sàng lọc và tăng cường công tác giáo dụcchính trị-tư tưởng cho một bộ phận nhỏ đảng viên lười học lý luận để họ hiểu tầm quantrọng của việc học tập lý luận, thống nhất giữa lời nói và việc làm, luôn gắn liền lý luậnvới thực tiễn

Đối với lĩnh vực chuyên môn, bản thân không ngừng học hỏi, làm giàu tri thứcthông qua tích lũy kinh nghiệm công tác và hoạt động công vụ Chủ động nghiên cứu họctập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện nói đi đôi với làm,luôn gắn lý luận với thực tiễn không tuyệt đối hóa lý luận cũng như thực tiễn Qua hoạtđộng thực tiễn làm tốt công tác chuyên môn được giao, kịp thời phản ánh, kiến nghị sửa

Trang 21

đổi các quy định không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho người dân, cản trở sựphát triển của xã hội.

Câu 5 Quy luật lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Vận dụng lý luận đó vào hoạt động thực tiễn của địa phương (xã, huyện) mình như thế nào để phát triển lực lực sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Trả lời:

Khái niệm lực lượng sản xuất(Sử dụng kn theo giáo trình)

+ Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dungvật chất, kỹ thuật, công nghệ,… của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cảibiến giới tự nhiên của con người Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vaitrò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người

+ Các yếu tố (nhân tố) tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong

đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của conngười) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quantrọng)

Trong hai nhóm yếu tố nói trên, người lao động là nhân tố quan trọng nhất (bởi vì,

tư liệu sản xuất có nguồn gốc từ lao động của con người và được sử dụng bởi con người)

Khái niệm quan hệ sản xuất

+ Khái niệm quan hệ sản xuất dùng để chỉ tổng thể mối quan hệ kinh tế (quan hệgiữa người với người về mặt thực hiện lợi ích vật chất trong quá trình sản xuất và tái sản

xuất xã hội) (Sử dụng kn theo giáo trình)

+ Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệtrong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quátrình sản xuất đó

Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mổì quan hệ thống nhất và chi phối,tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu vể tư liệu sản xuất

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thốngnhất biện chứng (phụ thuộc, ràng buộc nhau, tác động lẫn nhau) tạo thành quá trình sảnxuất hiện thực của xã hội

Trang 22

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sảnxuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệsản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó Trong đòi sống hiện thực, không thể có sựkết hợp các nhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đốitượng vật chất tự nhiên lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định.Ngược lại, cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiệnthực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chất của nó.

Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau,thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuấthiện thực của xã hội Tương ứng với thực trạng phát triển nhất định của lực lượng sảnxuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với thực trạng đó trên cả baphương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức – quản lý và phân phối Chỉ có như vậy, lựclượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác – sử dụng và không ngừng phát triển.Ngược lại, lực lượng sản xuất của một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác – sử dụng

và phát triển trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biệnchứng nhưng trong đó, vai trò quyết định thuộc về lực lương sản xuất, còn quan hệ sảnxuất giữ vai trò tác động trở lại lực lượng sản xuất

Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theonguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lựclượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản xuất chỉ là hìnhthức kinh tế của quá trình sản xuất còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuậtcủa quá trình đó

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sảnxuất, nó luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng sảnxuất Sự tác động này có thể diễn ra theo chiểu hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụthuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng và nhucầu khách quan của sự vận động, phát triển lực lượng sản xuất Nếu “phù hợp” sẽ có tácdụng tích cực và ngược lại, “không phù hợp” sẽ có tác dụng tiêu cực

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ có baohàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập làm phát sinh mâu thuẫn cần được giảiquyết để thúc đẩy sự tiếp tục phát triển của lực lượng sản xuất

Trong phạm vi tương đối ổn định của một hình thức kinh tế xác định, lực lượngsản xuất của xã hội được bảo tồn, không ngừng được khai thác – sử dụng và phát triểntrong quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội

Trang 23

Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất càng cao thìlực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển của lực lượngsản xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của những quan hệ sản xuất

từ trước đến nay đóng vai trò là hình thức kinh tế cho sự phát triển của nó Những quan

hệ sản xuất này, từ chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của cáclực lượng sản xuất đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó, nó đã tạo ramột mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó xuất hiện nhu cầukhách quan phải thiết lập lại mối quan hệ thông nhất giữa chúng theo nguyên tắc quan hệsản xuất phải phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất

Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất, C Mác đã từng chỉ ra rằng: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó củachúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuấthiện có… trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ lànhững hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành nhữngxiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xãhội” Chính nhờ các cuộc cách mạng xã hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hộiđược thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lựclượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triểncủa lực lượng sản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất mới

Ý nghĩa phương pháp luận

+ Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội, cần phải căn cứ vàothực trạng (tình hình thực tế) phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác lập nó chophù hợp chứ không phải căn cứ vào ý muốn chủ quan Chỉ có như vậy mới có thể tạo rađược hình thức kinh tế thích hợp cho việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và pháttriển lực lượng sản xuất của xã hội

+ Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất vớiquan hệ sản xuất đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cảicách, đổi mới,…) mà cao hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết đượcmâu thuẫn này

Ví dụ, trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa vào trước những năm 80của thế kỷ XX, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí, chưatuân theo thật đúng yêu cầu của quy luật này Do đó đã dẫn đến tình trạng lực lượng sảnxuất hiện có không được bảo tồn, tái tạo và phát triển tốt Thực tế đó là nguyên nhân cănbản và sâu xa dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế lớn, buộc các nước này phải tiến hànhnhững cuộc cải ách, đổi mới theo hướng tạo lập sự phù hợp của quan hệ sản xuất với

Trang 24

thực tế trình độ phát triển lực lượng sản suất, nhờ đó lực lượng sản xuất của xã hội từngbước được phục hồi và phát triển.

Liên hệ

- Khái niệm:

+ Phương thức sản xuất: Cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất được gọi là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất bao gồm hai mặt có mối quan hệ mật thiết: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

+ Lực lượng sản xuất: Là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Kết cấu LLSX: Người lao động (sức khỏe, trình độ, kỹ năng)

Tư liệu sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động, kết cấu

hạ tầng

Ngày nay khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

+ Quan hệ sản xuất: Là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất Kết cấu: QHSX được cấu thành từ các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ phân phối sản phẩm lao động, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định

- Nội dung quy luật

+ Biện chứng giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ khách quan, vốn có của mọi quá trình sản xuất vật chất

+ Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX:

Khuynh hướng của sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều tiến bộ Sự biến đổi đó, xét đến cùng, bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động.

QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sự phù hợp biện chứng, sự phù hợp bao hàm mâu thuẫn

Giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX: Biện pháp thường xuyên là đổi mới, cải cách điều chỉnh quan hệ sản xuất trước mỗi sự phát triển của trình độ lực lượng

Trang 25

sản xuất; Khi mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã trở nên gay gắt, không thể giải quyết thông qua biện pháp cải cách, điều chỉnh được nữa, thì tất yếu phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

+Tác động trở lại của QHSX đối với LLSX: Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định hình thức tổ chức, quản lý sản xuất, quy định khuynh hướng phát triển của các nhu cầu về lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, từ đó hình thành hệ thống những yếu tố tác động trở lại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

+ Thúc đẩy: Khi QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.

+ Kìm hãm: Khi QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.

* Vận dụng:

- Thực trạng: Thực trạng các yếu tố cấu thành của LLSX và nêu qua QHSX:

+ Lực lượng sản xuất (Người lao động: Người lao động: độ tuổi, trình độ,…;Tư liệu sản xuất: Công cụ lao động (Thủ công hay hiện đại); Kết cấu hạ tầng Đối tượng lao động (Tự nhiên hay nhân tạo?); Áp dụng khoa học trong sản xuất như thế nào?)…

+ Quan hệ sản xuất: (Quan hệ sở hữu: Có những hình thức sở hữu nào, phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng vật nuôi ra sao, thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở địa phương như thế nào…?; Quan hệ tổ chức quản lý và phân công lao động Đảng bộ và chính quyền địa phương đã có những quan điểm gì trong lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế, xã hội…?; Quan hệ phân phối sản phẩm: Việc phân phối sản phẩm, thực hiện chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội như thế nào? )

- Phương hướng, giải pháp để phát triển các yếu tố đó Dựa vào các ý sau:

+ Địa phương đồng chí đã triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển LLSX và xây dựng QHSX mới ở địa phương như thế nào?

+ Địa phương đã có những biện pháp gì trong thực hiện nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương?

+ Đã đề ra những giải pháp gì trong phát triển nguồn nhân lực ở địa phương? Có quản lý, sử dụng, khai thác có hiệu quả những tiềm năng thế mạnh, điều kiện sẵn có của địa phương? Đã áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất như thế nào? Có

Trang 26

những biện pháp gì trong xây dựng hạ tầng cơ sở để phục vụ cho sản xuất nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương?

+ Đã làm được những gì và còn những hạn chế gì trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn? Những thành tựu và các giải pháp trong xây dựng nông thôn mới?

+ Các biện pháp giúp chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu kinh tế (ngành, vùng, thành phần kinh tế) ở địa phương như thế nào?

+ Có những giải pháp gì để phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước ở địa phương? Có giải pháp gì để phát huy các mặt tích cực và khắc phục các hạn chế của các thành phần kinh tế ở địa phương? Đã đề ra các biện pháp gì để hỗ trợ sản xuất, tiết kiệm chi phí, tránh lãng phí, đảm bảo quyền lợi của người lao động, hạn chế các mặt tiêu cực của kinh tế thị trường?

+ Có kết hợp phát triển kinh tế với đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực chiến đấu của Đảng bộ địa phương? Có biện pháp gì trong nâng cao hiệu quả quản

lý của nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, thực thi pháp luật nhằm phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương?

+ Có gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa - xã hội không?

Câu 6 Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội và ý nghĩa của nó

Trả lời:

1 Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội

* Khái niệm: Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong

đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thốngnhất với nhau

Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xãhội Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau Suy đến cùng,

Trang 27

sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫnnhau của các hình thái kinh tế - xã hội.

Quan hệ sản xuất là “quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã

hội khác” Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tác

động tích cực trở lại lực lượng sản xuất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan

hệ sản xuất đặc trưng cho nó Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt cácchế độ xã hội Các quan hệ sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội

Các quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học v.v các thiết chếtương ứng được hình thành, phát triển trên cơ sở các quan hệ sản xuất tạo thành kiến trúcthượng tầng của xã hội Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với

cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đãsinh ra nó

Ngoài các mặt cơ bản đã nêu trên, các hình thái kinh tế - xã hội còn có quan hệ vềgia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác Các quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ vớiquan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của quan hệ sản xuất

2 Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên

Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếpnhau Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội,C.Mác đã đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quátrình lịch sử - tự nhiên"(1)

Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt không ngừng tác độngqua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội Đó làquy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác.Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vậnđộng phát triển từ thấp đến cao

Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự phát triển của lựclượng sản xuất Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổiquan hệ sản xuất Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượngtầng thay đổi theo, và do đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình tháikinh tế - xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra một cách khách quan chứkhông phải theo ý muốn chủ quan V.I Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan hệ sảnxuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vữngchắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên"(2) Con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quy luật

Trang 28

chung, mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về chính trị, về truyền thống vănhóa, về điều kiện quốc tế v.v Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phongphú, đa dạng Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình Cónhững dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao; nhưng cũng

có những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó Tuy nhiên, việc

bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốnchủ quan

Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn rabằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiệnnhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định

3 Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội Sự rađời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hội một phương phápnghiên cứu thực sự khoa học Đó là:

Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết địnhcác mặt của đời sống xã hội Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chíchủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuấtphát từ phương thức sản xuất

Xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân,

mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lạilẫn nhau Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hộikhác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội Điều đó cho thấy, muốnnhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xãhội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sảnxuất thì mới có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống xã hội Chính quan hệ sản xuấtcũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa học

Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên,tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan Cho nên,muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động pháttriển của xã hội V.I Lênin viết: "Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng(chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép cóthể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiêncứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thànhmột hình thái xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và pháttriển của hình thái xã hội đó"

Trang 29

Kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác ra đời cho đến nay, loàingười đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi mặt, nhưng học thuyết đó vẫnnguyên giá trị Nó vẫn là phương pháp thực sự khoa học để nhận thức một cách đúng đắn

về đời sống xã hội Đương nhiên, học thuyết đó "không bao giờ có tham vọng giải thíchtất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp duy nhất khoa học để giải thích lịchsử"

Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, có nhữngquan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đòi phải thay thế bằngcách tiếp cận văn minh Cách tiếp cận này phân chia lịch sử phát triển nhân loại thànhvăn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp (hay văn minhtin học, văn minh trí tuệ) Thực chất đây là phân chia dựa vào các trình độ phát triển kinh

tế, dựa vào trình độ khoa học và công nghệ Rõ ràng, cách tiếp cận này không thể thaythế được học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, nó không vạch ra mối quan hệ giữa cácmặt trong đời sống xã hội và các quy luật vận động, phát triển của xã hội từ thấp đến cao

* Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

+ Việc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Sau khi xây dựng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã vận dụng họcthuyết đó vào phân tích xã hội tư bản, vạch ra các quy luật vận động, phát triển của xã hội đó

và đã đi đến dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, hình thái cộng sảnchủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội đã hình thành phát triển từ sau Cách mạng tháng Mười Nga Khi

đó, chủ nghĩa xã hội được xây dựng theo mô hình kế hoạch hóa tập trung Mô hình đó đãphát huy vai trò tích cực trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng đến cuối nhữngnăm 80 của thế kỷ XX đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến chủ nghĩa xã hộihiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ Từ đó, có quan điểm khẳng định chủ nghĩa tưbản là vĩnh viễn và phủ nhận chủ nghĩa xã hội

Thực ra, khủng hoảng đó chỉ bác bỏ chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hóatập trung, chứ không phải bác bỏ chủ nghĩa xã hội với tính cách là xã hội cao hơn chủnghĩa tư bản Chính sự khủng hoảng đó giúp cho chúng ta nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa

xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Nếu như cách mạng công nghiệp thế kỷXVIII - XIX đã quyết định thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với phong kiến, thì cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo ra những tiền đề vật chất để thay thếchủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội

Trang 30

Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta khẳngđịnh: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau Đó là quy luật phát triểncủa cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng ViệcĐảng ta luôn luôn kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướngcủa thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta.

Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: do nhân dân lao độnglàm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độcông hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởngtheo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cánhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan

hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới Mục tiêu của chúng ta là:

"Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

"Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất vàkiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhânloại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để pháttriển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi vềchất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, nên phải trảiqua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,

xã hội có tính chất quá độ Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen vàđấu tranh giữa cái mới và cái cũ"

+ Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình xây dựng xã hội ở nước ta, "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thựchiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnvận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"(2)

Ngày nay, tất cả các nước đều phải xây dựng và phát triển kinh tế thị trường Tuynhiên, trong chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trường được sử dụng với mục đích khácnhau Trong các nước tư bản, đó là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Ở nước ta, đó làkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại Nó là kết quả của sựphát triển lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định, kết quả của quá trình phân công

Trang 31

lao động xã hội, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, đồng thời nó là động lực mạnh mẽ thúcđẩy lực lượng sản xuất phát triển.

Theo quan điểm của Đảng ta, "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có

nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc".

Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phùhợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển củalực lượng sản xuất ở nước ta; với yêu cầu của quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự

chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đảng ta khẳng định: "Mục đích của

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối".

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không thể tách rời vai trò quản lý

của Nhà nước xã hội chủ nghĩa "Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền

kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích nhân dân lao động của toàn thể nhân dân".

+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, laođộng thủ công là phổ biến Cái thiếu thống nhất của chúng ta là một nền đại công nghiệp.Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong thời đại ngàynay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởnước ta là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đó là nhiệm vụtrung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã chỉ ra: "Con đường côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bướctuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khảnăng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệsinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơnnhững thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức

Ngày đăng: 29/07/2020, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w