1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tiểu luận lao động

18 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 32,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.1 Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể

Trang 1

A Mở đầu

Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, quan hệ lao động đã và đang trở nên đa dạng và phức tạp hơn, các chủ thể của quan hệ lao động luôn mong muốn tối đa hóa được lợi ích và tối thiểu hóa các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động Do vậy, bản thân mỗi quan hệ lao động đã luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn, tranh chấp có thể phát sinh tại bất cứ thời điểm nào, từ thời điểm giao kết, thực hiện và đặc biệt là khi chấm dứt hợp đồng lao động Căn cứ vào chủ thể của tranh chấp lao động thì tranh chấp lao dộng bao gồm tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể Tùy từng loại tranh chấp lao động mà mức độ ảnh hưởng tới các bên hay trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động là khác nhau

Chính vì vậy, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em quyết định chọn đề

tài : “Tranh chấp lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao động theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện nay”

Trang 2

B Nội dung

I Tranh chấp lao động tập thể

1 Khái niệm

Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.1

Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác.2

Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện mới so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sủ dung lao động 3

2 Đặc điểm của tranh chấp lao động tập thể

Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể

Khác với tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động thì tranh chấp lao động tập thể phải là sự xung đột giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động, Tuy nhiên, tập thể người lao động đó phải có chung một mục đích khi tham gia tranh chấp

Thứ hai, đặc điểm về nội dung

Tranh chấp lao động tập thể phải diễn ra trong quá trình lao động và phải gắn liền với quyền, lợi ích của cả tập thể trong quá trình lao động Tranh chấp lao động tập thể không chỉ là sự tranh chấp về sự lao động, về những hành vi liên quan đến chức năng của người lao động mà còn liên quan đến quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt mối quan hệ lao động giữa các bên Không chỉ vậy, tranh chấp lao động còn bao gồm cả những xung đột liên quan đến việc làm, học

1 Khoản 7, Điều 3, Luật lao động năm 2012.

2 Khoản 8, Điều 3, Luật lao động năm 2012.

3 Khoản 9, Điều 3, Luật lao động năm 2012.

Trang 3

nghề, tiền lương, quan hệ đại diện lao động,… Ngoài những quyền lợi trực tiếp này, những quyền lợi gián tiếp liên quan đến quá trình lao động cũng là đối tượng của những tranh chấp lao động Ví dụ như quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động, quyền được đi giám định sức khỏe khi làm việc trong những ngành nghề có tính độc hại

Thứ ba, đặc điểm về hình thức

Một tranh chấp lao động tập thể phải được biểu hiện ra bên ngoài và biểu đạt rõ yêu cầu của một hoặc tất cả các bên về tranh chấp lao động đó Hình thức biểu hiện ra bên ngoài của tranh chấp lao động tập thể có thể bắt gặp trong quá trình lao động là việc một trong các chủ thể tranh chấp thể hiện thái độ của mình

về vấn đề tranh chấp với yêu cầu phải giải quyết vấn đề đó Không nhất thiết yêu cầu đó phải thể hiện bằng văn bản, vì điều quan trọng là nội dung phải thể hiện bản chất của nó Pháp luật cũng không có bất cứ quy định nào về hình thức biểu hiện của tranh chấp lao động, bởi lẽ tranh chấp lao động không phụ thuộc vào hình thức của nó như thế nào Trên thực tế thì tranh chấp lao động được lưu lại dưới dạng văn bản rất phổ biến như “ đơn khiếu nại” hay văn bản “ yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động” , hoặc các dạng thức lưu giữ thông tin khác, ví

dụ như trong các thiết bị ghi âm, ghi hình, v.v… Điều này' cũng sẽ giúp thuận lợi hơn cho các bên liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động

3 Nguyên nhân gây ra tranh chấp lao động

Thứ nhất, người sử dụng lao động chưa thực hiện đúng các quy định của

pháp luật lao động, chưa bảo đảm hài hoà lợi ích giữa doanh nghiệp với người lao động, chưa quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

Thứ hai, các cuộc ngừng việc, lãn công xảy ra chủ yếu ở doanh nghiệp

chưa có tổ chức Công đoàn Đối với những nơi đã có tổ chức công đoàn thì vai trò của CĐCS chưa phát huy được vai trò trách nhiệm là chỗ dựa, đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động

Thứ ba, việc đối thoại tại nơi làm việc chưa được các bên quan tâm thực

hiện; thương lượng, thoả thuận chưa được coi là vấn đề trọng tâm để giải quyết

Trang 4

các bất đồng trong quan hệ lao động Nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện tốt cơ chế đối thoại, thương lượng để giải quyết kịp thời các kiến nghị từ phía người lao động nên dẫn đến tranh chấp lao động

Thứ tư, hiểu biết và nhận thức về pháp luật lao động của người lao động

còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật lao động, nội quy, kỷ luật lao động chưa cao, tác phong công nghiệp trong lao động còn nhiều yếu kém Đời sống của người lao động còn nhiều khó khăn về ăn ở, đi lại, sinh hoạt, dẫn đến có những

ức chế về tâm lý và sẵn sàng ngừng việc nếu chủ sử dụng lao động không đáp ứng các yêu cầu của họ

Thứ năm, công tác thanh, kiểm tra còn hạn chế; chế tài chưa đủ nghiêm để

có tính răn đe khi các doanh nghiệp có vi phạm

II Giải quyết tranh chấp lao động

1 Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động

Theo nghĩa hẹp, giải quyết tranh chấp lao động là việc các tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục luật định nhằm giải quyết tranh chấp lao động, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động, xóa bỏ mâu thuẫn, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, nhằm mục tiêu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ

Theo nghĩa rộng hơn, giải quyết tranh chấp tranh chấp lao động là những hoạt động được tiến hành nhằm dàn xếp những bất ổn trong quan hệ lao động, với mục đích để các bên có thể tiếp tục thực hiện những quan hệ lao động một cách hài hòa Sự dàn xếp này có thể do các bên tự thương lượng, thỏa thuận hay

có sự tham gia của một chủ thể trung gian hòa giải, đưa ra phán quyết về các nội dung tranh chấp

Vấn đề giải quyết nhanh chóng, kịp thời các tranh chấp lao động là yêu cầu mang tính cấp thiết, bởi tranh chấp lao động là hiện tượng phức tạp, có khả năng gây ra bất ổn trong quan hệ lao động nói riêng và quan hệ xã hội nói chung

2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

Trang 5

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động là nội dung được ghi nhận tại Điều 194, Bộ luật lao dộng năm 2012 như sau:

Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng, quyết định trong giải quyết tranh chấp lao động

Các bên của quan hệ lao động được tự do thỏa thuận các nội dung của quan hệ lao động, thỏa thuận và kết ước trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động và các cam kết khác Trong trường hợp tính ổn định của quan hệ lao động

bị phá vỡ, phát sinh những bất động, mâu thuẫn và hình thành các tranh chấp, các bên trong quan hệ lao động có quyền chủ động thương lượng, giải quyết Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng ý chí của các chủ thể trong giải quyết các vấn đề của quan hệ lao động Hơn nữa, nguyên tắc này cũng đảm bảo cho việc giải quyết luôn phù hợp với điều kiện của mỗi bên, ngăn ngừa những diễn biến cũng như hậu quả xấu của tranh chấp lao động Đương nhiên, chính các bên là ngườ hiểu rõ điều kiện và khả năng của mình nhất, vì vậy tôn trọng và bảo đảm cho các bên tự thương lượng được thực hiện trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp, ngay từ khi phát sinh tranh chấp và thậm chí cả khi các bên đã gửi đơn hay giải quyết tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, kết quả thương lượng của các bên vẫn được ghi nhận và là căn cứ cho việc chấm dứt tranh chấp Nguyên tắc này cũng đề cao việc tôn trọng quyết định của các bên, các bên có thể thương lượng hoặc không, hoặc có thể lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau nhưng thương lượng, hòa giải, trọng tài hay giải quyết tại tòa tùy thuộc vào từng loại tranh chấp

Thứ hai, thực hiện hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.

Nhìn chung, đối với các tranh chấp về dân sự nói chung và tranh chấp lao động nói riêng, phương pháp giải quyết tranh chấp đầu tiên được ghi nhận trong quy định của pháp luật đó là thương lượng, hòa giải Đây là phương pháp giải quyết tranh chấp ít tốn kém về mặt thời gian, chi phí, đồng thời so với các phương pháp giải quyết tại Tòa án thì, sau khi giải quyết xong tranh chấp, cơ hội

Trang 6

để hai bên trong quan hệ lao động tiếp tục thực hiện quan hệ lao động sẽ cao hơn Tuy vậy, trên thực tế, công tác hòa giải, thương lượng chỉ có hiệu quả khi các bên tranh chấp có thiện chí và người hòa giải hiểu biết nội dung mâu thuẫn, mục tiêu của mỗi bên và tôn trọng lợi ích của mỗi bên Trọng tài lao động là phương thức giải quyết tranh chấp lao động tại hội đồng trọng tài hoặc qua một trọng tài viên duy nhất Tuy nhiên, hiện nay phán quyết của trọng tài lao động không có giá trị chung thẩm nên việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không phải là phương án được các bên trong quan hệ lao động ưu tiên sử dụng

Thứ ba, công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.

Tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp lao động tập thể có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của người lao dộng, ảnh hương tới quá trình sản xuất, phát triền ổn định của doanh nghiệp Thực tế đã cho thấy, là chủ thể trong tranh chấp lao động, người lao động phải đối mặt với sự bất ổn trong quan hệ lao động, ảnh hưởng tới thu nhập, thậm chí có nguy cơ mất việc làm Với người sử dụng lao động, không chỉ ảnh hưởng tới sự ổn định chung, bầu không khí làm việc mà thái độ của người sử dụng lao động cũng được toàn thể người lao động “theo dõi”, tranh chấp cũng sẽ ảnh hưởng tới cả uy tín, thương hiệu của họ trên thị trường Vì vậy giải quyết tranh chấp lao động một cách nhanh chóng, kịp thời có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên trong tranh chấp, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh Để giải quyết dứt điểm tranh chấp lao động, hạn chế những ảnh hưởng xấu của tranh chấp lao dộng thì vấn đề công khai, minh bạch, khách quan trong giải quyết tranh chấp là điều kiện tiên quyết, trở thành nguyên tắc trong tranh chấp lao động

Thứ tư, bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Sự tham gia của đại diện các bên trong giải quyết tranh chấp chính là một trong những quyền cơ bản của các bên trong quan hệ lao động và đặc biệt có ý nghĩa dối với người lao động Hơn nữa, sự tham gia của dại diện các bên trong giải quyết tranh chấp lao động cũng chính là sự cụ thể hóa của cơ chế ba bên

Trang 7

trong điều chỉnh quan hệ lao động Vì vậy, đây được xác định là một trong những nguyên tắc của giải quyết tranh chấp lao động Sự tham gia của đại diện các bên dảm bảo cho việc cung cấp thông tin, tài liệu khách quan trong giải quyết, giúp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết trnh chấp lao động nhanh chóng, chính xác và kịp thời Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này cũng cần chú ý tới xu hướng lạm dụng hoặc ảnh hưởng của đại diện các bên trong giải quyết tranh chấp lao động

3 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

a Hòa giải viên lao động

Theo quy dịnh tại khoản 1, Điều 198, Bộ luật lao động 2012: “Hòa giải viên lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cử để hòa giải tranh chấp lao động và tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề.”

Để trở thành hòa giải viên lao động, cá nhân phải đáp ứng được một số điều kiện sau:

- Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi ân sự đầy đủ, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt;

- Không phải người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dang chấp hành án;

- Am hiểu pháp luật lao động và pháp luật có liên quan;

- Có 03 năm làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan hệ lao động, có

kỹ năng hòa giải tranh chấp lao động

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm hòa giải viên lao động sau khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đề nghị

b Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động tập thể về quyền Trình tự giải quyết như sau:

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải tiến hành giải quyết tranh chấp lao động

Trang 8

- Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã dược đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động

Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch ủy ban nhân dân câp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

c Trọng tài lao động

Trọng tài lao động được coi là cơ quan mang tính trung lập ( trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài) đứng ra phân xử vụ tranh chấp theo yêu cầu của các bên hoặc theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 199, Bộ luật lao động năm 2012: Hội đồng trọng tài lao động được thành lập theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Hội đồng trọng tài lao động gồm Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thư ký Hội đồng và các thành viên là đại diện công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động Số lượng thành viên Hội đồng trọng tài lao động là số lẻ và không quá 07 người

Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Hội đồng trọng tài có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động ở địa phương

Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền hòa giải các tranh chấp lao động tập thể sau đây:

- Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích;

- Tranh chấp lao động tập thể xảy ra tại các đơn vị sử dụng lao động không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định

Phương thức ra quyết định của Hội đồng trọng tài lao động: Quyết định theo

đa số bằng hình thức bỏ phiếu kín

d Tòa án nhân dân

Trang 9

Tòa án với tư cách là cơ quan tài phán mang quyền lực nhà nước tiến hành giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự, thủ tục luật định và phán quyết của toàn án được đảm bảo thi hành bằng cưỡng chế nhà nước

Khi tiến hành giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án, thẩm phán haotj động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Tòa án được quy định như sau:

Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

- Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao dộng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải thành mà các bên không thực hiện hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở

- Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch

Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động không đồng ý hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết

- Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định 4

Ngoài ra, thẩm quyền xét xử của Tòa án còn tuân theo các cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người có yêu cầu

Theo đó, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp lao động cá nhân nêu trên; Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp lao động tập thể nêu trên và các yêu cầu lao động quy định tại Điều 32, Bộ luật tố tụng dân sự 2015

4 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật.

a Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Thời hiệu cho các bên yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là

06 tháng đối với yêu cầu hòa giải viên lao động hòa giải và 01 năm đối với yêu

4 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Trang 10

cầu Tòa án giải quyết kể từ thời điểm phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm ( Điều 202, Bộ luật lao động năm 2012)

Về thủ tục, tranh chấp lao động cá nhân được giải quyết qua hai bước:

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp lao dộng thông qua hòa giải viên lao động.

Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhân được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội báo cáo Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đề cử Hòa giải viên lao động tham gia giải quyết tranh chấp lao động Hòa giải viên lao động phải mở phiên họp hòa giải có mặt các bên hoặc đại diện của các bên trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải Các bên tranh chấp cũng có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải Tại phiên họp, hòa giải viên có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng, nếu các bên thương lượng, thỏa tuận thành công thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành Nếu các bên không thỏa thuận được thì hòa giải viên tiếp tục đưa ra phương pháp hòa giải để các bên xem xét Nếu các bên nhất trí với phương án hòa giải mà Hòa giải viên đưa

ra, Hòa giải viên lập biên bản hòa giải thành ghi nhận sự thống nhất ý chí của các bên Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hòa giải hoặc một trong các bên đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không

có lý do chính đáng, Hòa giải viên lập biên bản hòa giải không thành Biên bản phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản

Thứ hai, giải quyết tranh chấp lao động, cá nhân tại Tòa án

Trường hợp hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết hạn giải quyết mà Hòa giải viên lao động vẫn không tiến hành hòa giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu tòa án giải quyết Việc giải quyết tranh chấp tại tòa án tuân theo quy định về trình tự, thủ tục tố tụng quy dịnh tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Ngày đăng: 28/07/2020, 21:31

w